1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Một số vấn đề về công nhận và thi hành bản án, quyết định của toà án và trọng tài nước ngoài tại Việt Nam " ppt

8 927 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 107,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I có tiêu đề là "Những quy định chung" từ Điều 1 đến Điều 9 quy định cách hiểu khái niệm bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài; nguyên tắc công nhận và thi hành; quyền y

Trang 1

Một số vấn đề về công nhận và

thi hành bản án, quyết định của tòa án

và trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

PTS Hoàng Phước Hiệp *

ấn đề công nhận và thi hành bản án,

quyết định của tòa án và trọng tài

nước ngoài tại Việt Nam đang được

nhiều cơ quan, tổ chức cá nhân trong và

ngoài nước quan tâm Nhiều vấn đề đ,

được đặt ra xung quanh chế định pháp lí

này nhưng đến nay trong pháp luật nước

ta vẫn chưa có lời giải đáp rõ ràng Bài

viết này giới thiệu một số vấn đề đang

được quan tâm nhằm tìm giải đáp thích

hợp, góp phần nghiên cứu và hoàn thiện

hệ thống các văn bản của Nhà nước ta

trong lĩnh vực này

1 Về chủ trương, chính sách, pháp

luật của Nhà nước Việt Nam liên quan

đến công nhận và thi hành bản án,

quyết định của tòa án và trọng tài nước

ngoài tại Việt Nam

1.1 Trong thời gian qua, cùng với

việc mở rộng và phát triển quan hệ quốc

tế của Việt Nam, đ, và đang xuất hiện

ngày một nhiều các vụ việc tranh chấp về

dân sự, kinh tế - thương mại, lao động

mà một bên đương sự là cá nhân, tổ chức

Việt Nam còn bên kia là nước ngoài

Nhiều vụ tranh chấp đ, được tòa án, trọng

tài nước ngoài giải quyết và gửi bản án,

quyết định đến cơ quan có thẩm quyền

của Việt Nam kèm theo đơn yêu cầu công

nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản

án, quyết định đó

- Về mặt lí luận, Nhà nước Việt Nam

nhận thức rằng bản án, quyết định của tòa

án và trọng tài nước ngoài, theo nguyên tắc

chủ quyền quốc gia thì các bản án đó không có giá trị pháp lí và hiệu lực thi hành trên l,nh thổ của Việt Nam Muốn cho bản án, quyết định của toà án, trọng tài nước ngoài có giá trị pháp lí và có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, theo pháp luật Việt Nam thì chúng phải được pháp luật

và cơ quan tư pháp có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và cho thi hành

- Về phương diện pháp luật quốc tế, Nhà nước Việt Nam coi trọng vấn đề công nhận và thi hành các bản án, quyết

định của tòa án và trọng tài nước ngoài trên cơ sở cam kết quốc tế Điều này thấy

rõ qua nội dung các hiệp định tương trợ tư pháp mà Nhà nước Việt Nam đ, kí kết với nước ngoài từ năm 1980 đến nay và việc Việt Nam tham gia Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài Những văn bản pháp lí quốc tế này là cơ

sở pháp lí quan trọng để Nhà nước Việt Nam xây dựng và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật về công nhận và thi hành các bản án, quyết định của tòa án và trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

- Về mặt pháp luật trong nước, phải thừa nhận rằng những văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam có hiệu lực pháp luật cao được ban hành khá muộn so với yêu cầu của việc mở rộng và phát triển quan hệ quốc tế của Việt Nam

