1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu Luận Môn Chủ Nghĩa Xã Hội.docx

13 16 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề về thực hiện chức năng xã hội của gia đình ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội
Thể loại Bài tập cuối kỳ học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 39,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP CUỐI KỲ HỌC PHẦN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI VẤN ĐỀ VỀ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY M C L C Ụ Ụ LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn[.]

Trang 1

BÀI TẬP CUỐI KỲ HỌC PHẦN MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ

CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài hoặc tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 1

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài: 2

PHẦN NỘI DUNG 3

1 Khái niệm Gia đình, chức năng của Gia đình: 3

1.1 Khái niệm Gia đình: 3

1.2 Các chức năng cơ bản của gia đình: 5

1.2.1 Chức năng tái sản xuất ra con người: 5

1.2.2 Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục: 5

1.2.3 Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng: 6

1.2.4 Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình: 7

2 Thực tiễn việc thực hiện chức năng xã hội của gia đình ở Việt Nam: 9

2.1 Việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người diễn ra trong từng gia đình, nhưng không chỉ là việc riêng của gia đình mà là vấn đề của xã hội: 10

2.2 Thực hiện chức năng tái sản xuất con người quyết định đến mật độ dân cư và nguồn lực lao động của một quốc gia và quốc tế, một yếu tố cấu thành của tồn tại xã hội: 11

2.3 Thực hiện chức năng tái sản xuất con người liên quan chặt chẽ đến sự phát triển mọi mặt của đời sống: 12

2.4 Tùy theo từng nơi, phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội, chức năng tái sản xuất con người được thực hiện theo xu hướng hạn chế hay khuyến khích: 13

2.5 Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng rất lớn đến chất

lượng nguồn lao động mà gia đình cung cấp: 17

PHẦN KẾT LUẬN 19

Kết luận và ý nghĩa bản thân: 19

3.1 Kết luận: 19

3.2 Ý nghĩa bản thân: 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài hoặc tính cấp thiết của đề tài:

Có thể nói, tất cả mọi người đều có gia đình, gia đình là một tổ ấm để những người thân cùng chung sống, quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau Vì thế, nó gây ra nhiều vấn đề cho mỗi dân tộc và ở mỗi thời đại khác nhau, trong đó có nước Việt Nam ta Gia đình có vai trò quyết định rất to lớn về sự nuôi dạy, giáo dục và cũng là một nền tảng giúp con người có thể phát triển tốt về tính cách, đạo đức, lối sống Gia đình có vai trò quyết định tồn tại, vận động và phát triển của xã hội Đây cũng là một nền tảng giúp xã hội phát triển lành mạnh và cốt yếu là phải quan tâm đến xây dựng tế bào của gia đình tốt Ở thời xưa, xã hội sẽ dựa trên các

cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, lịch sự bất bình trong xã hội và các quan

hệ của gia đình Các hạn chế trong xã hội đó rất lớn và tác động đến gia đình

Trang 2

trong xã hội là rất nhiều, nếu thiếu sự giáo dục nuôi dạy thì sẽ hình thành nên những tính cách bất hảo cho xã hội và ngược lại, nếu nuôi dưỡng và giáo dục tốt thì sẽ hình thành nên tính cách tốt, giúp ích cho xã hội, là nền tảng để giúp xã hội ngày càng đi lên, phát triển hơn Vì thế, con người phải được sống êm ấm, xã hội bình đẳng công bằng và không có sự phân chia giai cấp, sự bóc lột…Bên cạnh đó, trong xã hội, khi con người có cuộc sống tốt sẽ hình thành nên những nhân cách tốt, yên tâm lao động và đóng góp sức mình cho xã hội để giúp nền kinh tế phát triển vượt bậc cho nước nhà và ngược lại Chính vì vậy, mối quan hệ gia đình bình đẳng hạnh phúc yêu thương và sống trong một sự giáo dục tốt, đạo đức tốt là vấn đề hết sức quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa vì nó là bàn đạp để xây dựng mối quan hệ xã hội vững mạnh Từ những điều trên đã đặt

ra các câu hỏi: “Thực trạng của gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới này là như thế nào?”, “Giải pháp xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam hiện nay?”,

“Việc hiện chức năng tái sản xuất ra con người có ảnh hưởng gì đến gia đình và

xã hội?” Với mục đích trả lời cho những câu hỏi trên, nhóm chúng em đã chọn

đề tài: “Vấn đề về thực hiện chức năng xã hội của gia đình ở Việt Nam hiện nay” cho bài tập cuối kì của nhóm mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 1Mục đích nghiên cứu của đề tài: giúp cho bản thân hiểu rõ hơn về các chức năng của gia đình cũng như thực trạng, giải pháp xây dựng, phát triển gia đình Việt Nam trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa

3 Đối tượng nghiên cứu: các gia đình Việt Nam trong thời kì hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu: nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài: Đề tài khái quát được lý luận chung của xã hội khoa học về vấn đề xã hội của gia đình và cơ sở xây dựng trong thời

kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội khi phân tích chức năng xã hội của gia đình trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam hiện nay và liên hệ thực trạng giải pháp ở Việt Nam từ đó liên hệ bản thân và gia đình

