Với ý nghĩa đó, những kinh nghiệm được đúc kết từ quá trình Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973 rất cần được vận dụng trong thời kỳ mới để đưa quan h
Trang 1Mỹ ở Lào Kết quả đạt được của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào
từ năm 1960 đến năm 1973 là minh chứng rõ nét về sự chỉ đạo đúng
đắn của Đảng, đồng thời cũng kết thúc một quá trình giúp đỡ, liên
minh chiến đấu nhiều khó khăn gian khổ nhưng cũng đạt được nhiều
thành tích vẻ vang
4 Quá trình lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm
1960 đến năm 1973 Đảng có nhiều ưu điểm và cũng còn một số hạn chế
Những ưu điểm và hạn chế trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với
quân tình nguyện xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan
khác nhau Quá trình Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào
từ năm 1960 đến năm 1973, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu góp phần
xây dựng quân đội hai nước và củng cố mối quan hệ đoàn kết Việt Nam
- Lào trong tình hình mới
5 Trong những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực có nhiều
diễn biến phức tạp, khó lường, chiến tranh thế giới có thể không xảy
ra nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, diễn biến hòa
bình, bạo loạn lật đổ xảy ra ở nhiều nơi, tác động trực tiếp tới mối
quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào Với ý nghĩa đó, những kinh nghiệm
được đúc kết từ quá trình Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam
tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973 rất cần được vận dụng trong thời
kỳ mới để đưa quan hệ đặc biệt giữa hai nước lên một tầm cao mới,
xứng đáng với sự cống hiến, hy sinh của biết bao thế hệ cha anh cũng
như các thế hệ quân tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Lào, qua đó
xây dựng quan hệ Việt Nam - Lào ngày càng phát triển, mãi mãi xanh
tươi, đời đời bền vững, góp phần vào hòa bình, ổn định trong khu vực
và trên thế giới
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Tình đoàn kết chiến đấu đặc biệtViệt Nam - Lào, Lào - Việt Nam hình thành từ rất sớm, không ngừng phát triển qua thử thách vững bền của thời gian, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước tiếp tục dày công vun đắp Đó là tài sản vô giá của cả hai dân tộc, rất cần được gìn giữ và phát triển trong giai đoạn hiện nay
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, trên cơ sở pháp lý của những hiệp ước, hiệp định ký kết giữa Việt Nam và Lào, Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam lần lượt cử các đơn vị quân tình nguyện sang thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng quân tình nguyện Việt Nam tại Lào luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, cùng quân đội và nhân dân Lào chiến đấu, chiến thắng, lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Lào và hỗ trợ tích cực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Việt Nam Sự trưởng thành của quân đội Lào và những chiến công của cách mạng Lào là những minh chứng cho sự đóng góp quan trọng của quân tình nguyện Việt Nam và khắc sâu tình đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt giữa hai quân đội, hai Đảng, nhân dân hai nước Đúng như Tổng
Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Cayxỏn Phômvihản khẳng định:
“Trong mọi sự thành công của cách mạng Lào đều có sự đóng góp trực tiếp của cách mạng Việt Nam”, “Trên mỗi chiến trường Tổ quốc thân yêu của chúng tôi, đều có xương máu của cán bộ, chiến sĩ quốc tế Việt Nam hòa lẫn với xương máu của cán bộ, chiến sĩ nhân dân các bộ tộc Lào chúng tôi” [140, tr.183] Bên cạnh những ưu điểm, thành công là chủ yếu, quá trình Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong những năm tháng chống Mỹ, cứu nước không tránh khỏi những hạn chế Thực tiễn đó rất cần được nhìn nhận một cách khách quan cả về
ưu điểm cũng như hạn chế, làm rõ nguyên nhân và đúc kết những kinh nghiệm để kế thừa, vận dụng trong điều kiện lịch sử mới
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, tình hình thế giới, khu vực
và trong nước đang diễn biến phức tạp, khó lường Mối quan hệ truyền thống đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam cũng đang đứng trước những khó khăn, thử thách mới Các thế lực thù địch đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc Bên cạnh sự chống phá Việt Nam về nhiều mặt, các thế lực thù địch còn cố tình xuyên tạc tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào trong những năm kháng chiến trước đây, đặc biệt là việc
Trang 2Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Việt Nam cử
lực lượng quân tình nguyện Việt Nam sang hoạt động tại Lào Do đó, làm
rõ sự giúp đỡ vô tư, trong sáng trên tình quốc tế vô sản cao cả của lực
lượng quân tình nguyện Việt Nam tại Lào là điều hết sức cần thiết, nhằm
góp thêm cơ sở lý luận, thực tiễn cho cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả
cách mạng cũng như củng cố phát triển mối quan hệ hợp tác đặc biệt, toàn
diện giữa hai quốc gia, hai quân đội trong điều kiện lịch sử mới
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề, ở Việt Nam và Lào đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố, đề cập ở các cấp độ và
phạm vi khác nhau Có những công trình được triển khai nghiên cứu cấp
quốc gia nhằm tổng kết lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào -
Việt Nam qua mỗi chặng đường lịch sử; có những công trình bàn riêng
về sự đoàn kết, hợp tác trên từng lĩnh vực cụ thể và có cả những luận
văn, luận án tiến sĩ lịch sử có liên quan đến chủ đề này đã được bảo vệ
thành công Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu một cách độc lập, có tính hệ thống về quá trình Đảng lãnh
đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973,
dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Đảng lãnh đạo
quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973” làm
luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam
tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973, đúc kết những kinh nghiệm phục vụ
cho công tác lãnh đạo củng cố, phát triển mối quan hệ Việt Nam - Lào,
Lào - Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng đối với
quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973
Hệ thống và phân tích, làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng
đối với quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973,
qua hai giai đoạn 1960 - 1968 và 1969 - 1973
Nhận xét và đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng
lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam
tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973
Nam tại Lào trong những năm 1960-1973 của Đảng còn một số hạn chế Từ những thành tựu đạt được và hạn chế còn tồn tại để lại cho Đảng nhiều kinh nghiệm quý báu cần được vận dụng sáng tạo trong thời kỳ mới để đưa quan hệ đặc biệt giữa hai nước lên một tầm cao mới, xứng đáng với sự cống hiến, hy sinh của các thế hệ quân tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Lào, qua đó xây dựng quan hệ Việt Nam - Lào ngày càng phát triển, mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, góp phần vào hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới
KẾT LUẬN
1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ tại Lào đã giành được thắng lợi Quân tình nguyện Việt Nam - một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp rất to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào Sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam đối với quân và dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội hai nước Việt Nam - Lào Đó là một tất yếu khách quan, một điển hình mẫu mực về quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu và hợp tác giữa quân đội hai nước độc lập có chủ quyền, tôn trọng và tin cậy lẫn nhau trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược
2 Từ năm 1960 đến năm 1973, quân và dân Lào phải đấu tranh chống lại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam tại Lào ở thời kỳ này chịu tác động bởi nhiều yếu tố, cả thuận lợi và khó khăn Nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn, trong những năm 1960 - 1973, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra chủ trương đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế cách mạng Lào, phù hợp với đặc điểm liên minh chiến đấu giữa quân đội hai nước, trực tiếp giúp quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quốc tế, góp phần xây đắp mối quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
3 Trên cơ sở chủ trương đề ra, từ năm 1960 đến năm 1973, Đảng đã chỉ đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào một cách toàn diện Đầu tiên là chỉ đạo kiện toàn tổ chức biên chế, xây dựng các đơn vị quân tình nguyện Đồng thời, Đảng đã chỉ đạo quân tình nguyện Việt Nam giúp cách mạng Lào xây dựng, phát triển lực lượng
vũ trang, nâng cao khả năng tác chiến Và cuối cùng là Đảng đã chỉ đạo quân tình nguyện thực hiện tốt nhiệm vụ chiến đấu, phối hợp tác chiến với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của
Trang 3Nam Do đó, chú trọng xây dựng đội ngũ quân tình nguyện Việt Nam hoạt
động tại Lào vững mạnh, toàn diện là việc làm cấp thiết và thường xuyên
Thực hiện chủ trương, đường lối lãnh đạo đó, công tác xây dựng lực
lượng quân tình nguyện trước khi cử sang hoạt động tại Lào và xây
dựng, bồi dưỡng tại chỗ luôn được lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị
quân tình nguyện thực hiện tốt Nội dung xây dựng khá toàn diện,
từ giáo dục chính trị đến tổ chức giáo dục, huấn luyện quân sự,
nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ
Thực tiễn cho thấy, cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt
Nam thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào là đội quân có năng lực
toàn diện cả về quân sự và chính trị, đáp ứng được các nhu cầu thực
tiễn của cách mạng Lào Trong chiến đấu các cán bộ chiến sĩ quân
tình nguyện Việt Nam tại Lào đã huấn luyện, hướng dẫn bạn cách
sử dụng vũ khí, dìu dắt làm nhiệm vụ du kích, tự vệ, giúp bạn tổ
chức đánh trận nhỏ lẻ tiến lên những trận đánh lớn, làm chủ nhiều
vùng, miền của Lào trong những giai đoạn quan trọng của cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc
Trong tình hình mới, trước đòi hỏi của việc hợp tác, giúp đỡ
giữa quân đội hai nước ngày càng lớn, trên nhiều lĩnh vực, nhiều
mặt trận, yêu cầu về trình độ của mỗi cán bộ chiến sĩ thực hiện
nhiệm vụ hợp tác đặt ra ngày càng cao Do vậy, mỗi cơ quan, đơn vị
cần sớm xây dựng kế hoạch, có chủ trương bồi dưỡng, tăng cường
bản lĩnh chính trị cũng như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán
bộ chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ đoàn kết, hợp tác Quan hệ hợp tác
giữa hai quân đội có phát triển thực sự vững mạnh hay không, ngoài
sự thống nhất về chủ trương, đường lối ở cấp chiến lược giữa Quân
ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng hai nước thì việc nâng cao bản
lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho mỗi cán bộ,
chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ đoàn kết, hợp tác giữ vị trí đặc biệt
quan trọng và là nhân tố đưa mối quan hệ đặc biệt giữa quân đội hai
nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam lên tầm cao mới
Kết luận chương 4
Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam tại
Lào từ năm 1960 đến năm 1973 đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng Những ưu điểm đó khẳng định chủ trương, đường lối lãnh đạo
đúng đắn của Đảng; sự ủng hộ, giúp đỡ hết mình của Đảng Nhân dân
cách mạng Lào cũng như quân đội và nhân dân Lào; đồng thời là sự nỗ
lực, cố gắng quán triệt thực hiện nhiệm vụ của quân tình nguyện Việt
Nam tại Lào Bên cạnh đó, quá trình lãnh đạo quân tình nguyện Việt
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của
quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973, luận án tập trung nghiên cứu làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam trên ba nội chủ yếu: (1) Xây dựng, củng cố lực lượng quân tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Lào; (2) Giúp cách mạng Lào xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng; (3) Phối hợp và trực tiếp chiến đấu chống các chiến lược chiến tranh của Mỹ trên chiến trường Lào
Về thời gian: Từ năm 1960 đến năm 1973
Về không gian: Đề tài giới hạn hoạt động của quân tình nguyện
Việt Nam trên đất Lào và có sự liên hệ với cách mạng Việt Nam
