1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luân văn Môi trường ĐỘC QUYỀN: XÂY DỰNG TIÊU BẢN TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG ĐẤT PHỤC CÔNG TÁC DẠY HỌC VÀ NGHIÊN CỨU TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH

29 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,44 MB
File đính kèm XÂY DỰNG TIÊU BẢN HCM.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dịch vụ thành lập Thay đổi Giấy phép kinh doanh cty Việt Nam cty vốn FDI Tuyển Cộng tác viên (CK 15% gói Dịch vụ) 0899315716 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong điều kiện của nước ta, dân số đông, diện tích đất đặc biệt là đất canh tác có hạn, thì việc tìm hiểu rõ về thực chất và sự biến đổi của tài nguyên đất trong quá trình khai thác, sử dụng càng cần phải lưu ý sao cho sử dụng đất hợp lý, bảo vệ đất và môi trường cho sản xuất lâu dài. Khai thác tư liệu về môi trường đất, trao đổi thông tin trên toàn quốc góp phần không những phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp, mà còn làm cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, góp phần vào công tác đào tạo, phát triển khoa học trong lĩnh vực thông tin tư liệu về môi trường đất. Xây dựng hệ thống thông tin tư liệu đất gồm có: + Các nhãn trưng bày kèm theo tiêu bản đất, tiêu bản thực vật chỉ thị, ảnh cảnh quan, vị trí phẫu diện đất trên bản đồ, bảng số liệu phân tích đất. + Thông tin cơ bản của môi trường đất: Bản tả phẫu diện đất; những tính chất lý, hoá học cơ bản; số liệu khí tượng, thông tin về các loài động thực vật chỉ thị liên quan đến môi trường đất và các tư liệu có liên quan. Các thông tin tư liệu được in bằng tiếng Việt và tiếng Anh đựng trong hộp thông tin của từng phẫu diện và được lưu giữ trong hệ thống máy vi tính. + Hệ thống các bản đồ chuyên đề về đất của toàn quốc, của các vùng sinh thái và các tài liệu thuyết minh kèm theo. Các bản đồ: Khí tượng nông nghiệp, địa chất... + Tủ trưng bày các mẫu đá cơ bản, là mẫu chất hình thành nhóm đất đồi núi. + Hệ thống hướng dẫn, chỉ dẫn: Các bảng biểu, sơ đồ, ký hiệu chỉ dẫn... Do đó, thể nói thông tin tư liệu tài nguyên môi trường đất tài sản vô cùng quí báu, rất đáng trân trọng cần được bảo quản lưu giữ và được thu thập bổ sung đầy đủ, chi tiết của các lọai đất chính nhằm góp phần nhất định cho phát triển khoa học chuyên ngành cũng như sự nghiệp hiện đại hoá nông nghiệp, xây dựng một nền nông nghiệp bền vững có hiệu quả. Chính vì lẽ đó, đề tài “Xây dựng tiêu bản tài nguyên môi trường đất phục vụ công tác dạy học và nghiên cứu trong trường đại học Công Nghiệp TPHCM” sẽ góp phần vào việc giáo dục nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường đất cho sinh viên và tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên có cơ hội nghiên cứu tìm hiểu về tài nguyên môi trường đất một cách trực quan và thực tế nhất.   2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI  Xây dựng 5 tiêu bản đất cho 5 loại tài nguyên (TN) môi trường đất chính.  Tạo ra một công cụ để dạy học và nghiên cứu một cách trực quan và thực tế.  Tăng cường nhận thức về sử dụng tài nguyên môi trường đất cho sinh viên, thúc đẩy tinh thần tìm tòi, học hỏi và nghiên cứu. 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Tài nguyên môi trường đất vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. 4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 05 loại tài nguyên môi trường đất chính của vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, cụ thể: TN môi trường Đất phù sa ĐBSCL huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh. TN môi trường Đất phèn tiềm tàng, được thay thế là TN môi trường đất Than Bùn phèn tiềm tàng, vườn Quốc Gia U Minh Thượng, Kiên Giang. TN môi trường Đất phèn hoạt động vùng Thạnh Hóa tỉnh Long An TN môi trường Đất xám trên phù sa cổ huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh, và TN môi trường Đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về nghiên cứu xây dựng tiêu bản môi trường đất Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia. Nó là nền tảng để định cư và tổ chức mọi hoạt động sản xuất của con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông – lâm nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng đất hiệu quả là hợp thành của chiến lược phát triển bền vững và cân bằng sinh thái. Trong quá trình phát triển, con người đã xây dựng các hệ sinh thái nhân tạo thay thế cho các hệ sinh thái tự nhiên, do đó dã làm giảm dần tính bền vững của chúng. Cùng với sức ép của đô thị hóa và sự gia tăng dân số, tài nguyên đất đang đứng trước nguy cơ suy giảm về số lượng và chất lượng. Con người đã và đang khai thác quá mức mà chưa có biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai. Trong những thập niên gần đây, quan điểm phát triển bền vững đã định hướng những đề tài nghiên cứu cùng những ứng dụng quan trọng và cấp bách trong phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Việc sử dụng đất đai hợp lý, xây dựng một nền kinh tế sạch, sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng đảm bảo môi trường sinh thái ổn định và phát triển đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Thực chất của mục tiêu này là vừa muốn đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đem lai hiệu quả xã hội và môi trường. Từ hiện trạng nêu trên, nghiên cứu tiềm năng đất đai, tìm hiểu một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất đó làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của quốc gia và từng địa phương. 1.1.1 Nghiên cứu xây dựng tiêu bản môi trường đất nước ngoài Monolith (tiêu bản nguyên khối) đất được lấy lần đầu tiên ở Nga trong những thập niên cuối của thế kỷ 19. Những phẫu diện đất lấy ở Nga được trưng bày tại triển lãm Columbia ở Chicago (Mỹ) năm 18931894. Monolith đất được lấy bằng cách luồn một hộp sắt có cạnh vào bề mặt thẳng đứng của hố phẫu diện, tương tự như các phương pháp của Rispoloshensky (1897) và Kubiởna (1953) được áp dụng tại Mỹ. Tại Hội nghị Thổ nhưõng Quốc tế lần thứ nhất ở Washington năm 1927, 19 Monolith cỡ lớn lấy từ Latvia đã được trưng bày. Những loại đất này được để trong các hộp gỗ (Kasakin và Krasynk, 1917; Hodgson, 1978 và Polưnov,1929). Năm 1925, Miklaszewski đã đề nghị cùng hợp tác tổ chức trao đổi các Monolith đất và các dữ liệu tầm cỡ quốc tế. Năm 1927, Vilenski đã xuất bản tài liệu Về việc tổ chức trao đổi các Monolith đất dựa trên việc tuân thủ một số cải tiến kỹ thuật cần thiết trong việc lấy và dán Monolith. Sau đó, Miklaszewski đã viết về việc thu thập Monolith đất của Bảo tàng Nông nghiệp ở Vácsava, Ba Lan, với kết luận: Lấy monolith vào hộp gỗ có chiều dài 100200 cm là dễ lấy, dễ vận chuyển và dễ trưng bày. Năm 1929, Polưnov và những người khác thuộc Viện Thổ nhưỡng Dokuchaev đã biên soạn cuốn Giới thiệu phương pháp thu thập Monolith và mẫu đất cho nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Ở nửa đầu của thế kỷ này, trong những phương pháp thu thập Monolith đất, tuy chưa đề cập đến kỹ thuật bảo quản, song cũng có một vài thử nghiệm nhằm làm ổn định các vật liệu đất nhờ các chất thấm. Phương pháp dùng dung dịch đường bão hòa đã được sử dụng ở những năm đầu tại Liên Xô cũ (Ponomareva, 1974). Việc bảo quản các phẫu diện đất được giới thiệu vào năm 1928, khi Schlacht đề cập việc sử dụng giấy bồi dầy được phết chất dính và ép vào thành phẫu diện, khi khô, các hạt đất dính vào giấy bồi. Phương