1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo một số vấn đề về kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án

8 232 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 105,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do việc KBTS được quyết định khi xét xử trong phần quyết định của bản án nên dẫn đến hậu quả không có biên bản kê biên, tài sản bị kê biên không đúng hiện trạng, không có người được giao

Trang 1

Một số vấn đề về

kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án

Kiều Cao Chung *

ê biên tài sản (KBTS) là biện pháp

cưỡng chế được áp dụng đối với

người phạm tội có thể bị phạt tiền,

tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại

do hành vi phạm tội gây ra Ngoài ra,

KBTS còn được áp dụng đối với tài sản

đang tranh chấp để tránh việc tẩu tán

trong quá trình tòa án giải quyết vụ án

hoặc được chấp hành viên áp dụng đối với

người phải thi hành án để đảm bảo cho

việc thi hành án

Thời gian qua, việc KBTS để đảm bảo

thi hành án được các hội đồng xét xử của

tòa án nhân dân cấp huyện quyết định áp

dụng một cách phổ biến khi xét xử Do

việc KBTS được quyết định khi xét xử

(trong phần quyết định của bản án) nên

dẫn đến hậu quả không có biên bản kê

biên, tài sản bị kê biên không đúng hiện

trạng, không có người được giao bảo

quản tài sản kê biên, chính quyền xG,

phường, thị trấn không được biết tài sản

của người phải thi hành án đG bị kê biên

nên vẫn xác nhận vào hợp đồng chuyển

dịch tài sản, tài sản kê biên bị chuyển

nhượng, đánh tráo, tẩu tán, khó xử lí theo

quy định của Điều 244 BLHS

Vì những lí do này, khi toà án chuyển

giao bản sao bản án, đương sự có đơn yêu

cầu, cơ quan thi hành án không xử lí được

tài sản của đương sự mà hội đồng xét xử

đG kê biên, không bảo vệ được quyền lợi

của người được thi hành án, không thu

hồi được những khoản tiền án phí, phạt sung công nộp cho ngân sách nhà nước Việc KBTS theo Pháp lệnh thi hành

án dân sự hiện hành cũng có nhiều bất cập, nhiều quy định không rõ ràng dẫn

đến nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau, nhiều vấn đề mới phát sinh vượt khỏi phạm vi điều chỉnh của những quy

định hiện hành Điều đó đòi hỏi các quy

định về KBTS cần được nghiên cứu khi Nhà nước xây dựng Luật thi hành án Nhằm góp phần hoàn thiện các quy

định về KBTS, tôi xin trao đổi một số vấn

đề như sau:

1 Về quyết định KBTS khi xét xử

vụ án hình sự Theo quy định của khoản 1 Điều 121, khoản 1 Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) thì chánh án, phó chánh án tòa

án nhân dân các cấp, thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh chủ tọa phiên tòa mới

có quyền KBTS để đảm bảo cho việc thi hành án về tịch thu tài sản, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Hội đồng xét xử và thẩm phán tòa

án nhân dân cấp huyện không được trao quyền này Việc KBTS của chánh án, phó chánh án, thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh chủ tọa phiên tòa và những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 62 BLTTHS phải được thực hiện bằng lệnh KBTS và được áp dụng trước khi xét xử

K

* Đội thi hành án huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây

Trang 2

BLTTHS hiện hành không quy định

hội đồng xét xử của tòa án được quyết

định KBTS trong khi xét xử vụ án Điều

này hoàn toàn hợp lí bởi những lí do sau:

- KBTS chỉ là một trong nhiều biện

pháp phong tỏa quyền định đoạt tài sản

của đương sự (niêm phong, thu giữ, cấm

chuyển dịch tài sản cũng phong tỏa

quyền định đoạt tài sản của đương sự)

Đồng thời KBTS cũng chỉ là một bước

trong nhiều thủ tục để có thể xử lí tài sản

của đương sự: Giao bảo quản tài sản kê

biên, định giá, niêm yết, thông báo rồi

mới đến bán đấu giá tài sản kê biên

Khoản 1 Điều 121, khoản 1 Điều 62

BLTTHS đG trao quyền KBTS cho người

đứng đầu và cấp phó ở cả 3 cơ quan công

an, viện kiểm sát và tòa án Nếu thấy cần

thiết phải KBTS, một trong những người

này đều có thể áp dụng ở cả 3 giai đoạn

tố tụng, không cần thiết phải trao quyền

KBTS cho hội đồng xét xử;