V

* Vụ pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế

Bộ tư pháp

Trang 2

Trước ngày ủy ban thường vụ Quốc

hội thông qua Pháp lệnh ngày 17/4/1993

về công nhận và thi hành tại Việt Nam

bản án, quyết định dân sự của tòa án nước

ngoài, Nhà nước Việt Nam chưa có văn

bản luật hoặc pháp lệnh quy định riêng về

vấn đề này Do hoàn cảnh lúc bấy giờ,

Việt Nam chủ trương không ban hành

những văn bản có hiệu lực pháp luật cao

Việt Nam đ, có Thông tư số 11/TATC

ngày 12/7/1974 của Tòa án nhân dân tối

cao hướng dẫn một số vấn đề về nguyên

tắc và thủ tục trong việc giải quyết một số

vụ việc có yếu tố nước ngoài, trong phần

IV của Thông tư có quy định chung về

vấn đề công nhận và thi hành bản án,

quyết định của tòa án nước ngoài Thông

tư liên bộ số 139/TTLB ngày 12/3/1984

của Bộ tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao,

Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội

vụ, Bộ ngoại giao về việc thi hành các

hiệp định tương trợ tư pháp đ, giao nhiệm

vụ cho các cơ quan có thẩm quyền trong

việc xử lí vấn đề này Ngày 25/3/1993,

Bộ tư pháp đ, có Thông tư số 163/HTQT

hướng dẫn chi tiết các vấn đề liên quan

đến tống đạt giấy tờ tư pháp, kể cả bản án

của tòa án nước ngoài Ngày 28/8/1989

Nhà nước Việt Nam ban hành Pháp lệnh

thi hành án dân sự, trong đó có quy định

bản án, quyết định dân sự của tòa án nước

ngoài đ, được tòa án Việt Nam công

nhận thì được thi hành tại Việt Nam theo

Pháp lệnh thi hành án dân sự

1.2 Ngày 17/4/1993 ủy ban thường

vụ Quốc hội đ, thông qua Pháp lệnh công

nhận và thi hành tại Việt Nam bản án,

quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

(sau đây gọi là Pháp lệnh 1993) Pháp

lệnh 1993 gồm có lời nói đầu và 26 điều,

chia làm 4 chương

Chương I có tiêu đề là "Những quy

định chung" (từ Điều 1 đến Điều 9) quy

định cách hiểu khái niệm bản án, quyết

định dân sự của tòa án nước ngoài; nguyên tắc công nhận và thi hành; quyền yêu cầu công nhận và thi hành hoặc yêu cầu không công nhận; cơ quan có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành hoặc đơn yêu cầu không công nhận; quy định các nguyên tắc về bảo

đảm quyền kháng cáo, kháng nghị; bảo

đảm hiệu lực của quyết định của tòa án Việt Nam công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài; bảo đảm việc chuyển tiền, tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài; quy định việc thông báo kết quả xét đơn yêu cầu; quy

định về lệ phí

Chương II có tiêu đề "Xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài" (từ Điều 10 đến Điều 20) Chương này quy định các yêu cầu cơ bản

đối với đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành; các giấy tờ kèm theo đơn yêu cầu; chuyển hồ sơ cho tòa án; tòa án thụ lí hồ sơ, chuẩn bị xét đơn yêu cầu; quy định về phiên tòa xét đơn yêu cầu; các trường hợp không công nhận bản án, quyết định của tòa án nước ngoài; về kháng nghị, kháng cáo, xét kháng nghị, kháng cáo; quy định

về thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

Chương III có tiêu đề "Xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam" (từ Điều

21 đến Điều 24) Chương này quy định thời hạn gửi đơn yêu cầu không công nhận; quy định về nội dung cơ bản của