PHẦN NỘI DUNG

1 Khái niệm Gia đình, chức năng của Gia đình:

Khái niệm Gia đình:

Gia đình là một cộng đồng người đặc biệt, và có vai trò quyết định đến sự tồn tại phát triển của xã hội Cơ sở hình thành gia đình với các mối quan hệ cơ bản

là mối quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con cái Tất cả những mối quan hệ này tồn tại gắn bó, liên kết, ràng buộc và luôn phụ thuộc lẫn nhau là các mối quan hệ luôn có tác động qua lại và không thể tách rời vì đó là một dòng máu, là tình thân yêu của gia đình giữa con cái và cha mẹ, anh chị em, người thân trong gia đình Các mối quan hệ đó, nó còn được nói là trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi nhưng phải đặt lên trên xã hội về

sự quy định của pháp luật hoặc đạo lý Quan hệ hôn nhân là cơ sở, là nền tảng

để hình thành nên các mối quan hệ trong gia đình, phải thực hiện đúng theo nghĩa vụ và pháp luật do nhà nước ban hành về luật hôn nhân và đây cũng là

“đầu dây mối nhợ” để gắn kết những người xa lạ với nhau thành một gia đình

Từ đó, tạo nên nhiều thế hệ con em sau này và cũng chính là nòi giống để tạo ra những thế hệ giúp ích cho nước nhà, cho xã hội và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh đi lên Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người cùng dòng máu huyết thống Đó chính là nguồn gốc để nhận biết người thân Nó bắt nguồn từ mối quan hệ hôn nhân và từ một gia đình Đây cũng là mối quan hệ tự

Trang 3

nhiên, là yếu tố thống nhất về hai chữ “gia đình” để gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau và cũng bắt nguồn lên sự giáo dục, nuôi dạy và chăm sóc, yêu thương, quan tâm và hình thành nên nhân cách của con người cùng với những yếu tố để nuôi dưỡng một con người giúp ích cho xã hội, cho đất nước phát triển vững chắc nền kinh tế - chính trị của nước nhà Trong gia đình ngoài mối quan hệ cơ bản giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái thì còn có rất nhiều mối quan hệ khác như người thân, ông bà, cô dì, chú bác hoặc mối quan hệ4 giữa ông bà với các cháu, ngoài những mối quan hệ gia đình thì còn những mối quan

hệ ở xã hội như bạn bè, bên nhà trường thì có thầy giáo cô giáo, bên cơ quan làm việc thì có mối quan hệ với những đồng nghiệp, giám đốc, bên bệnh viện thì có mối quan hệ giữa bác sĩ, y tá với bệnh nhân, bên nhà nước thì có những mối quan hệ giữa quân và dân,…từ những mối quan hệ này hình thành nên xã hội cộng đồng Thậm chí, ngày nay, ở nhiều nước trên thế giới còn công nhận

và cho phép việc kết hôn giữa nam với nam hoặc nữ với nữ hay những người chuyển giới với nhau, tiên tiến hơn ở nước ngoài thì người chồng có thể mang thai thay cho vợ Ngoài ra, còn cho phép nhận con nuôi và được công nhận bằng thủ tục pháp lý do nhà nước ban hành, cha mẹ có thể nhận thêm em, người đỡ đầu cho con của mình Dù hình thành từ những hình thức nào để tạo nên một gia đình thì trong gia đình luôn có sự nuôi dưỡng, giáo dục, sự quan tâm chăm sóc của các thành viên trong gia đình với nhau, về vật chất lẫn tinh thần Từ

đó, hình thành nên nhân cách con người giúp ích cho xã hội Tất cả đều là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi thiêng liêng giữa thành viên trong gia đình thể hiện với nhau Trong xã hội hiện nay, hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc,

giáo dục của gia đình còn có sự đồng hành của xã hội như sự giáo dục ở nhà trường Đồng hành cùng với nhà trường là gia đình và ngược lại, hai bên cùng nhau chăm sóc, chia sẻ, quan tâm và giáo dục các con em mình Đặc biệt là sự giáo dục của gia đình cộng với môi trường mầm non là vô cùng quan trọng vì đây là những chồi non cần được giáo dục đúng cách, để hình thành nên nhân cách tốt và cũng như hướng phát triển giáo dục trẻ đi theo con đường đúng đắn và phát triển toàn diện về năng khiếu, tính cách và đạo đức của trẻ Tất cả các mối quan hệ giữa gia đình - nhà trường - cộng đồng - xã hội luôn có một

sự liên kết chặt chẽ với nhau, luôn phải phụ thuộc vào nhau và cùng nhau phát triển, góp phần vào sự nghiệp chung cho nền kinh tế - chính trị - xã hội của nước nhà, cho nó ngày một phát triển vững mạnh vươn xa với các quốc gia khác, hội nhập hơn và cùng nhau hợp tác phát triển trên con đường tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội Như vậy, gia đình chính là một nền tảng vững chắc, là một bàn đạp để giúp một con người bước tiếp trên xã hội, đồng hành với đó là một môi trường giáo dục học tập tốt Tất cả gộp chung với nhau thành một cộng đồng xã hội đặc biệt hình thành duy trì củng cố các cơ sở về hôn nhân, về quan hệ huyết thống, về quan hệ nuôi dưỡng, về quan hệ giữa người với người

và quan hệ của xã hội với cộng đồng, cùng với những quyền lợi nghĩa vụ trong gia đình để hình thành phát triển nhân cách của con người góp phần hình thành nên một xã hội văn minh phát triển