- KBTS đòi hỏi phải được tiến hành

một cách chặt chẽ về thời gian, địa điểm

với sự có mặt của đương sự hoặc người đG

thành niên trong gia đình, chính quyền

xG, phường, thị trấn và người láng giềng

chứng kiến Việc KBTS phải lập biên bản

kê biên, giao bảo quản tài sản kê biên với

nội dung mô tả rõ tình trạng tài sản,

quyền và nghĩa vụ của người được giao

bảo quản, những khiếu nại, kiến nghị của

đương sự và những người tham gia KBTS

Biên bản kê biển phải có đầy đủ chữ kí

của các thành phần tham gia theo quy

định của pháp luật Tức là việc kê biên

phải được tiến hành tại nơi có tài sản và là

nơi đương sự cư trú;

- Một trong những nguyên tắc tố tụng

tại phiên tòa là việc xét xử phải được tiến

hành liên tục, hội đồng xét xử không thể

tạm ngừng xét xử để rời khỏi trụ sở tòa án

đến nơi có tài sản của đương sự để kê biên rồi trở về tuyên án Việc hội đồng xét xử quyết định KBTS trong khi tài sản cách xa từ vài đến vài chục km, các thành viên hội đồng xét xử không nhìn thấy hiện trạng tài sản là điều không hợp lí, chẳng khác nào "thầy bói xem voi" Nhà làm luật trao quyền KBTS cho chánh án, phó chánh án tòa án nhân dân các cấp không phải với tư cách thay mặt hội đồng xét xử bởi vì lệnh KBTS của chánh án, phó chánh án phải được thực hiện trước khi xét xử

Vì những lí do này nên tất cả những bản án của tòa án có nội dung hội đồng xét xử quyết định KBTS đều không có biên bản kê biên được quy định tại Điều

78, khoản 3 Điều 121 BLTTHS để chuyển giao cho cơ quan thi hành án theo

Điều 8 Nghị định 69/CP ngày 18/10/1993 của Chính phủ quy định thủ tục thi hành

án dân sự, điểm 2 mục VI Thông tư số 981/TTLN ngày 21/9/1993 của Bộ tư pháp - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là

đối với những vụ án bị tịch thu tài sản, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, hội đồng xét xử không xử lí được tài sản của đương sự Trong khi chờ đợi Nhà nước sửa đổi bổ sung BLTTHS, giải pháp được đưa ra là: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử nếu thấy cần thiết, chánh án, phó chánh án tòa án nhân dân cấp huyện có thể tự mình hoặc trả hồ sơ để yêu cầu viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát, trưởng, phó trưởng công an cùng cấp ra lệnh KBTS Như vậy,

Trang 3

đến khi xét xử việc KBTS đG được tiến

hành, hội đồng xét xử chỉ cần quyết định

tiếp tục duy trì quyết định KBTS là có đủ

cơ sở để thực hiện

2 Về quyết định KBTS khi xét xử

vụ án dân sự

Theo điểm 4 Điều 41 Pháp lệnh thủ

tục giải quyết các vụ án dân sự

(PLTTGQCVADS), tòa án có thể áp dụng

biện pháp khẩn cấp tạm thời "KBTS đang

tranh chấp để tránh việc tẩu tán" Tuy

nhiên, những biện pháp khẩn cấp tạm thời

(BPKCTT) nói chung và KBTS để tránh

việc tẩu tán nói riêng được thẩm phán áp

dụng nhằm "tạm thời giải quyết yêu cầu

cấp bách của đương sự hoặc để bảo vệ

bằng chứng" (đoạn 1 Điều 41

PLTTGQCVADS)