đơn yêu cầu và các giấy tờ kèm theo đơn yêu cầu; quy định về thủ tục xét đơn yêu

Trang 3

cầu và gửi bản sao quyết định; quy định

về kháng cáo, kháng nghị quyết định của

tòa án Việt nam

Chương IV có tiêu đề "Điều khoản

cuối cùng" (Điều 25 và Điều 26) quy định

về việc áp dụng điều ước quốc tế và hiệu

lực của Pháp lệnh

Để thi hành cụ thể Pháp lệnh 1993,

ngày 24/7/1993, Tòa án nhân dân tối cao,

Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư

pháp đ, ban hành Thông tư liên ngành số

04/TTLN hướng dẫn, thực hiện một số

quy định của Pháp lệnh đó Ngày

7/9/1994 Chính phủ ban hành Nghị định

số 117/CP về án phí, lệ phí tòa án, trong

đó có quy định rõ mức lệ phí mà người

gửi đơn yêu cầu công nhận bản án, quyết

định của tòa án nước ngoài phải nộp cho

cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

Bên cạnh đó, ủy ban thường vụ Quốc hội

cũng đ, thông qua Pháp lệnh thi hành án

dân sự ngày 17/4/1993 thay thế Pháp lệnh

thi hành án dân sự ngày 28/8/1989

1.3 Song song với việc xây dựng và

ban hành các văn bản quy phạm pháp

luật, Nhà nước Việt Nam đ, tiến hành

nghiên cứu các điều ước quốc tế và pháp

luật, thực tiễn của các nước về công nhận

và thi hành quyết định của trọng tài nước

ngoài Ngày 28/7/1995 Chủ tịch nước

Cộng hòa x, hội chủ nghĩa Việt Nam đ,

kí quyết định gia nhập Công ước New

York năm 1958 về công nhận và thi hành

quyết định của trọng tài nước ngoài (sau

đây gọi là Công ước New York 1958)

Khi gia nhập Công ước New York 1958,

Nhà nước Việt Nam đ, tuyên bố ba điểm

bảo lưu như sau:

Thứ nhất, chỉ áp dụng Công ước New

York 1958 đối với việc công nhận và thi

hành tại Việt Nam các quyết định của

trọng tài nước ngoài được tuyên tại l,nh

thổ của các quốc gia là thành viên của Công ước Đối với các quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại l,nh thổ của quốc gia chưa kí kết hoặc tham gia Công ước New York 1958 thì các quy

định của Công ước này được áp dụng để công nhận và thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài đó trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại

Thứ hai, chỉ áp dụng Công ước New York 1958 đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại;

Thứ ba, mọi sự giải thích Công ước New York 1958 này trước tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam

Sau khi tham gia Công ước New York

1958, ngày 14/9/1995, ủy ban thường vụ Quốc hội đ, thông qua Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài (sau đây gọi là Pháp lệnh 1995) Pháp lệnh 1995 gồm lời nói đầu và 24 điều, chia thành 3 chương Chương I có tiêu đề "Những quy định chung" (từ Điều 1 đến Điều 9) Chương này quy định cách hiểu khái niệm quyết

định của trọng tài nước ngoài; các nguyên tắc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài; quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định; quy

định các nguyên tắc bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị; bảo đảm hiệu lực của quyết định của tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài; bảo đảm việc chuyển tiền, tài sản thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài; quy định việc thông báo kết quả xét đơn yêu cầu; quy định về lệ phí Chương II có tiêu đề "Xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài" (từ

Trang 4

Điều 10 đến Điều 20) Chương này quy

định: Các yêu cầu đối với đơn yêu cầu

công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

quyết định của trọng tài nước ngoài; các

giấy tờ kèm theo đơn yêu cầu; các thủ tục

chuyển hồ sơ cho tòa án; tòa án thụ lí hồ

sơ; chuẩn bị xét đơn yêu cầu; phiên tòa

xét đơn yêu cầu; các trường hợp không

công nhận quyết định của trọng tài nước

ngoài; thủ tục gửi bản sao quyết định của

tòa án cho viện kiểm sát; các quy định về

bảo đảm quyền kháng cáo của đương sự,

kháng nghị của viện kiểm sát; về việc xét

kháng cáo, kháng nghị; các nguyên tắc và

thủ tục về thi hành quyết định của trọng

tài nước ngoài đ, được tòa án Việt Nam

công nhận và cho thi hành

Chương III có tiêu đề "Điều khoản

cuối cùng" (từ Điều 21 đến Điều 24)