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế nói chung và mối quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào nói riêng
Cơ sở thực tiễn
Luận án dựa trên thực tiễn sự lãnh đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch công tác; các báo cáo tổng kết của các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973
Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, đồng thời còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh để làm rõ các nội dung của luận án
5 Những đóng góp mới của luận án
Góp phần hệ thống hóa tư liệu về sự lãnh đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973
Phục dựng quá trình Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973
Đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở khoa học về quá trình lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào của Đảng từ năm 1960 đến năm 1973 Đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần tổng kết hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973
Trang 4Góp phần khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với tình đoàn
kết, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào nói chung; sự trưởng thành,
phát triển và thắng lợi của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào nói riêng
Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thêm những luận cứ
khoa học cho việc bổ sung, phát triển chủ trương, chính sách đối ngoại,
đoàn kết quốc tế của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn
Những kinh nghiệm luận án rút ra có thể vận dụng trong lãnh đạo
các đơn vị quân đội tham gia thực hiện nghĩa vụ quốc tế hiện nay
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu,
giảng dạy về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt
Nam cũng như công tác giáo dục, tuyên truyền về tình đoàn kết đặc biệt
giữa Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào
trong lịch sử và hiện tại
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 04 chương (10 tiết), kết luận, danh mục
các công trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài,
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Những công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài
Cayxỏn Phômvihản (1978), Xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập
và chủ nghĩa xã hội; Giôdép A.Amtơ (1985), Lời phán quyết về Việt Nam
(tiếng nói của một công dân); George C.Herring (1985), Cuộc chiến dài
ngày nhất của nước Mỹ; Pitơ A.Pulơ (1986), Nước Mỹ và Đông Dương từ
Ph.Rudơven đến R.Nichxơn; Khămtày Xiphănđon (1986), Những bài học
chọn lọc về quân sự; Hivon Xaykhavong (1990), Chiến lược “Chiến tranh
đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ ở Lào và sự phá sản của nó (1969 -
1973); XingThong Xingphapannha (1991), Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với
cuộc kháng chiến của nhân dân Lào (1945 - 1954); Cục Khoa học Lịch sử
quân sự Bộ Quốc phòng Lào (1995), Lịch sử quân đội nhân dân Lào; Ban
Chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách
mạng Lào (2005), Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào; Nigel
Cawthorne (2007), Chiến tranh Việt Nam - được và mất; Ngoài những công
trình trên, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã phối hợp với Cục Khoa học
Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng tổ chức nghiên cứu nhiều công trình có giá
trị Có thể kể đến như: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ xâm lược của Nhân dân và lực lượng vũ trang các tỉnh Trung Lào
khác biệt ở đây, chức năng, nhiệm vụ đó lại được thực hiện trên đất nước Lào, xa quê hương, xa hậu phương, phong tục tập quán, văn hóa có nhiều sự khác biệt, đặc biệt là sự khác nhau về ngôn ngữ Tuy nhiên, kế thừa truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân Việt Nam, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào, quân tình nguyện Việt Nam đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình
Với chức năng là đội quân chiến đấu, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của địa hình, thời tiết, của điều kiện sống, nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, phối hợp hiệu quả với lực lượng vũ trang và nhân dân Lào mở nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch lớn nhằm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành thắng lợi từng bước về quân
sự, đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, tiến tới đánh bại chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ ở Lào
Với chức năng là đội quân công tác, các chiến sĩ quân tình nguyện đã tích cực vận động, tuyên truyền nhân dân giác ngộ cách mạng, tuyên truyền
âm mưu, thủ đoạn của địch, qua đó từng bước giúp bạn gây dựng cơ sở cách mạng, nhân dân tích cực ủng hộ bộ đội về lương thực, thực phẩm, đặc biệt là
đã dời bỏ làng bản giúp bộ đội tình nguyện Việt Nam xây dựng, phát triển tuyến đường Tây Trường Sơn trên đất Lào chi viện cho miền Nam đánh Mỹ Với chức năng là đội quân lao động sản xuất, tuy hoạt động trên đất Lào, có nhiều điểm khác biệt so với ở hậu phương trong nước, nhưng Trung ương Đảng, luôn lãnh đạo, chỉ đạo quân tình nguyện phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân lao động sản xuất Do đó, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam trong những thời điểm không trực tiếp chiến đấu và công tác đã tích cực cùng nhân dân trong lao động sản xuất, luôn làm tốt công tác dân vận trong một môi trường đặc biệt
Năm tháng trôi qua, nhưng bài học về nắm vững và thực hiện đúng đắn chức năng, nhiệm vụ của quân tình nguyện Việt Nam trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào của Đảng Lao động Việt Nam đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị Hiện nay, quan hệ giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội nhân dân Lào dựa trên cơ sở truyền thống, đồng thời có bước phát triển theo những phương thức mới, phù hợp với xu thế thời đại, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước, góp phần bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
4.2.4 Chú trọng xây dựng quân tình nguyện vững mạnh đáp ứng yêu cầu giúp cách mạng Lào
Giúp đỡ cách mạng Lào về mặt quân sự là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu, của quân tình nguyện Việt