1.2 Các chức năng cơ bản của gia đình:

1.2.1 Chức năng tái sản xuất ra con người:

Đây là chức năng đặc thù của gia đình, đáp ứng nhu cầu tâm, sinh lý tự nhiên của con người Nó giúp duy trì nòi giống của gia đình, cung cấp sức lao động

và duy trì sự trường tồn cho xã hội Chức năng này đáp ứng đúng nhu cầu

Trang 4

của xã hội và là nhu cầu rất tự nhiên, chính đáng của con người Bởi vì, chức năng này quyết định đến tốc độ gia tăng dân số, mật độ dân số và nguồn lực lao động của một quốc gia, một yếu tố quan trọng để cấu thành nên sự tồn tại của xã hội Tuy nhiên, nếu muốn thực hiện chức năng này thì cần liên kết chặt

chẽ tất cả mọi mặt của đời sống xã hội của mỗi quốc gia Vì vậy, tùy vào từng nơi và vào từng thời điểm thì chức năng này được thực hiện theo xu hướng khuyến khích hay hạn chế để có chính sách phát triển nhân lực cho phù hợp Chiến lược về dân số hợp lý sẽ tạo ra nguồn nhân lực mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội Đối với nước ta, chức năng sinh đẻ của gia đình đang được thực hiện theo xu hướng hạn chế, vì trình độ kinh tế nước ta còn thấp mà mật độ dân số quá đông

1.2.2 Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục:

Gia đình là nơi nuôi dưỡng và là trường học đầu tiên tác động đến con người về nhiều mặt như thể chất, văn hóa, trí tuệ, xã hội, lao động, Giáo dục xã hội và giáo dục nhà trường là yếu tố quyết định để định hướng cho sự phát triển nhân cách Tuy nhiên, giáo dục gia đình có vai trò đầu tiên quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Nội dung giáo dục gia đình bao gồm các yếu tố văn hóa gia đình, văn hóa cộng đồng, nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người như đạo đức, lối sống, tác phong, tri thức, lao động và khoa học Giáo dục gia đình được thực hiện trong suốt quá trình sống của con người với những nội dung giáo dục cụ thể và hình thức phong phú Chức năng nuôi dưỡng và giáo dục có ảnh hưởng lâu đài và toàn diện đến cuộc đời của mỗi thành viên, từ khi sinh ra đến khi trưởng thành và

về già Mỗi thành viên trong gia đình đều có vị trí, vai trò nhất định, vừa là khách thể, vừa là đối tượng trong việc nuôi dạy, giáo dục của gia đình Đây là một chức năng rất quan trọng, mặc dù trong xã hội có nhiều cộng đồng dân cư khác như nhà trường, đoàn thể, chính quyền, cũng thực hiện chức năng này, nhưng không thể thay thế được chức năng giáo dục của gia đình Với chức năng này, gia đình góp phần to lớn vào việc đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của xã hội, cung cấp và nâng cao chất lượng nguồn lao động để duy trì sự trường tồn của xã hội, đồng thời mỗi cá nhân cũng dần xã hội hóa Vì vậy, sự giáo dục của gia đình có quan hệ mật thiết với sự giáo dục của xã hội Nếu giáo dục của gia đình không gắn với giáo dục của xã hội thì mỗi cá nhân sẽ khó hòa nhập với xã hội và ngược lại giáo dục của xã hội sẽ không đạt hiệu quả cao khi không kết hợp với giáo dục gia đình, không lấy giáo dục gia đình làm nền tảng Vì vậy, cần tránh khuynh hướng coi trọng giáo dục gia đình, hạ thấp giáo dục xã hội hoặc ngược lại Vì thiếu một trong hai khuynh hướng này, mỗi cá nhân sẽ không được phát triển toàn diện Thực hiện tốt chức năng nuôi dưỡng, giáo dục đòi hỏi mỗi bậc cha mẹ phải có kiến thức cơ bản và tương đối toàn diện về mọi mặt văn hóa, giáo dục, nhất là phương pháp giáo dục

1.2.3 Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:

Ngay từ khi ra đời, gia đình đã là một đơn vị kinh tế tự chủ trong xã hội, dù phát triển dưới hình thức nào hay trong giai đoạn lịch sử phát triển nào thì gia đình cũng là một đơn vị kinh tế tự chủ trong xã hội Gia đình sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm lao động Gia đình là một xã hội thu nhỏ nên gia đình vừa sở hữu tư liệu sản xuất, vừa tổ chức sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm Đây là một trong những chức

