Dân số và Môi trường Khoa xã hội học Tài liệu học phần môn dân số và phát triển Chủ đề Dân số với môi trường đất Mục lục Nội dung Trang A Phần mở đầu I, Tính cấp thiết, lí do chọn đề tài II, Lịch sử n[.]
Trang 1Dân số và Môi trường
Khoa xã hội họcTài liệu học phần môn dân số và phát triểnChủ đề: Dân số với môi trường đất
Trang 2Mục lụcNội dung Trang
A: Phần mở đầu
I, Tính cấp thiết, lí do chọn đề tài
II, Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên Thế giới và Việt Nam
III, Phương pháp nghiên cứu
IV, Các khái niệm cơ bản
B: Nội dung
V,Thực trạng
VI, Nguyên nhân
VII, Hậu quả
VIII, Giải pháp
IX, Kết luận
C: Tài liệu tham khảo
Trang 3Bản tuyên bố Amxtecđam năm 1989 đã khẳng định “Dân số, môi trường
và tài nguyên là một thể liên kết khăng khít” và nhấn mạnh sự cần thiết phải đảmbảo “Mối liên hệ bền vững giữa số lượng người, nguồn tài nguyên và sự phát triển” Số dân tăng lên thì nhu cầu cơ bản cho đời sống lấy từ môi trường cũng tăng lên, đi cùng với nó là quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi sẽ dẫn đến hệ quả không thể tránh được là môi trường tự nhiên bị suy thoái,các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt Môi trường đất cũng đang đứng trước tình trang bị suy thoái trầm trọng Chính vì thế, trong quá trình phát triến kinh tế - xã hội cần quan tâm giải quyết mối quan hệ giữa dân số với môi trường và đặc biệt là môi trường đất Vấn đề này có thể được khắc phục nếu có những biện pháp, chính sách khả thi và can thiệp truyền thông phù hợp Câu hỏi đặt ra ở đây là: Thực trạng, hậu quả và giải pháp?
II, Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Thế giới và ở Việt Nam
Trang 4Ngay từ thời nguyên thủy, con người đã tác động vào môi trường sống với một số hành động như săn bắn, hái lượm, dung lửa để nấu chín thức ăn, tác động này đã làm giảm diện tích rừng Trong xã hội nông nghiệp, con người đã tác động vào môi trường tự nhiên bằng các hành động săn bắn, trồng trọt, chăn nuôi, phá rừng làm khu dân cư Hành động này đã làm suy giảm độ màu mỡ của đất Đến xã hôi công nghiệp, con người lại tiến hành khai thác tài nguyên, phát triển các khu dân cư… Những hành động này đã làm giảm diện tích rừng, ô nhiễm môitrường Bắt đầu từ những năm 1960, những dấu hiệu cho thấy rằng sự phát triển ngày cằng tăng của nạn suy thoái môi trường đã ngày một rõ rệt hơn Con người
đã ý thức được những ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường sống Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và thế giới tố chức tại Stockholm (thủ đô Thụy Điển) trong thời gian từ 5 - 6/6/1972 là kết quả của những nhận thức môi trường này, là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã quyết định chọn ngày 5/6/1972 là ngày môi trường Thế giới và giao cho Chương trình Môi trường (VNEP) của Liên Hợp Quốc có trụ sở tại Nairobi, Kenga tổ chức kỉ niệm sự kiên này Hằng năm, vào ngày này lễ kỉ niệm được trọng thể tổ chức tại hơn 100 quốc gia trên thế giới
Việt Nam tham gia hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới từ năm
1982.Hằng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các Bộ, ngành địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức trọng thể ngày lễ này ở tất cả các tỉnh trên phạm vi cả nước
III, Phương pháp nghiên cứu
- Đọc,tham khảo và phân tích tài liệu
Trang 5- Thâm nhập thực tế (quan sát)
- Phân tích biểu đồ
- Thông kê
IV, Các khái niệm cơ bản
- Khái niệm môi trường
Theo điều 1, Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam thì “Môi trường bao gồm cácyếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người , có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất và sự tồn tại, phát triển củangười và thiên nhiên.”
