1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về thi hành án dân sự

42 2,5K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về thi hành án dân sự
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 151 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề về thi hành án dân sự

Trang 1

Lời nói đầu

Thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng dân

sự, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đơng sự, trong đó cácbản án, quyết định của Toà án đợc đa ra thi hành

Để góp phần duy trì ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của nhân dân, mọi hành vi vi phạm pháp luật và tranh chấp xảy ra khi

có yêu cầu đều đợc Toà án xem xét giải quyết theo thẩm quyền, đồng thờinhà nớc xây dựng một cơ chế đảm bảo cho việc thi hành các phán quyết màToà án đã tuyên Nếu bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật màkhông đựơc đa ra thi hành thì quyền lợi của đơng sự cha đợc đảm bảo,nguyên tắc pháp chế bị vi phạm Mặt khác tranh chấp, mâu thuẫn dân sựkhông đợc giải quyết kịp thời và triệt để, niềm tin của quần chúng nhân dânvào Đảng và nhà nớc bị suy giảm Vì vậy công tác thi hành án nói chung vàthi hành án dân sự nói riêng mang nội dung và ý nghĩa vô cùng quan trọng.Nhận thức đợc điều này, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã

đề ra chủ trơng " Đẩy mạnh cải cách tổ chức, nâng cao chất lợng và hoạt

động của các cơ quan T pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan vàcán bộ T pháp " Trong đó, có công tác thi hành án dân sự

Những năm qua công tác thi hành án dân sự đã từng bớc đợc đẩy mạnh

và đã thu đợc những kết quả to lớn Pháp luật về thi hành án dân sự đã và

đang đợc củng cố và hoàn thiện ngày càng phù hợp với những yêu cầu mới

đặt ra của sự phát triển kinh tế, xã hội Trên cơ sở những quy định của phápluật, hệ thống cơ quan thi hành án đã đợc hình thành trong cả nớc, hoạt độngthi hành án đã đạt hiệu quả nhất định, kỷ cơng trật tự xã hội đợc ổn định,

đồng thời pháp chế xã hội chủ nghĩa đợc đảm bảo Tuy nhiên, tình hình kinh

tế xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng các giao ludân sự ngày một mở rộng thì số vụ việc tranh chấp dân sự ngày càng gia tăngdẫn đến số lợng bản án, quyết định phải thi hành ngày càng nhiều Nếu nh tr-

ớc đây nhiệm vụ của cơ quan thi hành án chỉ là thi hành các bản án, quyết

định dân sự thì từ khi có Luật phá sản doanh nghiệp, Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh giải quyết các tranh chấp lao động, Pháplệnh công nhận thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nớc ngoài tạiViệt Nam, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định củaTrọng tài nớc ngoài, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Pháplệnh Trọng tài thơng mại có hiệu lực thi hành thì thẩm quyền của cơ quan thi

Trang 2

hành án dân sự ngày càng đợc mở rộng Trớc tình hình đó, cần phải hoànthiện hơn nữa pháp luật thi hành án dân sự góp phần đẩy nhanh hoạt động thihành án đạt hiệu quả hơn về số lợng cũng nh chất lợng, từng bớc giảm dần sốlợng bản án, quyết định tồn đọng cha đợc thi hành, đảm bảo tính nghiêmminh của pháp luật và tăng cờng tính pháp chế xã hội chủ nghĩa Vì vậy việcnghiên cứu pháp luật về thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay là mộtvấn đề cần thiết không chỉ đối với các nhà lập pháp, t pháp, các luật gia màcòn cần thiết đối với những sinh viên khi nghiên cứu về pháp luật Việt Nam.

Đây là một vấn đề lớn đòi hỏi phải có trình độ nghiên cứu cũng nh thời giannghiên cứu nhất định Do vậy, trong bài khoá luận tốt nghiệp này tôi chỉ xintrình bày một số khía cạnh quan trọng của pháp luật thi hành án dân sự đó là

Kết quả nghiên cứu đợc trình bày trong bản khoá luận gồm ba phần:Lời nói đầu, phần nội dung và kết luận Phần nội dung bản khoá luận gồmcác nội dung cơ bản sau:

- Chơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án dân sự

- Chơng 2: Nội dung một số qui định cơ bản của pháp luật về thi hành

điều kiện tiếp tục nghiên cứu đề tài này

Trang 3

Chơng i Những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án dân sự I/ Khái niệm và ý nghĩa của thi hành án dân sự

1 Khái niệm thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là một giai đoạn nhằm thực hiện những bản án,quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân trong cuộc sống, biếncác quyết định của Toà án trong những bản án, quyết định đó thành hiệu lựcthực tế Tuy nhiên, thi hành án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự hay thủtục hành chính đã có một thời kỳ có nhiều ý kiến khác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án dân sự không phải là một thủtục tố tụng dân sự, mà là một hoạt động mang tính chất chấp hành và điềuhành nh vậy thi hành án dân sự là một thủ tục hành chính

Ngợc lại với quan điểm thứ nhất, quan điểm thứ hai cho rằng thi hành

án dân sự là một thủ tục tố tụng dân sự Đây là giai đoạn tiếp theo của giai

đoạn xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đơng sự

Quan điểm thứ ba lại cho rằng thi hành án dân sự là một thủ tục tốtụng đặc biệt bởi nó vừa mang tính chất của thủ tục tố tụng dân sự lại vừa làthủ tục hành chính

Cả ba quan điểm trên đều có điểm hợp lý, nhng quan điểm thứ hai làphù hợp hơn cả bởi những lý do sau:

Trang 4

Thứ nhất, khi tranh chấp dân sự phát sinh, để bảo vệ quyền lợi hợp

pháp của mình, các đơng sự phải nhờ vào sự can thiệp của Nhà nớc mà cụ thể

là Toà án Sau khi thụ lý vụ việc, Toà án tiến hành điều tra, hoà giải, xét xử

để đa ra phán quyết của mình Việc giải quyết vụ việc mới thực sự là giai

đoạn đầu của quá trình tố tụng ở giai đoạn này, Toà án mới giải quyết đợc

về nội dung của vụ án, phân định quyền và nghĩa vụ của các bên Nếu phánquyết đó không đợc đa ra thi hành thì lợi ích của đơng sự thực chất cha đợcbảo vệ Hiệu lực bản án, quyết định của Toà án không đợc bảo đảm Việc bảo

vệ quyền, lợi ích của đơng sự là cả một quá trình và phải trải qua nhiều giai

đoạn khác nhau Chỉ khi nào tiến hành xong các giai đoạn này thì quá trìnhbảo vệ quyền lợi của đơng sự mới đợc coi là hoàn thành