Trang 5

năng cơ bản của gia đình, cũng giống như các đơn vị kinh tế khác, gia đình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất tư liệu sản xuất và tiêu dùng Tuy nhiên, do đặc thù của gia đình không có ở các đơn vị kinh tế khác,

nên gia đình là cộng đồng duy nhất tham gia vào quá trình lao động sản xuất, tái sản xuất ra sức lao động Nó là một nhân tố không thể thiếu và quan trọng nhất trong quá trình sản xuất ra xã hội Gia đình không chỉ trực tiếp tham gia sản xuất, tái sản xuất của cải vật chất và sức lao động mà còn là đơn vị tiêu dùng

xã hội Gia đình thực hiện một chức năng tổ chức sử dụng hàng hóa về sản xuất, lao động và sinh hoạt gia đình nhằm để duy trì cuộc sống gia đình Tổ chức đời sống gia đình là việc sử dụng hợp lý nguồn thu nhập của các thành

viên, chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng của gia đình là cơ sở để tổ chức cuộc sống và nuôi dạy con cái Không chỉ dừng lại ở đây mà nó còn đóng góp rất lớn cho sự phát triển của xã hội Trong gia đình, đảm bảo đời sống vật chất

và tinh thần của mỗi thành viên, sử dụng thời gian nhàn rỗi để tạo môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình nhằm tăng cường sức khỏe, đồng thời duy trì sở thích, sắc thái riêng của mọi người Với sự phát triển của xã hội, trong các hình thức gia đình khác nhau hoặc thậm chí một hình thức gia đình, nhưng lại còn tùy thuộc theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, kéo theo đó chức năng kinh tế của gia đình cũng tồn tại sự khác nhau, về quy mô sản xuất, sở hữu tư liệu sản xuất và cách thức tổ chức sản xuất và phân phối Vị trí, vai trò của kinh tế gia đình và mối quan hệ của kinh tế gia đình với các đơn vị kinh tế khác trong xã hội cũng không hoàn toàn giống nhau Không những thế, thực hiện tốt chức năng kinh tế sẽ tạo ra tiền đề và cơ sở vật chất cho tổ chức đời sống gia đình

1.2.4 Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình: Đây là chức năng thường xuyên của gia đình, bao gồm việc thỏa mãn nhu cầu tình cảm, văn hóa, tinh thần cho các thành viên, đảm bảo sự cân bằng tâm lý, bảo vệ chăm sóc sức khỏe người ốm, người già, trẻ em Sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình vừa là nhu cầu tình cảm vừa là trách nhiệm, đạo lý, lương tâm của mỗi người Do vậy, gia đình là chỗ dựa tình cảm cho mỗi cá nhân, là nơi nương tựa về mặt tinh thần chứ không chỉ là nơi nương tựa về mặt vật chất của con người Với việc duy trì tình cảm giữa các thành viên, gia đình có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định và phát triển của xã hội Khi quan hệ tình cảm gia đình bị rạn nứt thì quan hệ tình cảm trong

xã hội cũng có nguy cơ bị phá vỡ

Chức năng tình cảm và tâm lý của gia đình Việt Nam truyền thống có những đặc điểm sau:

 Đề cao vai trò của các giá trị đạo đức, thứ chi phối hầu hết các mối quan hệ trong gia đình

 Cha mẹ yêu thương con cái, hết lòng vì con cái, con cái hiếu thảo với cha

mẹ, tình anh chị em gắn bó, hòa thuận, chung thủy trong quan hệ vợ chồng

 Tình cảm gia đình cũng chính là tình yêu làng, yêu quê hương cội nguồn của tình yêu đất nước: “Bầy cáo đã về núi sau ba năm chết” Gia đình là nơi mọi thành viên cùng nhau chia sẻ và cảm nhận.Gia đình là nơi bình yên nhất

và cũng là nơi dừng chân sau một ngày làm việc mệt mỏi để cung chia sẻ, động viên tạo tạo sợi dây gắn kết tình cảm Một gia đình hòa thuận, êm ấm

“cha, mẹ, anh em hạnh phúc”, “hiếu sinh bề trên”, “hiếu kính với cha mẹ”, “hy sinh với tổ tiên” là một điều vô cùng hạnh phúc, là “cái nôi thân yêu” và che

Trang 6

chở cho mọi người Thời hiện đại, trong xã hội con người thường bị đè nén và

dễ bị áp lực, gia đình là nơi giải tỏa, văn hóa gia đình là cách an ủi tốt nhất

Lao động và làm việc liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp như giới tính, tuổi tác, mệt mỏi về thể chất và tinh thần,… Môi trường gia đình là giải pháp hữu hiệu nhất cho chúng ta sau những khó khăn, mỏi mệt này Do quan hệ hôn nhân, huyết thống nên các thành viên trong gia đình có ý thức yêu thương, trách nhiệm với nhau Vì vậy, gia đình là nơi mọi người được chăm lo về vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu tình cảm, cân bằng tâm lý, giải tỏa phiền muộn, khỏi các mối quan hệ xã hội Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi các thành viên trong gia đình bằng những từ thân thương, quý mến, ấm áp Trong gia đình, người cao tuổi được chăm sóc khỏe mạnh, vui vẻ, lạc quan, truyền lại vốn sống, phong tục tập quán đẹp đẽ cho thế hệ mai sau Ở đó, con cái biết hiếu thảo với cha mẹ, biết quan tâm vợ chồng chia sẻ vui buồn… Ở đó,

ai cũng cảm nhận được sự gần gũi, thân thương từ sân đình, mái nhà, chiếc giường… đến tình làng nghĩa xóm, quan hệ họ hàng Khi có người gặp biến

cố, gia đình sẽ quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nên niềm vui nhân đôi, nỗi buồn vơi