Chương này quy định việc áp dụng các

điều ước quốc tế liên quan; nguyên tắc

không xem xét việc công nhận và cho thi

hành tại Việt Nam quyết định của trọng

tài của nước đ, áp dụng các biện pháp

phân biệt đối xử trong quan hệ đối với

Việt Nam; các quy định liên quan đến

hiệu lực thi hành Pháp lệnh và hướng dẫn

thi hành Pháp lệnh này

Để thi hành Pháp lệnh 1995, ngày

12/6/1997 Chính phủ đ, ban hành Nghị

định số 70/CP về án phí, lệ phí tòa án,

trong đó có quy định mức lệ phí, thủ tục

nộp lệ phí xét đơn yêu cầu công nhận và

cho thi hành tại Việt Nam quy định của

trọng tài nước ngoài

2 Về khái niệm "bản án, quyết

định dân sự của tòa án nước ngoài" và

"quyết định của trọng tài nước ngoài"

Ngay trong Điều 1 Pháp lệnh 1993 và

Điều 1 Pháp lệnh 1995 đ, định nghĩa:

"Bản án, quyết định dân sự của tòa án

nước ngoài" và "Quyết định của trọng tài

nước ngoài"

2.1 Điều 1 Pháp lệnh 1993 định nghĩa "Bản án, quyết định dân sự của tòa

án nước ngoài, trong Pháp lệnh này, được hiểu là bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự

và bản án, quyết định khác của tòa án nước ngoài mà pháp luật Việt Nam quy

định là bản án, quyết định dân sự"

Định nghĩa này được xây dựng dựa hoàn toàn vào định nghĩa "Bản án, quyết

định dân sự của tòa án" được quy định trong Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 17/4/1993 và phù hợp với pháp luật hiện hành của Việt Nam về bản án, quyết định dân sự

Tuy vậy, Pháp lệnh 1993 và các văn bản pháp luật liên quan không quy định

rõ "bản án, quyết định khác của tòa án nước ngoài mà pháp luật Việt nam quy

định là bản án, quyết định dân sự" là những bản án, quyết định về vấn đề gì Một câu hỏi rất dễ đặt ra ở đây là liệu các bản án, quyết định về kinh tế, thương mại của tòa án nước ngoài có được pháp luật Việt Nam quy định là bản án, quyết định dân sự theo tinh thần của Pháp lệnh 1993 không? Câu trả lời ở đây thật không đơn giản, cần phải có thời gian để xác định lại trên cơ sở các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa x, hội chủ nghĩa Việt Nam

2.2 Điều 1 Pháp lệnh 1995 định nghĩa: "Quyết định của trọng tài nước ngoài trong Pháp lệnh này được hiểu là quyết định được tuyên ở ngoài l@nh thổ Việt Nam của trọng tài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại

Quyết định của trọng tài nước ngoài

Trang 5

còn bao gồm quyết định của trọng tài

được tuyên tại l@nh thổ Việt Nam nhưng

không do trọng tài Việt Nam tuyên"

Định nghĩa này về cơ bản được xây

dựng trên cơ sở Điều 1 Công ước New

York 1958, nó kết hợp cả tiêu chí l,nh

thổ và tiêu chí quốc tịch của trọng tài để

xác định tính chất "nước ngoài" của quyết

định của trọng tài Theo định nghĩa của

Pháp lệnh 1995 thì Việt Nam đ, thừa

nhận sự tồn tại của trọng tài thường trực

(trọng tài định chế) và trọng tài theo vụ

việc (trọng tài ad hoc)

Tuy vậy, Pháp lệnh 1995 chỉ đề cập

các quyết định của trọng tài nước ngoài

do các bên lựa chọn để giải quyết tranh

chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật

thương mại Liệu khái niệm "quan hệ

pháp luật thương mại" ở Công ước New

York 1958 và Pháp lệnh 1995 được hiểu

là các quan hệ được hình thành, thay đổi

hoặc chấm dứt trên cơ sở các quy định

của Luật thương mại được Quốc hội nước

Cộng hòa x, hội chủ nghĩa Việt Nam

thông qua ngày 10/5/1997 hay không?

