tạp chí luật học- 49 Một số vấn đề về Điều 3 và Điều 20 Pháp lệnh thi hành án dân sự Bùi Thị Huyền * háp lệnh thi hành án dân sự được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21/4/1993
Trang 1tạp chí luật học- 49
Một số vấn đề về Điều 3 và Điều 20 Pháp lệnh thi hành án dân sự
Bùi Thị Huyền * háp lệnh thi hành án dân sự được ủy
ban thường vụ Quốc hội thông qua
ngày 21/4/1993 là cơ sở pháp luật bảo
đảm cho các bản án, quyết định của tòa
án có hiệu lực pháp luật được thi hành
trên thực tế, bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, qua
nghiên cứu nội dung Pháp lệnh thi hành
án dân sự và thực tiễn áp dụng cho thấy
còn nhiều điểm hạn chế, vướng mắc Để
góp ý kiến vào việc sửa đổi, bổ sung Pháp
lệnh thi hành án dân sự ở nước ta cho phù
hợp với tình hình đổi mới của đất nước
trong giai đoạn hiện nay, đưa Pháp lệnh
thi hành án dân sự thực sự đi vào cuộc
sống, giảm tỉ lệ án dân sự tồn đọng, theo
chúng tôi cần sửa đổi toàn diện Pháp lệnh
thi hành án dân sự, trong đó có vấn đề về
những bản án, quyết định được thi hành
và những bản án, quyết định mà thủ
trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra
quyết định thi hành
Điều 3 Pháp lệnh thi hành án dân sự
quy định những bản án, quyết định được
thi hành gồm có:
"1 Những bản án, quyết định của tòa
án đ có hiệu lực pháp luật:
a Bản án, quyết định sơ thẩm đồng
thời chung thẩm;
b Bản án, quyết định của tòa án cấp
sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm;
c Bản án, quyết định của tòa án cấp
phúc thẩm;
d Quyết định của tòa án cấp giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm;
đ Bản án, quyết định của tòa án nước ngoài đ được tòa án Việt Nam công nhận
2 Những bản án, quyết định của tòa
án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng
được thi hành ngay:
a Bản án, quyết định sơ thẩm về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao
động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của công dân mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị;
b Quyết định khẩn cấp tạm thời để bảo đảm lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án"
Điều 2 Pháp lệnh thi hành án dân sự quy định: "Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, quyết
định chuyển giao của tòa án, thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết
định thi hành bản án, quyết định về trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại tài sản XHCN, phạt tiền, tịch thu tài sản và
án phí, các quyết định khẩn cấp tạm thời
để bảo đảm lợi ích cấp thiết của đương
sự, bảo đảm cho việc xét xử và thi hành
án"
Theo quy định trên, bản án, quyết
định được thi hành là bản án, quyết định
đQ có hiệu lực pháp luật Điều 18 Pháp lệnh thi hành án dân sự quy định: "Khi bản án quyết định có hiệu lực pháp luật, tòa án chuyển cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền bản sao, bản án quyết định
P
*Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 250 - Tạp chí luật học
đồng thời tòa án đ tuyên bản án, quyết
định đó cấp cho người được thi hành án
và người phải thi hành án bản sao bản
án, quyết định có ghi để thi hành" Trên
cơ sở bản án, quyết định đó, thủ trưởng
cơ quan thi hành án cùng cấp sẽ ra quyết
định thi hành án tùy theo đó là trường hợp
thi hành án theo yêu cầu của đương sự
hay cơ quan thi hành án chủ động thi
hành án
Tuy nhiên, đối với bản án, quyết định
sơ thẩm chỉ có hiệu lực pháp luật một
phần (do đương sự, viện kiểm sát kháng
cáo, kháng nghị một phần bản án, quyết
định) thì phần có hiệu lực đó có được đưa
ra thi hành hay không? Nếu phần có hiệu
lực pháp luật được đưa ra thi hành thì khi
tòa án cấp, chuyển giao bản sao bản án,
quyết định cho đương sự và cơ quan thi
hành án sẽ phải ghi như thế nào? Trên
thực tế, vì lí do nêu trên, bản án, quyết
định thuộc loại này hầu như chưa đưa ra
thi hành được
Theo Điều 62 Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự, Điều 64 Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,
Điều 64 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
tranh chấp lao động thì phần bản án,
quyết định không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật và được đưa ra
thi hành Theo Điều 63 Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự, Điều 66 Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động quy định về phạm vi xét xử phúc