Thứ hai, về nguyên tắc, khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

phải đợc đa ra thi hành theo yêu cầu của ngời đợc thi hành án hay cơ quan thihành án chủ động thi hành Tuy nhiên bản án, quyết định của Toà án đang đ-

ợc đa ra thi hành hoặc đã thi hành xong vẫn có thể bị xem xét lại theo thủ tụcgiám đốc thẩm, tái thẩm nếu có kháng nghị của ngời có thẩm quyền Do đó,giai đoạn thi hành án và quá trình xét xử có mối quan hệ mật thiết hữu cơ vớinhau, nó là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ quyền lợi của đơng sự.Trong đó việc ra bản án, quyết định là tiền đề, là điều kiện để tiến hành giai

đoạn thi hành án Nói nh thế, không có nghĩa chỉ khi nào giai đoạn xét xử

đ-ợc thực hiện xong thì mới đến giai đoạn thi hành án mà thi hành án còn đ đ-ợctiến hành song song cùng với giai đoạn xét xử Chẳng hạn trong quá trìnhgiải quyết việc xin ly hôn, xét điều kiện khó khăn của ngời vợ, Toà án có thể

ra quyết định khẩn cấp tạm thời buộc ngời chồng thực hiện nghĩa vụ cấp ỡng nuôi con theo yêu cầu của ngời vợ Để đảm bảo việc nuôi con của ngời

d-vợ, cơ quan thi hành án tiến hành thực thi ngay quyết định đó mặc dù Toà ánvẫn cha giải quyết xong việc xin ly hôn đó

Thứ ba, tranh chấp dân sự của các bên đều xuất phát từ quan hệ pháp

luật nội dung Do đó, án dân sự chủ yếu là giải quyết các vấn đề về tài sảngiữa các đơng sự Mặt khác, nếu bản án, quyết định Toà án tuyên cha có hiệulực pháp luật mà đơng sự tự nguyện thi hành thì thuần tuý đây là quan hệ dân

dự thông thờng chứ không có sự can thiệp của cơ quan Nhà nớc Do đó,không thể coi đây là thủ tục hành chính đợc Hơn nữa, nếu cho rằng trong tốtụng dân sự chỉ có Toà án mới là chủ thể tiến hành tố tụng còn cơ quan thihành án không phải là chủ thể đợc phép tiến hành các hoạt động tố tụng nênviệc thi hành án của cơ quan thi hành án không phải là hoạt động tố tụng là

Trang 5

không thoả đáng Bởi lẽ, việc giải quyết vụ án dân sự là một quá trình khókhăn và phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực khác nhau Mỗilĩnh vực đó đều đợc do một cơ quan chuyên môn đảm nhiệm Vì vậy, để giảiquyết tốt một vụ việc dân sự thì phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhànggiữa các cơ quan tổ chức với nhau Kết quả hoạt động của cơ quan này tạo cơ

sở, tiền đề cho hoạt động của cơ quan khác và góp phần vào nhiệm vụ chung

là giải quyết vụ việc đợc nhanh chóng, chính xác, kịp thời, đúng pháp luật,bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Vì vậy, hoạt động củathi hành án phải đợc coi là một thủ tục tố tụng dân sự và là một bộ phậnkhông thể thiếu của ngành luật tố tụng Đến nay điều này đã đợc khẳng địnhtrong Bộ luật tố tụng dân sự Theo Điều 1 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thihành án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự

Vì vậy, thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự nhằm thi hànhbản án, quyết định của Toà án Giai đoạn thi hành án dân sự là giai đoạn kếtthúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đơng sự trong đó bản án, quyết định củaToà án đợc đa ra thi hành trên thực tế

2 ý nghĩa của thi hành án dân sự.

Thứ nhất, thi hành án dân sự góp phần vào công tác giữ gìn an ninh

trật tự và an toàn xã hội

Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quanNhà nớc Vì vậy, hoạt động thi hành án dân sự mang tính quyền lực, cỡngchế, thể hiện trách nhiệm của Nhà nớc trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của công dân Trong giai đoạn xây dựng đất nớc hiện nay, khi nền kinh

tế thị trờng ngày một phát triển, quan hệ xã hội đợc mở rộng, các giao lu dân

sự ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp thì thi hành án dân sự

là một trong những công cụ hữu hiệu nhất của Nhà nớc trong việc duy trì trật

tự xã hội bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và là cơ sở để đảm bảo sựcông bằng, công lý trong xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giầu nớcmạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Thứ hai, thi hành án dân sự góp phần củng cố kết quả của công tác xét

xử trớc đó

Thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử nhằm thi hànhbản án, quyết định của Toà án Chỉ có công tác thi hành án dân sự mới làmcho bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đợc đa ra thi hànhtrên thực tế và góp phần củng cố kết qủa công tác xét xử trớc đó Phán quyết

mà Toà án đa ra chính là sự thể hiện ý chí của Nhà nớc trong việc giải quyết

Trang 6

bảo hiệu lực pháp luật, hiệu lực quản lý của Nhà nớc, góp phần giữ vững trật

tự, kỷ cơng xã hội, nâng cao uy tín của Nhà nớc trớc nhân dân

Thứ ba, thi hành án dân dân sự góp phần nâng cao chất lợng, hiệu quả

của hiệu lực xét xử

Mặc dù quá trình xét xử phải tuân thủ chặt chẽ các qui định của phápluật về trình tự thủ tục tố tụng Chủ thể tiến hành tố tụng đều là những ngời

có uy tín, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao Tuy nhiên, xuất phát từ đặc

điểm tính chất của vụ án dân sự là đa dạng và phức tạp Trong khi đó các qui

định của pháp luật về nội dung cũng nh qui định về thủ tục tố tụng nhiều khicòn cha chặt chẽ hay còn thiếu Do đó, còn có thể dẫn đến những sai lầmtrong quá trình xét xử Vì vậy, thi hành án dân sự chính là giai đoạn kiểmnghiệm qua thực tiễn những phán quyết bản án của Toà án, phản ảnh trungthực chất lợng và hiệu quả của toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Từ thựctiễn thi hành án mà mỗi Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm nhân dân vàcán bộ Toà án đã tham gia quá trình xét xử có thể rút ra kinh nghiệm để khắcphục những khiếm khuyết, nâng cao chất lợng và hiệu quả công tác củamình Đồng thời cũng là cơ sở để Toà án nhân dân tối cao tổng kết đúc rútkinh nghiệm đa ra đờng lối xét xử chung, thống nhất trong toàn ngành

Thứ t, thông qua công tác thi hành án dân sự nhằm nâng cao ý thức

Ii/ Quá trình hình thành và phát triển của những quy định về thi hành án dân sự.