- Khái niệm môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên là các điều kiện tự nhiên bao quanh sinh vật, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật (con người là sinh vật đặc biệt)
- Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi các bộ phận, các cá thể cấu thành nên một hây nhiều yếu tố nào đó của môi trường gây ảnh hưởng xấu tới đến hoạt động sản xuất, đời sống và sức khỏe con người
- Định nghĩa môi trường đất
Môi trường đất là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô sinh ắp xếp thành cấu trúc nhất định Các động vật, thực vật, vi sinh vật sống trong lòng trái đất Các thành phần này có liên quan mất thiết và chặt chẽ với nhau Môi trường đất được xem là môi trường thành phần của hệ môi trường bao quanh nó gồm nước, không khí, khí hậu (Nguồn: yume.vn)
Trang 6- Ô nhiễm môi trường đất.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới thì “Ô nhiễm môi trường là sự đưa vàomôi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mực ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái môi trường tự nhiên” Đất được xem là ô nhiễm khi nồng độ các chất độc tăng lên quá mức an toàn, vượt lên khả năng tự làm sạch của môi trường đất (Nguồn: yume.vn)
- Suy thoái đất
Suy thoái đất được xem như là sự suy thoái chất lượng đất đai, sự suy giảm này ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của các sản phẩm nông nghiệp Tiến trìnhsuy thoái đất có thể nhanh hoặc chậm phụ thuộc vào điều kiện của thời tiết khí hậu, và trình độ hiểu biết của chủ thể sử dụng và khai thác đất Ngày nay suy thoái đất là vấn đề môi trường lan giải nhất ở các quốc gia đang phát triển nhất là Châu Phi, đặc biệt là những vùng sa mạc, bán sa mạc, cũng như những vùng khí hậu ẩm ướt
Công thức tính mối liên hệ giữa dân số với môi trường và tài nguyên
Q = P x A
I = P x A x TTrong đó:
Q: Quy mô khai thác tài nguyên
P: Quy mô dân số
A: Bình quân tài nguyên theo đầu người
I: Hệ số ô nhiễm môi trường
T: Hệ số ô nhiễm công nghiệp = Sản lượng công nghiệp X ảnh hưởng ô nhiễm của công nghệ sản xuất ( Hệ số ô nhiễm đơn vị)
Trang 7B Nội dung
V, Thực trạng
1, Suy giảm về diện tích đất canh tác
a, Trên Thế giới
- Diện tích bề mặt Trái đất là 510 triệu km2
- Diện tích đất nổi là 149 triệu km2 (chiếm khoảng 29%)
- Diện tích đất có thể canh tác là 15 tỉ ha
- Diện tích đất đã canh tác là 8 tỉ ha
- Đã vi phạm không gian sinh tồn tối thiểu là 15 tỉ ha
- Các vùng địa lí khác nhau có tỉ lệ đất sử dụng/đất tiềm năng khác nhau: Châu Á có tỷ lệ đất sử dụng cao nhất chiếm 92%, Châu Âu 31%, Châu Phi 31%, Châu Mỹ 15%, thấp nhất là Châu Đại Dương 1,2%
Bảng: Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người /Thế giới (ha/người)
Dân số (triệu người)
545 1000 2000 5000 7000
Diện tích (ha/người)
b, Ở Việt Nam