pháp Klebeplatten Monolith này, theo Jager và Van der Voort (1966), chỉ thích hợp với các loại đất cát và đất có cơ giới trung bình, một lớp mỏng của phẫu diện đất được thấm chất dính ở đúng vị trí của nó, kết quả là tạo nên một mẫu lát mỏng (Lacquer Peel). Kỹ thuật thu thập các Monolith đất vào hộp kim loại hay hộp gỗ vẫn chủ yếu như phương pháp sử dụng lần đầu tiên ở Liên Xô cũ. Trong 2 thập niên cuối, người ta đã sử dụng những máy móc phù hợp, tạo được các mẫu đất hình trụ dài, không bị xáo trộn (Matelski,1949). Một số hóa chất mới được tạo ra dùng cho việc thấm vật liệu đất (Maarse và Terwindt, 1964; Bouma, 1969), chủ yếu sử dụng các loại chất kết dính được làm từ Nitrocellulose, (Voigt1936 và Gracanin, Janecovic1940) và keo Vinylite (Berger và Muckenhirn, 1978). Một số người sử dụng các chất được làm từ keo Polyeste (Maarse và Terwindt, 1964), trong khi đó Hammond (1974) lại thấm các loại đất hữu cơ bằng cách nhúng đất vào chất trùng hợp Polyetylen Glycol có phân tử lượng thấp. Bouma (1966) đưa ra rất nhiều các mẫu vật khác nhau ở cả 2 dạng chưa được làm chắc và đã được làm chắc. Van der Voort (1970) đã biên soạn một thư mục về việc lấy và bảo quản các Monolith đất và các mẫu lát mỏng. Từ năm 1966, Bảo tàng đất Quốc tế đã sử dụng các chất kết dính được làm từ Nitrocellulose và chất Polymethyl Methacrylate để bảo quản các Monolith đất được nêu trong Quy trình thu thập các loại đất cho Bảo tàng đất Quốc tế (xuất bản năm 1972, tái bản năm 1974, 1975 và 1977). Bảo tàng Đất Quốc tế International Soil Museum (ISM) được hình thành từ năm 1952, nhưng đến Hội nghị Thổ nhưỡng Thế giới (ISSS) lần thứ 7 (1960) và 8 (1964) mới được giới thiệu và công nhận. Năm 1966, Bảo tàng được chính thức thành lập, đặt tại Wageningen Hà Lan. Đến tháng 11984, do yêu cầu nhiệm vụ, ISM đổi tên thành Trung tâm thông tin tư liệu đất quốc tế (International Soil Reference and Information Centre) viết tắt là ISRIC, hoạt động trong sự hợp tác và tài trợ của UNESCO, FAO và ISSS. Hiện nay, ISRIC đã lưu giữ và trưng bày trên 800 mẫu tiêu bản nguyên khối với kỹ thuật và cơ sở vật chất hiện đại có đầy đủ thông tin tư liệu đất của trên 60 quốc gia trên Thế giới. Trung tâm thông tin tư liệu đất Quốc tế thực sự là nơi trao đổi, học tập, đào tạo, hội thảo... về đất của Thế giới. 1.1.2 Nghiên cứu xây dựng tiêu bản môi trường đất ở Việt Nam Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về đất, tuy nhiên nghiên cứu xây dựng tiêu bản đất hiện vẫn còn hạn chế. Trước năm 1995, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã tiến hành việc nghiên cứu điều tra phân loại đất, qua đó đã tiến hành thu thập các tiêu bản đất nguyên khối các loại đất chính của Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn nên việc xây dựng các thông tin tư liệu về đất còn thiếu, không đồng bộ. Chính vì vậy từ năm 1995 đến 2001, được sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã triển khai nghiên cứu xây dựng Trung tâm thông tin tư liệu đất Việt Nam (gọi tắt là Bảo tàng đất Việt Nam) theo tiêu chuẩn Quốc tế. Công việc gia công tiêu bản đất nguyên khối (Monolit) đã ứng dụng kỹ thuật của ISRIC bằng các hóa chất, vật liệu, dụng cụ...được sản xuất tại Việt Nam nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kỹ thuật lưu giữ lâu dài. Bảo tàng đã hoàn thiện trưng bày 64 mẫu đất nguyên khối của các loại đất chính của Việt Nam kèm theo đó là các thông tin về bản đồ, sơ đồ vị trí, kết quả phân tích đất. Bảo tàng còn trưng bày 28 mẫu khoáng vật các loại trên toàn quốc. Ngoài mẫu vật được trưng bày trong Bảo tàng, công trình đã cho ra đời cuốn sách “Những thông tin cơ bản về các loại đất chính Việt Nam” được xuất bản năm 2001 bằng hai thứ tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Tuy nhiên, bảo tàng Đất Việt Nam chỉ chú trọng phần trưng bày mẫu vật, các thông tin liên quan đến Đất chứ chưa chú trọng đến môi trường. Đề tài thực hiện lần này, ngoài các thông tin về đất, chúng tôi còn điều tra, thu thập các tiêu bản mẫu thực vật chỉ thị, các thông tin liên quan đến tài nguyên môi trường đất. 1.2 Tổng quan về điều kiện tự nhiên liên quan đến môi trường đất vùng thu thập mẫu tiêu bản 1.2.1 Vùng Đất phù sa ĐBSCL huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh. 1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên  Vị trí địa lý: Càng Long là một đơn vị hành chánh cấp huyện, có vị trí hành chính được khái quát mô tả như sau: (theo hồ sơ địa giới hành chính 364CT). Phía Đông huyện Càng Long: giáp thành phố tỉnh Trà Vinh và tỉnh Bến Tre. Phía Tây huyện Càng Long: giáp huyện Cầu Kè và tỉnh Vĩnh Long. Phía Nam huyện Càng Long: giáp huyện Tiểu Cần, Châu Thành. Phía Bắc huyện Càng Long: tỉnh Vĩnh Long. Huyện Càng Long có 14 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm các xã: An Trường, Bình Phú, Đại Phước, Huyền Hội, Nhị Long, Phương Thạnh, Tân Bình, An Trường A, Đại Phúc, Đức Mỹ, Mỹ Cẩm, Nhị Long Phú, Tân An và thị trấn Càng Long. Trung tâm hành chính của huyện Càng Long đặt tại thị trấn Càng Long, nằm cách trung tâm hành chính thành phố Trà vinh 21km về phía Tây và cách thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long khoảng 43km về phía Bắc. Với vị trí là cửa ngõ của tỉnh Trà Vinh và có 2 trục giao thông quan trọng của tỉnh: Quốc lộ 53 và Quốc lộ 60 đi qua huyện Càng Long có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế văn hóa xã hội trong thời gian tới.  Địa hình, địa mạo: Huyện Càng Long mang đặc điểm địa hình rõ nét của vùng đồng bằng ven biển có địa hình cao trên 1,2m. Tổng quát, địa hình chung của huyện tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình của huyện là 0,4m 1,0m so với mặt nước biển, cao trình thấp phân bố rãi rác ở một số khu vực tại các xã An Trường, Mỹ Cẩm, Tân An có địa hình thấp trũng (cao trình < 0.4 m). Nhìn chung, địa hình của huyện thích hợp canh tác lúa, hoa màu và trồng cây ăn trái. Tuy nhiên ở các xã phía Bắc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ bán nhật triều nên vào mùa lũ và lúc triều cường lên cao đất thường bị ngập khá sâu.  Khí hậu: Huyện Càng Long nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió màu cận xích đạo với nền nhiệt độ cao quanh năm, mang đặc điểm chung của khí hậu đồng bằng Nam Bộ, có hai mùa mưa nắng rõ rệt trong năm: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau.  Chế độ nắng: Ở vào vĩ độ thấp nên thời gian chiếu sáng trong ngày biến đổi nhỏ qua các mùa trong năm. Tháng 6 có thời gian chiếu sáng trong ngày dài nhất và tháng 12 có thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn nhất.  Bức xạ: Huyện có tổng lượng bức xạ dồi dào, phân bố khá đều qua các tháng và ổn định qua các năm, luôn đáp ứng yêu cầu sinh trưởng của cây trồng nhiệt đới. Lượng bức xạ cao nhất là 82,800 calcm2năm vào tháng 3 4 và đạt thấp nhất vào tháng 9 là 6,900 calcm2năm.  Chế độ mưa: Tổng lượng mưa trung bình trong 1 năm đạt khoảng 1.600mm3 phân bổ không đều theo mùa, mùa mưa thường đến muộn vào khoảng hạ tuần tháng 5 và kết thúc sớm vào hạ tuần tháng 10 dương lịch. Lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm tới 90% lượng mưa cả năm tập trung vào tháng 8 và tháng 10, riêng mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm, thời kỳ khô hạn nhất vào các tháng 12, tháng 1, tháng 2 và tháng 3.  Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình 80% – 90% biến đổi theo mùa và theo gió, giảm dần trong mùa khô và tăng dần trong mùa mưa, các tháng cuối mùa mưa có độ ẩm cao nhất đạt xấp xỉ 90%. Nhìn chung, huyện Càng Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có 2 mùa mưa nắng rõ rệt trong năm, lượng mưa trong năm tương đối lớn, độ ẩm không khí cao, số giờ nắng lớn, nhiệt độ trung bình trong năm cao và ít biến động tạo điều kiện thuận lợi cho các cây trồng nhiệt đới phát triển quanh năm. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm đầu tư của Trung ương và của tỉnh, hệ thống thuỷ lợi trên địa bàn huyện đã phát huy thuận lợi, góp phần rất lớn trong kế hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi của huyện. Diện tích đã được ngọt hoá và chủ động được nước tưới tiêu chiếm trên 85% diện tích của toàn huyện. Tuy nhiên, mưa thường tập trung theo mùa kết hợp với các yếu tố địa hình ở những vùng trũng thường xảy ra tình trạng ngập úng cục bộ cho nên cũng hạn chế đến sản xuất nông nghiệp.  Thuỷ văn Chế độ thuỷ văn: Huyện chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều biển Đông thông qua Sông Cổ Chiên, trong ngày nước lên xuống 2 lần, mỗi tháng có 2 lần triều cường và 2 lần triều kém, biên độ triều trong ngày rất lớn, nhất là các khu vực gần cửa sông. Hệ thống các sông, kênh rạch tự nhiên và kênh đào khá chằng chịt, tạo nên mạng lưới tiêu úng, rửa phèn tốt. Mạng lưới sông rạch: Đoạn sông Cổ Chiên đi qua địa bàn huyện dài khoảng 11,5 km, sông rộng trung bình 1,8 2,1 km và khá sâu với mặt cắt rộng chịu ảnh hưởng của thủy triều nên khả năng tích nước và thoát nước khá lớn, lưu lượng bình quân 12.000 19.000 m3s, hàm lương phù 100 – 500 gm3. Sông Cái Hóp An Trường: bắt nguồn từ sông Cổ Chiên có chiều dài 25 km, có các nhánh lớn là sông Mây Tức Cái Cá, Suối Cạn và Dừa Đỏ nối thông qua hệ thống sông Láng Thé, ảnh hưởng đến 95% diện tích đất đai của huyện. Sông Láng Thé Ba Si: bắt nguồn từ sông Cổ Chiên chạy theo ranh giới huyện Càng Long với huyện Châu Thành và thành phố Trà Vinh chia làm hai nhánh: từ cửa vào đến ngã ba Ô Chát Trà Ếch dài 16,3 và nhánh Láng Thé thông qua Dừa Đỏ. Hệ thống kênh Trà Ngoa: Đoạn qua huyện dài 11,8 km, là nơi kết nối của nhiều sông rạch, tạo các giáp nước gây hiện tượng bồi lắng trên kênh xảy ra khá mạnh. Nhìn chung, điều kiện tự nhiên trên địa bàn huyện ít có những thay đổi đáng kể, các yếu tố như: địa hình, khí hậu, nhiệt độ … có sự ổn định cao. Tuy nhiên trong những năm gần đây do ảnh hưởng của “biến đổi khí hậu” đã có những tác động xấu đến môi trường tự nhiên như: biến đổi thời tiết bất thường, gió bảo và sự xâm nhập mặn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân. Cần có biện pháp thích ứng kịp thời với điều kiện khắt nghiệt của thiên nhiên như: xây dựng hệ thống phòng tránh, đê kè kiên cố; chọn giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chống chịu và thích nghi cao với môi trường; xây dựng nhà cửa thích hợp. 1.2.1.2 Các nguồn tài nguyên  Tài nguyên đất Theo kết quả khảo sát phân loại đất, huyện Càng Long có 3 nhóm đất chính: Đất cát giồng, đất phù sa và đất phèn. Đất cát giồng: Có diện tích 461,86 ha, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên. Phân bổ ở các xã Bình Phú, Phương Thạnh, Huyền Hội và thị trấn Càng Long. Thành phần cơ giới chủ yếu là cát mịn pha sét. Đất có tầng canh tác mỏng, nghèo chất dinh dưỡng, hiện chủ yếu đang là đất thổ cư và một số diện tích trồng cây lâu năm, hoa màu. Đất phù sa: Có diện tích 14.690,50 ha, chiếm 55,89% diện tích tự nhiên, đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất trong huyện, bao gồm các loại sau: + Đất phù sa phát triển trên chân giồng cát phân bố dọc Phương Thạnh và Huyền Hội. + Đất phù sa chưa phát triển: thuộc khu vực Cồn Hô, đất có địa hình khá thấp, ngập nước theo triều và được bồi tích phù sa hàng năm. + Đất phù sa đã và đang phát triển: đất có sa cấu sét đến sét pha thịt, phần lớn tích tụ mùn nên dinh dưỡng khá cao phân bố ở các xã: Tân An, Tân Bình, Huyền Hội, An Trường, Phương Thạnh, Bình Phú, một phần ở xã Nhị Long và rải rác một ít ở xã Đức Mỹ, Mỹ Cẩm và thị trấn Càng Long. Đất có thành phần chủ yếu là sét pha thịt, hàm lượng chất dưỡng trong đất ở mức trung bình đến khá cao. Phần lớn loại đất này thích hợp cho việc phát triển lúa nước. Đất phèn: có diện tích 11.133,40 ha, chiếm 42,35% diện tích tự nhiên, gồm hai nhóm phụ sau:  Đất phèn hoạt động sa cấu sét, sét pha thịt và sét cát mịn ở tầng khử, tích tụ mùn, cacbon, lân. Phân bố ở một phần các xã An Trường, Huyền Hội, Phương Thạnh.  Đất phèn tiềm tàng ở các xã Mỹ Cẩm, Nhị Long, Đức Mỹ, Phương Thạnh, Bình Phú, thị trấn Càng Long, An Trường, An Trường A, Huyền Hội, Tân An. Đất có tầng sinh phèn phổ biến 0,4 0,8 m, sa cấu sét đến pha thịt, đất có tầng mặt tích tụ mùn, hàm lượng dinh dưỡng ở mức trung bình. Trong sử dụng nên hạn chế phá vở cấu trúc bề mặt, giữ cho phèn ở yếm khí không gây ngộ độc cho cây trồng.  Tài nguyên nước Huyện Càng Long có nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm khá phong phú, trong đó nguồn nước mặt từ sông Cổ Chiên thông qua các song chính như: sông Cái Hóp – An Trường, sông Láng Thé Ba Si, kênh Trà Ngoa,… cùng với các nhánh luồn sâu vào nội đồng đảm bảo phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân. Nước ngầm theo kết quả nghiên cứu chung của tỉnh Trà Vinh, huyện có 5 tầng chứa nước, ở tầng trên nguồn nước thường nhiễm mặn, các tầng tiếp theo nguồn nước phong phú và chất lượng khá hơn. Đây là nguồn nước sạch quan trọng phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của huyện, nhất là cho sinh hoạt và công nghiệp chế biến, cần có biện pháp để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên nước ngầm, tránh khai thác lạm dụng bừa bãi ở tầng quá nông.  Tài nguyên khoáng sản Theo khảo sát lập bản đồ địa chất khoáng sản đồng bằng Nam bộ, huyện Càng Long đến nay mới phát hiện ra một số loại khoáng như cát sông khu vực các xã nằm ven sông Cổ Chiên, sét gạch ngói tại các xã Tân An, Tân Bình, Đức Mỹ… tuy nhiên cần phải đánh giá trữ lượng và có phương án khai thác phù hợp. Tránh việc khai thác tràn lan không theo quy hoạch dễ dẫn đến các tác hại nghiêm trọng đến môi trường và điều kiện sản xuất nông nghiệp. 1.2.2 Vùng Đất Than Bùn phèn tiềm tàng, vườn Quốc Gia U Minh Thượng, Kiên Giang. 1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên  Vị trí địa lý Kiên Giang nằm tận cùng phía tây nam của Việt Nam, trong đó lãnh thổ bao gồm đất liền và hải đảo. Phần đất liền nằm trong tọa độ từ 9°2350” 10°3230” vĩ Bắc và từ 104°2640” 105°3240” kinh Đông. Phía Bắc giáp Campuchia, đường biên giới dài 56,8 km, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, phía Tây giáp vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 200 km, phía Đông lần lượt tiếp giáp với các tỉnh là An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang. Phần hải đảo nằm trong vịnh Thái Lan bao gồm hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc và xa nhất là quần đảo Thổ Chu, tập trung thành 5 quần đảo là quần đảo Hải Tặc, quần đảo Bà Lụa, quần đảo An Thới, quần đảo Nam Du và quần đảo Thổ Chu. Điểm cực Bắc thuộc địa phận xã Tân Khánh Hoà, huyện Giang Thành. Cực Nam nằm ở xã Vinh Phong, huyện Vĩnh Thuận. Cực Tây tại xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên và điểm cực Đông nằm ở xã Hoà Lợi thuộc địa phận huyện Giồng Riềng. Các đường giao thông quan trọng như quốc lộ 61, quốc lộ 80; đường hàng không thành phố Hồ Chí MinhRạch Giá, Rạch GiáPhú Quốc; đường thuỷ có hệ thống kênh rạch thuận tiện cho giao thông thuỷ, toàn tỉnh có 7 cảng sông: Cảng bốc xếp xi măng Hà Tiên II, cảng bốc xếp xi măng Tân Hiệp, cảng Rạch Sỏi, cảng Mộc Thọ, cảng Tắc Cậu, bến tàu khách Rạch Sỏi, bến tàu khách Rạch Meo; đường biển có 5 cảng: Cảng Hòn Chông, cảng Tàu An Thới, cảng Bờ Dương Đông, cảng Hòn Thơm và cảng thị xã Rạch Giá, ngoài ra còn một số cảng nhỏ. Hệ thống sông ngòi gồm có hệ thống sông Cái Lớn và sông Cái Bé thuộc hệ nhánh sông Tiền và sông Hậu. Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Kiên Giang đạt gần 1.726.200 người, mật độ dân số đạt 272 ngườikm². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 471.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.255.000 người. Dân số nam đạt 861.600 người, trong khi đó nữ đạt 852.500 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 10,8 ‰.  Địa hình Chủ yếu là vùng đồng bằng, với diện tích 564.464 ha, chiếm trên 90% diện tích toàn tỉnh. Phần đất liền Kiên Giang tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từ phía Đông Bắc (độ cao trung bình từ 0,8 1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2 0,4 m). Riêng bán đảo Cà Mau độ cao trung bình từ 0,2 0,4 m, một số nơi có độ cao dưới 0m so với mặt nước biển. Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thuỷ triều biển Tây chi phối rất lớn khả năng tiêu thoát úng về mùa mưa và đồng thời bị ảnh hưởng lớn của mặn nhất là vào các tháng cuối mùa khô, gây trở ngại nhiều tới sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh.  Khí hậu Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm. Mưa, bão tập trung vào từ tháng 8 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình hàng năm là 2.146,8 mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26,40C đến 280C, tháng lạnh nhất là tháng 12; không có hiện tượng sương muối xảy ra. Kiên Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa. Điều kiện khí hậu thời tiết của Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản mà các tỉnh khác ở vùng ĐBSCL không có được như: ít thiên tai, không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi sinh trưởng. 1.2.2.2 Các nguồn tài nguyên khác  Tài nguyên đất Tỉnh Kiên Giang có 626.904 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 402.644 ha, chiếm 64,22%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 122.774,0 ha chiếm 19,58%, diện tích đất chuyên dùng là 35.412 ha, chiếm 5,65%; diện tích đất ở là 10.090 ha, chiếm 1,61% và diện tích đất chưa sử dụng và sông suối là 55.984 ha, chiếm 8,93%. Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 327.468 ha, chiếm 81,33%, riêng đất lúa có 315.452 ha, chiếm 96,33% diện tích đất nông nghiệp; diện tích đất trồng cây lâu năm là 37.101 ha, chiếm 9,24%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 8.801 ha, chiếm 2,18%. Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ xanh là 7.582 ha, diện tích đất bằng chưa sử dụng là 35.485 ha, diện tích đất có mặt nước chưa được khai thác và diện tích đất chưa sử dụng khác là 6.446 ha.  Tài nguyên rừng Tính đến năm 2002, toàn tỉnh có 120.028 ha rừng, trong đó: Diện tích rừng tự nhiên là 58.866 ha, diện tích rừng trồng là 61.162 ha. Trong diện tích rừng của tỉnh: Rừng gỗ lớn có 36.317 ha, rừng tràm ngập nước có 30.660 ha, rừng đước ngập mặn có 1.840 ha, rừng nguyên liệu giấy có 13.161 ha.  Tài nguyên du lịch Kiên Giang là tỉnh có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử như Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, Chùa Hang, Đảo Phú Quốc với nhiều bãi tắm và rừng nguyên sinh. Đáng chú ý là nền văn hoá Óc Eo và du lịch lễ hội cũng là một thế mạnh. Hàng năm du lịch lễ hội Nguyễn Trung Trực vào cuối tháng 8 âm lịch thu hút trên 100.000 lượt người.  Tài nguyên biển Kiên Giang có 200 km bờ biển với ngư trường khai thác thủy sản rộng 63.290 km2. Biển Kiên Giang có 143 hòn đảo, với 105 hòn đảo nổi lớn, nhỏ, trong đó có 43 hòn đảo có dân cư sinh sống; nhiều cửa sông, kênh rạch đổ ra biển, tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cung cấp cho các loài hải sản cư trú và sinh sản, là ngư trường khai thác trọng điểm của cả nước. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu Biển Việt Nam, vùng biển ở đây có trữ lượng cá, tôm khoảng 500.000 tấn, trong đó vùng ven bờ có độ sâu 2050 m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 200.000 tấn; bên cạnh đó còn có mực, hải sâm, bào ngư, trai ngọc, sò huyết,... với trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi. Ngoài ra, tỉnh đã và đang thực hiện dự án đánh bắt xa bờ tại vùng biển Đông Nam bộ có trữ lượng trên 611.000 tấn với sản lượng cho phép khai thác 243.660 tấn chiếm 40% trữ lượng.  Tài nguyên nước và thuỷ sản Nguồn nước mặt: Kiên Giang là tỉnh có nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá, nguồn nước phụ thuộc rất lớn vào lưu lượng ở đầu nguồn tại Châu Đốc vào mùa mưa là 5.400 m3s, mùa kiệt 300 m3s tại cuối nguồn ở Cần Thơ lưu lượng trung bình là 835 m3s, tháng lớn nhất là 12.680 m3s. Nguồn nước ngầm: Trong phạm vi tỉnh Kiên Giang có tới 7 phức hệ chứa nước. Các huyện có nguồn nước ngầm là: An Biên, Vĩnh Thuận, Gò Quao, một phần huyện An Minh giáp với An Biên, một phần của huyện Giồng Riềng giáp với Châu Thành. Tài nguyên thuỷ sản nội địa: Kiên Giang có khả năng nuôi cá với diện tích 50.000 ha năm. Nghề nuôi cá có thể cho sản lượng 5.500 8.000 tấn cá; nuôi cá ao và nuôi cá kết hợp với rừng tràm 34.000 ha, hàng năm có thể cho sản lượng trên 20.000 tấn. Tôm nước lợ ven biển có diện tích 5.0006.000 ha, sản lượng đạt 1.0002.000 tấn tôm. Nuôi đồi mồi chủ yếu tập trung ở Hà Tiên và Phú Quốc mỗi năm có thể nuôi và xuất từ 2.000 4.000 tấn. Ngoài tôm, cá, đồi mồi... Kiên Giang còn nuôi các loại đặc sản có giá trị cao và sản lượng lớn như sò huyết, rong biển...  Tài nguyên khoáng sản Khoáng sản là nguyên liệu vật liệu xây dựng và nguyên liệu làm sứ: Đá vôi: Kiên Giang là tỉnh duy nhất ở đồng bằng sông Cửu Long có nguồn đá vôi khá phong phú không những có giá trị về sản xuất vật liệu xây dựng mà còn tạo ra những hang động và những thắng cảnh có ý nghĩa du lịch. Trữ lượng đá vôi khoảng 440 triệu tấn, trữ lượng có khả năng khai thác 342 triệu tấn, trong đó trữ lượng khai thác công nghiệp là 235,46 triệu tấn, đủ nguyên liệu để sản xuất 4,6 triệu tấn clinkernăm trong thời gian 41 năm. Về chất lượng các mỏ đá vôi; nhìn chung chất lượng đá vôi tương đối tốt cho sản xuất xi măng. Đất sét để sản xuất xi măng: Phân bố trên diện rộng ở khu vực Kiên Lương Ba Hòn Hòn Chông, trữ lượng ước tính hàng chục triệu m3 đảm bảo lâu dài cho sản xuất xi măng. Đất sét làm gạch ngói: Trữ lượng ước tính 350400 triệu m3. Ngoài 2 loại đất sét trên, Kiên Giang còn có đất sét làm gốm sứ như sét gốm nhẹ lửa ở Hòn Me huyện Hòn Đất trữ lượng khoảng vài trăm ngàn m3. Đá xây dựng chủ yếu ở Hòn Me, Hòn Sóc, Hòn Đất, Dương Hoà huyện Hà Tiên, trữ lượng khoảng vài chục triệu m3. Đá ốp lát: Phân bố ở núi Bà Tài, Lò Cốc, Hang Tiền, trữ lượng ước tính khoảng 10 triệu m3. Cát làm thuỷ tinh: Phân bố ở Rạch Đinh, Hàm Ninh, Dương Tơ (Phú Quốc) trữ lượng khoảng 30 triệu m3. Khoáng sản than bùn: Phân bố tập trung ở U Minh Thượng huyện An Minh, Vĩnh Thuận ở lung Lớn, lung Kiên Lương, lung mốp Văn Tây, lung mốp Văn Đông, lung Bảy Núi, lung Dương Hoà... huyện Hà Tiên, trữ lượng ước tính 150 triệu tấn.