đi một nửa Điều này sẽ tạo nên sợi dây tình thương vô hình nhưng bền chặt, gắn kết các thành viên trong gia đình, dòng tộc, họ hàng với nhau Mối quan hệ giữa dân làng cũng được hình thành trong làng xã, xã hội và trở thành nền tảng cho tình yêu quê hương, đất nước Trong gia đình, mỗi thành viên đều có quyền và nghĩa vụ thực hiện các chức năng của gia đình, tuy nhiên người phụ

nữ có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi họ đảm nhận một số thiên chức không thể thay thế được Vì vậy, việc giải phóng phụ nữ được coi là mục tiêu quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, trước hết cần phải được bắt đầu từ gia

đình Tóm lại, thông qua việc thực hiện các chức năng vốn có của mình, gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội Các chức năng của gia đình có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Việc phân chia chúng là tương đối Chúng ta cần loại bỏ tư tưởng coi trọng chức năng này coi nhẹ chức năng kia hoặc tư tưởng hạ thấp chức năng gia đình

2 Thực tiễn việc thực hiện chức năng xã hội của gia đình ở Việt Nam: Việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người không chỉ là việc riêng của gia

đình mà còn là vấn đề của xã hội, nó còn liên quan và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như kinh tế, giáo dục, văn hóa,

2.1 Việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người diễn ra trong từng gia đình, nhưng không chỉ là việc riêng của gia đình mà là vấn đề của xã hội:

Chức năng này vốn dĩ tồn tại một cách hiển nhiên, vì xã hội chỉ tồn tại được khi

sự sinh sản vẫn còn được duy trì Đây được coi là giá trị của gia đình mà từ cổ chí kim loài người phải đã phải công nhận Chức năng tái sản xuất xã hội của gia đình Việt Nam truyền thống có đặc điểm là đông con, một giá trị cơ bản của gia đình và xã hội truyền thống, Từ ngày xưa, người dân Việt Nam đã đề cao việc duy trì nòi giống gia đình “đông con hơn nhiều của”, “con gái là con người ta, con trai mới là con mình”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” Con cái là thứ đáng giá, là của cải, báu vật trong gia đình Với thành tựu của y học hiện đại, hiện nay việc sinh đẻ được các gia đình tiến hành một cách chủ động, tự giác khi xác định số lượng con cái và thời điểm sinh con Hơn thế

nữa, việc sinh con còn phải chịu sự điều khiển bởi chính sách xã hội của Nhà nước, tùy theo tình hình dân số và nhu cầu về sức lao động của xã hội Đảm bảo lợi ích của gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội, thông điệp mới

Trang 7

dùng để tuyên truyền trong kế hoạch hóa gia đình là “mỗi gia đình chỉ nên sinh đủ hai con” Nếu như ngày xưa, do bị ảnh hưởng của phong tục, tập quán

và nhu cầu sản xuất nông nghiệp, trong gia đình Việt Nam truyền thống xưa, nhu cầu về con cái thể hiện trên ba phương diện: bắt buộc phải có con, càng đông con gia đình càng sung túc và nhất thiết phải có con trai nối dõi tông đường Thì ngày nay, nhu cầu ấy đã có những thay đổi cơ bản: biểu hiện ở việc giảm mức sinh của phụ nữ, giảm số lượng con mong muốn và giảm suy nghĩ nhất thiết phải có con trai của các cặp vợ chồng trẻ Trong gia đình hiện đại ngày nay, sự bền vững hạnh phúc của hôn nhân phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tâm lý, tình cảm, sự tin tưởng và vấn đề tài chính chứ không chỉ là các yếu tố có con hay không có con, có con trai hay không có con trai như gia đình truyền thống ngày xưa

2.2 Thực hiện chức năng tái sản xuất con người quyết định đến mật độ dân cư

nguồn lực lao động của một quốc gia và quốc tế, một yếu tố cấu thành của tồn tại xã hội: Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan: phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay Chủ nghĩa hiện đại, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về gia đình, gia đình Việt Nam đã có sự thay đổi tương đối toàn diện về chức năng của mình Ngược lại, sự biến đổi của gia đình còn tạo ra động lực mới thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việc thực hiện chức năng sinh sản, với chủ trương đúng đắn, chủ động, sáng tạo, chương trình “Kế hoạch hóa gia đình” đã đạt được những thành tựu nổi bật Nếu những năm 1965-1969, chỉ có khoảng 15% cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai, tỷ lệ này đã tăng gấp 5 lần đến đầu thế kỷ 21, đạt khoảng 75% và duy trì từ đó đến nay Kết quả là tỷ suất sinh của Việt Nam đã giảm nhanh chóng, hiện đã xuống mức thấp Vào năm