1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990

Có thể nói rằng giai đoạn này là một giai đoạn mà công tác thi hành ándân sự gặp rất nhiều khó khăn Thi hành án còn là một bộ phận nằm trong cơcấu của Toà án Lúc này cùng một lúc Toà án phải thực hiện hai chức năng

đó là chức năng xét xử và chức năng thi hành án Đây là thời kỳ đất n ớc chahoàn toàn thống nhất, bên cạnh đó là một nền kinh tế bao cấp đầy những khókhăn và yếu kém Chính vì vậy những văn bản pháp luật nói chung và cácvăn bản thi hành án nói riêng còn rất ít, rất lẻ

Trang 7

Công việc thi hành án giai đoạn này chủ yếu đợc tiến hành dới sự hớngdẫn của các Thông t do Toà án nhân dân tối cao ban hành những quy định vềvấn đề này còn bị hạn chế rất nhiều nên việc thực hiện trên thực tế kém hiệuquả Hầu nh các bản án, quyết định do Toà án tuyên khi đa vào thi hành số l-ợng đạt đợc rất ít.

Đặc trng của thi hành án dân sự trong giai đoạn này là Toà án luôn chủ

động trong thi hành án, quyền định đoạt của đơng sự về thi hành án cha đợcpháp luật qui định đầy đủ Theo Điều lệ về thi hành án dân sự do Thông t số

827 ngày 23 / 10/1979 của Toà án nhân dân tối cao ban hành thì các Toà ánnhân dân địa phơng phải chủ động đa ra thi hành án mà không cần phải cóyêu cầu của ngời đợc thi hành án

đơng sự cụ thể là ngời đợc thi hành án phải nộp đơn yêu cầu hoặc đề nghịToà án tham gia vào quá trình thi hành án

Điều 14 Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 28/8/1989 đã qui định là:Trừ một số trờng hợp Toà án phải chủ động thi hành án còn nói chung, ngời

đợc thi hành án phải có yêu cầu thì Toà án mới tiến hành thủ tục thi hành ánvì sau khi Toà án xét xử xong thì thi hành án là một giai đoạn tố tụng khác.Trong giai đoạn tố tụng này, ngời đợc thi hành án vẫn có quyền định đoạtquyền lợi của mình, tức là họ có quyền đòi hỏi bên kia phải thi hành nhng họcũng có quyền hoà giải với bên kia hoặc không yêu cầu thi hành án Vì vậy,Toà án chỉ tiến hành thủ tục thi hành án khi ngời đợc thi hành án có yêu cầu.Mặc dù, giai đoạn này có Pháp lệnh thi hành án dân sự nhng Toà án vẫn đảmtrách chức năng thi hành án Với hai chức năng cơ bản của mình là xét xử vàthi hành án cũng đủ để chúng ta thấy đợc khối lợng công việc của Toà án dân

sự là rất lớn, liệu Toà án có giải quyết hết các công việc của mình đợc haykhông? Có lẽ không thể hoàn thành hết đợc nên vẫn còn hiện tợng tồn đọng

án cũ Bởi lẽ khối lợng công việc cần phải giải quyết quá nhiều, trong đókhối lợng công việc có khả năng giải quyết đợc lại rất ít, vì thế tình trạng số

án tồn đọng từ tháng này sang tháng khác, từ năm này qua năm khác cứ kéodài Sau khi Toà án tuyên bản án hoặc quyết định của mình thì Toà án đã

Trang 8

thực hiện xong chức năng xét xử Nhng để bản án đó có hiệu lực khả thi thìToà án còn phải thực hiện chức năng thi hành án Hai nhiệm vụ này giảiquyết xong thì có nghĩa là Toà án đã thực hiện việc bảo vệ quyền lợi, nghĩa

vụ của các đơng sự đợc pháp luật bảo vệ Để ra một quyết định một thi hành

án Toà phải cấp một bản sao bản án hoặc quyết định của mình cho ngời thihành án và ngời đợc thi hành án để hai bên tự nguyện thoả thuận thi hành áncho nhau trong vòng 30 ngày Hết 30 ngày hai bên vẫn không thoả thuận đợcviệc thi hành án thì sẽ xảy ra hai trờng hợp:

Một là: Toà án sẽ theo đơn yêu cầu thi hành án của ngời đợc thi hành

án mà can thiệp vào quá trình thi hành án đó

Hai là: Toà án trực tiếp tổ chức thi hành án theo qui định của pháp

- Trả tiền bồi thờng án phí;

- Bồi thờng thiệt hại và một số trờng hợp khác

Nh vậy, cùng một lúc Toà án vẫn kiêm nhiệm hai chức năng và Pháplệnh thi hành án dân sự năm 1989 không thể hiện đợc điểm mạnh của mình

ở đây đặt ra một vấn đề là pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 qui

định chỉ có ngời đợc thi hành án mới có quyền làm đơn nộp cho Toà án yêucầu thi hành án mà Hiến Pháp năm 1992 qui định: “ Mọi công dân điều bình

đẳng trớc pháp luật” đã không đợc thể chế hoá trong các điều luật một cách

rõ ràng, cụ thể, xác đáng Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 qui địnhngời phải thi hành án chỉ có quyền hoãn thi hành án trong trờng hợp đặc biệtcần thiết hoặc đợc phía ngời đợc thi hành án và Toà án chấp nhận Giả thiếtcho rằng nếu ngời phải thi hành án cũng muốn nộp đơn yêu cầu thi hành ánthì sao? Pháp luật của chúng ta sẽ giải quyết nh thế nào? Bởi vì trờng hợp nàyvẫn thờng xảy ra sau khi có quyết định giải quyết các vụ việc của Toà án

Sau một thời gian thực hiện Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989trên thực tế đã bộc lộ nhiều nhợc điểm cần khắc phục Chính những nhợc

điểm này đã làm hạn chế nhiều đến kết quả của công tác thi hành án

Theo Báo cáo tổng kết của nghành Toà án năm 1990, năm 1991, côngtác thi hành án năm 1990 và đầu năm 1991 của nhiều Toà án địa phơng thì sốlợng bản án thi hành xong chỉ đạt trên dới 30% tổng sổ bản án phải thi hành

Trang 9

Điều đáng nói ở đây là trong số bản án, quyết định của Toà án cha đợc thihành thì một số bản án, quyết định đó không có điều kiện thi hành Nh vậy,việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án không biết đến bao giờ mớikết thúc Toà án và ngời đợc thi hành án phải chờ đến bao giờ thì ngời phảithi hành án mới có điều kiện thi hành bản án, ở đây phải chăng là đã có sự ùntắc hợp pháp ở giai đoạn này.

