MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I LÝ LUẬN NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 1 1 1 Khái niệm 1 1 1 1 Khái niệm nhân cách 1 1 1 2 Khái niệm phát triển nhân cách. MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU1NỘI DUNG1I. LÝ LUẬN NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH11.1. Khái niệm11.1.1. Khái niệm nhân cách11.1.2. Khái niệm phát triển nhân cách21.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách21.2.1. Yếu tố di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách21.2.2. Yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách31.2.3. Yếu tố giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách31.2.5. Yếu tố giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách41.3. Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong hình thành nhân cách51.3.1. Giáo dục tác dụng đến yếu tố di truyền61.3.2. Giáo dục tác dụng đến môi trường61.3.3. Giáo dục tác dụng đến yếu hoạt động cá nhân7II. ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM KHÔNG CÓ GIÁO DỤC, NHÂN CÁCH KHÔNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN8KẾT LUẬN11 LỜI MỞ ĐẦUCon người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, y học. Nghiên cứu về con người là một vấn đề không hề mới lạ nhưng lại xoay quanh nhiều khía cạnh tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi ngành khoa học. Con người cũng luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến trung đại.Từ thời xa xưa cho đến thời đại ngày nay con người được xem là vị trí trung tâm và có vai trò quyết định đến sự tồn vong và phát triển của xã hội. Con người được xem là chủ thể của lịch sử xã hội, con người làm ra lịch sử xã hội. Vì vậy phải được tôn trọng, được sống tự do hạnh phúc và được phát triển toàn diện. Song ngày nay con người vẫn đang trong tình trạng bất công, đòi hỏi xã hội phải quan tâm đến sự phát triển của con người.Ở Việt Nam vấn đề giáo dục con người cũng luôn là một vấn đề thời đại và đang được nhiều ngành khoa học, nhiều cá nhân đặc biệt quan tâm, nhất là vấn đề xây dựng con người từ khi con trong ghế Nhà trường đối với học sinh sinh viên. Đổi mới giáo dục, hay coi giáo dục là quốc sách hàng đầu luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. NỘI DUNGI. LÝ LUẬN NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH1.1. Khái niệm1.1.1. Khái niệm nhân cáchNhân cách là một từ Hán Việt, dùng phổ thông trong giao tiếp của người Việt. Học giả Đào Duy Anh, tác giả cuốn Hán Việt từ điển, xuất bản năm 1950 đã giải thích: “Nhân cách: Phẩm cách của con người; cái tính cách riêng của một người; cái tư cách tự chủ độc lập của người ta ở trên pháp luật” . Cuốn sách này cũng giải thích: “Tư cách: Thân phận người ta ở trên xã hội; tài khí và trình độ của người vừa đúng theo một việc gì, cũng gọi là tư cách”. Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, xuất bản năm 1967 cũng giải nghĩa: “Nhân cách: Phẩm chất con người”. Như vậy, nhân cách hiểu theo nghĩa phổ thông là phẩm cách hay phẩm chất của con người.Quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về nhân cách cho rằng: Nhân cách không phải là cái gì trừu tượng, phải đặt nhân cách trong điều kiện lịch sử cụ thể. Hình thành và phát triển nhân cách con người phải được rèn luyện trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhất định (Trong lao động và quá trình lao động) Chính trong điều kiện lịch sử xã hội đó mà nhân cách của con người được hình thành và phát triển. Nhân cách không phải là định hình không thay đổi mỗi phương thức sản xuất có một quan niệm nhân cách khác nhau. Khi phương thức sản xuất thay đổi thì quan niệm về nhân cách cũng thay đổi.1.1.2. Khái niệm phát triển nhân cáchPhát triển nhân cách là quá trình hình thành nhân cách như là một phẩm chất xã hội của cá nhân, là kết quả của sự xã hội hóa nhân cách và của giáo dục.Giai đoạn phát triển nhân cách có thể được xác định trong khoảng thời gian trước tuổi trưởng thành của chủ thể nhân cách.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách1.2.1. Yếu tố di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cáchCác yếu tố bẩm sinh di truyền đóng vai trò tiền đề tự nhiên, là cơ sở vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Các yếu tố bẩm sinh di truyền như đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo của não, cấu tạo và hoạt động của các giác quan… Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền lại hoặc tự nảy sinh do biến dị (bẩm sinh).Di truyền là sự tái tạo ở đời sau những thuộc tính sinh học có ở đời trước, là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm những phẩm chất nhất định (sức mạnh bên trong cơ thể, tồn tại dưới sạng nhưng tư chất và năng lực) đã được ghi lại trong hệ thống gen di truyền.1.2.2. Yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cáchTrong sự hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội có tầm quan trọng đặc biệt vì nếu không có xã hội loài người thì những tư chất có tính người cũng không thể phát triển được. Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của trẻ nhỏ.Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể được thực hiện trong một môi trường nhất định. Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó giúp trẻ chiếm lĩnh được các kinh nghiệm để hình thành và phát triển nhân cách của mình.Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách còn tùy thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó, cũng như tùy thuộc vào xu hướng và năng lực, vào mức độ cá nhân tham gia cải biến môi trường.1.2.3. Yếu tố giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cáchGiáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm thực hiện có hiệu quả các mục đích đã đề ra. Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh – di truyền hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể có được.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I LÝ LUẬN NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 1
1.1 Khái niệm 1
1.1.1 Khái niệm nhân cách 1
1.1.2 Khái niệm phát triển nhân cách 2
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách 2
1.2.1 Yếu tố di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách 2
1.2.2 Yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách .3
1.2.3 Yếu tố giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách .3 1.2.5 Yếu tố giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách .4 1.3 Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong hình thành nhân cách 5
1.3.1 Giáo dục tác dụng đến yếu tố di truyền 6
1.3.2 Giáo dục tác dụng đến môi trường 6
1.3.3 Giáo dục tác dụng đến yếu hoạt động cá nhân 7
II ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM KHÔNG CÓ GIÁO DỤC, NHÂN CÁCH KHÔNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 8
KẾT LUẬN 11
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, y học Nghiên cứu về con người là một vấn đề không hề mới lạ nhưng lại xoay quanh nhiều khía cạnh tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi ngành khoa học Con người cũng luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến trung đại
Từ thời xa xưa cho đến thời đại ngày nay con người được xem là vị trí trung tâm và có vai trò quyết định đến sự tồn vong và phát triển của xã hội Con người được xem là chủ thể của lịch sử xã hội, con người làm ra lịch sử xã hội Vì vậy phải được tôn trọng, được sống tự do hạnh phúc và được phát triển toàn diện Song ngày nay con người vẫn đang trong tình trạng bất công, đòi hỏi xã hội phải quan tâm đến sự phát triển của con người
Ở Việt Nam vấn đề giáo dục con người cũng luôn là một vấn đề thời đại và đang được nhiều ngành khoa học, nhiều cá nhân đặc biệt quan tâm, nhất là vấn đề xây dựng con người từ khi con trong ghế Nhà trường đối với học sinh sinh viên Đổi mới giáo dục, hay coi giáo dục là quốc sách hàng đầu luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm
NỘI DUNG
I LÝ LUẬN NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm nhân cách
Nhân cách là một từ Hán - Việt, dùng phổ thông trong giao tiếp của người Việt Học giả Đào Duy Anh, tác giả cuốn Hán Việt từ điển, xuất bản năm 1950 đã giải thích: “Nhân cách: Phẩm cách của con người; cái tính cách riêng của một người; cái tư cách tự chủ độc lập của người ta ở trên pháp
Trang 3luật” Cuốn sách này cũng giải thích: “Tư cách: Thân phận người ta ở trên xã hội; tài khí và trình độ của người vừa đúng theo một việc gì, cũng gọi là tư cách” Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, xuất bản năm 1967 cũng giải nghĩa: “Nhân cách: Phẩm chất con người” Như vậy, nhân cách hiểu theo nghĩa phổ thông là phẩm cách hay phẩm chất của con người
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhân cách cho rằng:
- Nhân cách không phải là cái gì trừu tượng, phải đặt nhân cách trong điều kiện lịch sử cụ thể
- Hình thành và phát triển nhân cách con người phải được rèn luyện trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhất định (Trong lao động
và quá trình lao động) Chính trong điều kiện lịch sử xã hội đó mà nhân cách của con người được hình thành và phát triển
- Nhân cách không phải là định hình không thay đổi mỗi phương thức sản xuất có một quan niệm nhân cách khác nhau Khi phương thức sản xuất thay đổi thì quan niệm về nhân cách cũng thay đổi