1965-1969, tính đến hết tuổi sinh đẻ thì trung bình mỗi phụ nữ có gần 7 con, hiện nay mô hình “gia đình 2 con” đang trở nên phổ biến Bên cạnh mức sinh thấp, dân số Việt Nam đang xuất hiện những xu hướng mới mang lại cơ hội và thách thức cho sự phát triển bền vững ở nước ta như cơ cấu dân số vàng, mất cân bằng giới tính khi sinh, già hóa dân số, có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ sinh giữa các vùng, chất lượng dân số tuy có tăng nhưng chưa cao, nhập cư mạnh và phân bố dân cư không đầy đủ Rõ ràng tình hình dân số của nước ta hiện nay hoàn toàn khác với tình hình dân số của hơn nửa thế kỷ trước Vì vậy, đã đến lúc phải giải quyết tổng thể vấn đề dân số chứ không chỉ kế hoạch hóa gia đình Vì vậy, Nghị quyết 21 / NQ-TW của Hội nghị lần thứ 12, khóa VI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chính sách dân số trong tương lai của Việt Nam là: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia

đình sang dân số và phát triển; công tác dân số phải chú trọng về mọi mặt, cơ cấu, phân bố nhất là chất lượng dân số, gắn kết hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và phát triển nhanh, bền vững” Ngoài ra, tổng tỷ suất sinh

là 2,09 con / phụ nữ, nằm dưới mức sinh thay thế Điều này cho thấy Việt Nam

đã duy trì mức sinh ổn định trong hơn một thập kỷ qua, xu hướng sinh hai con rất phổ biến ở Việt Nam Tổng tỉ lệ sinh sản của khu vực thành thị là 1,83 trẻ em / phụ nữ; khu vực nông thôn là 2,26 trẻ em / phụ nữ Phụ nữ có trình độ cao đẳng

có mức sinh thấp nhất (1,85 trẻ em / phụ nữ) thấp hơn nhiều so với phụ nữ chưa từng đi học (2,59 con / phụ nữ) Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ sinh thấp nhất

Trang 8

cả nước (1,39 con / phụ nữ) và ngược lại Hà Tĩnh có tỷ lệ sinh cao nhất (2,83 con / phụ nữ)

2.3 Thực hiện chức năng tái sản xuất con người liên quan chặt chẽ đến sự phát triển mọi mặt của đời sống:

Việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người không chỉ là việc riêng của gia đình mà nó còn là vấn đề chung của toàn xã hội Thực tế, đối với những nước nghèo đang phát triển, những nước dân số trẻ vấn đề gia tăng dân số còn cao thì đều phải thực hiện chức năng đó là kế hoạch hoá gia đình Bởi vì, nếu không có kế hoạch hoá gia đình mà để cho mỗi gia đình sinh quá nhiều con, số lượng con cái sẽ nhiều, sẽ không thể quan tâm đến được các vấn đề như kinh

tế, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và đương nhiên nó sẽ tác động đến thể lực, trí lực, phẩm chất của những đứa trẻ đó Cho nên, đối với những nước đang phát triển, có dân số trẻ thì người ta sẽ thực hiện chính sách kế hoạch hoá gia

đình như nước Việt Nam ta Còn đối với nước phát triển, dân số già ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, thì người ta lại thực hiện chính sách khuyến khích sinh đẻ Thậm chí, có những nước dân số già người ta khuyến khích sinh đẻ, con sinh ra được chính phủ trợ cấp tới năm 18 tuổi Bởi vì nếu không có nguồn lao động thì kinh tế làm sao phát triển được, nhập khẩu lao động ở bên ngoài làm sao có thể đáp ứng được, làm sao có thể chủ động được, cho nên nguồn lao động là một yếu tố cực kỳ quan trọng của mỗi quốc gia, vậy thì họ lại thực hiện chính sách khuyến khích sinh đẻ Khuyến khích và có những

hỗ trợ nhất định, nhưng ở những nước đó đưa ra chính sách hỗ trợ, thì một thực

tế là thanh niên đến độ tuổi kết hôn lại không muốn lập gia đình, nhưng khi đã lập gia đình lại chưa muốn sinh con hoặc là không ý muốn sinh con Không thể áp đặt điều này của phương Tây, những giá trị của nước phát triển vào nước đang phát triển Vấn đề tái sản xuất con người này nên phải căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể, một nước đang phát triển dân số trẻ thực hiện chính sách kế hoạch hoá gia đình, còn đối với những nước dân số già, kinh tế phát triển họ lại thực hiện chính sách khuyến khích sinh đẻ Vì vậy, không thể mang giá trị của một nước phát triển áp dụng vào một nước nghèo đang phát triển Việt Nam trước đây và đến ngày hôm nay cũng vậy, gia tăng dân số ở mức độ nhất định vẫn còn cao, nên vẫn phải thực hiện chính sách kế hoạch hoá gia đình, đấy là một chính sách nhân văn Gia đình mà sinh quá nhiều con thì sẽ gây ra nhiều hậu quả, đông con sẽ dẫn đến nghèo đói, sẽ dẫn đến thất học, đó là vòng luẩn quẩn của các nước đang phát triển và nó cũng là cái vòng luẩn quẩn của những gia đình đông con Dù đã vượt qua được tình trạng các gia đình sinh quá nhiều con như thời kì trước thống nhất đất nước nhưng nhà nước ta vẫn không chủ quan khi vẫn thực hiện chính sách khuyến khích các

cặp vợ chồng nên có đủ hai con để đảm bảo chất lượng của gia đình mình Vì vậy, chức năng tái sản xuất ra con người là chức năng đặc thù của gia đình, gia

