1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tom tat la trung ncs k35 gdct tieng viet 2 8694

27 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay theo quan điểm tích hợp
Tác giả Nguyễn Hải Trung
Người hướng dẫn PGS.TS Đoàn Xuân Thủy, PGS.TS Phạm Việt Thắng
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục Chính trị
Thể loại Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 380,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng của việc giáo dục kỹ năng mềm cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học trên địa bà

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN HẢI TRUNG

GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN

TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG

HIỆN NAY THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Bộ môn Giáo dục Chính trị

Mã số: 9.14.01.11

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

2: PGS.TS PHẠM VIỆT THẮNG

Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG Hà Nội

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường

họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm 2022

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc Gia, Hà Nội

- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập sâu rộng vào nền kinh

tế khu vực và thế giới Là một nước đang phát triển, để có thể đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào giữa thế kỷ 21, đòi hỏi thực hiện đồng bộ nhiều chiến lược, giải pháp, trong đó một trong những yếu tố quan trọng, then chốt là giáo dục, đào tạo Cùng với KH-CN, GD-ĐT được xác định là động lực, quốc sách hàng đầu của sự phát triển Muốn thực hiện, phát huy vai trò, sứ mệnh của mình, GD-ĐT cần phải đi trước

và chú trọng đến chất lượng Trong quá trình lãnh đạo và định hướng phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao, coi trọng GD-ĐT Nghị quyết đại hội Đảng các nhiệm kỳ

IX, X, XI và XII đã luôn xác định đổi mới GD-ĐT là một trong những giải pháp có tính đột phá chiến lược nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Giáo dục đại học đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của KT-XH trong bối cảnh mới, Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối, chính sách với những quan điểm chỉ đạo, giải pháp và chương trình hành động cụ thể, thiết thực

Hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ngành GD-ĐT, trong đó có giáo dục đại học đã từng bước, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình, cách thức tổ chức dạy học - đào tạo, bên cạnh việc trang bị kiến thức KH-CN, chú trọng đến đào tạo cho người học thực hành, ứng dụng, phát triển các kỹ năng cần thiết để đảm bảo năng lực nghề nghiệp, năng lực xã hội và chủ động thích ứng với sự thay đổi, biến động của bối cảnh KT-XH GD-ĐT, phát triển năng lực, kỹ năng trở thành tiêu chí, tiêu chuẩn, thước đo chất lượng, hiệu quả trong xã hội hiện nay Giáo dục bậc đại học được xác định không chỉ là đào tạo, trang bị cho sinh viên (SV) kiến thức mà còn trang bị, rèn luyện, phát triển kỹ năng toàn diện, đặc biệt là kỹ năng mềm để SV tốt nghiệp ra trường có khả năng làm chủ, thích ứng với yêu cầu công việc, nghề nghiệp trong xã hội luôn có những vận động, biến đổi

Kỹ năng mềm (KNM) cùng với kiến thức, năng lực nghề nghiệp rất quan trọng trong việc đảm bảo cho mỗi SV tốt nghiệp có thể tìm được việc làm, thích ứng để tồn tại, phát triển, quản lý và làm chủ công việc cũng như cuộc sống Bản thân SV cũng nhận thấy sự cần thiết trang bị, rèn luyện, phát triển KNM SV rất nhạy cảm và dễ “tiếp nhận” các xu hướng, trào lưu mới trong xã hội, kinh tế, công nghệ và văn hóa Chính vì thế, trang bị KNM cho SV là một vấn đề mang tính thời sự và cần được quan tâm, để họ bước vào cuộc sống lập nghiệp vững vàng, thích nghi với môi trường làm việc mới, hòa nhập mà vẫn giữ được những giá trị tốt đẹp của bản thân, góp phần gìn giữ, phát triển giá trị dân tộc, xã hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản, kho tàng đồ sộ và là di sản vô cùng quý báu mà Người

để lại cho Đảng ta, Nhân Dân ta, giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam Việc đưa môn học này vào giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta góp phần khẳng định, cùng với Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận, kim chỉ nam cho mọi hành động của chúng ta trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Do đặc trưng tri thức môn học và tính chất gắn bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn, môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế trong việc giáo dục KNM cho sinh viên

Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi chọn và thực hiện đề tài: “Giáo dục kỹ năng

mềm cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay theo quan điểm tích hợp”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng của việc giáo dục kỹ năng mềm cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay, luận án đề xuất các nguyên tắc và biện pháp giáo dục

Trang 4

kỹ năng mềm cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học theo quan điểm tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục KNM cho SV ở các trường Đại học hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học hiện nay theo quan điểm tích hợp