3 Giai đoạn từ năm 1993 đến nay

Sau 3 năm thực hiện Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 thì bảnthân nó không phù hợp với thực tế thi hành án nữa Chính vì thế để thay thếPháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm

1993 ra đời Sự ra đời của Pháp lệnh này đã đáp ứng đợc nhu cầu thực tiễncũng nh lý luận của việc thi hành án ngày hôm nay

Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 ra đời đánh dấu một bớc ngoặttrong công tác phát triển của quá trình thi hành án Từ đây,Toà án khôngcùng một lúc thực hiện hai chức năng xét xử và thi hành án nữa Pháp lệnhthi hành án dân sự năm 1993 đã qui định công tác thi hành án thuộc về cơquan thi hành án Lần đầu tiên công tác thi hành án dân sự đợc một cơ quanchuyên môn đảm nhiệm Toà án chỉ còn lại chức năng xét xử

Trớc đây, do Toà án thực hiện cùng một lúc hai chức năng xét xử vàthi hành án mà số việc Toà án phải giải quyết rất nhiều Khối lợng công việcxét xử của Toà án đã chất chồng, lại thêm chức năng thi hành án thì Toà ánkhó có thể giải quyết đợc hết công việc của mình Số án tồn đọng không thihành đợc ngày một nhiều Tính đến thời điểm Pháp lệnh thi hành án dân sựnăm 1993 ra đời, khi Toà án chuyển chức năng thi hành án sang cho cơ quanthi hành án thì: tổng số án còn tồn đọng là 217877 vụ Trong đó số án có

điều kiện thi hành là 174306 vụ, số án không có điều kiện thi hành là 43571

vụ Trong số 174 306 vụ có điều kiện thi hành thì số án có khả năng thi hành

là 149 206 vụ và đã có 71466 vụ đã thi hành xong, 77740 vụ thi hành dởdang, 25100 vụ cha thi hành đợc

Chính vì những con số còn tồn đọng nhiều nh vậy nên phải chuyểnchức năng thi hành án sang cho cơ quan chuyên môn - Cơ quan thi hành án

Cơ quan thi hành án ra đời là một tất yếu trong sự phát triển và hoànthiện của hệ thống T pháp Việt Nam Cơ quan thi hành án ra đời đã góp phầngiải quyết số án tồn đọng từ ngày này sang ngày khác, từ năm này sang nămkhác Dần dần số lợng bản án, quyết định của Toà án sẽ đợc thi hành mộtcách kịp thời nhanh gọn

Trang 10

Khác với một số nớc trên thế giới ở nớc ta do cơ quan thi hành án nằmtrong hệ thống cơ quan Nhà nớc đảm nhiệm ở một số nớc nh Pháp, Thuỵ

Điển việc xã hội hoá công tác thi hành án dân sự rất cao Thi hành án cũng

có thể đợc thực hiện bởi những ngời không thuộc biên chế của nhà nớc Cáccán bộ thi hành án rất ít phải dùng biện pháp cỡng chế thi hành án

ở nớc ta số lợng bản án đợc các bên tự nguyện thi hành là rất ít nênhầu nh phải có sự can thiệp của cơ quan thi hành án thông qua sự hoạt độngcỡng chế của các chấp hành viên Trong khi thực hiện các biện pháp cỡngchế chấp hành viên là ngời nhân danh quyền lực Nhà nớc để thực hiện nhiệm

vụ đợc Nhà nớc giao cho, nh vậy mới đảm bảo đợc hiệu quả của công việc

Và điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá xãhội của nớc ta, cũng nh bản chất riêng của hoạt động thi hành án

Giai đoạn thi hành án dân sự là một giai đoạn khó khăn, phức tạp, chonên để làm tốt giai đoạn này đòi hỏi các cán bộ thi hành án phải nắm chắccác qui định cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự Kể từ khi Pháp lệnh thihành án dân sự năm 1993 đợc ban hành đã có trên 10 năm áp dụng vào thựctiễn Đây là một văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực thi hành

án dân sự Trên cơ sở Pháp lệnh này, hệ thống cơ quan thi hành án dân sự đã

đợc hình thành trong cả nớc, đa công tác thi hành án dần dần di vào nề nếp,hiệu quả thi hành án ngày càng đợc nâng cao góp phần đảm bảo tính nghiêmminh của pháp luật và trật tự kỷ cơng xã hội Tuy nhiên, qua một thời gian ápdụng Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 cũng không còn phù hợp, đãbộc lộ những điểm bất cập đòi hỏi phải đợc kịp thời bổ sung, sửa đổi Về cơbản Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 là sự sao y nguyên bản các quy

định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 Vì vậy, Pháp lệnh thi hành

án dân sự năm 1993 không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xãhội, không theo kịp quá trình đổi mới của đất nớc ta trong thời kỳ chuyển h-ớng sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là đờnglối của Đảng về cải cách hành chính, cải cách t pháp Nhiều vấn đề vớng mắc

về cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, thủ tục thi hành án cha đợc giải quyết Vìcơ sở pháp lý bị thiếu nên tình trạng án tồn đọng ngày càng nhiều Để khắcphục những tồn tại trên sau một thời gian tích cực tiếp thu ý kiến đóng góp,

cụ thể hoá một số chủ trơng, chính sách về thi hành án Sau nhiều lần chỉnh

lý lấy ý kiến địa phơng Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã đợc Uỷban thờng vụ Quốc hội thông qua ngày 14-1-2004 và có hiệu lực từ ngày 01-07-2004

Trang 11

Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đợc ban hành cũng là một bớcphát triển mới của Pháp luật về thi hành án Trớc hết có thể thấy rằng Pháplệnh này đã đợc sửa đổi bổ sung trên cơ sở Pháp lệnh thi hành án dân sự năm