1.1.2 Khái niệm phát triển nhân cách
Phát triển nhân cách là quá trình hình thành nhân cách như là một phẩm chất xã hội của cá nhân, là kết quả của sự xã hội hóa nhân cách và của giáo dục
Giai đoạn phát triển nhân cách có thể được xác định trong khoảng thời gian trước tuổi trưởng thành của chủ thể nhân cách
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
1.2.1 Yếu tố di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Các yếu tố bẩm sinh di truyền đóng vai trò tiền đề tự nhiên, là cơ sở vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách Các yếu tố bẩm sinh di truyền như đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo của não, cấu tạo và hoạt
Trang 4động của các giác quan… Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền lại hoặc tự nảy sinh do biến dị (bẩm sinh)
Di truyền là sự tái tạo ở đời sau những thuộc tính sinh học có ở đời trước, là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm những phẩm chất nhất định (sức mạnh bên trong cơ thể, tồn tại dưới sạng nhưng tư chất và năng lực) đã được ghi lại trong hệ thống gen di truyền
1.2.2 Yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội có tầm quan trọng đặc biệt vì nếu không có xã hội loài người thì những tư chất có tính người cũng không thể phát triển được Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của trẻ nhỏ
Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể được thực hiện trong một môi trường nhất định Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó giúp trẻ chiếm lĩnh được các kinh nghiệm để hình thành và phát triển nhân cách của mình
Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách còn tùy thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó, cũng như tùy thuộc vào xu hướng và năng lực, vào mức độ cá nhân tham gia cải biến môi trường
1.2.3 Yếu tố giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Giáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm thực hiện có hiệu quả các mục đích đã đề ra Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh – di truyền hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể có được
Trang 5Giáo dục không chỉ thích ứng mà còn có thể đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển Giáo dục có giá trị định hướng sự hình thành phát triển nhân cách Giáo dục thúc đẩy sức mạnh bên trong khi trẻ nắm bắt được nhu cầu, động cơ, hứng thú và nó phù hợp với quy luật phát triển bên trong của cá nhân
Bên cạnh đó giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người
bị khuyết tật, nó có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây ra cho con người Giáo dục còn có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu và làm cho
nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội
Tuy nhiên không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục đối với sự hình thành nhân cách Giáo dục không thể tách rời tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách ở mỗi cá nhân
1.2.5 Yếu tố giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Giao tiếp là hình thức hoạt động đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người, thông qua đó thực hiện sự tiếp xúc tâm lí và được biểu hiện ở 3 quá trình: trao đổi thông tin, hiểu biết lẫn nhau và tác động lẫn nhau
Giao tiếp đóng vai trò cơ bản trong sự hình thành và phát triển nhân cách Bởi vì:
Nó ko thể có tâm lí con bên ngoài mối quan hệ giao tiếp, con người không thể tồn tại bên ngoài giao tiếp Thông qua giao tiếp để tiếp thu, lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà các thế hệ trước để lại để trở thành thành viên của xã hội
+ Giao tiếp thúc đẩy sự hình thành ở con người những hứng thú nhận thức khác nhau, điều này có thể làm đòn bẩy để dẫn đến sự tự đào tạo Ví dụ như: Thông qua việc tham gia các hội thảo về môi trường, học sinh A có thể thấy hứng thú với vấn đề bảo vệ môi trường, điều đó thúc đẩy em tự nghiên cứu tìm tòi và từ đó dẫn đến sự tự đào tạo
Trang 6+ Trong giao tiếp con người không chỉ nhận thức người khác mà còn nhận thức chính bản thân mình, bất kì người nào cũng đối chiếu mình với cái
mà họ nhìn thấy ở người khác, so sánh cái mà họ làm được với cái mà người xung quanh làm Do đó, qua giao tiếp, con người tự đánh giá bản thân mình như một nhân cách
1.3 Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong hình thành nhân cách
Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách thể hiện ở các nội dung sau đây:
Giáo dục định hướng và tổ chức dẫn dắt quá trình hình thành, phát triển nhân cách của cá nhân