thẩm thì tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem
xét những nội dung có liên quan đến
kháng cáo, kháng nghị Như vậy, việc
giải quyết của tòa án cấp phúc thẩm
không liên quan gì đến phần bản án,
quyết định không bị kháng cáo, kháng
nghị Hơn nữa, để thi hành bản án, quyết
định dân sự của tòa án, thủ trưởng cơ
quan thi hành án có thể ra nhiều quyết
định thi hành án khác nhau hoặc có thể
ủy thác từng phần bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án có điều kiện thi hành Thậm chí, đối với bản án, quyết định thi hành theo đơn yêu cầu của người được thi hành án, nếu họ không làm đơn yêu cầu trong thời hiệu thi hành án thì phần quyết
định về án phí trong bản án, quyết định
đó vẫn được đưa ra thi hành do thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết
định thi hành
Vì thế, có thể khẳng định rằng có đủ cơ sở pháp lí để thi hành phần có hiệu lực pháp luật trong bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị một phần Do đó, cần bổ sung loại bản án, quyết định này vào điểm 1 Điều 3 Pháp lệnh thi hành án dân sự
Điều 3 Pháp lệnh thi hành án dân sự chỉ quy định cho thi hành án tại Việt Nam các bản án, quyết định của tòa án nước ngoài nếu được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Nhưng Điều 1 Pháp lệnh công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài thì quyết định của trọng tài nước ngoài được thi hành tại Việt Nam nếu được tòa án Việt Nam xem xét và công nhận cho nên cần bổ sung vào Điều 3 Pháp lệnh thi hành án dân sự
đối tượng: Quyết định của trọng tài nước ngoài đQ được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
Hiện nay ở Việt Nam, ngoài tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế còn có các cơ quan tài phán phi chính phủ Đó là Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam (VIAC) đặt bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và các trung tâm trọng tài theo Nghị
định số 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ Nhưng khi bên có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành phán quyết của các trung tâm trọng tài trên, bên có quyền lại không
có quyền làm đơn yêu cầu tòa án công
Trang 3tạp chí luật học - 51
nhận và cho thi hành như phán quyết của
các tòa án và trọng tài nước ngoài Rõ
ràng, điều đó không bảo đảm quyền bình
đẳng, tự do lựa chọn cơ quan giải quyết
tranh chấp trong nền kinh tế thị trường
Mặt khác, ở nhiều nước trên thế giới, tòa
án và trọng tài là hai cơ quan giải quyết
tranh chấp khác nhau về bản chất song
chúng có mối liên quan chặt chẽ với
nhau Trọng tài luôn được sự hỗ trợ từ
phía tòa án, pháp luật quy định tòa án có
thể xem xét tính hợp pháp của quyết định
trọng tài khi có đơn yêu cầu và khi quyết
định của trọng tài hợp pháp được tuyên
mà không được các bên tự nguyện thi
hành thì tòa án có thể phê chuẩn và cưỡng
chế thi hành
Vì vậy, để phù hợp với thông lệ quốc
tế, bảo đảm hiệu lực các phán quyết của
trọng tài Việt Nam cũng như bảo vệ
quyền lợi của các bên, bên cạnh việc xây
dựng Pháp lệnh trọng tài sắp tới, cần bổ
sung vào Điều 3 Pháp lệnh thi hành án
dân sự những quyết định của trọng tài
Việt Nam sau khi được tòa án công nhận
và cho thi hành
Theo Điều 18, Điều 20 Pháp lệnh thi
hành án dân sự, các bản án, quyết định
của tòa án được thi hành trong hai trường
hợp:
- Người được thi hành án làm đơn yêu
cầu thi hành án;
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ
động ra quyết định thi hành
Vậy đối với bản án, quyết định của
tòa án nước ngoài, quyết định của trọng
tài nước ngoài sẽ thuộc trường hợp nào
trong hai trường hợp trên? Khi tòa án có
thẩm quyền đQ ra bản án công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết
định của tòa án nước ngoài, quyết định
của trọng tài nước ngoài thì tòa án có phải
chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ
quan thi hành án không? Nếu chuyển thì
thời hạn chuyển trong khoảng thời gian nào? Đương sự có phải làm đơn yêu cầu thi hành án nữa không? Tất cả các vấn đề trên, Pháp lệnh thi hành án dân sự chưa quy định cụ thể
Theo chúng tôi, đơn yêu cầu tòa án xem xét công nhận và cho thi hành bản