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH

MÃ SỐ ĐỀ TÀI:

Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài

TP HỒ CHÍ MINH – 20

Trang 3

M C ỤC L C ỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về nghiên cứu xây dựng tiêu bản môi trường đất 3

1.1.1 Nghiên cứu xây dựng tiêu bản môi trường đất nước ngoài 3

1.1.2 Nghiên cứu xây dựng tiêu bản môi trường đất ở Việt Nam 5

1.2 Tổng quan về điều kiện TN liên quan đến môi trường đất vùng thu thập mẫu tiêu bản 5

1.2.1 Vùng Đất phù sa ĐBSCL huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh 5

1.2.2 Vùng Đất Than Bùn phèn tiềm tàng, vườn Quốc Gia U Minh Thượng, Kiên Giang 9

1.2.3 Vùng Đất phèn hoạt động huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An 13

1.2.4 Vùng Đất xám trên phù sa cổ huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh 17

1.2.5 Vùng Đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước 19

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Thời gian, địa điểm và tư liệu nghiên cứu 22

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 22

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 22

2.1.3 Tư liệu nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Ngoài thực địa 23

2.2.2 Trong phòng thí nghiệm 24

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 25

3.1 Môi trường đất Phù sa ĐBSCL (huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh) 25

3.1.1 XÂY DỰNG TIÊU BẢN ĐẤT 25

3.1.2 XÂY DỰNG TIÊU BẢN THỰC VẬT 28

3.1.3 ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ CẢI TẠO 30

3.2 Môi trường Đất Phèn hoạt động Đồng Tháp Mười (Thạnh Hóa, tỉnh Long An) 34

3.2.1 XÂY DỰNG TIÊU BẢN ĐẤT 34

3.2.2 XÂY DỰNG TIÊU BẢN THỰC VẬT 37

3.2.3 ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ CẢI TẠO 39

3.3 Môi trường Đất Than Bùn phèn tiềm tàng (vườn Quốc Gia U Minh Thượng) 44

3.3.1 XÂY DỰNG TIÊU BẢN ĐẤT 45

3.3.2 XÂY DỰNG TIÊU BẢN THỰC VẬT 47

3.3.3 ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ CẢI TẠO 48

3.4 Môi trường đất Xám trên Phù sa cổ huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh 49

3.4.1 XÂY DỰNG TIÊU BẢN ĐẤT 49

3.4.2 XÂY DỰNG TIÊU BẢN THỰC VẬT 52

3.4.3 ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ CẢI TẠO 54

3.5 Môi trường đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước 57

3.5.1 XÂY DỰNG TIÊU BẢN ĐẤT 57

3.5.2 XÂY DỰNG TIÊU BẢN THỰC VẬT 61

3.5.3 ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ CẢI TẠO 63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 4

DANH MỤC BẢNG Trang

Hình 3.16: Vị trí thu mẫu (ấp Thanh An, xã Mỏ Công, Tân Biên, Tây Ninh) 48

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong điều kiện của nước ta, dân số đông, diện tích đất đặc biệt là đất canh tác cóhạn, thì việc tìm hiểu rõ về thực chất và sự biến đổi của tài nguyên đất trong quátrình khai thác, sử dụng càng cần phải lưu ý sao cho sử dụng đất hợp lý, bảo vệ đất

và môi trường cho sản xuất lâu dài

Khai thác tư liệu về môi trường đất, trao đổi thông tin trên toàn quốc góp phầnkhông những phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp, mà còn làm cơ sở cho việcquy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phục vụ công nghiệp hóa hiệnđại hóa nông nghiệp và nông thôn, góp phần vào công tác đào tạo, phát triển khoahọc trong lĩnh vực thông tin tư liệu về môi trường đất Xây dựng hệ thống thông tin

+ Hệ thống các bản đồ chuyên đề về đất của toàn quốc, của các vùng sinh thái vàcác tài liệu thuyết minh kèm theo Các bản đồ: Khí tượng nông nghiệp, địa chất + Tủ trưng bày các mẫu đá cơ bản, là mẫu chất hình thành nhóm đất đồi núi

+ Hệ thống hướng dẫn, chỉ dẫn: Các bảng biểu, sơ đồ, ký hiệu chỉ dẫn

Do đó, thể nói thông tin tư liệu tài nguyên môi trường đất tài sản vô cùng quí báu,rất đáng trân trọng cần được bảo quản lưu giữ và được thu thập bổ sung đầy đủ, chitiết của các lọai đất chính nhằm góp phần nhất định cho phát triển khoa học chuyênngành cũng như sự nghiệp hiện đại hoá nông nghiệp, xây dựng một nền nôngnghiệp bền vững có hiệu quả

Chính vì lẽ đó, đề tài “Xây dựng tiêu bản tài nguyên môi trường đất phục vụ

công tác dạy học và nghiên cứu trong trường đại học Công Nghiệp TPHCM”

sẽ góp phần vào việc giáo dục nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường đấtcho sinh viên và tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên có cơ hội nghiên cứu tìm hiểu

về tài nguyên môi trường đất một cách trực quan và thực tế nhất

Trang 6

2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

 Xây dựng 5 tiêu bản đất cho 5 loại tài nguyên (TN) môi trường đất chính

 Tạo ra một công cụ để dạy học và nghiên cứu một cách trực quan và thực tế

 Tăng cường nhận thức về sử dụng tài nguyên môi trường đất cho sinh viên, thúc đẩy tinh thần tìm tòi, học hỏi và nghiên cứu

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Tài nguyên môi trường đất vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

05 loại tài nguyên môi trường đất chính của vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, cụ thể:

- TN môi trường Đất phù sa ĐBSCL huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh

- TN môi trường Đất phèn tiềm tàng, được thay thế là TN môi trường đất Than Bùn phèn tiềm tàng, vườn Quốc Gia U Minh Thượng, Kiên Giang

- TN môi trường Đất phèn hoạt động vùng Thạnh Hóa tỉnh Long An

- TN môi trường Đất xám trên phù sa cổ huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh, và

- TN môi trường Đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước

Trang 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về nghiên cứu xây dựng tiêu bản môi trường đất

Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia Nó là nền tảng

để định cư và tổ chức mọi hoạt động sản xuất của con người, là tư liệu sản xuất đặcbiệt không thể thay thế trong sản xuất nông – lâm nghiệp Chính vì vậy, sử dụngđất hiệu quả là hợp thành của chiến lược phát triển bền vững và cân bằng sinh thái.Trong quá trình phát triển, con người đã xây dựng các hệ sinh thái nhân tạo thaythế cho các hệ sinh thái tự nhiên, do đó dã làm giảm dần tính bền vững của chúng.Cùng với sức ép của đô thị hóa và sự gia tăng dân số, tài nguyên đất đang đứngtrước nguy cơ suy giảm về số lượng và chất lượng Con người đã và đang khai thácquá mức mà chưa có biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai Trong những thập niêngần đây, quan điểm phát triển bền vững đã định hướng những đề tài nghiên cứucùng những ứng dụng quan trọng và cấp bách trong phát triển của thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng Việc sử dụng đất đai hợp lý, xây dựng một nền kinh

tế sạch, sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng đảm bảo môi trường sinh thái ổnđịnh và phát triển đang là vấn đề mang tính toàn cầu Thực chất của mục tiêu này

là vừa muốn đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đem lai hiệu quả xã hội và môi trường

Từ hiện trạng nêu trên, nghiên cứu tiềm năng đất đai, tìm hiểu một số loại hình sửdụng đất nông nghiệp, đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất đólàm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bềnvững là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của quốc gia và từng địa phương

1.1.1 Nghiên cứu xây dựng tiêu bản môi trường đất nước ngoài

Monolith (tiêu bản nguyên khối) đất được lấy lần đầu tiên ở Nga trong những thậpniên cuối của thế kỷ 19 Những phẫu diện đất lấy ở Nga được trưng bày tại triểnlãm Columbia ở Chicago (Mỹ) năm 1893-1894 Monolith đất được lấy bằng cáchluồn một hộp sắt có cạnh vào bề mặt thẳng đứng của hố phẫu diện, tương tự nhưcác phương pháp của Rispoloshensky (1897) và Kubiởna (1953) được áp dụng tạiMỹ

Tại Hội nghị Thổ nhưõng Quốc tế lần thứ nhất ở Washington năm 1927, 19Monolith cỡ lớn lấy từ Latvia đã được trưng bày Những loại đất này được để trongcác hộp gỗ (Kasakin và Krasynk, 1917; Hodgson, 1978 và Polưnov,1929) Năm

1925, Miklaszewski đã đề nghị cùng hợp tác tổ chức trao đổi các Monolith đất vàcác dữ liệu tầm cỡ quốc tế Năm 1927, Vilenski đã xuất bản tài liệu "Về việc tổchức trao đổi các Monolith đất dựa trên việc tuân thủ một số cải tiến kỹ thuật cầnthiết trong việc lấy và dán Monolith" Sau đó, Miklaszewski đã viết về việc thuthập Monolith đất của Bảo tàng Nông nghiệp ở Vácsava, Ba Lan, với kết luận: Lấy

Trang 8

monolith vào hộp gỗ có chiều dài 100-200 cm là dễ lấy, dễ vận chuyển và dễ trưngbày.

Năm 1929, Polưnov và những người khác thuộc Viện Thổ nhưỡng Dokuchaev đãbiên soạn cuốn "Giới thiệu phương pháp thu thập Monolith và mẫu đất cho nghiêncứu trong phòng thí nghiệm"

Ở nửa đầu của thế kỷ này, trong những phương pháp thu thập Monolith đất, tuychưa đề cập đến kỹ thuật bảo quản, song cũng có một vài thử nghiệm nhằm làm ổnđịnh các vật liệu đất nhờ các chất thấm Phương pháp dùng dung dịch đường bãohòa đã được sử dụng ở những năm đầu tại Liên Xô cũ (Ponomareva, 1974)

Việc bảo quản các phẫu diện đất được giới thiệu vào năm 1928, khi Schlacht đềcập việc sử dụng giấy bồi dầy được phết chất dính và ép vào thành phẫu diện, khikhô, các hạt đất dính vào giấy bồi Phương pháp "Klebeplatten Monolith " này,theo Jager và Van der Voort (1966), chỉ thích hợp với các loại đất cát và đất có cơgiới trung bình, một lớp mỏng của phẫu diện đất được thấm chất dính ở đúng vị trícủa nó, kết quả là tạo nên một "mẫu lát mỏng" (Lacquer Peel) Kỹ thuật thu thậpcác Monolith đất vào hộp kim loại hay hộp gỗ vẫn chủ yếu như phương pháp sửdụng lần đầu tiên ở Liên Xô cũ Trong 2 thập niên cuối, người ta đã sử dụng nhữngmáy móc phù hợp, tạo được các mẫu đất hình trụ dài, không bị xáo trộn(Matelski,1949)

Một số hóa chất mới được tạo ra dùng cho việc thấm vật liệu đất (Maarse vàTerwindt, 1964; Bouma, 1969), chủ yếu sử dụng các loại chất kết dính được làm từNitrocellulose, (Voigt-1936 và Gracanin, Janecovic-1940) và keo Vinylite (Berger

và Muckenhirn, 1978) Một số người sử dụng các chất được làm từ keo Polyeste(Maarse và Terwindt, 1964), trong khi đó Hammond (1974) lại thấm các loại đấthữu cơ bằng cách nhúng đất vào chất trùng hợp Polyetylen Glycol có phân tửlượng thấp Bouma (1966) đưa ra rất nhiều các mẫu vật khác nhau ở cả 2 dạngchưa được làm chắc và đã được làm chắc Van der Voort (1970) đã biên soạn mộtthư mục về việc lấy và bảo quản các Monolith đất và các mẫu lát mỏng Từ năm

1966, Bảo tàng đất Quốc tế đã sử dụng các chất kết dính được làm từNitrocellulose và chất Polymethyl Methacrylate để bảo quản các Monolith đấtđược nêu trong " Quy trình thu thập các loại đất cho Bảo tàng đất Quốc tế " (xuấtbản năm 1972, tái bản năm 1974, 1975 và 1977)

"Bảo tàng Đất Quốc tế" - International Soil Museum (ISM) được hình thành từnăm 1952, nhưng đến Hội nghị Thổ nhưỡng Thế giới (ISSS) lần thứ 7 (1960) và 8(1964) mới được giới thiệu và công nhận Năm 1966, Bảo tàng được chính thứcthành lập, đặt tại Wageningen - Hà Lan

Trang 9

Đến tháng 1-1984, do yêu cầu nhiệm vụ, ISM đổi tên thành Trung tâm thông tin tưliệu đất quốc tế (International Soil Reference and Information Centre) viết tắt làISRIC, hoạt động trong sự hợp tác và tài trợ của UNESCO, FAO và ISSS.

