Để quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao tính thực thi của các văn bản pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh với đầy đủ các ngành luật phản ánh tốt hơn đường lối của Đảng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Với mục tiêu, động ực chính của sự phát triển là vì con người, do con người, đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọitiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc; động viên và tạo mọi điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước. Trong đó, mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp. Hệ thống pháp luật của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp. Trong đó, mỗi ngành luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nhất định. Những nhóm quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh được gọi là đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, Nhà nước sử dụng các biện pháp tác động khác nhau hướng cho các quan hệ xã hội đó phát sinh, thay đổi chấm dứt phù hợp với ý chí của Nhà nước. Phương pháp tác động của Nhà nước lên các quan hệ xã hội có những đặc thù khác nhau phụ thuộc vào các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật. Luật dân sự là một ngành luật được hình thành từ rất sớm trong lịch sử phát triển của Nhà nước và pháp luật. Các nhà nước luôn luôn chú trọng hoàn thiện luật dân sự vì tính phổ biến và vai trò quan trọng của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Với tư cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, luật dân sự có đối tượng điều chỉnh là những nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân. Tạo cơ sở và hành lang pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lực sản xuất, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội. Bộ luật dân sự quy định các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể trong giao lưu dân sự nhằm bảo đảm sự ổn định, lành mạnh các quan hệ dân sự trong điều kiện phát triển phát triển kinh tế hàng hóa.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Để quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao tính thực thi củacác văn bản pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhànước ta chủ trương xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh vớiđầy đủ các ngành luật phản ánh tốt hơn đường lối của Đảng trong công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay Với mục tiêu, động ực chính của sựphát triển là vì con người, do con người, đặt con người vào vị trí trung tâm, giảiphóng sức sản xuất, khơi dậy mọitiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể laođộng và của cả cộng đồng dân tộc; động viên và tạo mọi điều kiện cho mọingười Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng tổ quốc, rasức làm giàu cho mình và cho đất nước Trong đó, mọi người được tự do kinhdoanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp
Hệ thống pháp luật của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam baogồm nhiều ngành luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp Trong
đó, mỗi ngành luật điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nhất định Nhữngnhóm quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh được gọi là đối tượng điềuchỉnh của ngành luật đó Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, Nhà nước sử dụngcác biện pháp tác động khác nhau hướng cho các quan hệ xã hội đó phát sinh,thay đổi chấm dứt phù hợp với ý chí của Nhà nước Phương pháp tác động củaNhà nước lên các quan hệ xã hội có những đặc thù khác nhau phụ thuộc vào cácquan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật Luật dân sự là một ngành luậtđược hình thành từ rất sớm trong lịch sử phát triển của Nhà nước và pháp luật.Các nhà nước luôn luôn chú trọng hoàn thiện luật dân sự vì tính phổ biến và vaitrò quan trọng của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Với tư cách làmột ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, luật dân sự cóđối tượng điều chỉnh là những nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân Tạo
Trang 2cơ sở và hành lang pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lực sản xuất, bảođảm dân chủ và công bằng xã hội Bộ luật dân sự quy định các chuẩn mực pháp
lý cho cách ứng xử của các chủ thể trong giao lưu dân sự nhằm bảo đảm sự ổnđịnh, lành mạnh các quan hệ dân sự trong điều kiện phát triển phát triển kinh tếhàng hóa
Với tư cách là một đạo luật lớn nhất, kết luận của Bộ Chính trị khẳng định: “Việc ban hành Bộ luật Dân sự là một bước đổi mới chính trị quan trọng SauHiến pháp, Bộ luật Dân sự là đạo luật có vị trí quan trọng trong hệ thống phápluật của nước ta, có liên quan mật thiết đến mọi mặt của đời sống thường ngàycủa của người dân” thì giá trị pháp lý cần được xác định như thế nào Theothông lệ và tập quán quốc tế thì Bộ luật Dân sự phải được ưu tiên áp dụng đểgiải quyết tranh chấp, dù trong hệ thống pháp thực định còn có những quy địnhtương tự nhưng hiệu lực pháp lý thấp hơn Đây cũng là yêu cầu quan trọng củapháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 3CHƯƠNG I
HỆ THỐNG LUẬT DÂN SỰ VÀ NGUỒN CỦA LUẬT DÂN SỰ
A.Hệ thống của luật Dân sự.