án, quyết định của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam đQ bao hàm cả hai yêu cầu: Xem xét tính hợp pháp của bản án, quyết
định để từ đó đạt mục đích xin yêu cầu thi hành án tại Việt Nam
Trường hợp hội đồng xét đơn yêu cầu sau khi kiểm tra, đối chiếu xét thấy bản
án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài và các tài liệu kèm theo phù hợp với các quy định của Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài ngày 17/4/1993, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài 14/9/1995, các quy
định khác của pháp luật Việt Nam và các
điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia thì sẽ ra quyết định công nhận Thời điểm có hiệu lực pháp luật của quyết định công nhận và thi hành các bản
án, quyết định của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam của tòa án Việt Nam tuyên sẽ
là căn cứ để xác định thời hiệu thi hành
án, thời hạn chuyển giao bản án quyết
định cho cơ quan thi hành án chứ không phải thời điểm có hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định của tòa án nước ngoài hay của trọng tài nước ngoài Do đó,
đương sự không cần thiết phải làm đơn yêu cầu thi hành án mà thủ trưởng cơ quan thi hành án có thẩm quyền phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn nhất
định (có thể là 10 ngày giống như trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu) kể từ
Trang 452 - Tạp chí luật học
ngày nhận được bản sao quyết định Và
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày quyết
định đQ có hiệu lực pháp luật, tòa án phải
chuyển giao bản sao bản án, quyết định
đó cho cơ quan thi hành án
Theo Điều 3 Pháp lệnh thi hành án
dân sự những bản án, quyết định chưa có
hiệu lực pháp luật bao gồm cả quyết định
biện pháp khẩn cấp tạm thời Nhưng Điều
42 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự quy định các quyết định biện pháp
khẩn cấp tạm thời được thi hành ngay nên
quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời
phải được coi là quyết định đQ có hiệu lực
pháp luật
Với các vấn đề chúng tôi đQ nêu trên,
thiết nghĩ để bảo đảm tính đồng bộ, phù
hợp của hệ thống pháp luật cũng như bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, Điều 3, Pháp lệnh thi hành án
dân sự cần được sửa đổi theo hướng:
"1 Những bản án, quyết định của tòa
án đQ có hiệu lực pháp luật
a Bản án, quyết định sơ thẩm đồng
thời chung thẩm;
b Bản án, quyết định hoặc phần bản
án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
c Bản án, quyết định của tòa án cấp phúc thẩm;
d Quyết định của tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
đ Bản án, quyết định của tòa án nước ngoài đQ được tòa án Việt Nam công nhận;
e Quyết định của trọng tài trong nước
và trọng tài nước ngoài đQ được tòa án Việt Nam công nhận;
g Quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời
2 Những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay"
Điều 20 Pháp lệnh thi hành án dân sự cần được bổ sung thêm trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành đối với quyết định của tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài./
Một số vấn đề…
(tiếp theo trang 32)
Từ vướng mắc này, chúng tôi thấy khi
quy định về việc thanh toán và phân chia di
sản thừa kế, pháp luật cần quy định rõ người
thừa kế đQ nhận tài sản từ hợp đồng tặng cho
hay bằng hành vi khác từ người để lại di sản
có phải hoàn trả tài sản đQ nhận vào tài sản
chung những tặng vật trước đây họ được
hưởng hay không để từ đó có cơ sở xác định
những tặng vật đó có là di sản thừa kế của
người để lại di sản hay không Quy định đó
phải dung hòa được hai quan điểm trên thì
mới có sức sống và đáp ứng được nguyện
vọng của các chủ thể trong quan hệ pháp
luật về thừa kế
Hiện nay, sai lầm phổ biến trong việc
giải quyết tranh chấp về thừa kế của các cấp tòa án là việc xác định di sản không
đúng, bỏ sót hoặc không đánh giá đúng công sức của người có công gây dựng và duy trì khối di sản
Bởi vậy, quy định của pháp luật về di sản thừa kế cần phải đầy đủ, cụ thể và phù hợp với thực tế, việc chúng tôi đề cập những vướng mắc trong một số trường hợp cụ thể trên không nằm ngoài mong muốn đó./
( 1).Xem: Điều 829 - Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998, tr.237 (2).Xem: Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.501.