1993 một cách cơ bản cả về nội dung và bố cục Về bố cục Pháp lệnh thihành án dân sự năm 2004 gồm 8 chơng 70 điều Về nội dung, Pháp lệnh thihành án dân sự năm 2004 có nhiều qui định mới so với Pháp lệnh thi hành ándân sự năm 1993 nh qui định về lệ phí thi hành án, miễn giảm thi hành án,kết thúc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án của ngời phải thi hành án

Tóm lại, sau một thời gian dài pháp luật về thi hành án dân sự ngàycàng hoàn thiện Việc hoàn thiện Pháp lệnh thi hành án dân sự đã góp phầnrất lớn vào việc đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự làm cho công tác nàyngày càng đạt đợc hiệu quả

Trang 12

Chơng II Nội dung một số qui định cơ bản của pháp luật về thi

Theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 phạm vi những bản án,quyết định thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự rất rộng bao gồm:

- Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinhtế;

- Bản án, quyết định dân sự của Toà án nớc ngoài, quyết định củatrọng tài nớc ngoài đợc Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại ViệtNam;

- Quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tàisản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết địnhcủa Toà án hình sự;

- Quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Toà án vềhành chính;

- Quyết định tuyên bố phá sản;

- Quyết định của Trọng tài thơng mại Việt nam;

- Bản án, quyết định khác do pháp luật qui định;

Trong phần này chúng tôi xin tập trung trình bày làm rõ những qui

định cơ bản nhất của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004

1 Những bản án, quyết định đợc đa ra thi hành

Về nguyên tắc, những bản án, quyết định của Toà án đợc đa ra thihành phải là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Điều 2 Pháplệnh thi hành án dân sự năm 2004 qui định nh sau:

-Những bản án, quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực phápluật bao gồm:

- Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơthẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Trang 13

- Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;

- Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án;

- Bản án, quyết định dân sự của Toà án nớc ngoài, quyết định củaTrọng tài nớc ngoài đã đợc Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tạiViệt Nam

- Quyết định của Trọng tài thơng mại Việt nam có hiệu lực thi hành

- Những bản án, quyết định kể trên là những bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật nên đợc đa ra thi hành Nhng ngoài ra Điều 2 Pháp lệnh thihành án dân sự năm 2004 còn qui định bản án, quyết định của Toà án đợc đa

ra thi hành án còn bao gồm những bản án, quyết định cha có hiệu lực phápluật nhng đợc thi hành ngay Việc thi hành ngay những bản án, quyết địnhcha có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của đơng sự, đảm bảo giải quyết tốt vụ án Các bản án, quyết định cha

có hiệu lực pháp luật đợc thi hành ngay bao gồm:

+ Bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về cấp dỡng, trả lơng, trảcông lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội hoặcbồi thờng thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, nhận ngời lao động trở lại làmviệc;

+ Quyết định khẩn cấp tạm thời để đảm bảo lợi ích cấp thiết cho đơng

sự hoặc đảm bảo cho việc thi hành án

Những bản án, quyết định cha có hiệu lực pháp luật nhng vẫn đợc phápluật qui định đa ra thi hành ngay là vì việc thi hành bản án, quyết định nhằmgiúp ngời đợc thi hành án khắc phục ngay những khó khăn Nếu đợi nhữngbản án, quyết định này có hiệu lực pháp luật rồi mới thi hành sẽ không đảmbảo kịp thời các quyền và lợi ích chính đáng của đơng sự đợc Nhà nớc thừanhận và bảo hộ

Trờng hợp những bản án, quyết định cha có hiệu lực pháp luật đợc thihành ngay khi đã đa ra thi hành mà bị kháng cáo, kháng nghị thì cơ quan thihành án vẫn tiếp tục cho thi hành và chỉ xoá sổ thụ lý khi có bản án, quyết

định của Toà án có thẩm quyền

Các quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có thể bị khiếu nại.Việc khiếu nại không làm đình chỉ thi hành chúng Cơ quan thi hành án chỉ

đình chỉ việc thi hành quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời bị khiếu nạikhi ngời có thẩm quyền giải quyết khiếu nại huỷ bỏ chúng hoặc đã có bản án,quyết định của Toà án về vụ án huỷ bỏ chúng

Trang 14

Nh vậy, theo Điều 2 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì chúng

ta thấy rằng những bản án, quyết định “có hiệu lực thi hành” không đồngnghĩa với những bản án, quyết định “có hiệu lực pháp luật” mà những bản án,quyết định “có hiệu lực thi hành” bao gồm một phạm vi rộng lớn hơn Dovậy, những bản án, quyết định mặc dù cha có hiệu lực pháp luật nhng đợc thihành ngay phải đợc đa ra thi hành theo đúng qui định của pháp luật nh bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để góp phần bảo vệ kịp thời quyền vàlợi ích chính đáng của các bên đơng sự, các vụ việc dân sự đợc giải quyếtnhanh chóng và có hiệu quả

Khi bản án, quyết định của Toà án đợc thi hành thì Toà án đã tuyênbản án, quyết định đó phải cấp cho ngời đợc thi hành án và ngời phải thihành án bản sao bản án hoặc quyết định có ghi: “để thi hành” Khi các bảnsao bản án, quyết định Toà án giải thích cho ngời đợc thi hành án biết quyềnlàm đơn và thi hành án

2 Thẩm quyền ra quyết định thi hành án

Việc xác định thẩm quyền thi hành án dựa trên cơ sở nơi nào Cơ quanthi hành án có điều kiện tổ chức thi hành án tốt thì thủ trởng Cơ quan thihành án nơi đó có quyền ra quyết định thi hành án

Thông thờng cơ quan thi hành án có điều kiện tổ chức thi hành án tốt

là cơ quan thi hành án nơi Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án Trong trờng hợpkhác lại là nơi ngời phải thi hành án c trú, làm việc, có tài sản liên quan đếnviệc thi hành án hoặc có trụ sở Vì ở những nơi này chấp hành viên có điềukiện tiếp xúc với đơng sự, xác minh tài sản của họ thuận lợi cho việc thihành án Cả ba Pháp lệnh thi hành án dân sự mà Nhà nớc đã ban hành đềuxác định thẩm quyền ra quyết định thi hành án dựa trên cơ sở đó Căn cứ vào

Điều 21 và Điều 24 của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì thủ trởngcơ quan thi hành án nơi Toà án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết

định thi hành án có quyền uỷ thác cho cơ quan thi hành án nơi ngời phải thihành án c trú, làm việc hoặc có tài sản, trụ sở liên quan đến việc thi hành án

ra quyết định thi hành án

Các cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: Cơ quan thi hành án dân sựcấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện và cơ quan thi hành án trong