Việc áp dụng các BPKCTT cũng như

định giá tài sản có tranh chấp theo điểm đ

Điều 38 PLTTGQCVADS do thẩm phán

áo dụng là để chuẩn bị cho hoạt động xét

xử, được áp dụng trước khi xét xử Nó

khác với kê biên, định giá tài sản để bán

đấu giá theo Điều 29 và Điều 31 Pháp

lệnh thi hành án dân sự

Sau khi có quyết định áp dụng

BPKCTT của tòa án, thủ trưởng cơ quan

thi hành án phải ra quyết định thi hành án

và phân công chấp hành viên thi hành

theo điểm b khoản 2 Điều 3, Điều 4 Pháp

lệnh thi hành án dân sự và khoản 2 Điều

8 Nghị định 69/CP ngày 18/10/1993 của

Chính phủ quy định thủ tục thi hành án

dân sự Song, điều đó cũng không có

nghĩa rằng KBTS do thẩm phán áp dụng

là biện pháp để đảm bảo cho việc thi hành

án, bởi vì:

- KBTS theo điểm 4 Điều 41

PLTTGQCVADS chỉ áp dụng đối với

những tài sản mà các đương sự đang tranh

chấp để tránh việc tẩu tán còn KBTS để

đảm bảo thi hành án theo Điều 29 Pháp lệnh thi hành án dân sự được áp dụng đối với tất cả những tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án;

- KBTS phải được tiến hành tại nơi có tài sản của đương sự với sự tham gia đầy

đủ của các thành phần theo quy định pháp luật và phải lập biên bản kê biên, giao bảo quản tài sản kê biên Việc hội đồng xét xử quyết định KBTS sẽ không đáp ứng được những đòi hỏi của thủ tục KBTS;

- Mục đích trước tiên của KBTS theo

điểm 4 Điều 41 PLTTGQCVADS là để phục vụ cho việc xét xử, quyết định KBTS của thẩm phán có thể bị chánh án hủy bỏ trước xét xử, khi giải quyết khiếu nại của đương sự (khoản 3 Điều 42 PLTTGQCVADS)

Như vậy, khi hội đồng xét xử của tòa

án nhân dân cấp huyện giải quyết những việc thuộc thẩm quyền được quy định tại

Điều 10, Điều 11 PLTTGQCVADS, nhất

là các tranh chấp về mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà quyết định áp dụng biện pháp KBTS để đảm bảo thi hành án là không đúng thẩm quyền, không đáp ứng yêu cầu áp dụng được quy định tại khoản 4 Điều 41 PLTTGQCVADS là kê biên đối với tài sản đang tranh chấp Mặt khác, khoản 1

Điều 29, khoản 3 Điều 40 Pháp lệnh thi hành án dân sự, điểm 2 mục VI Thông tư

số 981/ TTLN ngày 21/9/1993 của Bộ tư pháp - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao đG cho phép người có tranh chấp đối với tài sản kê biên để thi hành án được khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự trong thời hạn 3

Trang 4

tháng để bảo vệ quyền lợi của mình Việc

hội đồng xét xử KBTS đG tước đi quyền

khởi kiện của người có tranh chấp đối với

tài sản bị kê biên

PLTTGQCVADS hiện hành chưa quy

định hội đồng xét xử được quyết định

KBTS để đảm bảo thi hành án Nếu thấy

cần thiết phải áp dụng BPKCTT "KBTS

đang tranh chấp để tránh việc tẩu tán"

thẩm phán phải ra quyết định trước khi

xét xử và chuyển giao sang cơ quan thi

hành án để thi hành Hội đồng xét xử chỉ

có thể quyết định tiếp tục áp dụng những

BPKCTT trong đó có "KBTS để tránh

việc tẩu tán" chứ không được tự mình

KBTS để đảm bảo thi hành án

3 Về KBTS do chấp hành viên áp

dụng

a Địa điểm KBTS

Pháp lệnh thi hành án dân sự không

quy định rõ việc KBTS phải được tiến

hành ở nơi cư trú của người phải thi hành

án nhưng khoản 2 Điều 29 đG quy định:

"Khi KBTS phải có mặt người phải thi

hành án hoặc người đ thành niên trong

gia đình, đại diện chính quyền x,

phường, thị trấn và người láng giềng

chứng kiến" Thực tiễn đG nảy sinh vấn đề

khi nơi có tài sản khác nơi người phải thi

hành án cư trú thì việc KBTS được tiến

hành ở nơi nào?