Luật Dân sự là hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh các quan hệtài sản và quan hệ nhân thân Các quy phạm pháp luật này hợp thành nhữngnhóm quan hệ tương đối đồng nhất đó được gọi là chế định trong luật dân sự.Những chế định lớn( quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế…) đượcphân chia thành các chế định nhỏ hơn Các chế định đều phải tuân theo các quyđịnh ở phần chung và mỗi chế định của phần riêng có những quy định chungxuyên suốt phần riêng đó
Căn cứ vào cách sắp xếp truyền thống và được thể hiện trong Bộ luật Dân sự,khoa học luật dân sự sắp xếp luật dân sự thành hai phần lớn: Phần chung và phầnriêng
Phần chung: Bao gồm những quy phạm chung nhất xuyên suốt toàn bộ hệ
thống pháp luật dân sự, quy định những nguyên tắc, nhiệm vụ của luật dân sự,chủ thể, địa vị pháp lý của chủ thể, các căn cứ xác lập, thay đổi , chấm dứtquyền dân sự, thời hạn, thời hiệu
Phần riêng: Dựa theo các nhóm quan hệ mà luật dân sự điều chỉnh, căn cứ vào
khách thể của quan hệ dân sự- luật dân sự được chia thành các chế định lớntương ứng Trong các chế định lớn này có phần chung và chỉ áp dụng cho riêngphần đó Hiện nay, luật dân sự Việt Nam hình thành các chế định lớn sau đây:
+ Chế định quyền sở hữu: Đây là chế định trung tâm, quan trọng nhất không
chỉ riêng cho luật dân sự mà cho cả hệ thống pháp luật nói chung Trong đó, quyđịnh các hình thức sở hữu; đối tượng của quyền sở hữu; các căn cứ phát sinh,thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu; nội dung quyền sở hữu và các biện pháp bảo
vệ quyền sở hữu, đồng thời cũng quy định những hạn chế đối với chủ sở hữutrong việc thực hiện các quyền năng quyền sở hữu
Trang 4+Chế định nghĩa vụ và hợp đồng: Đây là chế định lớn nhất trong luật dân
sự-là chế định dẫn xuất của chế định quyền sở hữu gồm các quy định liên quan đếnnghĩa vụ và các căn cứ phát sinh nghĩa vụ quân sự- chế định lớn này được chiathành các chế định nhỏ: Những quy định chung về nghĩa vụ dân sự, căn cứ phátsinh nghĩa vụ nghĩa vụ dân sự, thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự và cácbiện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; Hợp đồng dân sự thôngdụng( mua bán, thuê tài sản…); Chế định thực hiện công việc không có uỷquyền; Chế định được lợi về tài sản không có căn cứ hợp pháp; Chế định tráchnhiệm dân sự do gây thiệt hại quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm do gây thiệthại và một số trường hợp riêng biệt của trách nhiệm do gây thiệt hại
+Chế định quyền thừa kế: Bao gồm các quy định về trình tự dịch chuyển di sản
của người chết cho những người còn sống, việc dịch chuyển di sản theo di chúchoặc theo quy định của pháp luật
+Chế định chuyển quyền sử dụng đất: Quy định trình tự, điều kiện dịch chuyển
quyền sử dụng đất
+Chế định quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ: Quy định về việc
xác lập quyền của mỗi cá nhân đối với kết quả sáng tạo tinh thần như: tác phẩmvăn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, các đối tượng của sở hữu công nghiệp vàviệc chuyển giao các đối tượng đó
B.Nguồn của luật dân sự