Trang 15

quân đội Thẩm quyền ra quyết định thi hành án của các cơ quan này qui

định tại Điều 21 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 nh sau:

Thủ trởng Cơ quan thi hành án cấp tỉnh ra quyết định thi hành các bản

+ Bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao gửi cho Cơ quan thihành án cấp tỉnh;

+ Bản án, quyết định do Cơ quan thi hành án nơi khác uỷ thác;

+ Bản án dân sự của Toà án nớc ngoài, quyết định của Trọng tài nớcngoài đợc Toà án Việt nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

+ Quyết định của Trọng tài thơng mại Việt Nam

Thủ trởng Cơ quan thi hành án quân khu ra quyết định thi hành cácbản án, quyết định sau:

+ Quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Toà án quân sự quânkhu, Toà án quân sự khu vực trên địa bàn của Toà án quân sự quân khu;

+ Quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Toà án quân sự Trung

ơng chuyển giao cho Cơ quan thi hành án cấp quân khu;

+ Bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao gửi cho cơ quan thihành án cấp quân khu;

+ Bản án quyết định do Cơ quan thi hành án nơi khác uỷ thác

Thủ trởng Cơ quan thi hành án cấp huyện ra quyết định bản án, quyết

định sơ thẩm của Toà án cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của Toà

án cấp tỉnh; bản án, quyết định Toà án nhân dân tối cao gửi cho Cơ quan thihành án cấp huyện; bản án, quyết định do Cơ quan thi hành án nơi khác uỷthác

3 Uỷ thác thi hành án

Việc uỷ thác thi hành án là việc Cơ quan thi hành án có thẩm quyềngiao lại việc thi hành án cho Cơ quan thi hành án khác Để đảm bảo việc thihành án, pháp luật qui định trong trờng hợp bản án, quyết định có liên quan

đến nhiều ngời phải thi hành án mà những ngời này c trú ở nhiều nơi khácnhau, hoặc tài sản thu nhập của họ ở những nơi khác nhau, ngời phải thi hành

án chuyển đi nơi khác thì cần phải uỷ thác thi hành án Với những trờng hợp

Trang 16

này, việc uỷ thác thi hành án nhằm đảm bảo việc thi hành án có hiệu quả, bảo

vệ quyền lợi chính đáng của nhà nớc, của xã hội và của mọi công dân Trớc

đây việc uỷ thác thi hành án đợc qui định tại Điều 4 Pháp lệnh thi hành ándân sự năm 1993 và Điều 2, Điều 3, Điều 4, Điều 5 Nghị định 69/CP ngày18/10/1993 của Chính Phủ Hiện nay, uỷ thác thi hành án dân sự đợc qui

định tại Điều 24 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004

Thẩm quyền ra quyết định uỷ thác thuộc thủ trởng Cơ quan thi hành áncấp tỉnh, thủ trởng Cơ quan thi hành án quân sự và thủ trởng Cơ quan thihành án cấp huyện Khi uỷ thác phải ra quyết định uỷ thác thời hạn ra quyết

định uỷ thác không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định có căn cứ

uỷ thác Quyết định uỷ thác ghi rõ nội dung uỷ thác, khoản đã thi hành xong,khoản đang thi hành dang dở, khoản tiếp tục thi hành và các thông tin cầnthiết cho việc thực hiện uỷ thác Nếu đã ra quyết định thi hành án khi uỷ thácphải thu hồi lại quyết định thi hành án đã ra Quyết định uỷ thác gửi kèmtheo bản sao bản án, quyết định, bản sao biên bản kê biên, tạm giữ tài sảnnếu có Cơ quan thi hành án đã uỷ thác có trách nhiệm thông báo bằng vănbản cho Toà án chuyển giao bản án, quyết định, Viện kiểm sát cùng cấp vàngời đợc thi hành án biết việc uỷ thác

Khi bản án, quyết định đợc đa ra thi hành theo đơn yêu cầu của ngời

đ-ợc thi hành án thì phải có quyết định thi hành án của ngời có thẩm quyền mà

ở đây là thủ trởng Cơ quan thi hành án Trớc khi đa bản án, quyết định ra thihành thủ trởng Cơ quan thi hành án phải xác định có đủ cơ sở pháp lý để đa

ra thi hành cha ( nh: bản án, quyết định có hiệu lực thi hành không; ngời làm

đơn thi hành án có phải ngời đợc thi hành án không ) Nếu có đủ cơ sở pháp

lý để đa bản án, quyết định ra thi hành thì thủ trởng cơ quan thi hành án raquyết định thi hành án Thẩm quyền ra quyết định thi hành án trong trờnghợp phải uỷ thác thì các quyết định cũng tơng tự nh đối với trờng hợp thihành án theo đơn yêu cầu Việc vào sổ bản sao, quyết định việc vào sổ thụ lý,việc thi hành án cũng đợc thực hiện nh đối với trờng hợp thi hành án theo đơnyêu cầu Đối với trờng hợp chủ động thi hành án cơ quan thi hành án nhận đ-

ợc uỷ thác mà không có điều kiện thực hiện uỷ thác thì sẽ uỷ thác tiếp cho cơquan thi hành án nơi có điều kiện thi hành Đối với những bản án, quyết địnhcủa Toà án đợc đa ra thi hành theo yêu cầu của đơng sự thì Cơ quan thi hành

án nhận uỷ thác trả lại đơn yêu cầu thi hành án cho đơng sự và hớng dẫn cho

họ đến Cơ quan thi hành án có thẩm quyền yêu cầu thi hành án trong trờnghợp cơ quan này không có điều kiện thi hành

Trang 17

II Thủ tục thi hành án dân sự

1 Cấp, chuyển giao bản sao bản án, quyết định

a, Thủ tục cấp bản sao bản án, quyết định.