đình là tế bào của xã hội, bởi vì có chức năng này của gia đình sẽ tạo ra một thế

hệ mới, tạo ra một cái nguồn lao động mới, một lực lượng lao động mới, xã hội mới có thể tồn tại và xã hội mới có thể phát triển được Không có chức năng này, xã hội không thể phát triển, không tồn tại được và sẽ đi đến tiêu vong

2.4 Tùy theo từng nơi, phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội, chức năng tái sản xuất con người được thực hiện theo xu hướng hạn chế hay khuyến khích:

Trong xã hội hiện đại ngày nay, độ bền vững của gia đình không chỉ phụ thuộc

Trang 9

vào sự ràng buộc của các mối quan hệ về trách nhiệm, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, sự hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích gia đình, mà nó còn bị chi phối bởi các mối quan hệ hòa hợp tình cảm giữa chồng và vợ, cha mẹ

và con cái, sự đảm bảo hạnh phúc cá nhân, sinh hoạt tự do, chính đáng của mỗi thành viên gia đình trong cuộc sống chung Hoạt động tái sản xuất của con người trước hết bắt nguồn từ nhu cầu sinh tồn của con người và xã hội Chức năng này đáp ứng nhu cầu rất tự nhiên và hợp pháp của loài người nhưng tỷ lệ gia tăng dân

số, mật độ dân số và nhiều yếu tố khác liên quan đến các vấn đề, cấp chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, Vì vậy, việc ra đời của mỗi gia đình không chỉ là việc riêng của gia đình, mà còn là một nội dung quan trọng của xã hội Tầm quan trọng của mỗi quốc gia và toàn nhân loại, chiến lược dân số hợp lý sẽ trực tiếp tạo

ra quy hoạch nguồn nhân lực mới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, là mục tiêu, động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia - nhà nước cụ thể, việc thực hiện chức năng này còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia Gần đây, Đại diện Tổng cục Dân số cũng cho biết Việt Nam hiện vẫn đang có sự chênh lệch mức sinh rất cao Cụ thể như sau: có 33 tỉnh, thành phố ở Việt Nam có mức sinh cao (mức sinh > 2,2 con), chiếm 42% quy mô dân số Đây hầu hết là các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế như Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên Bên cạnh đó có 21 tỉnh, thành phố có mức sinh thấp (mức sinh < 2,0 con), chiếm 39% quy mô dân số cả nước Tập trung chủ yếu ở các tỉnh thành có điều kiện về kinh tế - xã hội phát triển ở Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Đáng nói đến, mức sinh ở

Thành phố Hồ Chí Minh là nhóm thấp nhất cả nước, mức sinh chỉ khoảng 1,4 con Theo kết quả đã được nghiên cứu ở dân tộc của Việt Nam, vấn đề sinh con và sinh bao nhiêu người con trong một gia đình, hiện nay vẫn đang còn là vấn đề rất khó tiến đến một thực tế sáng tỏ và khó có câu trả lời Những năm vừa qua, công tác

về dân số - kế hoạch hoá gia đình đã có rất nhiều tác động tích cực tới việc sinh

đẻ hiện nay của các tộc người đang sinh sống tại Việt Nam Trên thực tế, hầu hết các gia đình, đặc biệt là các gia đình trẻ người dân tộc thiểu số hiện nay đã nhận thức được lợi ích và sự cần thiết của việc sinh ít con Vì vậy, nhiều thôn, xã, huyện, thậm chí nhiều tỉnh ở miền núi phía Bắc nước ta đã đạt được tốc độ tăng dân số lý tưởng trong những năm gần đây Nhiều xã, nhiều vùng giảm tỷ lệ gia tăng dân số đến mức bất ngờ Ví dụ, Tràng Định (Lạng Sơn), một khu vực có gần 100% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, đã có tỷ lệ tăng dân số cao hơn một chút so với 1% trong những năm gần đây Tuy nhiên, tâm lý mong muốn đông con, đẻ cháu còn khá phổ biến ở một số đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa Trong đó nổi bật nhất là các dân tộc: Miao, Tao, Lao, Sandiu, Guhe, Luoma, Blau, Mang, Kham, Mạ Chính vì nhu cầu sinh con cũng như phong tục tập quán khác nhau nên tùy theo từng nơi, từng dân tộc chức năng tái sản xuất con người sẽ khác nhau và có nhiều biến đổi trong

xã hội ngày càng hội nhập này Về nhu cầu xã hội ngày nay thì chức năng tái sản xuất con người cũng dần bị ảnh hưởng Nhân tài, nhân lực là nhân tố quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu làm dân giàu - nước mạnh, có một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Với

sự phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay, đây là yếu tố hết sức cấp thiết và mang tính thời sự nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của nước ta, đặc biệt là của toàn thế giới Chúng ta có thể khẳng định, con người vừa là mục tiêu, vừa là