- Theo số liệu thống kê năm 2005, nước ta có khoảng 12,7 triệu ha đất có rừng, 9,7 triệu ha đất sử dụng trong nông nghiệp (chiếm hơn 28,4% tổngdiện tích đất tự nhiên), trung bình trên đầu người là 0,1 ha Trong số 5,53 triệu ha đất chưa sử dụng thì đất bằng chỉ có khoảng 350 nghìn ha, còn lại là 5 triệu ha là đất đồi núi đang bị suy thoái
- Việt Nam có khoảng 331212 km2, xếp thứ 60 trên thế giới về diện tích lãnh thổ, nhưng lại đứng thứ 13 về quy mô dân số Do vây, Việt Nam cóđất canh tác bình quân theo đầu người thấp nhất thế giới
Trang 8- Trên thực tế sử dụng đất nông nghiệp Viêt Nam chưa hợp lý,được biểu hiện: đất nông nghiêp chiếm 7 triệu ha chiếm 21%, đất lâm nghiệp 9,7 triệu ha chiếm 29%, đất chuyên dung 1,6 triệu ha chiếm 5%, còn lai 15 triệu ha chiếm 45% là đất trống đối núi trọc Nếu tính bình quân diện tích đất nông nghiệp/người của Viêt Nam là 0,085 ha/người, chỉ số này
là rất thấp so với thế giới (1,2 ha/người)
- Bằng suy luận cho thấy diện tích đất không tăng, tỷ lệ tăng dân số như hiện nay, đến 2050 dân số Viêt Nam sẽ tăng gấp đôi, thì bình quân diện tích đất nông nghiệp/người sẽ giảm đi một nửa (0,043 ha/người) Đất lâm nghiệp ngày càng suy thoái nghiêm trọng, diện tích đất không có khả năng phục hồi trở thành đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng: Năm
1943 Viêt Nam có khoảng 20 triệu ha đất lâm nghiệp, trong đó có
khoảng 20 triệu ha đất lâm nghiệp, trong đó có 6 triệu ha đất không có rừng (chiếm 30%), năm 1993 con số này đã tăng lên 11,4 triệu ha
(chiếm 56%)
Bình quân đất canh tác / người năm 1990 ở một số nước (ha)
Liên Xô: 0.86 Trung Quốc: 0,25
Trang 9Biểu đồ tổng diện tích đất và bình quân đầu người giai đoạn 1990 - 2000
Bảng: Bình quân diện tích đất canh tác theo đầu người ở Việt Nam
Năm Diện tích đất canh tác nông
nghiệp (triệu ha) Dân số (triệu người) Bình quân /người (ha)
(Nguồn: Niên giám thống kê các năm)
2, Suy giảm về chất lượng đất.
a, Trên thế giới
- Trong tổng số gần 15 triệu ha đất tự nhiên có khoảng 14% là đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đe, đất nâu, đất rừng nâu Đất xấu như đất hoang mạc, đất cằn cỗi, đất đài nguyên cho năng suất thấp chiếm 58% Còn lại 28% là đất trung bình cho năng xuất không cao, chủ yếu làm đồng cỏ nuôi gia xúc Theo đánh giá của FAO chất lượng đất của thế giới như sau: Đất vùng quá lạnh chiếm diện tích 20%, vùng quá khô là 20%, vùng quá dốc là 20%, đất làm đồng cỏ là 20%, đất có thể trồng trọt được là 10%, và đất có tầng mặt mỏng là 10%
- Trong khoảng 50 năm lạ đây, trên thế giới có khoảng 2/3 diện tích đất bịsuy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, mặn hóa, chua hóa: trong
đó có 40% là đất nông nghiệp bị suy thoái mạnh, 10% bị sa mạc hóa do biến động khí hậu và khai thác sử dụng không hợp lý Sahara mỗi năm
mở rộng lấn mất gần 100000 ha đất nông nghiệp và đồng cỏ
Trang 10- Bằng suy đoán, các nhà khoa học cho biết rằng: cứ tốc độ suy thoái đất như hiện nay khoảng 25 năm nữa năng suất lương thực của thế giới giảm từ 10 – 20 %.