Trang 54.2.2 Thường xuyên quán triệt cho quân tình nguyện tinh thần
tôn trọng độc lập, chủ quyền và quyền quyết định của bạn
Vốn là một trong những bộ phận đặc biệt của Quân đội nhân dân
Việt Nam, quân tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Lào phải luôn tôn
trọng độc lập, chủ quyền và quyền quyết định của bạn Vì độc lập, chủ
quyền là bất khả xâm phạm và chỉ có tôn trọng độc lập, chủ quyền của
bạn mới có thể thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng trong
quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Trong thực hiện nhiệm vụ giúp bạn, lãnh đạo chỉ huy các đơn vị
quân tình nguyện luôn quan tâm giáo dục cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ
quan điểm: “cách mạng Lào phải do nhân dân Lào tự làm lấy Việt Nam
giúp Lào tạo điều kiện để từng bước bạn đảm nhận được sứ mệnh lịch sử
của đất nước mình” Trong giúp bạn, phải “thực sự tôn trọng quyền làm
chủ” của bạn, giúp bạn theo phương châm: “cơ bản, toàn diện, liên tục và
lâu dài” Quá trình giúp bạn, quân tình nguyện thường bắt đầu từ đề xuất,
kiến nghị những vấn đề chiến lược có tính chất quan trọng theo tinh thần
tôn trọng độc lập, chủ quyền của bạn để Trung ương và Quân ủy bạn xem
xét, trao đổi đi đến thống nhất đề ra đường lối, chủ trương, chính sách
đúng đắn về lãnh đạo chiến tranh, về xây dựng và chiến đấu của quân đội
Hiện nay, trong quá trình đoàn kết giữa quân đội hai nước Việt
Nam - Lào phải coi trọng, giải quyết đúng đắn lợi ích dân tộc và nghĩa
vụ quốc tế, tôn trọng và bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp
nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp
công nhân làm cơ sở để phối hợp hành động, hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ lợi
ích căn bản của mỗi dân tộc Sự trường tồn của tình hữu nghị Việt Nam -
Lào, của liên minh đoàn kết chiến đấu giữa Quân đội nhân dân Việt Nam
và Quân đội nhân dân Lào không thể có nếu không được xây dựng và
phát triển trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, tự chủ, sáng tạo
của mỗi dân tộc, hợp tác bình đẳng hai bên cùng có lợi, dành sự ưu tiên,
ưu đãi hợp lý cho nhau, phù hợp với tính chất của quan hệ đặc biệt giữa
hai nước Đó chính là cơ sở, động lực để quân đội hai nước tiếp tục
giành được những thắng lợi to lớn hơn nữa, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển
phồn vinh của hai nước Việt Nam, Lào trong thời kỳ cách mạng mới
4.2.3 Nắm vững và thực hiện đúng đắn chức năng, nhiệm vụ của
quân tình nguyện Việt Nam
Giống như các đơn vị khác của Quân đội nhân dân Việt Nam,
quân tình nguyện Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ chính là đội quân
chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất Nhưng điểm
(1945 - 1975); Lịch sử đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội nhân dân Lào và quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1975); Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của Nhân dân và lực lượng
vũ trang các tỉnh Thượng Lào (1945 - 1975); Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của lực lượng vũ trang và Nhân dân các tỉnh Hạ Lào (1945 - 1975) Các công trình đã đi sâu làm rõ tình
hình quốc tế, tình hình khu vực và tình hình ba nước Đông Dương; nêu rõ những âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ đối với cách mạng Lào và Việt Nam Đây là những tư liệu quý, là cơ sở khoa học khách quan để nghiên cứu sinh kế thừa trong luận giải quá trình Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào những năm 1960 - 1973
1.1.2 Những công trình nghiên cứu của tác giả trong nước
1.1.2.1 Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào
Hoàng Văn Thái (1983), Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia; On Đình Bảo (1989), Sức mạnh của khối đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia trong chống Mỹ (1954 - 1975); Đại học Tổng hợp Hà Nội (1993), Quan hệ Việt - Lào, Lào - Việt; Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Thắng lợi và bài học; Nguyễn Xuân Ớt (2006), Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) - Lịch sử và kinh nghiệm; Bảo tàng Hồ Chí Minh (2007), Biên niên sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh với tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào; Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007; Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào thực tiễn và bài học kinh nghiệm; Trần Thị Thu Hương (2014), “Đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt giữa
quân đội hai nước Việt Nam - Lào trong hai cuộc kháng chiến”; Viện Lịch
sử quân sự Việt Nam (2014), Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam; Những nhân tố hợp thành sức mạnh Việt Nam thắng Mỹ; Hồ Khang (2016), Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) - Một số vấn đề
quân sự, ngoại giao; Dương Đình Lập (2018), Tình đoàn kết Việt Nam -
Lào - Campuchia trong lịch sử; Lê Văn Phong (2021), Hoạt động của các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào từ năm 1959 đến năm 1975 Các công trình đã đi sâu làm rõ mối quan hệ đặc biệt và liên
minh chiến đấu Việt Nam - Lào trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Đây là những tư liệu rất có giá trị giúp nghiên cứu sinh có cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu đa diện hơn về
Trang 6quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong mối quan hệ đoàn kết, liên
minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
1.1.2.2 Những công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động của
quân tình nguyện Việt Nam tại Lào
Bộ Tổng tham mưu (1982), Sổ tay chiến sĩ làm nhiệm vụ quốc tế
ở Lào; Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1999), Lịch sử Đoàn 559 bộ đội
Trường Sơn đường Hồ Chí Minh; Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
(1999), Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt
Nam tại Lào (1945 - 1975); Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2001), Tóm
tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975);
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2005), Lịch sử quân tình nguyện và chuyên gia
quân sự Việt Nam tại Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975); Viện