4 Giả thuyết khoa học

Giáo dục KNM cho SV các trường Đại học ở nước ta là vấn đề cần được quan tâm và chú trọng thực hiện trong bối cảnh hiện nay Giáo dục KNM cho SV ở các trường Đại học

có thể được thực hiện thông qua nhiều con đường, cách thức, như giáo dục chuyên đề chuyên sâu, giáo dục qua trải nghiệm các hoạt động, phong trào, lồng ghép giáo dục trong môn học Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là một môn học có khả năng, phù hợp, khả thi và ưu thế trong việc giáo dục KNM cho SV Nếu quá trình giáo dục này được nghiên cứu, triển khai, đảm bảo các điều kiện cần thiết, được đội ngũ GV và SV quan tâm, chú trọng thực hiện, thì kết quả, chất lượng giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí

Minh ở các trường Đại học sẽ mang lại hiệu quả thiết thực, tích cực

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng của việc giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay theo quan điểm tích hợp

- Đề xuất các nguyên tắc và biện pháp giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học hiện nay theo quan điểm tích hợp

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm kết quả của việc áp dụng các biện pháp giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại

học trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo quan điểm tích hợp mà luận án đề ra

6 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu việc giáo dục KNM cho SV trong dạy học

môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

- Thực trạng: Khảo sát thực trạng việc giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn

Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương Tỉnh Hải Dương hiện có 5 trường Đại học Đó là các trường: Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Cơ sở 3 Hải Dương, Đại học Thành Đông, Trường Đại học Sao Đỏ và Đại học Hải Dương Việc lựa chọn và giới hạn phạm vi thực hiện nghiên cứu ở 5 trường này là đảm bảo tính khoa học, khách quan và tính đại diện

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Luận án sử dụng các phương pháp biện chứng duy vật; phương pháp trừu tượng hóa khoa học dựa trên cơ sở gạt bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, tạm thời, cá biệt, không cơ bản để tập trung; phương pháp lôgic kết hợp lịch sử

Trang 5

7.2 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Các phương pháp này nhằm thu thập các

thông tin lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

- Các phương pháp nghiên cứu thực tế - thực tiễn: Các phương pháp này nhằm thu

thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài

8 Những đóng góp mới của luận án

Đây là đề tài ở cấp độ luận án tiến sĩ giáo dục học, chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục Chính trị đặt ra và nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học Đề tài hoàn thành có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực với những đóng góp mới cơ bản của luận án, cụ thể là:

- Nghiên cứu và góp phần bổ sung vào lý luận dạy học, lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục Chính trị về giáo dục KNM, phát triển năng lực thông qua dạy và học môn học, nhất là giáo dục KNM cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo quan điểm tích hợp

- Từ cơ sở lý luận và thực trạng của đề tài, luận án khẳng định về sự cần thiết của việc giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo quan điểm tích hợp

- Kết quả thực nghiệm sư phạm của luận án đã khẳng định sự đúng đắn các biện pháp

đã đề xuất và có thể áp dụng vào hoạt động dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, các trường đại học cả nước nói chung hiện nay

- Có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo cho các giảng viên môn Tư tưởng Hô Chí Minh, các nhà khoa học nghiên cứu, sinh viên và độc giả khác trong công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập

Chương 3: Nguyên tắc, biện pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học theo quan điểm tích hợp

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM

CHO SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY 1.1 Tình hình nghiên cứu về kỹ năng mềm và giáo dục kỹ năng mềm

1.1.1 Những nghiên cứu về kỹ năng mềm

Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước ngày càng quan tâm nghiên cứu về KNM Điều này đã được khẳng định thông qua số lượng các công trình nghiên cứu đã được công bố Tuy nhiên, những công trình đã có chủ yếu tập trung vào việc xác định tầm quan trọng của KNM; bước đầu quan tâm xác định khái niệm, đặc điểm của KNM và một số KNM cụ thể song chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Các

Trang 6

đặc điểm của KNM chưa được xác định mang tính thống nhất Chưa có đề tài nào xác định được một cách toàn diện về hệ thống KNM và tiêu chí đánh giá KNM

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm

Những công trình đã có chủ yếu tập trung nghiên cứu khái quát về giáo dục KNM Khái niệm, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục KNM chưa thực sự có được sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Đặc biệt, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện về giáo dục KNM cả ở phương diện lí luận, thực trạng và biện pháp