Hiện nay, ISRIC đã lưu giữ và trưng bày trên 800 mẫu tiêu bản nguyên khối với kỹthuật và cơ sở vật chất hiện đại có đầy đủ thông tin tư liệu đất của trên 60 quốc giatrên Thế giới Trung tâm thông tin tư liệu đất Quốc tế thực sự là nơi trao đổi, họctập, đào tạo, hội thảo về đất của Thế giới

1.1.2 Nghiên cứu xây dựng tiêu bản môi trường đất ở Việt Nam

Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về đất, tuy nhiên nghiên cứu xây dựng tiêu bảnđất hiện vẫn còn hạn chế

Trước năm 1995, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã tiến hành việc nghiên cứu điềutra phân loại đất, qua đó đã tiến hành thu thập các tiêu bản đất nguyên khối các loạiđất chính của Việt Nam Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn nên việc xây dựng cácthông tin tư liệu về đất còn thiếu, không đồng bộ Chính vì vậy từ năm 1995 đến

2001, được sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kếhoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã triển khai nghiêncứu xây dựng Trung tâm thông tin tư liệu đất Việt Nam (gọi tắt là Bảo tàng đấtViệt Nam) theo tiêu chuẩn Quốc tế

Công việc gia công tiêu bản đất nguyên khối (Monolit) đã ứng dụng kỹ thuật củaISRIC bằng các hóa chất, vật liệu, dụng cụ được sản xuất tại Việt Nam nhưng vẫnbảo đảm yêu cầu kỹ thuật lưu giữ lâu dài

Bảo tàng đã hoàn thiện trưng bày 64 mẫu đất nguyên khối của các loại đất chínhcủa Việt Nam kèm theo đó là các thông tin về bản đồ, sơ đồ vị trí, kết quả phântích đất Bảo tàng còn trưng bày 28 mẫu khoáng vật các loại trên toàn quốc Ngoàimẫu vật được trưng bày trong Bảo tàng, công trình đã cho ra đời cuốn sách

“Những thông tin cơ bản về các loại đất chính Việt Nam” được xuất bản năm 2001bằng hai thứ tiếng Việt Nam và tiếng Anh

Tuy nhiên, bảo tàng Đất Việt Nam chỉ chú trọng phần trưng bày mẫu vật, cácthông tin liên quan đến Đất chứ chưa chú trọng đến môi trường Đề tài thực hiệnlần này, ngoài các thông tin về đất, chúng tôi còn điều tra, thu thập các tiêu bảnmẫu thực vật chỉ thị, các thông tin liên quan đến tài nguyên môi trường đất

1.2 Tổng quan về điều kiện tự nhiên liên quan đến môi trường đất vùng thu thập mẫu tiêu bản

1.2.1 Vùng Đất phù sa ĐBSCL huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh.

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 10

Vị trí địa lý:

Càng Long là một đơn vị hành chánh cấp huyện, có vị trí hành chính được khái quát mô tả như sau: (theo hồ sơ địa giới hành chính 364/CT)

- Phía Đông huyện Càng Long: giáp thành phố tỉnh Trà Vinh và tỉnh Bến Tre

- Phía Tây huyện Càng Long: giáp huyện Cầu Kè và tỉnh Vĩnh Long

- Phía Nam huyện Càng Long: giáp huyện Tiểu Cần, Châu Thành

- Phía Bắc huyện Càng Long: tỉnh Vĩnh Long

Huyện Càng Long có 14 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm các xã: AnTrường, Bình Phú, Đại Phước, Huyền Hội, Nhị Long, Phương Thạnh, Tân Bình,

An Trường A, Đại Phúc, Đức Mỹ, Mỹ Cẩm, Nhị Long Phú, Tân An và thị trấnCàng Long Trung tâm hành chính của huyện Càng Long đặt tại thị trấn CàngLong, nằm cách trung tâm hành chính thành phố Trà vinh 21km về phía Tây vàcách thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long khoảng 43km về phía Bắc

Với vị trí là cửa ngõ của tỉnh Trà Vinh và có 2 trục giao thông quan trọng của tỉnh:Quốc lộ 53 và Quốc lộ 60 đi qua huyện Càng Long có điều kiện thuận lợi để pháttriển kinh tế - văn hóa - xã hội trong thời gian tới

Địa hình, địa mạo:

Huyện Càng Long mang đặc điểm địa hình rõ nét của vùng đồng bằng ven biển cóđịa hình cao trên 1,2m Tổng quát, địa hình chung của huyện tương đối bằngphẳng, độ cao trung bình của huyện là 0,4m - 1,0m so với mặt nước biển, cao trìnhthấp phân bố rãi rác ở một số khu vực tại các xã An Trường, Mỹ Cẩm, Tân An cóđịa hình thấp trũng (cao trình < 0.4 m)

Nhìn chung, địa hình của huyện thích hợp canh tác lúa, hoa màu và trồng cây ăntrái Tuy nhiên ở các xã phía Bắc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ bán nhậttriều nên vào mùa lũ và lúc triều cường lên cao đất thường bị ngập khá sâu

Khí hậu:

Huyện Càng Long nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió màu cận xích đạo vớinền nhiệt độ cao quanh năm, mang đặc điểm chung của khí hậu đồng bằng Nam

Bộ, có hai mùa mưa nắng rõ rệt trong năm: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng

11, mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau

Chế độ nắng:

Ở vào vĩ độ thấp nên thời gian chiếu sáng trong ngày biến đổi nhỏ qua các mùatrong năm Tháng 6 có thời gian chiếu sáng trong ngày dài nhất và tháng 12 có thờigian chiếu sáng trong ngày ngắn nhất

Bức xạ:

Huyện có tổng lượng bức xạ dồi dào, phân bố khá đều qua các tháng và ổn địnhqua các năm, luôn đáp ứng yêu cầu sinh trưởng của cây trồng nhiệt đới Lượng bức

Trang 11

xạ cao nhất là 82,800 cal/cm2/năm vào tháng 3 - 4 và đạt thấp nhất vào tháng 9 là6,900 cal/cm2/năm.

Chế độ mưa:

Tổng lượng mưa trung bình trong 1 năm đạt khoảng 1.600mm3 phân bổ không đềutheo mùa, mùa mưa thường đến muộn vào khoảng hạ tuần tháng 5 và kết thúc sớmvào hạ tuần tháng 10 dương lịch

Lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm tới 90% lượng mưa cả năm tập trungvào tháng 8 và tháng 10, riêng mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 10% lượng mưa cảnăm, thời kỳ khô hạn nhất vào các tháng 12, tháng 1, tháng 2 và tháng 3

Độ ẩm không khí:

Độ ẩm không khí trung bình 80% – 90% biến đổi theo mùa và theo gió, giảm dầntrong mùa khô và tăng dần trong mùa mưa, các tháng cuối mùa mưa có độ ẩm caonhất đạt xấp xỉ 90%

Nhìn chung, huyện Càng Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xíchđạo, có 2 mùa mưa nắng rõ rệt trong năm, lượng mưa trong năm tương đối lớn, độ

ẩm không khí cao, số giờ nắng lớn, nhiệt độ trung bình trong năm cao và ít biếnđộng tạo điều kiện thuận lợi cho các cây trồng nhiệt đới phát triển quanh năm.Trong những năm gần đây, được sự quan tâm đầu tư của Trung ương và của tỉnh,

hệ thống thuỷ lợi trên địa bàn huyện đã phát huy thuận lợi, góp phần rất lớn trong

kế hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi của huyện Diện tích đã được ngọthoá và chủ động được nước tưới tiêu chiếm trên 85% diện tích của toàn huyện.Tuy nhiên, mưa thường tập trung theo mùa kết hợp với các yếu tố địa hình ở nhữngvùng trũng thường xảy ra tình trạng ngập úng cục bộ cho nên cũng hạn chế đến sảnxuất nông nghiệp

Thuỷ văn

Chế độ thuỷ văn: Huyện chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều biển Đông thôngqua Sông Cổ Chiên, trong ngày nước lên xuống 2 lần, mỗi tháng có 2 lần triềucường và 2 lần triều kém, biên độ triều trong ngày rất lớn, nhất là các khu vực gầncửa sông Hệ thống các sông, kênh rạch tự nhiên và kênh đào khá chằng chịt, tạonên mạng lưới tiêu úng, rửa phèn tốt

Mạng lưới sông rạch:

- Đoạn sông Cổ Chiên đi qua địa bàn huyện dài khoảng 11,5 km, sông rộngtrung bình 1,8 - 2,1 km và khá sâu với mặt cắt rộng chịu ảnh hưởng của thủytriều nên khả năng tích nước và thoát nước khá lớn, lưu lượng bình quân12.000 - 19.000 m3/s, hàm lương phù 100 – 500 g/m3