Lịch sử quân sự Việt Nam (2006), Lịch sử các Đoàn 335, 766, 866 quân
tình nguyện và 463, 565 chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954 -
1975); Tổng cục Chính trị (2008), Đảng lãnh đạo quân tình nguyện
và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế (1930 - 1975);
Phan Trung Kiên (2009), “Nắm vững đường lối của Đảng - Nguyên tắc
quan nhất của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp
Lào”; Viện Khoa học xã hội Quốc gia Lào - Viện Khoa học xã hội Việt
Nam (2009), Liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trên chiến trường
Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng; Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2010),
Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào - Biểu tượng tình
đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào; Lịch sử quân sự -
Tỉnh ủy Quảng Trị (2021), Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 - Giá
trị lịch sử và hiện thực Các công trình đã bước đầu mô tả sự ra đời và
hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong những năm
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; tiếp cận dưới nhiều góc độ khác
nhau, một số công trình đã phần nào trình bày những quan điểm, chủ
trương, đường lối, quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng về hoạt động
của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào thời kỳ chống Mỹ
1.2 Kết quả nghiên cúu của những công trình đã công bố và
những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1 Kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học đã công bố
Về tư liệu: Các công trình nghiên cứu về hoạt động của quân
tình nguyện Việt Nam tại lào khá phong phú về các dạng tài liệu,
được khai thác, tiếp cận dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau
Về phương pháp tiếp cận: Các công trình nghiên cứu trong nước
và nước ngoài được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như chính
trị, quân sự, lịch sử,… và sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu
Nguyên nhân chủ quan:
Một là, trong quá trình lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào,
Đảng chưa lãnh đạo đào tạo được một đội ngũ cán bộ giúp lâu dài và cơ bản
Hai là, một số chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam chưa quán
triệt sâu sắc mối quan hệ đặc biệt giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào, nghĩa vụ quốc tế của Đảng nên nhiệt tình giúp bạn chưa cao; ý thức trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật chưa đầy đủ
4.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1960 - 1973)
4.2.1 Luôn quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đoàn kết quốc tế và tư tưởng “Giúp bạn là mình tự giúp mình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào
Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đoàn kết quốc tế và tư tưởng “Giúp bạn là mình tự giúp mình” của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn
Triển khai đường lối quốc tế của Đảng và phương châm “Giúp bạn là mình tự giúp mình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ cán
bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam thực hiện nhiệm vụ tại Lào
đã luôn quán triệt sâu sắc mọi chỉ thị, nghị quyết của Đảng, trực tiếp
là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, giúp xây dựng lực lượng vũ trang Lào vững mạnh trưởng thành, cùng nhân dân Lào tạo dựng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược Mỹ; bên cạnh đó, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của một đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, để lại nhiều tình cảm tốt đẹp trong lòng nhân dân các bộ tộc Lào
Vận dụng kinh nghiệm này đòi hỏi các lực lượng có liên quan trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải lấy quan điểm đoàn kết quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, lấy tư tưởng “Giúp bạn là mình tự giúp mình” chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động, lãnh đạo các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam sang thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào thời kỳ mới luôn đạt hiệu suất cao nhất, qua đó củng cố, phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam “mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”, xứng đáng với sự cống hiến, hy sinh của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại Lào qua các thời kỳ lịch sử
Trang 7sung lực lượng quân tình nguyện có thời điểm chưa kịp thời, do đó phần nào
hạn chế kết quả tác chiến của một số trận đánh, một số chiến dịch
Hai là, trong quá trình chỉ đạo, còn chồng chéo chức năng, nhiệm
vụ giữa quân tình nguyện với huyên gia quân sự Việt Nam tại Lào
Trong quá trình lãnh đạo các lực lượng quân sự Việt Nam giúp Lào,
bên cạnh việc cử quân tình nguyện, Đảng đã cử nhiều đoàn chuyên gia quân
sự sang hoạt động tại Lào Thực tế chức năng, nhiệm vụ giữa chuyên gia
quân sự và quân tình nguyện đã được xác định rõ ràng, nhưng trong quá
trình Đảng chỉ đạo quân tình nguyện và chuyên gia quân sự thực hiện các
nhiệm vụ trên chiến trường Lào, trong nhiều thời điểm, trong nhiều chiến
dịch giữa hai lực lượng này còn chồng chéo chức năng, nhiệm vụ
Ba là, trong quá trình hoạt động tại Lào, một số cán bộ quân tình
nguyện còn làm thay bạn; còn vận dụng máy móc kinh nghiệm của Việt
Nam khi giúp cách mạng Lào
Trong quá trình hoạt động tại Lào, một số cán bộ, chiến sĩ quân
tình nguyện còn làm thay giúp bạn ở nhiều khâu Thậm chí, những việc
quan trọng chỉ cán bộ Lào được phép làm, nhưng do nể nang, quân tình
nguyện cũng làm thay giúp bạn (báo cáo tình hình địch hay chủ trương
của Lào về những vấn đề nội bộ) Đồng thời, một số cán bộ quân tình
nguyện còn vận dụng máy móc kinh nghiệm của Việt Nam vào giúp Lào
Bốn là, trong quá trình chỉ đạo quân tình nguyện phối hợp tác
chiến tại Lào, có lúc, có nơi còn bị động, nặng về đối phó tình huống,
chưa xây dựng được kế hoạch tác chiến lâu dài
Đây là một trong những hạn chế của quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo
quân tình nguyện Việt Nam ở Lào Điều này thể hiện rõ nét nhất trên chiến
trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cứ khi nào địch mở những cuộc