Nguồn của pháp luật nói chung đã được nghiên cứu kỹ, chi tiết trong chươngtrình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật Về mặt xã hội học, nguồn củapháp luật là ý chí của giai cấp thống trị đưa lên thành luật mà nội dung được xácđịnh bởi các điều kiện chính trị, kinh tế tồn tại trong xã hội cần thiết phải điềuchỉnh bằng pháp luật và với phương thức nào là do giai cấp thống trị, thông quahoạt động lập pháp của Nhà nước quyết định
Trang 5Mỗi ngành luật là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định các cách thức xử
sự của các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó phù hợp với lợi ích của giai cấpthống trị Trong điều kiện của chúng ta hiện nay-Đảng “là lực lượng lãnh đạoNhà nước và xã hội”(1)là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân và nhândân lao động, của dân tộc thì pháp luật là sự thể chế hoá đường lối của Đảngtrong từng giai đoạn cách mạng Đường lối, chủ trương của Đảng được các cơquan nhà nước có thẩm quyền “ thể chế hóa” bằng quá trình lập pháp Bởi vậy, “chấn chỉnh bộ máy theo hướng tinh, gọn, có đủ năng lực thể chế hoá của Đảngthành pháp luật là nhiệm vụ cấp bách của quá trình lập pháp của nước ta để đảmbảo quản lý nhà nước bằng pháp luật mà không chỉ bằng đạo lý” Nguồn củaluật dân sự hiểu theo nghĩa hẹp là những văn bản pháp luật( hình thức của phápluật) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệtài sản và quan hệ và các quan hệ nhân thân Một văn bản được coi là nguồn củaluật dân sự phải đáp ứng được những yêu cầu sau: Văn bản do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành; Chứa đựng các quy phạm pháp luật dân sự; Phải banhành theo trình tự, thủ tục do luật quy định
*Áp dụng luật dân sự
Luật dân sự là hệ thống các quy phạm Các quy phạm này là những hình mẫu
để các chủ thể khi hành xử phải tuân theo Đó là các chuẩn mực ứng xử của chủthể khi tham gia quan hệ dân sự Nhưng việc thực thi pháp luật; việc tuân theocác “chuẩn mực ứng xử” đó khi tham gia vào các quan hệ dân sự phụ thuộc vàonhiều yếu tố khác nhau: Vào bản thân nội dung các quy phạm pháp luật đó Nóthực sự phù hợp và phản ánh đúng các điều kiện kinh tế trong xã hội đó haykhông; Vào ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia, vào các ý thức pháp luậtcủa xã hội nói chung; Vào việc áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩmquyền Tự bản thân các quy phạm không thể “sống” nếu không được áp dụngtrong thực tế cuộc sống Vì vậy, việc áp dụng pháp luật dân sự trong cuộc sống
là hết sức quan trọng để biến các quy phạm pháp luật trở thành công cụ thực sự,
(1) Điều 4 Hiến Pháp 1992.
Trang 6tích cực điều chỉnh các quan hệ xã hội Áp dụng luật dân sự là những hoạt động
cụ thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào những sự kiện thực tế
đó để đưa ra quyết định phù hợp với thực tế và những quy phạm của pháp luật.Những quyết định được cơ quan có thẩm quyền đưa ra có thể là: Công nhận haybác bỏ một quyền dân sự nào đó đối với một chủ thể( quyền sở hữu, quyền thừa
kế, quyền đòi nợ…); Xác lập một nghĩa vụ cho một chủ thể nhất định ( bồithường thiệt hại, trả nợ, giao vật, trả tiền, chấm dứt hành vi vi phạm…); áp dụngcác biên pháp cưỡng chế cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích của các chủ thể khác,của Nhà nước(tịch thu tài sản, phạt vi phạm, quyết định bán đấu giá…)
Trang 7CHƯƠNG II NHÌN NHẬN VỀ BỘ LUẬT DÂN SỰ TRÊN THỰC TẾ.
I.Một số vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự.