Trang 10

động lực của sự phát triển kinh tế, xã hội phải là người có tri thức, có đạo đức Từ đây, mọi người dần trở lại đúng vị trí là người tạo ra giá trị, bao gồm cả việc tạo

ra giá trị vật chất và tinh thần cho bản thân và đặc biệt là cho xã hội Tuy nhu cầu của xã hội về tái sản xuất con người để phục vụ cho nguồn nhân lực, phát triển nền kinh tế-xã hội của nước nhà nhưng cũng để lại nhiều hậu quả không tốt

về vấn đề dân số, môi trường,… Ngày nay, sự sụt giảm về số lượng thế hệ trong gia đình, điều đó được thể hiện thông qua số lượng thành viên trong gia đình đã được giảm xuống, các thế hệ dần ít đi Khi ngày càng có nhiều người lấy

vợ, lấy chồng, rời gia đình cha mẹ để hình thành gia đình đơn thân, gia đình đông con như trước đây thì số lượng thành viên, thế hệ ngày càng giảm Sự thay đổi cơ cấu gia đình này đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế gia đình

và sản xuất, cha mẹ có điều kiện và thời gian yêu thương, chăm sóc, giáo dục con cái tốt hơn, nhất là các trường hợp đang bị ảnh hưởng, có tác động tích cực đến

xã hội về vấn đề dân số Gần đây, vấn đề gia tăng dân số đã và đang là vấn đề nan giải của các cấp chính quyền Hiện nay, ngoài các quy định quốc gia về số lượng sinh và xu hướng giảm sinh để thích ứng với thời đại mới, những tiến bộ của y học cũng giúp người dân chủ động hơn trong việc mang thai và sinh nở Mọi người có thể chủ động quyết định có con hay không và khi nào là thời điểm thích hợp nhất để có con Đây cũng là những nguyên nhân làm thay đổi cấu trúc gia đình Hiện tại, đối với việc thức hiện chức năng tái sản xuất của con người thì nhà nước khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ 2 con Bên cạnh đó, Nhà nước

sẽ đẩy mạnh tuyên truyền về các hệ lụy khi chỉ sinh 1 con và việc cần thiết của sinh đủ 2 con trong một gia đình Các chuyên gia có đề xuất, cần phải có chính sách phát triển hệ thống dịch vụ gia đình như nhà trẻ, người giúp việc, và hỗ trợ cặp vợ chồng sinh con về các mặt như tài chính, ngày nghỉ, giờ làm linh hoạt

Ngay từ khi nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dân số đối với sự phát triển nền kinh tế - xã hội, ngay từ những năm 1961, Ủy ban Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 216 / CP về “Hướng dẫn sinh đẻ” và đã giao cho Bộ Y tế một trách nhiệm “cung cấp giá rẻ và thuận tiện” để tạo điều kiện cho những người có nhu cầu sử dụng các phương pháp liên quan đến hướng dẫn sinh đẻ Chính vì vậy, nhìn vào trên thực tế, từ đầu những năm 1960, nhà nước ta đã trao quyền kế hoạch hóa gia đình cho công dân và hy vọng sẽ tạo ra những điều kiện

dễ dàng nhất, dễ dàng nhất, thuận lợi nhất Trong 60 năm qua, giải pháp cơ bản, minh bạch và nhất quán của Việt Nam để thực hiện quyền kế hoạch hóa gia đình

là tuyên truyền vận động, liên quan đến việc cung cấp các phương tiện và 16dịch

vụ tránh thai cho người dân, áp dụng các chính sách khuyến khích mọi cặp vợ chồng, gia đình, mọi nơi, mọi cơ sở tham gia tích cực vào công tác kế hoạch hóa gia đình Bất kì một xã hội nào muốn phát triển, ổn định và lâu dài thì rất cần có

sự đóng góp của gia đình Việc thực hiện chức năng tái sản xuất của con người một cách có hiệu quả thì xã hội, đất nước sẽ ngày càng phát triển toàn diện hơn nữa 2.5.Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn lao động mà gia đình cung cấp:

Ở Việt Nam, chúng ta có thể rất rõ ràng vấn đề này Trước đây, Việt Nam là một nước phong kiến nghèo với ngành nghề lao động chính là trồng lúa nước Nhà nước lúc bấy giờ vẫn còn ban sơ, chưa có định hướng cũng như kế hoạch phát triển đất nước một cách rõ ràng Tỉ lệ dân nghèo ở Việt Nam thời kì này chiếm đa số và những người sinh ra giàu có, được đi học chiếm thiểu số Trong thời kì này, tỉ lệ sinh tự nhiên rất cao, mỗi gia đình thậm chí có đến hơn

Ngày đăng: 05/02/2023, 19:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w