hành quân càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng, khi đó Trung ương Đảng hai
nước mới chỉ đạo quân tình nguyện và lực lượng vũ trang Lào phối hợp tổ chức
những trận đánh, những chiến dịch lớn đánh bại kẻ thù Mãi đến mùa mưa năm
1972, với một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh, liên quân Lào - Việt mới chấm
dứt tình trạng “mùa khô ta đánh địch, giành quyền làm chủ, mùa mưa địch lại
nống ra chiếm lại” qua đó tạo bước ngoặt lớn cho cách mạng Lào
4.1.2.2 Nguyên nhân hạn chế
Nguyên nhân khách quan:
Do những đặc điểm văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán, lịch sử, con
người và vị trí đất nước Lào; đặc biệt, do điều kiện khách quan là cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân Việt Nam cũng đang diễn
ra hết sức khẩn trương và quyết liệt, do đó những vấn đề khó khăn, phức tạp
của cách mạng Lào đặt ra chưa được nghiên cứu, tổng kết đầy đủ
Về nội dung nghiên cứu: Một là, các công trình nghiên cứu ở Việt
Nam cũng như ở nước ngoài đã cơ bản làm rõ mối quan hệ đặc biệt
và liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào trong sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; Hai là, các công trình đã đi
sâu làm rõ tình hình quốc tế, tình hình khu vực và tình hình ba nước Đông Dương; nêu rõ những âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ đối với
cách mạng Lào và Việt Nam; Ba là, đề cập đến hoạt động của quân tình
nguyện Việt Nam tại Lào, các công trình đã bước đầu mô tả sự ra đời và hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong những năm
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Bốn là, tiếp cận dưới nhiều góc độ
khác nhau, một số công trình đã phần nào trình bày những quan điểm, chủ trương, đường lối, quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng về hoạt
động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào thời kỳ chống Mỹ; Năm
là, các công trình đã bước đầu phản ánh những ưu điểm, hạn chế, chỉ
ra nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế, từ đó rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Một là, những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo quân tình
nguyện Việt Nam tại Lào của Đảng từ năm 1960 đến năm 1973;
Hai là, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973; Ba là, ưu điểm, hạn chế
và nguyên nhân của Đảng trong lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam
tại Lào (1960 - 1973); Bốn là, kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo
quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1960 - 1973)
Kết luận chương 1
Hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là chủ đề thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Với số lượng công trình phong phú, được tiếp cận dưới các góc độ nghiên cứu và phạm
vi khác nhau, các công trình đã bước đầu luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong mối quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu đã giúp
nghiên cứu sinh nhận thấy “Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973” là đề tài độc lập, không
trùng lặp với các công trình đã công bố, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Trang 8Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM TẠI LÀO (1960 - 1968)
2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng đối với
quân tình nguyện Việt Nam tại Lào
2.1.1 Khái lược liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào trước năm 1960
Do có vị trí địa - chính trị, địa - quân sự chiến lược quan trọng,
nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, hai nước Lào và Việt Nam sớm
phải đối mặt với giặc ngoại xâm từ phương Bắc xuống, từ phía Tây sang
Từ đó, nhân dân hai nước Lào - Việt Nam luôn “kề vai sát cánh” cùng nhau
chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, góp phần xây dựng và tăng cường củng cố
liên minh đoàn kết chiến đấu Lào - Việt Nam ngày càng bền chặt
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặt ách
đô hộ trên toàn cõi Đông Dương thì sự phối hợp chiến đấu Việt Nam -
Lào càng được tăng cường đẩy mạnh, nhất là dọc theo biên giới hai
nước Những nhà chính trị, quân sự yêu nước của Việt Nam và của Lào
đều mượn lãnh thổ của nhau làm nơi hoạt động cách mạng, phối hợp với
nhau để đấu tranh chống thực dân pháp xâm lược, đô hộ
Những hoạt động tích cực của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã đưa
đến sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930 (đến
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10/1930, đổi tên thành Đảng
Cộng sản Đông Dương) Từ đây, sự nghiệp giải phóng dân tộc của hai
nước Việt Nam và Lào gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội và giải phóng con người theo lập trường, quan điểm của
giai cấp công nhân Sự ra đời của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ngày 02/9/1945 và Chính phủ Lào Ítxalạ ngày
12/10/1945 cùng những mong muốn của hai bên về xây dựng mối quan
hệ láng giềng vững chắc là bước ngoặt quan trọng, đưa tình đoàn kết,
giúp đỡ lẫn nhau lên tầm liên minh chiến đấu
Ngày 30/10/1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương quyết định các lực lượng quân sự của Việt Nam cử sang chiến đấu giúp
Lào được tổ chức thành hệ thống riêng lấy danh nghĩa là quân tình nguyện Đây
là mốc lịch sử trọng đại đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng quân sự Việt
Nam trên chiến trường Lào; đồng thời, khẳng định tình đoàn kết đặc biệt, liên
minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển lên tầm cao mới vì
sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân hai nước
2.1.2 Sự tác động của tình hình thế giới và khu vực
2.1.2.1 Tình hình thế giới
Trong những năm 1960 - 1968, các nước xã hội chủ nghĩa có sự
phát triển mạnh mẽ, trở thành lực lượng đối trọng với các nước tư bản
vũ trang cách mạng Lào tổ chức thực hiện thắng lợi nhiều chiến dịch, tạo bước ngoặt cho cách mạng Lào và tác động trực tiếp đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân Việt Nam