1.Thực trạng tổ chức và thi hành án dân sự
Về hệ thống pháp luật, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật về thi hành án nói chung, hệ thống các văn bản pháp luật về thi hành án dân
sự đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, tạo cơ sở vững chắc cho việc quản
lý cũng như tổ chức và hoạt động của thi hành án dân sự( điển hình là Pháp lệnhThi hành án dân sự năm 1993, hệ thống các Nghị định và văn bản hướng dẫn thihành)
Về cơ chế quản lý, đã xây dựng được một cơ chế quản lý thống nhất đối với các
công tác thi hành án dân sự, tạo điều kiện tương đối thuận lợi cho việc tổ chức
và hoạt động cũng như quan hệ với cơ quan hữu quan, giúp cho việc tập trungđến mức tối đa đầu tư cơ sở vật chất phương tiện làm việc và cả con người chohoạt động thi hành án dân sự Cơ chế quản lý theo ngành kết hợp quản lý theolãnh thổ, có sự phân cấp quản lý rõ ràng cùng cơ chế phối hợp quản lý đã hìnhthành một cơ chế quản lý chung tương đối hiệu quả và phù hợp, giúp cho hoạtđộng thi hành án dân sự được triển khai đồng bộ, thống nhất trong cả nước,đồng thời, góp phần tích cực phục vụ nhiệm vụ chính trị của từng địa phương.Việc giao cho Bộ tư pháp giúp Chính phủ quản lý thống nhất về mặt tổ chức vànghiệp vụ thi hành án đã giúp cho việc quản lý đội ngũ chấp hành viên và cán bộthi hành án được chặt chẽ hơn từ khâu tuyển dụng cán bộ đến việc theo dõi quátrình công tác, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức chấp hành viên, tạo ramột quy chế thống nhất, khách quan
Về cơ cấu tổ chức cơ quan thi hành án dân sự, các cơ quan thi hành án dân sự
được thành lập từ Trung ương đến địa phương Ở Bộ tư pháp có Cục quản lý thihành án dân sự Ở cấp tỉnh có Phòng thi hành án dân sự thuộc Sở Tư pháp bao
Trang 8gồm chấp hành viên trưởng( trưởng phòng), các chấp hành viên cấp phòng, cáccán bộ làm công tác thi hành án Ở cấp huyện có Đội thi hành án thuộc Phòng
Tư Pháp cũng bao gồm chấp hành viên trưởng ( đội trưởng), các chấp hành viêncấp Đội và các cán bộ làm công tác thi hành án Cơ quan thi hành án trong quânđội là các Phòng thi hành án các quân khu và các cấp tương đương Việc tổ chứccác cơ quan thi hành án theo đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện đã tạođiều kiện thuận lợi cho việc quản lý nhà nước đối với công tác thi hành án, đồngthời cũng luôn gắn với sự chỉ đạo kịp thời của cấp uỷ đảng chính quyền địaphương, sự phối hợp của các cơ quan cùng cấp trong việc tổ chức thi hành án.Kết quả hoạt động thi hành án dân sự trong 10 năm qua đã chứng minh tính ưuđiểm của cơ chế tổ chức và quản lý hoạt động vào việc khôi phục và bảo vệquyền lợi của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức và công dân, tăng cường pháp chế
xã hôi chủ nghĩa Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng: công tác thi hành án dân
sự hiện nay chưa đáp ứng được quá trình phát triển kinh tế- xã hội đất nước khicác quan hệ xã hội phát sinh trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng mởrộng, phong phú và đa dạng
2.Những hạn chế trong công tác thi hành án dân sự hiện nay
Thứ nhất, các quy định pháp luật thi hành án dân sự: Pháp lệnh Thi hành ándân sự được ban hành từ năm 1993 đến nay đã bộc lộ khá nhiều điểm hạn chếcần bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện, điển hình là về phạm vi áp dụng, các quyđịnh về thủ tục thi hành án, như chủ động thi hành theo đơn yêu cầu thi hành án,quy định về trả lại đơn yêu cầu, về chế định uỷ thác trong thi hành án; về cácbiện pháp cưỡng chế trong thi hành án; các biện pháp kê biên, xử lý tài sản của
cơ quan, tổ chức, các quyền sở hữu trí tuệ, về xác minh tài sản và thời hạn xácminh để thi hành án, các quy định về bán đấu giá, các quy định về hoãn , tạmđình chỉ , đình chỉ, quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, về kháng nghị trongthi hành án, về thi hành án có yếu tố nước ngoài… Đặc biệt pháp luật thi hành
án hiện hành chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan hữu quan trong việc
Trang 9giúp đỡ, tạo điều kiện và thực hiện các yêu cầu của cơ quan thi hành án, cácchấp hành viên; hình thức, chế tài trong trường hợp họ không thực hiện Nhữngbất cập trong các quy định pháp luật về thi hành án và các quy định pháp luật vềnội dung có liên quan đến thi hành án đã ảnh hưởng không nhỏ đến thi hành ándân sự.