Ví dụ 1: Tại bản án số 34/ DSST ngày

29/12/1997, Tòa án nhân dân huyện

Thạch Thất tỉnh Hà Tây đG buộc Nguyễn

Thị T phải bồi thường cho Nguyễn Thị H

1.600.000đ, tài sản của T chỉ có 1 chiếc

xe máy 80 - 50 cm3 là đáng giá Tất cả

những lần đến gia đình T làm việc thì

chiếc xe máy này không để ở nhà nên

chấp hành viên không kê biên được Một

lần T đến cơ quan thi hành án nộp tiền

tạm ứng án phí xin li hôn có đi chiếc xe máy này Chấp hành viên dự định tạm giữ

để kê biên chiếc xe máy ngay tại cơ quan thi hành án nhưng do đại diện viện kiểm sát không nhất trí vì không đủ thành phần theo khoản 2 Điều 29 Pháp lệnh thi hành

án dân sự nên việc kê biên không được tiến hành và đến nay vụ án vẫn tồn đọng

Ví dụ 2: Tại bản án số 03/ DSST ngày 11/2/1999, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây đG buộc Đỗ Quang H phải bồi thường cho Nguyễn Đức Đ 5.000.000đ

H không có tài sản gì đáng giá ngoài

1 chiếc xe máy đang cho một người ở địa phương khác thuê

Ví dụ 3: Tại bản án số 27/ DSST ngày 26/7/1999 Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây đG buộc Nguyễn Văn N phải bồi thường cho Nguyễn Thị T 16.000.000đ

Cũng giống T và H, N không có tài sản gì đáng giá trong gia đình nhưng N lại có tài sản sở hữu chung với một người

ở địa phương khác là 1/2 chiếc xe ô tô du lịch giá trị 100.000.000đ

ở 3 trường hợp nêu trên, chấp hành viên rất lúng túng bởi vì:

- Theo khoản 1 Điều 29, khoản 2 Điều

40 Pháp lệnh thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có tài sản ở đâu, chấp hành viên kê biên ở đó Nhưng nếu KBTS

ở nơi có tài sản sẽ giải quyết như thế nào

về sự vắng mặt của chính quyền địa phương và người láng giềng chứng kiến Hoặc nếu có thể mời họ được thì chấp hành viên phải mời chính quyền địa phương và người láng giềng nơi có tài sản hay nơi đương sự cư trú?

- Về nguyên tắc, việc không đáp ứng

được các quy định của pháp luật về thủ

Trang 5

tục khi ra và thực hiện quyết định sẽ là

căn cứ để cấp có thẩm quyền hủy bỏ

quyết định đó trong các trường hợp trên

Chấp hành viên KBTS là vi phạm khoản 2

Điều 29 Pháp lệnh thi hành án dân sự

Nhưng nếu không KBTS thì không bảo vệ

được quyền lợi của người được thi hành

án, việc thi hành án bị kéo dài và có thể

không thi hành được do đương sự tẩu tán

tài sản;

- Giả thiết chấp hành viên tiến hành

KBTS, giao cho đương sự hoặc người

đang sử dụng tài sản đó bảo quản, nếu tài

sản kê biên bị bán, đánh tráo, cất giấu,

chuyển nhượng thì có đủ cơ sở để truy

cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 244

BLHS đối với người được giao bảo quản

tài sản kê biên không?

Vấn đề này khi Nhà nước xây dựng

luật thi hành án cần nghiên cứu giải quyết

một cách thấu đáo Trong những trường

hợp này cần quy định cho chấp hành viên

có quyền ra quyết định tạm giữ phải ghi

rõ lí do của việc tạm giữ tài sản

b Giao bảo quản tài sản kê biên

Theo pháp luật hiện hành, những

người được giao bảo quản tài sản kê biên

là người phải thi hành án (hoặc thân

nhân) và người đang sử dụng tài sản bị kê

biên Nếu việc KBTS được thực hiện theo

khoản 2 Điều 121 BLTTHS hoặc theo

Điều 29 Pháp lệnh thi hành án dân sự

nhưng để thu hồi án phí, phạt sung công

thì người được giao bảo quản tài sản kê

biên chỉ có thể là đương sự (hoặc thân

nhân) và người đang sử dụng tài sản bị kê

biên

Phạm vi những người được giao bảo

quản tài sản kê biên cần mở rộng cho

chính quyền xG, phường, thị trấn và cơ quan thi hành án bởi những lí do sau:

- Thực tế cho thấy, những vụ thi hành

án mà tài sản kê biên được giao cho người phải thi hành án bảo quản, việc tổ chức định giá, bán đấu giá gặp rất nhiều khó khăn và thường không đạt kết quả Dẫn chứng sau đây có thể phần nào chứng minh được điều này

Tính từ khi thành lập Đội thi hành án dân sự huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây vào tháng 7/1993 đến nay, nếu lấy số vụ phải KBTS, bán đấu giá tài sản là 100, trong

đó 50 vụ giao tài sản kê biên cho người phải thi hành án bảo quản, 50 vụ không giao tài sản kê biên cho người phải thi hành án bảo quản thì 100% số vụ giao tài sản kê biên cho người phải thi hành án bảo quản đều bán đấu giá không thành, mặc dù có những vụ giá trị thực của tài sản kê biên đến hơn 100 triệu đồng, trong khi thi hành án lại định giá chỉ có 30 triệu

đồng (do chênh lệch giữa khung giá đất của Nhà nước với thị trường tự do) nhưng bán đấu giá tài sản kê biên vẫn không thành

Nguyên nhân của tình trạng này chính

là việc giao tài sản kê biên cho người phải thi hành án bảo quản, người muốn mua tài sản bán đấu giá phải giáp mặt với người phải thi hành án nên thường bị đe dọa hoặc bị cầu xin, dẫn đến tâm lí nể nang, ngại va chạm, họ cảm thấy có mua

được tài sản bán đấu giá cũng là mua thêm cả sự oán hận của người phải thi hành án nên họ bỏ cuộc

100% số vụ tài sản kê biên bán đấu giá thành là do chấp hành viên giao cho người được thi hành án bảo quản hoặc theo đề nghị của hội đồng thi hành án mà giao cho chính quyền địa phương sở tại

Trang 6

bảo quản hoặc chấp hành viên mang về

kho của cơ quan thi hành án Mặc dù biết

rõ như vậy là trái với khoản 1 Điều 32

Pháp lệnh thi hành án dân sự nhưng vì

hiệu quả công việc, trách nhiệm nghề

nghiệp, biết là không đúng mà chấp hành

viên vẫn phải làm;

- Cũng vì lí do phải giao tài sản kê

biên cho người phải thi hành án bảo quản

mà những người làm công tác thi hành án

dân sự không hiểu phải dùng một hay hai

quyết định cưỡng chế khi kê biên, bán

đấu giá tài sản

Theo các quy định hiện hành, khi

KBTS chấp hành viên phải ra quyết định

cưỡng chế nhưng do tài sản kê biên được

giao cho người phải thi hành án bảo quản,

đương sự chưa cảm thấy mất tài sản nên

mức độ chống đối chưa quyết liệt Chấp

hành viên và những người tham gia cưỡng

chế chỉ thực sự đối đầu với đương sự khi

giao tài sản kê biên (đặc biệt là nhà đất

cho người mua được thông qua bán đấu

giá hoặc người được thi hành án nhận nếu

bán đấu giá không thành) Nhưng khi tiến

hành bước giao tài sản này Pháp lệnh thi

hành án dân sự lại chưa quy định là giao

bằng quyết định, lệnh hay biên bản

Vấn đề này đòi hỏi khi Nhà nước ban

hành Luật thi hành án hoặc phải quy định

thêm biện pháp cưỡng chế tài sản đG kê

biên cho người mua được thông qua bán

đấu giá hoặc phải loại bỏ người phải thi

hành án ra khỏi đối tượng được giao bảo

quản tài sản kê biên để thuận lợi cho việc

định giá, bán đấu giá và để tránh phải

cưỡng chế một lần nữa

c Về giới hạn tài sản không được kê

biên

Theo quy định của Điều 30 Pháp lệnh

thi hành án dân sự, Điều 16 Nghị định

69/CP ngày 18/10/1993 của Chính phủ quy định thủ tục thi hành án dân sự, Công văn số 156 /TPTHA ngày 18/8/1998 của Cục quản lí thi hành án dân sự - Bộ tư pháp thì một trong những tài sản không

được kê biên là công cụ lao động thông thường cần thiết, chủ yếu hoặc duy nhất

và quyền sử dụng đất của người phải thi hành án

- Đối với công cụ lao động thông thường cần thiết, chủ yếu hoặc duy nhất

đến nay cách hiểu và vận dụng vẫn chưa thống nhất

Ví dụ 1: Tại bản án số 07/ DSST ngày 19/3/1998, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây đG buộc Nguyễn Hữu B phải bồi thường cho Nguyễn Tuấn H 2,4 triệu đồng