Bốn là, góp phần củng cố mối quan hệ đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa hai Đảng, Nhân dân hai nước, hai quân đội và cách mạng Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Những thắng lợi của liên quân Lào - Việt Nam với vai trò nổi bật của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1960 đến năm 1973 có thể khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam tại Lào đã góp phần tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược Bởi với chủ trương và đường lối đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo quân tình nguyện quán triệt sâu sắc nhiệm vụ quốc tế, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào, từ đó nỗ lực công tác và chiến đấu, tạo ra nhiều thắng lợi lớn cho cách mạng Lào và tạo ra sự phối hợp chặt chẽ với cách mạng Việt Nam, tác động tích cực trở lại tới sự phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân Việt Nam
4.1.1.2 Nguyên nhân ưu điểm Nguyên nhân khách quan:
Một là, Đảng Lao động Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ, giúp
đỡ chí nghĩa, chí tình của Đảng Nhân dân cách mạng Lào
Hai là, quân tình nguyện Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ,
giúp đỡ to lớn của nhân dân và lực lực lượng vũ trang Lào
Nguyên nhân chủ quan:
Một là, Đảng luôn dựa trên cơ sở truyền thống đoàn kết, gắn bó
giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước được hun đúc qua suốt chiều dài lịch sử; luôn nắm chắc đặc điểm tình hình, diễn biễn của cách mạng Lào cũng như của cách mạng Việt Nam để có những quyết sách đúng đắn đối với quân tình nguyện
Hai là, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam luôn phát huy
truyền thống “Bộ đội cụ Hồ” trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào
4.1.2 Hạn chế và nguyên nhân
4.1.2.1 Hạn chế Một là, sự lãnh đạo của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam
có thời điểm chưa theo kịp diễn biến tình hình cách mạng Lào
Thực tế lịch sử cho thấy, sự có mặt và hoạt động của các đơn vị quân tình nguyện trên chiến trường Lào có lúc chưa theo kịp sự phát triển của cách mạng Lào Thực tiễn cách mạng Lào diễn biến hết sức nhanh chóng, lực lượng quân tình nguyện có lúc không thể đảm đương hết nhiệm vụ; sự bổ
Trang 9với cán bộ, chiến sĩ Đặc biệt, phải luôn nêu cao tư tưởng “Giúp bạn tức là
mình tự giúp mình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình chiến đấu,
công tác trên đất Lào Do luôn tuyệt đối trung thành với tư tưởng đoàn kết
quốc tế, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối lãnh đạo
đúng đắn đối với quân tình nguyện Việt Nam qua từng thời kỳ cách mạng,
đặc biệt là lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam hoạt động tích cực, hiệu
quả, góp phần giúp cách mạng Lào đánh thắng chiến lược “Chiến tranh
đặc biệt” và “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ, tạo đà
cho cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975
Hai là, thường xuyên lãnh đạo kiện toàn, phát triển quân tình nguyện
ngày càng vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Lào
Phát huy truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa hai Đảng, hai Nhà nước
và nhân dân hai nước, Đảng Lao động Việt Nam trong khả năng của mình
đã từng bước cử các đoàn quân tình nguyện và các đơn vị quân tình nguyện
sang hoạt động và tác chiến trên đất Lào theo từng nhiệm vụ và từng chiến
dịch khác nhau trong sự phối hợp chung của chiến trường hai nước Việt
Nam - Lào Điều cần nhấn mạnh, trong sự lãnh đạo của Đảng đối với quân
tình nguyện Việt Nam tại Lào, thành tựu mang tính chất nổi bật là thường
xuyên xây dựng và phát triển quân tình nguyện Việt Nam ngày càng vững
mạnh đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cách mạng Lào Nhờ đó, các đoàn quân
tình nguyện cũng như các đơn vị quân tình nguyện của các quân khu, quân
binh chủng, các địa phương sang giúp Lào luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ được giao, góp nhiều chiến công lớn vào thắng lợi của nhiều trận đánh,
nhiều chiến dịch trên chiến trường Lào, cùng quân dân Lào giành những
thắng lợi quyết định, tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của
nhân dân Lào trong những năm 1960 - 1973
Ba là, chỉ đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào hoàn thành tốt
mọi nhiệm vụ được giao
Trên tinh thần quốc tế vô sản, cán bộ quân tình nguyện Việt
Nam đã từng bước giúp cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Lào nâng
cao nhận thức, tri thức quân sự, kỹ, chiến thuật có ý chí quyết tâm chiến
đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được Đảng, Nhà
nước và quân đội Lào giao phó Thành công này là sự quán triệt sâu
sắc chủ trương lãnh đạo của Đảng đối với quân tình nguyện, đó còn
là việc vận dụng kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang ở Việt
Nam vào xây dựng lực lượng vũ trang ở Lào
Cùng với lãnh đạo, chỉ đạo quân tình nguyện giúp cách mạng Lào
xây dựng lực lượng vũ trang, trong những năm 1960 - 1973, Đảng đã lãnh
đạo, chỉ đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào phối hợp với lực lượng
chủ nghĩa Bên cạnh đó là sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc diễn ra ở nhiều châu lục cùng phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa bùng lên mạnh
mẽ Cùng với đặc điểm tình hình trên, sự xuất hiện của chủ nghĩa xét lại làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trước nguy cơ chia rẽ sâu sắc, tác động tiêu cực đến cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới, trong đó có nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam
2.1.2.2 Tình hình khu vực
Trong những năm 60 của thế kỷ XX, tình hình khu vực có nhiều biến đổi mới, nổi bật là vào tháng 8/1967, các nước: Inđônêxia, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Philíppin họp ở Băng Cốc, quyết định thành lập
“Hiệp hội các nước Đông Nam Á” (ASEAN) Đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tổ chức hiệp hội ASEAN ủng hộ Mỹ và hầu hết các nước đều can dự vào cuộc chiến tranh Việt Nam bằng cách đưa lính tham chiến, cung cấp quân trang, quân dụng hoặc là hậu cứ cho các hoạt động quân sự của Mỹ Những hoạt động đó đã tác động tiêu cực tới cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam và với liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam chống xâm lược
2.1.3 Âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam và Lào