– Xác định mục đích giáo dục cho cả hệ thống, cho từng bậc học, cấp học, trường học và từng hoạt động giáo dục cụ thể
– Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học và giáo dục, lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức giáo dục đáp ứng mục đích giáo dục, phù hợp với nội dung và đối tượng, điều kiện giáo dục cụ thể
– Tổ chức các hoạt động, giao lưu
– Đánh giá, điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục…
Sự định hướng của giáo dục không chỉ thích ứng với những yêu cầu của xã hội hiện tại mà còn phải thích hợp với yêu cầu phát triển của tương lai
để thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Vì vậy, giáo dục phải đi trước, đón đầu sự phát triển Muốn đi trước, đón đầu sự phát triển, giáo dục căn cứ trên những
dự báo về gia tốc phát triển của xã hội, thiết kế nên mô hình nhân cách của con người thời đại với hệ thống định hướng giá trị tương ứng
Giáo dục can thiệp, điều chỉnh các yếu tố khác nhằm tạo sự thuận lợi cho quá trình phát triển nhân cách
Trang 7Các yếu tố bẩm sinh – di truyền, môi trường và hoạt động các nhân đều
có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên yếu tố giáo dục lại có thể tác động đến các yếu tố này để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển nhân cách
1.3.1 Giáo dục tác dụng đến yếu tố di truyền
Giáo dục tạo điều kiện thuận lợi để những mầm mống của con người có trong chương trình được phát triển Chẳng hạn, trẻ được di truyền cấu tạo cột sống, bàn tay và thanh quản … nhưng nếu không được giáo dục thì trẻ khó có thể đi thẳng đứng bằng hai chân, biết sử dụng công cụ hay phát triển ngôn ngữ…
Giáo dục rèn luyện, thúc đẩy sự hoàn thiện của các giác quan và vận động cơ thể
Giáo dục phát hiện những tư chất của cá nhân và tạo điều kiện để phát huy năng khiếu thành năng lực cụ thể
Giáo dục tìm cách khắc phục những khiếm khuyết cơ thể để hạn chế những khó khăn của người khuyết tật trong sự phát triển nhân cách (phục hồi chức năng hoặc hướng dẫn sử dụng công cụ hỗ trợ)
Ngoài ra giáo dục còn góp phần tăng cường nhận thức trong xã hội về trách nhiệm của cộng đồng đối với người khuyết tật và tổ chức cho toàn xã hội chia sẻ, hỗ trợ người khuyết tật vượt qua khó khăn và sự bất hạnh của mình
1.3.2 Giáo dục tác dụng đến môi trường
Giáo dục tác động đến môi trường tự nhiên qua việc trang bị kiến thức
và ý thức bảo vệ môi trường của con người, khắc phục được sự mất cân bằng sinh thái, làm cho môi trường tự nhiên trở nên trong lành, đẹp đẽ hơn
Trang 8Giáo dục tác động đến môi trường xã hội lớn thông qua các chức năng kinh tế – xã hội, chức năng chính trị – xã hội, chức năng tư tưởng – văn hóa của giáo dục
Giáo dục còn làm thay đổi tính chất của môi trường xã hội nhỏ như gia đình, nhà trường và các nhóm bạn bè, khu phố…, để các môi trường nhỏ tạo nên những tác động lành mạnh tích cực đến sự phát triển nhân cách con người
Hiện nay công tác giáo dục xã hội đang chú tâm xây dựng gia đình là một mái ấm dân chủ, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc; nhà trường là một môi trường thân thiện đối với học sinh, cộng đồng dân cư là khu vực văn hóa của một xã hội văn minh tiến bộ
1.3.3 Giáo dục tác dụng đến yếu hoạt động cá nhân
Giáo dục tổ chức nhiều loại hình hoạt động giao tiếp bổ ích, lành mạnh nhằm phát huy những phẩm chất và năng lực cá nhân (sân chơi ở các nhà văn hóa cho mọi lứa tuổi, các câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc tại địa phương, …); xây dựng những động cơ đúng đắn của cá nhân khi tham gia hoạt động, giao tiếp đồng thời hướng dẫn cá nhân lựa chọn các hoạt động và giao tiếp phù hợp với khả năng của bản thân
Đặc biệt công tác giáo dục luôn xây dựng các mối quan hệ giao tiếp tích cực giữa thầy trò, giữa bạn bè với nhau đồng thời tổ chức và định hướng cho trẻ tham gia vào các hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi để thúc đẩy sự phát triển nhân cách
Giáo dục tạo tiền đề cho tự giáo dục của cá nhân Tự giáo dục thể hiện tính chủ thể của cá nhân khi con người đáp ứng hoặc tự vận động nhằm chuyển hóa các yêu cầu của giáo dục thành phẩm chất và năng lực của bản thân
Trang 9Nếu cá nhân thiếu khả năng tự giáo dục thì các phẩm chất và năng lực của họ sẽ hình thành ở mức độ thấp hoặc thậm chí không thể hình thành Trình độ, khả năng tự giáo dục của cá nhân phần lớn bắt nguồn từ sự định hướng của giáo dục
Giáo dục đúng đắn và đầy đủ sẽ giúp con người hình thành khả năng tự giáo dục, đề kháng trước những tác động tiêu cực của xã hội để phát triển nhân cách mạnh mẽ “Chỉ có những người biết tự giáo dục mới là những người thực sự có giáo dục.”