- Theo kết quả đáng giá được công bố trong một bản báo cáo (Thứ ba, ngày 29/11/2011) cho biết 25% diện tích trên thế giới đang “thoái hóa nghiêm trọng” với nhiều biểu hiện như xói mòn, thiếu nước và suy giảmmức độ đa dạng sinh học Khoảng 8% diện tích đất bị thoái hóa ở mức vừa phải, 36 % bị thoái hóa nhẹ hoặc ổn định Diện tích đất cải thiện được chất lượng chỉ chiếm 10%
- Đất đã bị rửa trôi, xói mòn, khô cằn, suy kiệt dinh dưỡng tập trung ở vùng trung du và miền núi phía Bắc, các tỉnh Bình Thuận, Ninh
Thuận,và một số khu vực ở Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu khả năng xói mòn đất vùng Tây Nguyên và mối quan hệ của nó với lớp phủ thực vật cho thấy, đất bị xói mòn và rửa trôi ở khu vực có rừng và không có rừng khác nhau rất rõ rệt: tại khu vực đất không được che phủ, lớp thực vật, đất bị xói mòn rửa trôi lớn nhất (200 tấn/ha/năm), độ phì suy giảm nhanh nhất, sau đó là đất bỏ hóa (114,3 tấn/ha/năm), nơi có rừng tự nhiên thì lượng đất bị xói mòn chỉ có 1,3 tấn/ha/năm Ở loại rừng chỉ có một tầng như rừng khộp Tây Nguyên, tốc độ xói mòn (3,4 tấn/ha/năm) lớn gấp 2,5 lần so với đất có rừng kín lá rộng thường xanh (1,3
tấn/ha/năm) Điều đó cho thấy tác hại của việc phá rừng và tập quán canh tác du canh du cư của đồng bào các dân tộc sống ở miền núi đối với quá trình thoái hóa đất là rất lớn
Trang 11- Đất bị mặn hóa và phèn hóa khoảng 3 triệu ha, đất bị úng ngập khi có lụt lớn khoảng 1,4 triệu ha, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long
VI, Nguyên nhân
1 Nguyên nhân tự nhiên.
- Thường chiếm tỉ lệ nhỏ và mang tính khư vực
- Trong các khoáng vật hình thành nên đất thường chứa một hàm lượng rất lớn kim loại nặng, trong điều kiện bình thường chúng là những nguyên tố trung lượng và vi lượng không thể thiếu cho cây trồng và sinh vật đất, tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt chúng vượt mức giới hạn và trở thành chất ô nhiễm
VD: Chì: Trong các đá magma, Pb có xu thế tăng dần hàm lượng từ siêu mafic đến axit Trong các đá magma, chì chủ yếu tập trung trong các khoáng vật felspat, tiếp đó là những khoáng vật tạo đá sẫm màu mà đặc biệt là bioxit
- Trong thành tạo đá trầm tích và biến chất, ở khu vực Đông Bắc Bộ, Pb được xếp vào nhóm nguyên tố quặng kim loại rất phổ biến, chúng được phát hiện với hàm lượng cao trong các đá trầm tích và trầm tích biến chất, đặc biệt trong các đá Pleozoi Ở khu vực Tây Bắc Bộ, Pb và Cu là hai nguyên tố quặng kim loại phổ biến với hàm lượng cao trong các đá trầm tích và trầm tích biến chất Pb thường tập trung cao trong các đá trầm tích ởhai bên tả và hữu ngạn sông Đà Tuy nhiên trong điều kiện bình thường Pb
là nguyên tố kém linh động
- Do một số thiên tai như động đất, núi lửa, lũ lụt, song thần…
2 Nguyên nhân nhân tạo
a, Do hoạt động sản xuất nông nghiệp: Dân số tăng nhanh, để đảm bảo nhu cầu
lương thực cần phải thâm canh tăng vụ để tăng năng suất, do đó diện tích sử dụngphân khoáng, chất kích thích hóa học và thuốc trừ sâu , diệt cỏ ngày càng tăng và không tuân thủ quy chế sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học Lượng thuốc bảo vệthực vật và trừ dịch được sử dụng chung bình là 0,4-0,5 kg/ha, lượng phân đạm hóa học là 73-85 kg/ha, một số vùng thâm canh rau đã sử dụng lên đến 324kg/ha
Trang 12Nhiều loại thuốc rất độc hại, miền phân tán lớn, gây ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất và nước Theo báo cáo của Việt Nam tại Hội nghị môi trường và phát triển thế giới năm 1992 thì trên hầu hết diện tích đất canh tác đều sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học, kết quả là gây ô nhiễm đất và nước, về lâu dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới an toàn lương thực và thực phẩm.