Câu trả lời không giản đơn cần có giải

thích chính thức của ủy ban thường vụ

Quốc hội

3 Về nguyên tắc công nhận và thi

hành bản án, quyết định của tòa án và

trọng tài nước ngoài

3.1 Theo quy định tại Điều 2 Pháp

lệnh 1993, tòa án Việt Nam chỉ xem xét

để công nhận và cho thi hành bản án,

quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

tại Việt Nam trong trường hợp giữa Việt

Nam và nước ngoài hữu quan có điều ước

quốc tế có hiệu lực về vấn đề này Trong

trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài

hữu quan chưa có điều ước quốc tế về vấn

đề này thì bản án, quyết định của tòa án

nước ngoài chỉ được công nhận và thi

hành tại Việt Nam khi được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành Tuy vậy, cho đến nay Nhà nước Việt Nam chưa có văn bản pháp luật riêng quy định việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam mà nước đó và Việt Nam chưa kí kết hoặc tham gia điều

ước quốc tế về vấn đề này

Bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành Việc thi hành phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt nam về thi hành bản án, quyết định dân

sự

Bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia Tòa án Việt Nam chỉ xem xét việc không công nhận bản án, quyết định dân

sự đó của tòa án nước ngoài khi có đơn yêu cầu không công nhận nó

3.2 Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh 1995, tòa án Việt Nam xem xét việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài trong trường hợp quyết định đó được tuyên tại nước hoặc của trọng tài của nước mà Việt Nam và nước đó đ, kí kết hoặc cùng tham điều ước quốc tế về vấn đề này Quyết định của trọng tài nước ngoài cũng có thể được tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi phải có điều kiện kí kết, tham gia

điều ước quốc tế Tuy vậy, đến nay chưa

có văn bản pháp luật riêng quy định cơ quan có thẩm quyền xác định sự có đi có

Trang 6

lại trong trường hợp đ, nêu ở trên

Quyết định của trọng tài nước ngoài

được thi hành tại Việt Nam sau khi được

tòa án Việt Nam công nhận và cho thi

hành; việc thi hành phải tuân theo quy

định của pháp luật Việt Nam về thi hành

bản án, quyết định dân sự và các quy định

của Pháp lệnh 1995

4 Về thủ tục và trình tự xét đơn

yêu cầu công nhận và cho thi hành bản

án, quyết định của tòa án và trọng tài

nước ngoài tại Việt Nam

Pháp lệnh 1993 và Pháp lệnh 1995

quy định cơ bản gần giống nhau về thủ

tục và trình tự xét đơn yêu cầu công nhận

và cho thi hành tại Việt Nam bản án,

quyết định của tòa án và trọng tài nước

ngoài

4.1 Những điểm cơ bản giống nhau

giữa hai pháp lệnh gồm:

Thứ nhất, quyền yêu cầu công nhận

và cho thi hành thuộc tổ chức, cá nhân

được thi hành Họ có thể ủy quyền cho

người đại diện của họ thực hiện quyền

này Người phải thi hành phải là tổ chức

có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc là cá

nhân cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc

tài sản liên quan đến việc thi hành có tại

Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu

Thứ hai, tòa án có thẩm quyền xét

đơn yên cầu là tòa án nhân dân tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ

chức phải thi hành có trụ sở chính, nơi cá

nhân phải thi hành cư trú, làm việc hoặc

nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành

Thứ ba, quyền kháng cáo của đương

sự, kháng nghị của viện kiểm sát được

bảo đảm theo quy định của pháp luật Việt

Nam; đơn kháng cáo, quyết định kháng

nghị đều do Tòa án nhân dân tối cáo xem

xét

Thứ tư, bản án, quyết định của tòa án

và trọng tài nước ngoài đ, được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam thì có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam như bản án, quyết định của tòa