Như vậy, giáo dục đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người Vì vậy, mỗi người chúng ta cần tự ý thức và có trách nhiệm trong việc giáo dục chính bản thân mình và con cái
II ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM KHÔNG CÓ GIÁO DỤC, NHÂN CÁCH KHÔNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Nêu ý kiến của tác giả về các quan điểm "không có giáo dục, nhân cách không hình thành và phát triển; giỏ nhà ai quai nhà ấy; ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng, vẽ hoặc viết lên đó cái gì là do nhà giáo dục quyết định"
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức lối sống của mỗi con người được xây dựng trên cơ sở tiếp nhận kiến thức từ gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó, gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và suốt cuộc đời, định hình nhân cách của mỗi con người Gia đình chính là môi trường văn hóa đầu tiên, nơi mà mỗi cá nhân khi chào đời và quá trình trưởng thành liên tục được học hỏi từ các thành viên trong gia đình Con người tiếp xúc với các chuẩn mực đầu tiên từ cha mẹ, ông bà và những người thân trong gia đình; trình độ văn hóa, chính trị, đạo đức, lý tưởng sống, hành vi giao tiếp của cha mẹ, các mối quan hệ trong gia đình, môi trường sống, điều kiện kinh
Trang 10tế, sự quan tâm, tình cảm của cha mẹ đối với con cái… đều tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của trẻ Những câu nói từ xưa truyền lại cho tới
vẫn còn nguyên ý nghĩa như “Ở bầu thì tròn ở ống thì dài”, “Giỏ nhà nào quai nhà ấy”, “Cha nào con nấy”,“Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” … đều
nói lên cách nhìn nhận về trách nhiệm của gia đình, ảnh hưởng của gia đình đối với việc hình thành nhân cách trẻ Không đơn thuần dựa trên nền tảng huyết thống, gia đình Việt Nam truyền thống lấy cơ sở của gia phong, kỷ luật, tình yêu thương và trách nhiệm để xây dựng sự đoàn kết, gắn bó, thủy chung trong gia đình Ở đó, mỗi thành viên đều được giáo dục để tự xác định được nhiệm vụ của bản thân trong việc tổ chức cuộc sống cũng như bảo đảm cho các sợi dây liên kết trong gia đình luôn được củng cố, bền chặt; cùng nhau bảo tồn, lưu giữ các truyền thống văn hoá, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo; giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ…
Trong những thành tố của văn hóa gia đình, việc tổ chức cuộc sống có nền nếp, trật tự, gia phong; việc dạy dỗ, ứng xử, giao tiếp giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên gia đình thuộc các thế hệ rất quan trọng, bởi thông qua đó, các thế hệ đi trước truyền thụ cho con trẻ những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, tạo nên giá trị xã hội và nhân cách văn hóa của mỗi con người Nhân cách, đạo đức, lối sống của các thành viên trong gia đình ảnh hưởng rất nhiều đến con trẻ; trong khi đó, sự giáo dục ở gia đình không có chương trình, kế hoạch cụ thể và các thành viên không được đào tạo chính quy về giáo dục, cho nên, giáo dục gia đình không chuẩn mực sẽ dẫn con trẻ đến suy nghĩ và hành vi lệch chuẩn Nền tảng của một gia đình hạnh phúc biểu hiện ở mối quan hệ ứng xử tốt đẹp, hiểu biết, sẻ chia, thông cảm và thương yêu nhau giữa vợ và chồng; sự thương yêu, chăm sóc, hy sinh của cha
mẹ vì con và sự kính trọng, biết ơn, hiếu thảo của con đối với cha mẹ, ông bà…