Thứ hai, về cơ chế quản lý thi hành án dân sự: xét cả về lý luận và thực tiễn,hoạt động thi hành án dân sự mang nhiều nét đặc thù riêng, mặc dù có những nétnổi trội của hoạt động hành chính tư pháp, song về cơ bản nó bị chi phối mạnh
mẽ của quá trình xét xử và các bước tố tụng Không ít các trường hợp do bản ánquyết định không rõ ràng hoặc sự can thiệp, chi phối, thiếu căn cứ của các bước
tố tụng như tạm hoãn, kháng nghị, quyết định của cấp giám đốc lật ngược lạibản án, quyết định theo chiều ngược lại đã làm ảnh hưởng đến việc tổ chức thihành án Hơn nữa, việc thi hành án dân sự còn liên quan đến hoạt động củanhiều ngành như Công an, Kiểm sát, Địa chính- Nhà đất, Xây dựng, Tài chính-Vật giá… Bởi vậy, nếu không có cơ chế thích hợp sẽ không tạo được điều kiệnthuận lợi nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự
Cơ chế quản lý thi hành án dân sự hiện nay còn nhiều bất cập Cục quản lý thihành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ tư pháp,giúp Chính phủ thực hiện việc quản lý thống nhất đối với công tác thi hành ándân sự trong cả nước, quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ công tác thi hành
án dân sự; thực hiện một số nội dung của quản lý Nhà nước khác; chỉ đạo, kiểmtra, tổng kết công tác quản lý công tác thi hành án dân sự ở địa phương Tuynhiên, việc quản lý Nhà nước về tổ chức cũng như nghiệp vụ gặp nhiều vướngmắc và chồng chéo Cũng do tổ chức của ngành Tư pháp không theo nguyên tắctập trung thống nhất, nên thực hiện sự quản lý xuống các địa phương cần phải có
sự kết hợp với các chủ thể quản lý ở địa phương là Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp.Các cơ quan này lại thuộc uỷ ban nhân dân cùng cấp, hưởng ngân sách từ địaphương Do vậy, cơ chế phối hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đôi khi
Trang 10thiếu hiệu quả, nhiều đầu mối, tầng nấc, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tácnghiệp thi hành án Ở các địa phương chủ thể quản lý là cơ quan chuyên mônthuộc chính quyền địa phương, song đối tượng quản lý là các phòng, các đội thihành án lại được tổ chức theo ngành dọc, hưởng ngân sách từ Trung ương cả về
tổ chức, biên chế và kinh phí hoạt động Do vậy, không ít trường hợp các cơquan thi hành án “qua mặt”cơ quan quản lý Nhiều nơi, Phòng Tư pháp chỉ cóhai biên chế , ngoài việc phải thực hiện một số hoạt động của công tác tư phápkhác, lại còn phải thực hiện quản lý nhà nước của đội thi hành án có tổ chức vàbiên chế chặt chẽ và chuyên nghiệp từ 7 đến 10 người, gần đây một số Phòng Tưpháp còn bị sát nhập vào văn phòng UBND cấp huyện, nên việc thực hiện quản
lý Nhà nước càng khó khăn hơn Có thể nói, cơ chế quản lý tổ chức và hoạtđộng thi hành án dân sự hiện nay chưa phù hợp và hiệu quả, chưa xác định rõtrách nhiệm của từng cơ quan, dẫn đến chồng chéo, giảm hiệu lực quản lý nhànước Các nội dung quản lý thể hiện ở mối quan hệ gữa cơ quan quản lý và cơquan thi hành án còn nhiều điểm gây khó khăn, vướng mắc cho hoạt động thihành án, chưa đảm bảo tính chủ động, độc lập, hiệu quả của các cơ quan thihành án; chưa quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan hữu quan các cấp trongphối hợp tổ chức thi hành án Điều này đã hạn chế rất lớn đến hiệu lực, hiệu quảcủa cơ chế thi hành án và hoạt động thi hành án dân sự