B làm ruộng, tài sản trong gia đình

đáng giá nhất là con trâu trị giá 3 triệu

đồng

Ví dụ 2: Tại bản án số 139/HSPT ngày 16/11/1998, Tòa án nhân dân tỉnh

Hà Tây đG buộc Nguyễn Xuân Q phải bồi thường cho Nguyễn Văn Đ 6.525.000 đ

Q làm nghề lái xe ôm, tài sản đáng giá trong gia đình chỉ có chiếc xe máy

80 - 50 cm3 là phương tiện kiếm sống chủ yếu của vợ chồng Q

Việc KBTS ở hai vụ án này có hai quan điểm hoàn toàn khác nhau:

Quan điểm 1 cho rằng: Con trâu của B

và chiếc xe máy của Q là công cụ lao

động thông thường cần thiết, chủ yếu Nếu kê biên và bán đấu giá là vi phạm khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh thi hành án dân sự

Quan điểm 2 cho rằng: Trong khi gia

đình H và Đ rất khó khăn về kinh tế, nếu cho rằng con trâu và chiếc xe máy là công cụ lao động thông thường cần thiết

để không kê biên, bán đấu giá mà trả lại

Trang 7

đơn yêu cầu thi hành án của đương sự là

không thỏa đáng ở những trường hợp

này, con trâu và chiếc xe máy là công cụ

cần thiết, chủ yếu nhưng cũng là tài sản

có giá trị lớn Vì vậy, phải kê biên, bán

đấu giá để bảo vệ quyền lợi của người

được thi hành án

- Đối với quyền sử dụng đất

Điều 172 BLDS đG quy định tài sản

bao gồm cả các quyền tài sản trong đó có

quyền sử dụng đất Tại Công văn số

16/1999/KHXX ngày 1/2/1999 Tòa án

nhân dân tối cao đG hướng dẫn: "Quyền

sử dụng đất cũng là tài sản do đó việc

định giá, tính tiền tạm ứng án phí, án phí

dân sự sơ thẩm đối với việc giải quyết

tranh chấp quyền sử dụng đất về nguyên

tắc chung cũng thực hiện như đối với các

tranh chấp tài sản khác"

Như vậy, Nhà nước đG coi quyền sử

dụng đất là loại tài sản nhưng pháp luật

hiện hành lại không quy định cụ thể về

việc kê biên loại tài sản này nên chấp

hành viên không kê biên được, kể cả

trong trường hợp người phải thi hành án

không còn tài sản, thu nhập để thi hành

án

- Đối với nhà ở

Hiện nay chưa có văn bản nào quy

định cần phải để lại diện tích nhà ở tối

thiểu cho người phải thi hành án và gia

đình khi chấp hành viên kê biên tài sản

hay cơ chế hỗ trợ từ phía Nhà nước và

người được thi hành án như thế nào đối

với việc cưỡng chế thu hồi nhà cho thuê,

cho mượn khi người phải thi hành án

không có nơi ở mới

Những vấn đề này thực tiễn đG phải

giải quyết nên cần thiết phải được quy

định trong Luật thi hành án Nếu không,

từ việc cưỡng chế thi hành án dân sự có

thể trở thành nguyên nhân trực tiếp đẩy một số người vào đội quân vô gia cư, thất nghiệp, trẻ em lang thang

Đối với tài sản người phải thi hành án

đang chiếm hữu, sử dụng nhưng không

đứng tên sở hữu chúng ta đang phải chứng kiến thực tế là nhiều giao dịch dân

sự liên quan đến tài sản như xe máy, ô tô, nhà đất không được chứng nhận, chứng thực đăng kí theo quy định pháp luật trong việc sang tên trước bạ chuyển chủ; nhiều người được thừa kế, được ông bà,

bố mẹ tặng cho nhà đất nhiều năm nhưng trong sổ quản lí đất đai, trích lục bản đồ chính quyền địa phương quản lí vẫn không đứng tên sở hữu chủ Điều này đG

ảnh hưởng rất nhiều đến việc kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án Vấn đề đặt ra là: Thông qua xác minh từ người đứng tên

sở hữu tài sản, người đG từng chiếm hữu,

sử dụng tài sản trước đó, người đG chứng kiến việc tài sản được chuyển dịch quyền

sở hữu, đại diện chính quyền địa phương cung cấp chấp hành viên đG chứng minh

được người phải thi hành án là chủ sở hữu thực tế của những tài sản đang chiếm hữu, sử dụng thì tài sản đó có được kê biên hay không?

