A. PHẦN MỞ ĐẦU. 1. Lý do lựa chọn đề tài. Phương pháp hệ thống trong nghiên cứu dân số học đã chỉ ra rằng: hệ thống kinh tế lãnh thổ bao gồm dân số, kinh tế xã hội, môi trường tự nhiên, chúng tồn tại trong mối tương hỗ, trong đó dân số là yếu tố cấu thành năng động nhất. từ đó cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa môi trường tự nhiên và dân số, con người có vai trò to lớn trong việc quyết định sự phát triển bền vững hay tàn lụi của môi trường tự nhiên thông qua sự khai thác và tác động vào nó một cách có cơ sở khoa học phù hợp hay không phù hợp với các quy luật phát triển của tự nhiên. Khi dân số phát triển quá mức, nhu cầu cơ bản cho đời sống lấy từ môi trường tự nhiên tăng lên, tạo sức ép làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên và khủng hoảng môi trường sinh thái Môi trường đất là một trong những thành tố cơ bản trong hệ thống môi trường tự nhiên, là tài nguyên vô giá, bởi nó mang và nuôi dưỡng các hệ sinh thái trên đất trong đó có hệ sinh thái nông nghiệp hiện đang nuôi sống toàn nhân loại: Là môi trường cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, đảm bảo an ninh lương thực và an ninh sinh thái Là nơi con người tồn tại và thực hiện các nhu cầu sinh hoạt đời sống, nhu cầu kinh tế, nhu cầu xã hội. Lọc và cung cấp nước Nơi chứa đựng và phân hủy chất thải Tuy nhiên tài nguyên đất đang suy giảm cả về chất lượng và số lượng: tình trạng xói mòn và suy thoái nghiêm trọng, bình quân đất canh tác theo đầu người giảm…do các nguyên nhân khách quan và chủ quan trong đó nguyên nhân chủ yếu là sự gia tăng quy mô dân số. từ đó dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với dân cư, đòi hỏi các nhà khoa học nói chung và các nhà dân số học nói riêng đề ra những giải pháp thiết thực, kịp thời và chính xác để giải quyết vấn đề cấp bách đối với toàn nhân loại này.
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU.
1 Lý do lựa chọn đề tài.
Phương pháp hệ thống trong nghiên cứu dân số học đã chỉ ra rằng: hệ thống kinh tế - lãnh thổ bao gồm dân số, kinh tế xã hội, môi trường tự nhiên, chúng tồn tại trong mối tương hỗ, trong đó dân số là yếu tố cấu thành năng động nhất từ đó cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa môi trường tự nhiên và dân số, con người có vai trò to lớn trong việc quyết định sự phát triển bền vững hay tàn lụi của môi trường tự nhiên thông qua sự khai thác và tác động vào nó một cách có cơ sở khoa học phù hợp hay không phù hợp với các quy luật phát triển của tự nhiên Khi dân
số phát triển quá mức, nhu cầu cơ bản cho đời sống lấy từ môi trường tự nhiên tăng lên, tạo sức ép làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên và khủng hoảng môi trường sinh thái
Môi trường đất là một trong những thành tố cơ bản trong hệ thống môi trường tự nhiên, là tài nguyên vô giá, bởi nó mang và nuôi dưỡng các hệ sinh thái trên đất trong đó có hệ sinh thái nông nghiệp hiện đang nuôi sống toàn nhân loại:
- Là môi trường cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, đảm bảo an ninh lương thực và an ninh sinh thái
- Là nơi con người tồn tại và thực hiện các nhu cầu sinh hoạt đời sống, nhu cầu kinh tế, nhu cầu xã hội
- Lọc và cung cấp nước
- Nơi chứa đựng và phân hủy chất thải
Tuy nhiên tài nguyên đất đang suy giảm cả về chất lượng và số lượng: tình trạng xói mòn và suy thoái nghiêm trọng, bình quân đất canh tác theo đầu người giảm…do các nguyên nhân khách quan và chủ quan trong đó nguyên nhân chủ yếu
là sự gia tăng quy mô dân số từ đó dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với dân cư, đòi hỏi các nhà khoa học nói chung và các nhà dân số học nói riêng đề ra những giải pháp thiết thực, kịp thời và chính xác để giải quyết vấn đề cấp bách đối với toàn nhân loại này
Trang 22 Thế nào là ô nhiễm môi trường đất?
"Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm"
Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm Nếu theo nguồn gốc phát sinh có:
• Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt
• Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp
• Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp
Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc thù và một số tác nhân gây ô nhiễm
có thể cùng một nguồn gốc nhưng lại gây tác động bất lợi rất khác biệt Do đó, người ta còn phân loại ô nhiễm đất theo các tác nhân gây ô nhiễm:
• Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ v.v.), chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit v.v )
• Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lỵ, thương hàn, các loại
ký sinh trùng (giun, sán v.v )
• Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr90, I131, Cs137)
• Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, nhưng đầu ra thì rất ít Ðầu vào có nhiều vì chất ô nhiễm có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy vào,
do con người trực tiếp thải vào đất…
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài.
Khoá luận tốt nghiệp với đề tài "Ứng dụng viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS) trong đánh giá biến động sử dụng tài nguyên đất ngập nước khu vực cửa sông Hồng" được thực hiện nhằm mục đích đánh giá hiện trạng và
mức độ thay đổi sử dụng đất qua các thời kỳ, phân tích các nguyên nhân cơ bản,
Trang 3dẫn đến sự thay đổi này từ đó đề xuất các biện pháp nhằm sử dụng hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên đất ngập nưowcs
Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Thanh Bình với tiêu đề “Độ bền than sinh học trong đất” trong đó chương 1 tập trung khảo sát sự biến động than sinh học cả về chất lượng và số lượng trong đất canh tác nông nghiệp trong 100 năm qua
Đỗ Quang Thiên, giảng viên đại học Huế với luận án tiến sỹ “ Đặc điểm môi trường địa chất khu vực hạ lưu sông Thu Bồn và sự biến đổi của nó do ảnh hưởng các hoạt động kinh tế-công trình”
I Thực trạng tài nguyên đất trên thế giới và Việt Nam
1. Tài nguyên đất trên thế giới.
Trang 41.1 Tình hình suy giảm diện tích đất canh tác.
• Tổng diện tích đất trên thế giới 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng.Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy
• Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.500 triệu ha Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là 36% Trong đó, những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng nâu chỉ chiếm 12,6%; những loại đất quá xấu như đất vùng tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, đất đài nguyên chiếm đến 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng, vv
Diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người đang ngày càng giảm do dân
số tăng nhanh, nhu cầu về lương thực thực phẩm tăng lên đòi hỏi diện tích canh tác lớn trong khi quỹ đất không tăng lên, thậm chí ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, quá trình hoang mạc hóa và tình trạng ô nhiễm đất đai
Bảng bình quân đất cang tác trên người năm 1990 ở một số nước
(Đơn vị:ha/người.)
1.2 Hiện trạng suy giảm chất lượng tài nguyên đất trên thế giới:
Hiện nay có tới 47% mặt đất trên trái đất là các vùng khô(bao gồm các vùng đất bán khô như Karoo và châu Phi; các vung thảo nguyên sa mạc như các thảo nguyên ở Âu Á và các bình nguyên Bắc Mỹ cũng như các vùng thảo nguyên ở Địa Trung Hải).Với sự giàu có về đa dạng sinh học, các vùng đất khô cung cấp sinh kế cho khoảng 2 tỷ người Tuy nhiên việc biến đổi các khu cư trú cho mục đích sử dụng của con người dã dân tới sư suy thoái của hơn 20% hệ sinh thái vùng đất khô
Trang 5• Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọng trong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hoá, chua hoá, mặn hoá, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái đất Khoảng 40% đất nông nghiệp đã bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc hoá do biến động khí hậu bất lợi và khai thác sử dụng không hợp lý Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng lấn mất 100.000 ha đất nông nghiệp và đồng cỏ Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ làm giảm 10 - 20% sản lượng lương thực thế giới trong 25 năm tới
• Tỷ trọng đóng góp gây thoái đất trên thế giới như sau: mất rừng 30%, khai thác rừng quá mức (chặt cây cối làm củi, ) 7%, chăn thả gia súc quá mức 35%, canh tác nông nghiệp không hợp lý 28%, công nghiệp hoá gây ô nhiễm 1% Vai trò của các nguyên nhân gây thoái hoá đất ở các châu lục không giống nhau: ở Châu Âu, châu á, Nam Mỹ mất rừng là nguyên nhân hàng đầu, châu Đại Dương và châu Phi chăn thả gia súc quá mức có vai trò chính yếu nhất, Bắc và Trung Mỹ chủ
yếu do hoạt động nông nghiệp
• Xói mòn rửa trôi : Mỗi năm rửa trôi xói mòn chiếm 15% nguyên nhân
thoái hoá đất, trong đó nước đóng góp 55,7% vai trò, gió đóng góp 28% vai trò, mất dinh dưỡng đóng góp 12% vai trò Trung bình đất đai trên thế giới bị xói mòn 1,8 3,4 tấn/ha/năm Tổng lượng dinh dưỡng bị rửa trôi xói mòn hàng năm là 5,4
-8,4 triệu tấn, tương đương với khả năng sản sinh 30 - 50 triệu tấn lương thực
Hoang mạc hoá là quá trình tự nhiên và xã hội Khoảng 30% diện tích trái đất nằm trong vùng khô hạn và bán khô hạn đang bị hoang mạc hoá đe doạ và hàng năm có khoảng 6 triệu ha đất bị hoang mạc hoá, mất khả năng canh tác do những hoạt động của con người
2 Tài nguyên đất ở Việt Nam:
2.1 Đất nông nghiệp.