Thứ ba, về cơ cấu tổ chức các cơ quan thi hành án dân sự: về cơ cấu tổ chức
các cơ quan thi hành án dân sự theo đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện như hiệnnay phần nào đã tạo được một số thuận lợi trong quản lý nhà nước, có sự quantâm chỉ đạo kịp thời của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đối với cơ quanthi hành án thuộc địa phương mình Tuy nhiên, một số địa phương đặc biệt làcấp huyện ở vùng xa, vùng sâu số lượng án phải thi hành hàng năm rất ít, nhưng
về tổ chức vẫn phải thành lập Đội thi hành án với đủ biên chế theo quy định.Trong khi đó, tại các quận huyện, tại các thành phố lớn, số lượng án phải thihành nhiều, nhưng số không tăng so với quy định dẫn đến tình trạng quá tải, tạo
ra sự mất cân đối giữa các cơ quan thi hành án cùng cấp trong các vùng miền đất
Trang 11nước về sự thừa, thiếu cán bộ Thiết nghĩ, chúng ta cần nghiên cưú tới phương
án tổ chức cơ quan thi hành án theo khu vực, căn cứ theo nhu cầu thực tế côngviệc và sự tiện lợi cho nhân dân mà ấn định số lượng biên chế các cán bộ, chứkhông nhất thiết phải tạo ra một khuôn mẫu chung cho tất cả các đơn vị theo địagiới hành chính
Thứ tư, về đội ngũ chấp hành viên, các tiêu chí đối với chấp hành viên: so với
nhu cầu thực tế công việc, hiện tại số lượng chấp hành viên và cán bộ thi hành
án còn phải bổ sung rất nhiều Tính đến tháng8/2001, tổng số chấp hành viêntrong cả nước là 1764 người, trong khi đó, tổng biên chế thực tế của các cơ quanthi hành án là 4200 người Với tình hình số số án phải thi hành ngày một giatăng thì bản thân lực lượng chấp hành viên và các cán bộ thi hành án khó có thểđảm đương nổi Năm 2000, tính bình quân mỗi chấp hành viên phải tổ chức thihành 248 vụ; con số này chỉ trong 6 tháng đầu năm 2001 đã là 205 vụ ở cácthành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng số vụ việc bìnhquân mà mỗi chấp hành viên phải đảm trách tổ chức thi hành gần 700 vụ/năm;tỉnh có ít vụ việc thì con số cũng lên tới 145 vu việc/năm cho mỗi chấp hànhviên như Bắc Cạn Có thể nói, với khối lượng công việc như trên, cùng với cơchế quản lý và phối hợp trong thi hành án chưa thật hiệu quả, cơ chế quản lý thunhập, quản lý tài sản còn lỏng lẻo, ý thức chấp hành pháp luật của đại bộ phậnquần chúng chưa cao, quả là thách thức lớn đối vơi vơ quan thi hành án trong cảnước Hiện tại, Nhà nước ta đang thực hiện tinh giản biên chế, kiện toàn tổ chức
ở các cơ quan, đặc biệt là cơ quan quản lý hành chính, vì vậy việc tăng biên chếcho các cơ quan thi hành án là bài toán nan giải, mà phải chú trọng vào việc cảitiến nề nếp, phương thức làm việc, tăng cường sự phối hợp có trách nhiệm củacác cơ quan, ban, ngành đối với việc tổ chức thi hành án Một số vấn đề khácnhư tiêu chuẩn chấp hành viên, ngoài các tiêu chuẩn về đạo đức, phẩm chất,trình độ chuyên môn pháp lý, còn phải chú trọng đào tạo, chế độ, chính sách đãingộ đối với chấp hành viên và cán bộ thi hành án cũng cần phải được xem xét,nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện
Trang 12II.Vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sự và chủ thể của luật Dân sự.