Nhiều ý kiến cho rằng, đối với những tài sản phải đăng kí sở hữu chỉ khi nào người phải thi hành án làm thủ tục đứng tên sở hữu, chấp hành viên mới được kê biên Nếu kê biên những tài sản này là xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người đG chuyển dịch tài sản cho người phải thi hành án

Chúng tôi cho rằng, theo khoản 1

Điều 29 Pháp lệnh thi hành án dân sự:

"Nếu có tranh chấp về tài sản giữa người phải thi hành án với người khác thì cơ quan thi hành án đ ra quyết định thi

Trang 8

hành án vẫn tiến hành kê biên người

được thi hành án, người phải thi hành án,

người có quyền, lợi ích liên quan đến tài

sản tranh chấp có quyền khởi kiện theo

thủ tục tố tụng dân sự" thì những trường

hợp này chấp hành viên vẫn có quyền kê

biên tài sản mới bảo vệ được quyền, lợi

ích hợp pháp của người được thi hành án

Tuy nhiên, để việc thực hành được

nhất quán, những vấn đề liên quan đến

việc xác minh tài sản, thu nhập của người

phải thi hành án, những giấy tờ tài liệu do

chấp hành viên lập, đương sự, người liên

quan, chính quyền địa phương cung cấp

có giá trị pháp lí ở mức độ nào phục vụ

cho việc kê biên tài sản cần được Luật thi

hành án quy định rõ

Tóm lại, KBTS là biện pháp cưỡng

chế được quy định trong nhiều văn bản

pháp luật và áp dụng nhiều nhưng các văn

bản còn quy định chưa đầy đủ cụ thể, có

sự không thống nhất dẫn đến nhiều cách

hiểu và vận dụng khác nhau

Từ những vấn đề đG trình bày trên

đây, chúng tôi xin đề nghị như sau:

1 Khi Nhà nước xây dựng BLTTDS,

Luật thi hành án và sửa đổi bổ sung

BLTTHS cần có sự đối chiếu các quy

định về kê biên tài sản giữa ba văn bản

này Để khắc phục những quy định mâu

thuẫn giữa các văn bản, bổ sung những

khoảng trống chưa được điều chỉnh, đảm

bảo sự thống nhất các quy định trong

từng văn bản cũng như giữa các văn bản

2 Cần quy định quyền kê biên tài sản

để đảm bảo thi hành án cho thẩm phán

tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng trước

khi xét xử bởi những lí do sau:

- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án dân sự hiện hành đG trao quyền cho thẩm phán áp dụng 7 biện pháp khẩn cấp tạm thời và nhiều quyền hạn khác trước khi xét xử các vụ án dân sự Đồng thời, BLTTHS cũng trao quyền cho thẩm phán trong thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án hình sự có thể ra các quyết định: Đưa vụ

án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án;

- Chỉ có thẩm phán chủ tọa phiên tòa

là người hiểu rõ nhất các tình tiết có trong

hồ sơ và trong những trường hợp nào thì cần thiết phải kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án

Cho nên, trao quyền kê biên tài sản cho thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện

là hợp lí và cần thiết Tuy nhiên, do người phải thi hành án phải chịu mọi chi phí cưỡng chế thi hành án, chi phí được tính

từ khi kê biên tài sản (thù lao cho những người tham gia kê biên tài sản, chi bảo quản tài sản kê biên ) Nếu thẩm phán

được trao quyền kê biên tài sản thì việc tính chi phí cưỡng chế thi hành án như thế nào phải được quy định rõ

3 Quy định hội đồng xét xử của tòa

án nhân dân cấp huyện được quyền quyết

định tiếp tục kê biên tài sản do những người có thẩm quyền (quy định tại khoản

1 Điều 62 BLTTHS) và thẩm phán áp dụng trước đó./

Ngày đăng: 19/12/2015, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w