Nhiệm vụ của thi hành án dân sự là phải thi hành nghiêm chỉnh kịpthời, đúng đắn bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án Vìvậy theo qui định tại Điều 18 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì khibản án, quyết định có hiệu lực thi hành thì Toà án có nghĩa vụ cấp cho ng ời

đợc thi hành án và ngời phải thi hành án bản sao bản án, quyết định có ghi

“để thi hành” Việc cấp bản sao bản án, quyết định trong thời điểm này nhằmlàm cơ sở để ngời phải thi hành án thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đợcqui định trong bản án, quyết định của Toà án Đồng thời làm căn cứ để ngời

đợc thi hành án thực hiện yêu cầu thi hành án của mình Để đảm bảo quyềnlợi cho ngời đợc thi hành án, khi cấp bản sao bản án, quyết định Toà án đồngthời phải giải thích luôn cho họ biết quyền làm đơn yêu cầu thi hành án, thờihiệu thi hành án và các vấn đề khác có liên quan đến việc thi hành án nh:quyền yêu cầu hoãn thi hành án, quyền yêu cầu không thi hành án một phầnhay toàn bộ bản án, quyết định của Toà án

Pháp luật tố tụng không qui định cụ thể thời hạn cấp bản sao bản án,quyết định của Toà án cho đơng sự Nhng về nguyên tắc, kể từ khi bản án,quyết định đợc thi hành thì Toà án phải cấp cho đơng sự Việc cấp bản saobản án, quyết định của Toà án đợc tiến hành trong một thời hạn nhất định

Đối với bản án, quyết định sơ thẩm Toà án cấp ngay sau khi hết thời hạnkháng cáo, kháng nghị mà đơng sự không kháng cáo, Viện kiểm sát khôngkháng nghị Đối với bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; quyết

định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ngay sau khi Toà án xét xử xong phải cấpngay cho đơng sự bản sao bản án, quyết định đó

b, Thủ tục chuyển giao bản sao bản án, quyết định của Toà án cho cơ quan thi hành án

Ngoài thủ tục cấp bản sao bản án, quyết định của Toà án cho đơng sựToà án còn có nghĩa vụ chuyển giao bản sao bản án, quyết định cho cơ quanthi hành án bởi lý do sau:

Thứ nhất, bên cạnh quyền yêu cầu thi hành án của đơng sự, Pháp luật

còn qui định cho cơ quan thi hành án quyền chủ động đa ra thi hành ánnhững bản án, quyết định của Toà án để bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà n ớc,quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì vậy, trong những trờng hợp nàyToà án không phải cấp bản sao bản án, quyết định cho đơng sự mà chuyển

Trang 18

Thứ hai, theo pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, thì công tác thi

hành án dân sự đợc tách ra khỏi Toà án và do cơ quan thi hành án đảmnhiệm Do đó, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Toà án chỉ ra các bản

án, quyết định còn việc đa ra thi hành những phán quyết đó trên thực tế thuộctrách nhiệm của cơ quan thi hành án Để đảm bảo cho bản án, quyết định củamình đã tuyên đợc đa ra thi hành, thì sau khi bản án, quyết định có hiệu lựcpháp luật Toà án phải chuyển giao bản sao bản án, quyết định đó cho cơ quanthi hành án

* Thủ tục chuyển giao bản sao bản án, quyết định của Toà án:

Theo qui định tại Điều 19 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, đốivới những bản án, quyết định đợc thi hành theo yêu cầu của Toà án chỉ cấpbản sao bản án, quyết định cho ngời đợc thi hành mà không phải chuyển giaocho cơ quan thi hành án Tuy nhiên, vì trong các bản án, quyết định đều cóphần án phí, đây là phần bản án, quyết định mà đơng sự phải thực hiện nghĩa

vụ đối với Nhà nớc Do đó, Toà án vẫn phải chuyển giao cả bản sao bản án,quyết định cho cơ quan thi hành án Trớc đây tại Thông t liên ngành số981/TANDTC - VKSNDTC có hớng dẫn khi cấp cho đơng sự, Toà án đềuphải chuyển giao tất cả các loại bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án

Thời gian cấp bản sao bản án, quyết định hiện nay đợc thực hiện theo

Điều 19 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 nh sau:

+ Đối với bản án, quyết định của Toà án qui định tại các điểm a, b, c

và d khoản 1 Điều 2 của Pháp lệnh này thì Toà án đã tuyên bản án, quyết

định đó phải gửi bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án và Viện kiểm sátcùng cấp với Toà án đã xét xử sơ thẩm trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngàybản án, quyết định có hiệu lực pháp luật

+ Đối với bản án, quyết định đợc qui định theo qui định tại điểm akhoản 2 Điều 2 của Pháp lệnh này thì Toà án đã tuyên bản án, quyết định đóphải gửi bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án và Viện kiểm sátcùng cấp với Toà án đã xét xử sơ thẩm trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từngày ra bản án, quyết định đó

Đối với quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án đã raquyết định phải chuyển giao ngay quyết định đó cho cơ quan thi hành áncùng cấp

+ Khi chuyển giao bản án, quyết định Toà án phải gửi kèm theo biênbản kê biên, tạm giữ tang vật, tài sản, các tài liệu khác có liên quan( nếu có )

Trang 19

+ Trong trờng hợp nhận đợc yêu cầu của thủ trởng Cơ quan thi hành án

về việc giải thích bản án, quyết định thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngàynhận đợc yêu cầu, Toà án đã ra bản án, quyết định đó phải có trách nhiệm trảlời bằng văn bản

Để đảm bảo cho quá trình thi hành án đợc tiến hành thuận lợi và nhanhchóng kịp thời giúp cho Cơ quan thi hành án cũng nh chấp hành viên lắm bắt

đợc nội dung vụ án một cách chính xác toàn diện để từ đó lập ra kế hoạch thihành án thì khi chuyển giao bản sao bản án, quyết định, Toà án phải chuyểngiao kèm theo các biên bản kê biên, biên bản tạm giữ tài sản, tang vật (nếucó) cho cơ quan thi hành án Nếu Toà án cha chuyển giao đầy đủ trong thờihạn 15 ngày kể từ ngày nhận đợc yêu cầu Toà án phải thực hiện yêu cầu đó

Sau khi nhận đợc bản sao bản án, quyết định Toà án chuyển giao, Cơquan thi hành án phải vào sổ nhận bản sao bản án, quyết định và phải ghi rõnội dung bản án, quyết định; nội dung biên bản kê biên, tạm giữ tài sản tangvật (nếu có) Việc vào sổ nhận bản sao bản án, quyết định của Toà án nhằmmục đích giúp cho Cơ quan thi hành án biết đợc nội dung bản án, quyết định

mà Toà án phải chuyển giao để tiến hành việc phân loại Đối với những phầnquyết định thuộc quyền chủ động thì Cơ quan thi hành án ra quyết định thihành Đối với những phần thi hành theo đơn yêu cầu thì vào sổ theo dõi khi

có đơn yêu cầu của đơng sự, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án

2 Quyền yêu cầu thi hành án và thời hiệu thi hành án:

a, Quyền yêu cầu thi hành án.