*Vị trí, vai trò của Bộ luật Dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam và
nguyên tắc áp dụng
Trong giới nghiên cứu khoa học pháp lý trong những năm gần đây đã có nhiềucuộc hội thảo khoa học bàn về tiêu chí khoa học để phân định ranh giới giữa hợpđồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại Do cùng tồn tại các loạihình hợp đồng khác nhau cùng những tiêu chí pháp lý khác nhau nên cần phải
có sự phân biệt là hợp lý Liên quan đến vấn đề trên đây là hiệu lực pháp lý của
các văn bản pháp luật Vì vậy, quan điểm về vấn đề: Cần xác định lại vị trí của
Bộ luật Dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam phải được nghiên cứu và xem
xét nghiêm túc
Trong buổi tọa đàm lần đầu được tổ chức tại trụ sở Bộ Tư pháp vào chiềungày15/8/2000 khi bàn về “Phươngg pháp luận sửa Bộ luật Dân sự Việt Nam”lúc đó giáo sư Akio Morishima (trưởng đoàn chuyên gia Nhật Bản giúp ViệtNam soạn thảo và sửa đổi Bộ luật Dân sự) cũng đã nêu quan điểm: Các nướctrên thế giới theo xu thế chung không có sự phân biệt hợp đồng dân sự hay hợpđồng kinh tế Trong quá trình áp dụng pháp luật, các chủ thể có thể sử dụngpháp luật khác nhau tuỳ thuộc voà tính chất mục đích và nội dung của nhữnggiao dịch cụ thể để tìm luật áp dụng Nhưng nguyên tắc là nếu Bộ luật Dân sự đã
có quy định, thì trước hết phải áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự, Việt Namphải xác định được một vấn đề quan trọng là việc quy định các loại hình hợpđọng trong Bộ luật Dân sự có ý nghĩa gì? Nguyên tắc tự do trong hợp đòng cầnđược tôn trọng Có thể hợp đồng đó trong tương lai sẽ có những bất trắc xảy ranhưng không cần phải quy định trước, nếu có tranh chấp thì trước hết phải ápdụng Bộ luật Dân sự để giải quyết
Tuy còn một số ít hạn chế, nhưng bộ luật Dân sự năm 1995 là bộ luật có nhiềutiến bộ vượt bậc so với hệ thống các văn bản quy định về dân sự trước đây Lầnđầu tiên nhiều nội dung quan trọng của pháp luật dân sự đã được phát triển hóa
Trang 13một cách có hệ thống, ví dụ như chế định tài sản và quyền sở hữu, các quy định
về chủ thể của luật dân sự trước đây, Bộ luật Dân sự đã có những quy địnhtương đối đầy đủ, cụ thể, chi tiết… Trong hội thảo thực tiễn 4 năm thi hành luậtDân sự nhiều ý kiến cho rằng, tuy đã có nhiều quy định cụ thể nhưng khi ápdụng pháp luật trong thực tiễn, Toà án nhân dân hoặc các cơ quan nhà nươc cóthẩm quyền vẫn còn có những khó khăn, vướng mắc, đôi khi hiểu luật còn thiếu
sự thống nhất Do đó tính chất đặc trưng của giao lưu dân sự nên Toà án nhândân và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn áp dụng các văn bản pháp luật
có liên quan để giải quyết các tranh chấp Trong nhiều trường hợp phải áp dụngnguyên tắc tại điều 7 Bộ luật Dân sự để giải quyết tranh chấp, đó là sự thoảthuận trước của các chủ thể trong khi xác lập giao dịch dân sự Đây chính lànguyên tắc đặc trưng nhất của pháp luật Dân sự Mặc dù trên thực tế và cả dướigóc độ khoa học cũng như giá trị pháp lý của Bộ luật Dân sự, việc áp dụng cácquy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết tranh chấp là đúng đắn và cần thiết.Nhưng đã có không ít lý do vì: Hết thời hiệu hoặc vì “không rõ ràng” và nhữngnguyên nhân khác, Toà án nhân dân và các cơ quan của nhà nước có thẩm quyềnmới áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự Đây là một điều có thể xem làkhông bình thường trong một xã hội Nhà nước- pháp quyền