• Diện tích Việt Nam là 33.168.855 ha, xếp thứ 60 về diện tích lãnh thổ nhưng lại đứng thứ 13 về quy mô dân số nên Việt Nam có bình quân đất canh tác
Trang 6trên đầu người thấp nhất thế giới (0,11 ha/người).Dự tính tới năm 2015 là 0,10 ha/người
• Theo Lê Văn Khoa, đất bằng ở Việt Nam có khoảng >7 triệu ha, đất dốc >25 triệu ha >50% diện tích đất đồng bằng và gần 70% diện tích đất đồi núi là đất có vấn đề, đất xấu và có độ phì nhiêu thấp, trong đó đất bạc màu gần 3 triệu ha, đất trơ sỏi đá 5,76 triệu ha, đất mặn 0,91 triệu ha, đất dốc trên 25o gần 12,4 triệu ha
• Bình quân đất tự nhiên theo đầu người là 0,4 ha Theo mục đích sử dụng năm 2000, đất nông nghiệp 9,35 triệu ha, lâm nghiệp 11,58 triệu ha, đất chưa
sử dụng 10 triệu ha (30,45%), chuyên dùng 1,5 triệu ha Đất tiềm năng nông nghiệp hiện còn khoảng 4 triệu ha Bình quân đất tự nhiên ở Việt Nam là 0,6 ha/người Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người thấp và giảm rất nhanh theo thời gian, năm 1940 có 0,2 ha, năm 1995 là 0,095 ha Đây là một hạn chế rất lớn cho phát triển Đầu tư và hiệu quả khai thác tài nguyên đất ở Việt Nam chưa cao, thể hiện ở
tỷ lệ đất thuỷ lợi hoá thấp, hiệu quả dùng đất thấp, chỉ đạt 1,6vụ/năm, năng suất cây trồng thấp, riêng năng suất lúa, cà phê và ngô đã đạt mức trung bình thế giới
• Theo dự báo đến 2010: Chúng ta có thể sử dụng gần 50% diện tích đất chưa sử dụng (khoảng 2,0 triệu ha), như vậy quĩ đất nông nghiệp sẽ vào khoảng gần 10,0 triệu ha và được phân bố như sau: đất canh tác hàng năm 6,5 triệu ha (trong đó đất trồng lúa 4,3 triệu ha); đất trồng cây lâu năm 2,8 triệu ha; đất cỏ và nuôi trồng thuỷ sản 0,7 triệu ha Đất nông nghiệp tuy có tăng lên chút ít (năm 1989
là 6,9 triệu ha; 1999 tăng lên 7,8 triệu ha, năm 2006 tăng lên 9,4 triệu ha), song bình quân cũng chỉ ~ 0,11 ha/người
• Việt Nam có trữ lượng các mỏ đất hiếm khoảng 7-8 tỉ tấn, có điều kiện khai thác thuận lợi, là nguồn tài nguyên dồi dào cho sự phát triển các ngành công nghệ điện tử, thủy tinh, luyện kim Tuy nhiên với sự khai thác chưa hợp lý hiên nay, chúng ta cũng không kì vọng vào mỏ đất này quá nhiều