án Việt Nam đ, có hiệu lực pháp luật; các

đương sự phải nghiêm chỉnh thi hành, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức x, hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải tôn trọng Trong trường hợp tổ chức, cá nhân phải thi hành không tự nguyện chấp hành quyết định đ,

có hiệu lực của tòa án Việt Nam thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy

định của pháp luật Việt Nam

Thứ năm, Bộ tư pháp Việt Nam là cơ quan đầu mối trong việc tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án và trọng tài nước ngoài, kiểm tra tính hợp pháp, hợp thức của các giấy tờ, hồ sơ, thông báo kết quả giải quyết đơn yêu cầu,

đơn kháng cáo, chuyển hồ sơ cho tòa án

có thẩm quyền giải quyết theo đúng quy

định của Pháp lệnh 1993, Pháp lệnh 1995

và xử lí các yêu cầu cụ thể của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước liên quan đến việc công nhận và thi hành bản án, quyết

định của tòa án và trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

Thứ sáu, trình tự và thủ tục phiên tòa xét đơn yêu cầu cơ bản giống nhau Phiên tòa do hội đồng gồm ba thẩm phán tiến hành, trong đó có một thẩm phán làm chủ tọa Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa Đương

sự hoặc người đại diện của các bên liên quan được mời đến phiên tòa theo quy

định chung của pháp luật Việt Nam Hội

đồng không xét xử lại vụ tranh chấp đ,

được tòa án, trọng tài nước ngoài giải quyết mà chỉ kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định của tòa án, trọng tài nước

Trang 7

ngoài và giấy tờ kèm theo với quy định

của Pháp lệnh 1993, Pháp lệnh 1995, quy

định khác của pháp luật Việt Nam và điều

ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc

tham gia, để ra quyết định

4.2 Những điểm khác nhau giữa hai

pháp lệnh gồm:

Thứ nhất, về thời gian chuẩn bị xét

đơn yêu cầu

+ Pháp lệnh 1993 quy định như sau:

- 4 tháng kể từ ngày thụ lí hồ sơ, tòa

án sẽ ra quyết định về việc đình chỉ việc

xét đơn hoặc mở phiên tòa xét đơn yêu

cầu Trong trường hợp hồ sơ có điểm

chưa rõ, cần giải thích hoặc bổ sung tài

liệu thì có thể kéo dài tối đa thêm 2 tháng

nữa

- 1 tháng để mở phiên tòa, kể từ ngày

có quyết định mở phiên tòa xét đơn yêu

cầu

+ Pháp lệnh 1995 quy định giảm 50%

số ngày nói trên đối với việc chuẩn bị xét

đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành

quyết định của trọng tài nước ngoài, tức 2

tháng để ra quyết định cần thiết và 15

ngày để mở phiên tòa

Thứ hai, về các trường hợp không

công nhận bản án, quyết định của tòa án

và trọng tài nước ngoài,

Pháp lệnh 1993 quy định 6 nhóm

trường hợp cơ bản sau:

- Bản án, quyết định chưa có hiệu lực

pháp luật theo pháp luật của nước có tòa

án đ, tuyên bản án, quyết định đó;

- Người phải thi hành hoặc người đại

diện hợp pháp của họ vắng mặt tại phiên

tòa của tòa án nước ngoài do không được

triệu tập hợp lệ;

- Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử

riêng biệt của tòa án Việt Nam;

- Về cùng vụ án này có bản án, quyết

định dân sự đ, có hiệu lực pháp luật của

tòa án Việt Nam hoặc của tòa án nước

ngoài đ, được tòa án Việt Nam công nhận hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lí vụ án, tòa án Việt Nam

đ, thụ lí và đang xem xét vụ án đó;

- Đ, hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có tòa án đ, tuyên bản

án, quyết định đó hoặc theo pháp luật Việt Nam;

- Việc công nhận và cho thi hành bản

án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Pháp lệnh 1995 đ, cụ thể hóa nội dung các quy định của Công ước New York 1958 tại Điều 16 như sau:

1 Quyết định của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu tổ chức, cá nhân phải thi hành có chứng cứ hợp pháp để tòa án khẳng định rằng:

a Các bên kí kết thỏa thuận trọng tài nói tại khoản 1 Điều 11 của Pháp lệnh này, theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên, không có năng lực để kí kết thỏa thuận đó; thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lí theo pháp luật của nước mà các bên đ, chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi quyết định đ,

được tuyên nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó;

b Tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại trọng tài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình

c Quyết định của trọng tài nước ngoài

được tuyên về một vụ tranh chấp không

được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên kí kết thỏa thuận trọng tài Trong trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đ,

Trang 8

được yêu cầu và phần quyết định về vấn

đề không được yêu cầu giải quyết tại

trọng tài thì phần quyết định về vấn đề

được yêu cầu giải quyết có thể được công

nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

d Thành phần của trọng tài, thủ tục

giải quyết tranh chấp của trọng tài không

phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với

pháp luật của nước nơi quyết định của

trọng tài được tuyên nếu thỏa thuận trọng

tài không quy định về các vấn đề đó;

đ Quyết định của trọng tài chưa có

hiệu lực bắt buộc với các bên;

e Quyết định của trọng tài đ, bị cơ

quan có thẩm quyền của nước nơi quyết

định đ, được tuyên hoặc của nước có

pháp luật đ, được áp dụng, hủy bỏ hoặc

đình chỉ thi hành

2 Quyết định của trọng tài nước

ngoài cũng không được công nhận và cho

thi hành tại Việt Nam nếu tòa án xét thấy:

a Theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh

chấp không được giải quyết theo thể thức

trọng tài;

b Việc công nhận và cho thi hành tại

Việt Nam quyết định của trọng tài nước

ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của

pháp luật Việt Nam

5 Về thi hành bản án, quyết định

của tòa án và trọng tài nước ngoài

Điều 20 Pháp lệnh 1993, Điều 20

Pháp lệnh 1995 và Pháp lệnh thi hành án

dân sự ngày 17/4/1993 cùng các văn bản

quy phạm pháp luật có liên quan của Việt

Nam có quy định khá rõ về thi hành bản

án, quyết định của tòa án và trọng tài

nước ngoài

Theo quy định của các văn bản nói

trên, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày

quyết định của tòa án Việt Nam công

nhận và cho thi hành bản án, quyết định

của tòa án và trọng tài nước ngoài có hiệu

lực pháp luật, tòa án Việt Nam đ, ra quyết định đó gửi bản sao quyết định của mình và bản sao bản án, quyết định của tòa án, trọng tài nước ngoài cho cơ quan thi hành án theo quy định của pháp luật Việt Nam về thi hành án dân sự

Việc thi hành bản án, quyết định của tòa án và trọng tài nước ngoài đ, được tòa

án Việt Nam công nhận phải tuân theo các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 17/4/1993 và các văn bản liên quan

Nhà nước Cộng hòa x, hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm việc chuyển tiền, tài sản có được từ việc thi hành bản án, quyết

định của tòa án và trọng tài nước ngoài từ Việt Nam ra nước ngoài Việc chuyển tiền, tài sản đó được thực hiện theo quy

định của pháp luật Việt Nam về chuyển tiền, tài sản từ Việt Nam ra nước ngoài

6 Kết luận Việt Nam đ, có khá đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật về công nhận và thi hành các bản án, quyết định của tòa

án và trọng tài nước ngoài Các văn bản này cơ bản đ, bảo đảm được quyền và lợi ích chính đáng cho các bên liên quan trong các vụ tranh chấp Trong tình hình

đổi mới của quan hệ quốc tế, các văn bản này cần được tiếp tục hoàn thiện và nâng lên thành các phần quan trọng của Bộ luật

tố tụng dân sự Việt Nam Hi vọng rằng chúng ta có thể có được câu trả lời thỏa

đáng qua quá trình thảo luận dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự này./

Ngày đăng: 08/03/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w