Trong lần sửa đổi này, vấn đề xác định được vị trí, hiệu lực pháp lý của Bộ luậtDân sự trong hệ thống pháp luật cần phải được xem xét cụ thể và là vấn đề có ýnghĩa quan trọng nhất Hiện nay ở Việt Nam không phân chia hệ thống pháp luậtthành: luật công và luật tư như hệ thống pháp luật một số nước trên thế giới, nênviệc xác định vị trí và nguyên tắc áp dụng cần phải được khẳng định ngay trong
Bộ luật Dân sự để tạo ra sự thuận lợi cho việc áp dụng của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu dân sự phát triển đúnghướng trong một hành lang pháp lý an toàn Tham khảo luật pháp của một sốnước tôi thấy rằng:
Trang 14Theo kinh nghiệm của Nhật Bản thì: vấn đề xác định hiệu lực của bộ luật Dân
sự phải được xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng và cần phải được quy định cụ thể trong
bộ luật Trong sách bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản có ghi nhận:
“Pháp luật dân sự có hiệu lực đối với tất cả các mối quan hệ thuộc pháp luật dânsự”(1)
Trong Bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà Pháp, ngay Thiên mở đầu quy định
về hiệu lực của luật và áp dụng luật, tại Điều 3 quy định: Mọi bất động sản, ngay
cả do người nước ngoài chiếm hữu đều chịu sự chi phối của pháp luật nướcPháp Những luật liên quan đến quy chế nhân thân và năng lực con người chiphối cả những Pháp cư trú ở nước ngoài”(2)
Theo Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, trong tiêu đề “ những quy địnhchung” tại Điều4 có quy định: “ Bộ luật này phải được áp dụng trong tất cả cáctrường hợp thuộc phạm vi câu chữ hoặc tinh thần của bất cứ quy định nào của
Bộ luật Nếu không có quy định nào của bộ luật có thể áp dụng thì vụ việc đượcquyết định theo tập quán địa phương Nếu không có tập quán địa phương nàonhư vậy, thì vụ việc được quyết định bằng cách áp dụng quy định tương tự nhất;
và, nếu cũng không có quy định tương tự thì áp dụng những quy tắc chung củapháp luật”(3)
Luật hợp đồng của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cũng quy định tại Điều2: “ Hợp đồng gọi trong luật này là sự thoả thuận, thiết lập, thay đổi, kết thúcquan hệ quyền lợi nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân,pháp nhân, các tổ chức khác Các thoả thuận liên quan đến quan hệ thân phậnnhư hôn nhân, nhận nuôi, giám hộ… Thích dụng với quy định của các luậtkhác” Điều 428 Luật trên quy định: “ Luật này thi hành từ ngày 1/10/1999, cácluật hợp đồng kinh tế nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Luật hợp đồng kinh
(1) Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, NXB Chính trị quốc gia H N à N ội năm 1995.
(2) Bộ luật Dân sự của nước Cộng ho Pháp, b à N ản dịch của NXB Chính trị Quốc Gia H N à N ội, năm 1998, Điều3
(3) Bộ luật Dân sự v th à N ương mại Thái Lan, bản dịch của NXB Chính trị Quốc Gia H N à N ội, năm 1995, Điều 4