Trang 12

- Sông Cái Hóp - An Trường: bắt nguồn từ sông Cổ Chiên có chiều dài 25 km,

có các nhánh lớn là sông Mây Tức - Cái Cá, Suối Cạn và Dừa Đỏ nối thôngqua hệ thống sông Láng Thé, ảnh hưởng đến 95% diện tích đất đai của huyện

- Sông Láng Thé - Ba Si: bắt nguồn từ sông Cổ Chiên chạy theo ranh giớihuyện Càng Long với huyện Châu Thành và thành phố Trà Vinh chia làmhai nhánh: từ cửa vào đến ngã ba Ô Chát - Trà Ếch dài 16,3 và nhánh LángThé thông qua Dừa Đỏ

- Hệ thống kênh Trà Ngoa: Đoạn qua huyện dài 11,8 km, là nơi kết nối củanhiều sông rạch, tạo các giáp nước gây hiện tượng bồi lắng trên kênh xảy

ra khá mạnh

- Nhìn chung, điều kiện tự nhiên trên địa bàn huyện ít có những thay đổi đáng

kể, các yếu tố như: địa hình, khí hậu, nhiệt độ … có sự ổn định cao Tuynhiên trong những năm gần đây do ảnh hưởng của “biến đổi khí hậu” đã cónhững tác động xấu đến môi trường tự nhiên như: biến đổi thời tiết bấtthường, gió bảo và sự xâm nhập mặn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nôngnghiệp và đời sống của người dân Cần có biện pháp thích ứng kịp thời vớiđiều kiện khắt nghiệt của thiên nhiên như: xây dựng hệ thống phòng tránh,

đê kè kiên cố; chọn giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chống chịu vàthích nghi cao với môi trường; xây dựng nhà cửa thích hợp

1.2.1.2 Các nguồn tài nguyên

- Đất phù sa: Có diện tích 14.690,50 ha, chiếm 55,89% diện tích tự nhiên, đây lànhóm đất có diện tích lớn nhất trong huyện, bao gồm các loại sau:

+ Đất phù sa phát triển trên chân giồng cát phân bố dọc Phương Thạnh vàHuyền Hội

+ Đất phù sa chưa phát triển: thuộc khu vực Cồn Hô, đất có địa hình kháthấp, ngập nước theo triều và được bồi tích phù sa hàng năm

+ Đất phù sa đã và đang phát triển: đất có sa cấu sét đến sét pha thịt, phầnlớn tích tụ mùn nên dinh dưỡng khá cao phân bố ở các xã: Tân An, Tân Bình,Huyền Hội, An Trường, Phương Thạnh, Bình Phú, một phần ở xã Nhị Long và rảirác một ít ở xã Đức Mỹ, Mỹ Cẩm và thị trấn Càng Long

Trang 13

Đất có thành phần chủ yếu là sét pha thịt, hàm lượng chất dưỡng trong đất ở mứctrung bình đến khá cao Phần lớn loại đất này thích hợp cho việc phát triển lúanước.

- Đất phèn: có diện tích 11.133,40 ha, chiếm 42,35% diện tích tự nhiên, gồm hainhóm phụ sau:

 Đất phèn hoạt động sa cấu sét, sét pha thịt và sét cát mịn ở tầng khử,tích tụ mùn, cacbon, lân Phân bố ở một phần các xã An Trường, Huyền Hội,Phương Thạnh

 Đất phèn tiềm tàng ở các xã Mỹ Cẩm, Nhị Long, Đức Mỹ, PhươngThạnh, Bình Phú, thị trấn Càng Long, An Trường, An Trường A, Huyền Hội, Tân

An Đất có tầng sinh phèn phổ biến 0,4 - 0,8 m, sa cấu sét đến pha thịt, đất có tầngmặt tích tụ mùn, hàm lượng dinh dưỡng ở mức trung bình Trong sử dụng nên hạnchế phá vở cấu trúc bề mặt, giữ cho phèn ở yếm khí không gây ngộ độc cho câytrồng

Tài nguyên nước

- Huyện Càng Long có nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm khá phong phú,trong đó nguồn nước mặt từ sông Cổ Chiên thông qua các song chính như: sôngCái Hóp – An Trường, sông Láng Thé - Ba Si, kênh Trà Ngoa,… cùng với cácnhánh luồn sâu vào nội đồng đảm bảo phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp vàsinh hoạt của nhân dân

- Nước ngầm theo kết quả nghiên cứu chung của tỉnh Trà Vinh, huyện có 5 tầngchứa nước, ở tầng trên nguồn nước thường nhiễm mặn, các tầng tiếp theo nguồnnước phong phú và chất lượng khá hơn Đây là nguồn nước sạch quan trọng phục

vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện, nhất là cho sinh hoạt và côngnghiệp chế biến, cần có biện pháp để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên nướcngầm, tránh khai thác lạm dụng bừa bãi ở tầng quá nông

Tài nguyên khoáng sản

Theo khảo sát lập bản đồ địa chất khoáng sản đồng bằng Nam bộ, huyện CàngLong đến nay mới phát hiện ra một số loại khoáng như cát sông khu vực các xãnằm ven sông Cổ Chiên, sét gạch ngói tại các xã Tân An, Tân Bình, Đức Mỹ… tuynhiên cần phải đánh giá trữ lượng và có phương án khai thác phù hợp Tránh việckhai thác tràn lan không theo quy hoạch dễ dẫn đến các tác hại nghiêm trọng đếnmôi trường và điều kiện sản xuất nông nghiệp

1.2.2 Vùng Đất Than Bùn phèn tiềm tàng, vườn Quốc Gia U Minh

Thượng, Kiên Giang.

1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 14

là An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang Phần hải đảo nằm trong vịnhThái Lan bao gồm hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc và

xa nhất là quần đảo Thổ Chu, tập trung thành 5 quần đảo là quần đảo Hải Tặc,quần đảo Bà Lụa, quần đảo An Thới, quần đảo Nam Du và quần đảo Thổ Chu.Điểm cực Bắc thuộc địa phận xã Tân Khánh Hoà, huyện Giang Thành Cực Namnằm ở xã Vinh Phong, huyện Vĩnh Thuận Cực Tây tại xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên

và điểm cực Đông nằm ở xã Hoà Lợi thuộc địa phận huyện Giồng Riềng Cácđường giao thông quan trọng như quốc lộ 61, quốc lộ 80; đường hàng không thànhphố Hồ Chí Minh-Rạch Giá, Rạch Giá-Phú Quốc; đường thuỷ có hệ thống kênhrạch thuận tiện cho giao thông thuỷ, toàn tỉnh có 7 cảng sông: Cảng bốc xếp ximăng Hà Tiên II, cảng bốc xếp xi măng Tân Hiệp, cảng Rạch Sỏi, cảng Mộc Thọ,cảng Tắc Cậu, bến tàu khách Rạch Sỏi, bến tàu khách Rạch Meo; đường biển có 5cảng: Cảng Hòn Chông, cảng Tàu An Thới, cảng Bờ Dương Đông, cảng HònThơm và cảng thị xã Rạch Giá, ngoài ra còn một số cảng nhỏ Hệ thống sông ngòigồm có hệ thống sông Cái Lớn và sông Cái Bé thuộc hệ nhánh sông Tiền và sôngHậu

Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Kiên Giang đạt gần 1.726.200 người, mật độdân số đạt 272 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 471.200người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.255.000 người Dân số nam đạt 861.600người, trong khi đó nữ đạt 852.500 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địaphương tăng 10,8 ‰

Địa hình

Chủ yếu là vùng đồng bằng, với diện tích 564.464 ha, chiếm trên 90% diện tíchtoàn tỉnh Phần đất liền Kiên Giang tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từphía Đông Bắc (độ cao trung bình từ 0,8 - 1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trungbình từ 0,2 - 0,4 m) Riêng bán đảo Cà Mau độ cao trung bình từ 0,2 - 0,4 m, một

số nơi có độ cao dưới 0m so với mặt nước biển Đặc điểm địa hình này cùng vớichế độ thuỷ triều biển Tây chi phối rất lớn khả năng tiêu thoát úng về mùa mưa vàđồng thời bị ảnh hưởng lớn của mặn nhất là vào các tháng cuối mùa khô, gây trởngại nhiều tới sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh

Ngày đăng: 07/09/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w