Bảng thời gian tồn lưu trong đất của một số nông dược
Thuốc trừ sâu dạng lân hữu cơ 0,02 – 0,2
Bảng: Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở nước ta qua các năm
b, Do hoạt động công nghiệp:
- Các hoạt động công nghiệp rất phong phú và đa dạng, chúng có thể là nguồn gây ô nhiễm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Nguồn gây ô nhiễm trực tiếp là khi chúng được thải trực tiếp vào môi trường đât, nguồn gây ô nhiễm gián tiếp là chúng được thải vào môi trường nước và môi trường không khí, nhưng do quá trình vận chuyển, lặng đọng chúng di chuyển đếnđất và gây ô nhiễm đất
- Trong hoạt động công nghiệp, ở các đô thị có thể phân biệt chất thải gây ô nhiễm đất ra làm 4 nhóm chính: Chất thải xây dựng, chất thải kim loại, chấtthải khí, chất thải hóa học và hữu cơ
Trang 13+, Chất thải xây dựng: Chất thải xây dựng như gạch, gỗ, thủy tinh, ống nhựa, dây cáp,bê tông, trong đất các chất này bị biến đổi theo nhiều con đường khác nhau, nhiều chất thải khó bị phân hủy…
● Chất thải kim loại: Nguồn gốc chính của kim loại nặng trong chất thải (Tính theo phần tram lượng phát sinh có nguồn gốc công nghiệp) ● Các loại bình điện như (pin, ac quy…) có mức chất thải kim loại nặng cao nhất: 93% tổng số lượng thủy ngân, khoảng 45% số lượng Cadmium (Cd)
● Sắt phế liệu chứa khoảng 45% số lượng chì (Pb), 30% đồng (Cu), 10% crom (Cr)
● Các chất thải mịn (<20 mm) chứa 43% Cu thải, 20% Pb, và 12 % Lickel
38 % Cd thải, và 25% Ni là từ chất dẻo
+, Chất thải khí:
● CO là sản phẩm đốt cháy không hoàn toàn Cacbon, 80% CO là từ động cơ xe hơi, xe máy, hoạt động của các máy nổ khác , khói lò gạch, lò bếp, núilửa phun,…CO vào cơ thể người, động vật gây nguy hiểm do CO tác dụng với Hemoglobin làm máu không hấp thu oxi, cản trở sự hô hấp Trong đất một phần
CO được hấp thụ trong keo đất, một phần bị oxi hóa thành CO2
● CO2, SO2, NO2 trong không khí bị ô nhiễm là nguyên nhân gâu nên hiện tượng mưa axit, làm tăng quá trình chua hóa đất
+, Chất thải hóa học và hữu cơ: Các chất thải có khả năng gây ô nhiễm đất
ở muacs độ lớn như: chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp in, công nghiệp sản xuất hóa chất
●Nhiều loại chất thải hữu cơ cũng dẫn đến ô nhiễm đất, nhiều loại nước từ cống rãnh thành phố được sử dụng như nguồn nước tưới trong sản xuất nông nghiệp Trong các loại nước thải này thường bao gồm cả nước thải sinh hoạt và công nghiệp nên thường chứa nhiều kim loại nặng