Sau khi, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết (21/7/1954), Mỹ đã từng bước thay thế Pháp, can thiệp ngày càng sâu vào Đông Dương, xâm lược Việt Nam và Lào
Ở Lào, Mỹ đã đẩy mạnh các âm mưu, thủ đoạn xâm lược Lào nhằm biến Lào thành thuộc địa kiểu mới, biểu hiện rõ nhất là thực thi chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” Trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở Lào, đế quốc Mỹ thực thi một số biện pháp chủ yếu: Đẩy mạnh xây dựng lực lượng tay sai; sử dụng tối đa sức mạnh quân đánh thuê Thái Lan; đẩy mạnh hoạt động của không quân đánh phá vùng giải phóng; sử dụng triệt để những khu vực chiến lược ở hành lang Nam Lào, các khu vực quan trọng ở Đường 9, Cánh Đồng Chum, Cao nguyên Bôlôven… Với những âm mưu, thủ đoạn Mỹ tiến hành trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, biến Lào thành căn cứ quân sự nhằm ngăn chặn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ trong khu vực
Đối với cách mạng Việt Nam, đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam,
đế quốc Mỹ thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới thông qua thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và chiến lược “chiến tranh cục bộ” Nét nổi bật của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam là tập trung vào tăng cường sức mạnh cho quân đội Sài Gòn và bộ máy cảnh sát của chính quyền, tăng cường hệ thống cố vấn,
Trang 10viện trợ và lực lượng yểm trợ bằng các phương tiện hiện đại như: Trực
thăng, cơ giới và thiết giáp Đến năm 1965, sau những thất bại nặng nề
trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ tiến hành chiến lược “Chiến
tranh cục bộ”, đưa quân đội Mỹ và các nước đồng minh vào miền Nam
Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc
Trước tình hình đó, cùng với việc tiến hành cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước ở miền Nam Việt Nam, Đảng đã từng bước cử các lực lượng
quân tình nguyện Việt Nam sang thực hiện nhiệm vụ giúp cách mạng Lào
đấu tranh giải phóng dân tộc
2.2 Chủ trương của Đảng đối với quân tình nguyện Việt Nam tại Lào
2.2.1 Phương hướng
Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào phải giúp đỡ bạn nắm vững
nhiệm vụ cơ bản nhất là giữ vững, xây dựng, củng cố và mở rộng vùng giải
phóng, đồng thời nắm vững nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng là tích cực
đẩy mạnh hoạt động ở vùng địch tạm kiểm soát Cùng với đó, giúp bạn phát
triển lực lượng cả chiến trường Nam Lào và chiến trường Bắc Lào, cả vùng
địch tạm kiểm soát, làm cho hai chiến trường cũng như hai vùng hợp đồng
chặt chẽ với nhau, hỗ trợ đắc lực cho nhau Đây là phương hướng được
Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đề ra và lãnh đạo quân tình nguyện
Việt Nam thực hiện tốt trong quá trình hoạt động tại Lào
2.2.2 Phương châm
Phương châm giúp cách mạng Lào của quân tình nguyện Việt
Nam là:
Một là, “giúp bạn là mình tự giúp mình”
Hai là, giúp bạn để bạn tự lực, đảm nhiệm được sự nghiệp cách
mạng của mình
Ba là, cơ bản, toàn diện, liên tục và lâu dài
2.2.3 Nhiệm vụ, giải pháp
Một là, xây dựng các đoàn quân tình nguyện
Hai là, giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng
Ba là, phối hợp và trực tiếp chiến đấu bảo vệ và xây dựng căn cứ địa cách
mạng Lào từng bước đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ
Bốn là, giúp cách mạng Lào giữ vững, xây dựng, củng cố và mở
rộng vùng giải phóng
2.3 Đảng chỉ đạo hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào
2.3.1 Chỉ đạo kiện toàn tổ chức biên chế, xây dựng các đoàn quân
tình nguyện
Trên cơ sở thỏa thuận giữa hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam - Lào
và căn cứ vào sự thực tiễn, diễn biến cách mạng Lào Đảng đã chỉ đạo
yếu trong thế trận chiến tranh nhân dân ở Lào Cùng với giúp đỡ về xây dựng lực lượng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong quân giải phóng nhân dân Lào được đặc biệt coi trọng Đồng thời, quân tình nguyện Việt Nam chú trọng giúp công tác huấn luyện quân sự, coi đây là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang Đến ngày 21/2/1973, lực lượng vũ trang Lào có ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích đủ mạnh
3.3.3 Chỉ đạo phối hợp chiến đấu, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, từng bước đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ
Từ năm 1969 đến năm 1973, Đảng đã chỉ đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào đẩy mạnh phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang cách mạng Lào góp phần bảo vệ, củng cố và mở rộng căn cứ địa cách mạng, mở nhiều trận đánh, chiến dịch lớn như: Chiến dịch Mường Sủi (7/1969), Chiến dịch Đường 9
- Nam Lào (2/1971), Chiến dịch Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (7/1972) từng bước đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc
Mỹ, tạo bước ngoặt cho cách mạng Lào
Kết luận chương 3
Trước những diễn biến mau lẹ, phức tạp của, tình hình thế giới, khu vực và âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ với cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Đảng đã đề ra phương hướng, phương châm, nhiệm vụ và giải pháp đúng đắn đẩy mạnh hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào Từ chủ trương này, những vấn đề căn bản nhất của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào được Đảng xác định kịp thời và chính xác, là cơ sở để tổ chức chỉ đạo thực hiện thắng lợi phương hướng, nhiệm vụ đối với quân tình nguyện đã đề ra Nhờ đó hoạt động của quân tình nguyện Việt Nam đã được đẩy mạnh trong suốt những năm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Lào, góp phần vào thắng lợi của cách mạng Lào và tác động tích cực trở lại đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 4.1 Nhận xét Đảng lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1960 - 1973)
4.1.1 Ưu điểm và nguyên nhân
4.1.1.1 Ưu điểm Một là, Đảng luôn tuyệt đối trung thành với quan điểm đoàn kết quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bám sát tình hình thực tiễn để đề ra chủ trương đúng đắn lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam giúp cách mạng Lào
Nét nổi bật trong quá trình lãnh đạo quân tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Lào là Đảng luôn nhấn mạnh tinh thần đoàn kết quốc tế đối