2.2 Quỹ đất ở.
Trang 7Vấn đề nhà ở của người dân, nhất là tại các khu đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây đang trở thành gánh nặng của chính sách an ninh xã hội
Trong năm 2008, đã có 51,5 triệu m2 nhà ở được xây mới, trong đó khu vực
đô thị có 28,86 triệu m2 Kết quả tổng kiểm kê đất đai năm 2005 (do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện) cho thấy, cả nước có 598.428 ha đất ở, chiếm 18,51% tổng diện tích đất phi nông nghiệp, chiếm 1,81% tổng diện tích đất
tự nhiên cả nước, tăng 155.250 ha so với năm 2000 Trong đó, đất ở tại nông thôn
cả nước có 495.549 ha, chiếm 82,81% tổng diện tích đất ở, tăng 124.529 ha so với năm 2000, đạt bình quân đầu người là 59,1m2; đất ở tại đô thị có 102.879 ha, chiếm 17,19% tổng diện tích đất ở, tăng 30.721 ha so với năm 2000, bình quân đầu người đạt 12m2/người
Theo số liệu báo cáo của 46/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì đến ngày 30/9/2008, quỹ đất sử dụng cho hỗ trợ và tái định cư là 14.754,53 ha (trong đó
có 12.900,59 ha cho 1.468 dự án, công trình do Nhà nước thu hồi đất và 1.853,94
ha cho 449 dự án tái định cư do thiên tai) Tuy nhiên, quỹ đất này mới chỉ đáp ứng được khoảng 50 - 60% nhu cầu tái định cư của người dân, số còn lại phải tạm cư chờ bố trí tái định cư, nhận thêm phần hỗ trợ để tự lo chỗ ở mới hoặc chưa được bố trí tái định cư
- Chất lượng đất ở Việt Nam:
Đất đã bị xói mòn, rửa trôi, khô cằn, suy kiệt chất dinh dưỡng tập trung ở các vùng trung du và miền núi phía Bắc, các tỉnh Ninh Thận, Bình Thuận và một số khu vực ở Tây Nguyên.Tại vùng đất không được che phủ bởi lớp phủ thực vật, đất
bị xói mòn rưa trôi lớn nhất (200 tấn/ha/năm), độ phì suy giảm nhanh nhất, đất bỏ hóa (114,3 tấn/ha/năm)
Trang 8Đất bị mặn hóa và phèn hóa khoảng 3 triệu ha, đất bị úng ngập khi có lụt lớn khoảng 1,4 triệu ha, tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long
để quy mô dân số thế giới đạt 1 tỷ người đầu tiên là hàng triệu năm.nhưng thời gian
để nhân loại có thêm 1 tỷ người tiếp theo ngày càng giảm dần (từ 100 năm, đến 30 năm, 15 năm, 12 năm)) Do vậy để đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm cần phải thâm canh tăng vụ để tăng năng suất, do đó diện tích sử dụng phân khoáng, chất kích thích hóa học, thuốc trừ sâu diệt cỏ ngày càng tăng và không tuân thủ quy chế sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học.Lượng thuốc bảo vệ thực vật và trừ dịch được sử dụng trung bình là 0,4-0,5 kg/ha, lượng phân đạm hóa học là 73-85 kg/ha, một số vùng thâm đã sử dụng lên tới 324 kg/ha Ở Việt Nam trên 300 loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng với liều lượng thuốc phun 2-3lit/ha., số lần phun vùng chè khoảng 30 lần/năm, vùng rau khoảng 20-60 lần/vụ Từ đó dẫn đến sự suy thoái và ô nhiễm môi trường đất
tác động mạnh mẽ tới tài nguyên đất theo xu hướng tiêu cực.Quỹ đất dành cho các công trình xây dựng, xưởng nhà máy công nghiệp, và giao thông vận tải ngày càng lớn (Theo đề án điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 theo hướng nâng tỷ lệ đất dành cho giao thông đô thị thì tại các đô thị lớn, tỷ lệ đất dành cho giao thông chiếm 20 - 25% đất đô thị; tại đô thị trung bình và nhỏ tỷ lệ này là 15 – 18%) đã thu hẹp quỹ đất dành cho nông nghiệp, bình quân đất canh tác trên đầu người giảm xuống
- Sự phát triển của quá ttrinh đô thi hóa, công nghiệp hóa trong điều kiện đầu tư có hạn, thiếu quy hoạch quản lý môi trường gây ô nhiễm vùng ven đô,
Trang 9xung quanh nhà máy và khu công nghiệp Chúng tích lũy trong đất trong thời gian dài gây nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường Các chất gây ô nhiễm đất gồm chất thải xây dựng, chất thải kim loại, chất thải hóa học và hữu cơ:
• Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thuỷ tinh, ống nhựa, dây cáp, bê tông, trong đất rất khó bị phân huỷ
• Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng như Chì, Kẽm, Đồng,
Ni ken, Cadimi thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp Các kim loại này tích luỹ trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ
• Các chất thải khí và phóng xạ phát ra chủ yếu từ các nhà máy nhiệt điện, các khu vực khai thác than, các khu vực nhà máy điện nguyên tử, có khả năng tích luỹ cao trong các loại đất giàu khoáng sét và chất mùn
• Các chất thải gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, mầu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc
da, công nghiệp sản xuất hoá chất Nhiều loại chất hữu cơ đến từ nước cống, rãnh thành phố, nước thải công nghiệp được sử dụng làm nguồn nước tưới trong sản xuất cũng là tác nhân gây ô nhiễm đất
Bên cạnh đó việc sử dụng đất không đúng mục đích vẫn tồn tại khá phổ biến
do chất lượng quy hoạch nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng không hợp
lý, thiếu đồng bộ và mang tính bền vững Ở nhiều nơi, không ít trường hợp vì muốn
có nhiều công trình, dự án cho địa phương, muốn chỉnh trang, mở rộng đô thị cho
"xứng tầm" hoặc muốn để lại "dấu ấn" của nhiệm kỳ lãnh đạo nên đã vội vàng chỉ
đạo lập và xét duyệt quy hoạch, mà không cân nhắc đầy đủ khả năng thực hiện trước mắt cũng như tương lai Đây là nguyên nhân chủ yếu đẫn đến tình trạng quy hoạch "treo" và không ai khác nông dân là người chịu chấp nhận thiệt thòi Do vậy, chỉ tính riêng đến năm 2007 cả nước có tới 1.649 khu vực quy hoạch với diện tích 344.665 ha được xếp vào diện quy hoạch "treo”.
Trang 10Thống kê mới nhất từ cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, cả nước hiện đang có 144.485 tổ chức đang quản lý, sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê Trong đó, có tới 3.311 tổ chức sử dụng đất không đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 25.587,82ha Không những thế, những cơ quan, doanh nghiệp này còn cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng trái phép để kiếm chênh lệch.Tỏ ra khá bi quan về tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận định, vấn nạn này “xảy ra ở hầu hết các loại hình tổ chức” Trong số các loại đối tượng vi phạm, các tổ chức sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chiếm vị trí hàng đầu, với 1.527 đơn vị trên diện tích 21.499,68 ha, chiếm 84,02% Rà soát cho thấy có tới 1.828 tổ chức sử dụng làm nhà ở với diện tích 4.088,24 ha Phần lớn diện tích đất này được dành xây nhà cho cán bộ, công nhân viên! Ấy là chưa kể tới hơn 1.200 đơn vị khác đang
sử dụng đất cho thuê trái phép với diện tích 2.918,65 ha, tập trung lớn nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, sau đó tới vùng Đông Bắc, vùng Đông Nam Bộ Những trường hợp cho mượn, chuyển nhượng trái phép cũng lên tới con số hàng nghìn
Theo Tổng cục Quản lý Đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường), diện tích đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức được giao, thuê cũng lên tới trên 299.719 ha Trong đó, diện tích còn để hoang hóa xấp xỉ 250.862 ha do 2.455 tổ chức quản lý Diện tích đầu tư, xây dựng chậm (dự án “treo”) cũng lên tới 48.888 ha, tập trung chủ yếu là các trường học và những dự án phát triển đô thị mới, dự án xây dựng khu công nghiệp Số dự án “treo” tập trung chủ yếu tại Bắc Trung Bộ, chiếm tới 56,1% tổng diện tích đất chưa sử dụng
- Quá trình di dân tự do, không có kế hoạch cũng ảnh hưởng tới sự phân
bổ nguồn tài nguyên đất vì nơi di dân đến diện tích bình quân đất trên đầu người sẽ tăng lên, vấn đề ô nhiễm môi trường càng trở lên khó kiểm soát, trong đó có ô nhiễm môi trường đất Trong khi nơi di dân đến diện tích bình quân trên đầu người