Khi bản án, quyết định của toà àn đã có hiệu lực pháp luật phải đợccác đơng sự tự nguyện thi hành Nếu các bên đơng sự không tự nguyện thihành thì ngời đợc thi hành án, ngời phải thi hành án căn cứ vào bản án quyết

định dân sự có quyền gửi đơn đến cơ quan thi hành án có thẩm quyền raquyết định thi hành án Đây là điểm khác biệt giữa Pháp lệnh thi hành án dân

sự năm 1993 và Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã đợc bổ sung quy

định, ngời phải thi hành án cũng có qyền làm đơn thi hành án Đơn yêu cầuthi hành phải đợc gửi kèm theo bản sao bản án,quyết định của Toà án Ngời

đợc thi hành án cũng có thể trực tiếp đến Cơ quan thi hành án yêu cầu thihành án.Trong trờng hợp đó Cơ quan thi hành án lập biên bản ghi rõ nội dungyêu cầu của đơng sự Nh vậy nhà nớc chỉ tham gia vào quá trình thi hành ánkhi ngời phải thi hành án không tự nguyện thi hành và ngời đợc thi hành án

có yêu cầu Đơn yêu cầu thi hành án phải đợc gửi trong thời hiệu thi hành án

b, Thời hiệu thi hành án:

Trang 20

Thời hiệu thi hành án là thời hạn ngời đợc thi hành án, ngời phải thihành án có quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định.

Nếu trong thời hiệu thi hành án, ngời đợc thi hành án, ngời phải thihành án không yêu cầu thi hành án thì sau đó họ không có quyền yêu cầu thihành bản án, quyết định nữa Việc qui định thời hiệu thi hành án buộc ngời

đợc thi hành án phải yêu cầu thi hành án trong thời hạn do luật qui định Nếuhết thời hạn đó thì ngời đợc thi hành án không có đơn yêu cầu thì bản án,quyết định hết hiệu lực thi hành Điều 25 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm

2004 qui định thời hiệu thi hành án dân sự nh sau:

- Thời hiệu chung về thi hành án dân sự:

+Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực phápluật, ngời đợc thi hành án, ngời phải thi hành án là cá nhân hay tổ chức cóquyền gửi đơn đến Cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án.Hết thời hạn

đó, nếu ngời thi hành án, ngời phải thi hành án không có đơn yêu cầu thì bản

án, quyết định có hiệu lực pháp luật pháp luật sẽ hết hiệu lực thi hành

+Thời hiệu này đợc tính theo ngày nhận đơn, nếu đơn đợc trực tiếp đa

đến cơ quan thi hành án hoặc tính theo ngày gửi ghi trên dấu bu điện nếu đơngửi qua bu điện

- Thời hiệu thi hành án trong trờng hợp đơn yêu cầu thi hành án

đ-ợc trả lại hoặc việc thi hành án bị tạm ngừng.

+Trong trờng hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ đợc ấn định trong bản

án, quyết định của Toà án thì thời hạn 3 năm đợc tính từ ngày nghĩa vụ đếnhạn

+Theo qui định tại Điều 29 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 khibản án, quyết định đợc đa ra thi hành mà xác định ngời phải thi hành ánkhông có tài sản để thi hành, thì Cơ quan thi hành án trả lại đơn yêu cầu thihành án cho ngời đợc thi hành án Trong trờng hợp này, thời hiệu 3 năm đợctính từ ngày ngời phải thi hành án có điều kiện thi hành

- Thời hiệu thi hành án theo định kỳ:

+ Bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 3 năm, đợc ápdụng cho từng kỳ, tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn

Ví dụ: Bản án có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 ghi nhận sự thoả thuận

ông A phải trả nợ cho ông B là 10.000.000 đồng nhng phải trả làm 3 kỳ, mỗi

kỳ 3 tháng Ngày 20/01/2000 ông A đã trả cho ông B là 3.000.000 đồng vàngày 20/4/2001 lại trả 3.000.000 đồng nữa Thời hạn trả 4.000.000 đồng lầnthứ 3 là ngày 20/7/2002 nhng ông A không trả đợc nữa Do đó, thời hiệu tính

từ ngày 20/7/2002 tức là tính hết ngày 20/7/2005 mà ông B không yêu cầu thi

Trang 21

hành án để đòi nốt 4.000.000 đồng thì không có quyền yêu cầu thi hành ánnữa.

-Thời hiệu thi hành án trong trờng hợp ngời đợc thi hành án vì trở ngại khách quan hoặc do điều kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án trong thời hạn luật định không tính vào thời hiệu thi hành án

Khoản 2 Điều 25 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 qui định nhsau:

+ Nếu ngời yêu cầu thi hành án chứng minh đợc do trở ngại kháchquan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúngthời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả khángkhông tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án

Việc cho thi hành bản án, quyết định sau khi đã hết thời hiệu thi hànhgọi là khôi phục thời hiệu Tại khoản 3 Điều 25 Pháp lệnh thi hành án dân sựnăm 2004 qui định về khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án do thủ trởngCơ quan thi hành án nơi có thẩm quyền ra quyết định thi hành án xem xét raquyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án, trong trờng hợp không cócăn cứ khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án thì thủ trởng Cơ quan thi hành

án ra quyết định không chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn của ngời đó

Tóm lại: khi bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật sẽ

đợc các bên tự nguyện thi hành, Nhà nớc chỉ tham gia vào quá trình thi hành

án khi có yêu cầu của ngời đợc thi hành án, ngời phải thi hành án Đơn yêucầu thi hành án phải đợc làm trong thời hiệu thi hành án theo qui định củaPháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và đợc gửi kèm theo bản sao bản án

Thông thờng sau khi có quyết định thi hành án thì các bản án, quyết

định của Toà án có hiệu lực thi hành đợc đa ra thi hành Tuy nhiên có nhữngtrờng hợp nhất định mà việc thi hành án có thể phải tạm ngừng, ngừng hẳnviệc thi hành án hoặc trả lại đơn yêu cầu thi hành án mà pháp lệnh thi hành

án dân sự ngày 01/7/2004 gọi đó là hoãn thi hành án, tạm đình chỉ, đình chỉthi hành án

3.Chủ động ra quyết định thi hành án, ra quyết định thi hành án theo yêu cầu.

Ngày đăng: 14/12/2012, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w