1.2 Tình hình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh theo quan điểm tích hợp

Nhìn chung, các đề tài, công trình nghiên cứu đã công bố và được tiếp cận, khái quát

dù chưa tập trung chuyên sâu vào nghiên cứu việc giáo dục KNM cho SV thông qua môn học, nhưng ít nhiều cũng hàm chứa và gợi mở về việc giáo dục KNM, khả năng giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn TTHCM ở các trường Đại học Chưa có công trình nào làm rõ được sự cần thiết của việc giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn TTHCM cũng như xác định được một cách toàn diện về mục tiêu, nội dung, cách thức giáo dục KNM cho

SV trong dạy học môn TTHCM ở các trường Đại học

1.3 Giá trị và các vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu tổng quan đối với luận án

1.3.1.Giá trị của các công trình đã tổng quan

Nhìn chung, hầu hết các đề tài, công trình nghiên cứu này đã tiếp cận và đặt ra những vấn đề nghiên cứu, giải quyết tương đối toàn diện, phong phú, trong đó có những đề tài chuyên sâu vào nghiên cứu về sự cần thiết, tầm quan trọng của KNM đối với sinh viên; hệ thống KNM cần có của sinh viên hiện nay; đánh giá thực trạng KNM đề xuất giải pháp, yêu cầu tăng cường giáo dục, phát triển KNM cho sinh viên Việt Nam

Cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin, TTHCM là nền tảng lý luận và thực tiễn, là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Nhân Dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, là tài sản,

là pho tàng giá trị vô cùng to lớn của Đảng ta, Nhà nước, Nhân Dân và toàn thể dân tộc Việt Nam, nên TTHCM đã, đang và sẽ tiếp tục được đặt ra, quan tâm, nghiên cứu Rất nhiều đề tài, công trình, sách chuyên khảo về TTHCM Việc tổng quan các đề tài, công trình đã công

bố nghiên cứu về TTHCM cũng như nghiên cứu về phương pháp giảng dạy, tuyên truyền, giáo dục TTHCM giúp cho quá trình triển khai luận án này có cơ sở, nền tảng khoa học, lý luận và thực tiễn vững chắc, kế thừa và phát triển

Cho đến nay, hầu như chưa có đề tài, công trình nào đặt ra chuyên sâu và tập trung thực hiện, nghiên cứu về việc giáo dục KNM cho SV thông qua dạy học môn TTHCM Việc chưa hoặc không có đề tài, công trình nghiên cứu về giáo dục KNM cho sinh viên thông qua dạy học môn TTHCM tưởng chừng là một khó khăn, thách thức lớn khi thực hiện luận án này Thực ra, đây lại được xem là cơ hội, là yếu tố thể hiện tính mới của luận án, bởi chắc chắn chất liệu khoa học của việc giáo dục KNM đã sẵn có trong hệ thống các chủ đề của TTHCM Điều quan trọng và ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, đảm bảo giá trị của luận

án chính là việc khai thác, phát huy các giá trị đó, nghiên cứu và thiết kế giáo án, bài giảng, một mặt khẳng định khả năng thực tế của giáo dục KNM thông qua dạy học môn TTHCM, mặt khác mang lại sự đột phá, khả thi đối với việc giáo dục KNM cho sinh viên thông qua môn học

1.3.2 Những vấn đề đặt ra với luận án

Luận án có nhiệm vụ và phải thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ này Đó là, xây dựng cơ sở lý luận của việc giáo dục KNM trong dạy học môn TTHCM ở các trường Đại học; Luận giải các khái niệm: Kỹ năng mềm, Kỹ năng sống và các Kỹ năng cần thiết để thực hiện giáo dục Kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn TTHCM; Chỉ ra đặc điểm và tính đặc thù của môn TTHCM, mối quan hệ hữu cơ giữa nội dung giáo dục KNM cho sinh

Trang 7

viên với tri thức môn TTHCM trong quá trình dạy học môn học; Làm rõ cơ sở thực tiễn của việc giáo dục KNM cho sinh viên trong dạy học môn TTHCM ở các trường Đại học hiện nay Trên cơ sở đó, luận án phải đề ra được các nguyên tắc và biện pháp giáo dục KNM cho sinh viên trong dạy học môn TTHCM ở các trường đại họcvà tiến hành tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm kết quả của việc áp dụng các hình thức, biện pháp mà luận án đề ra

Kết luận chương 1

Những đề tài, công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến luận án được hệ thống hóa theo mạch nội dung bao gồm:

- Những công trình nghiên cứu về kỹ năng mềm và giáo dục kỹ năng mềm

- Những công trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh theo quan điểm tích hợp

Phân tích, đối chiếu tên và nội dung các công trình nghiên cứu đã có ở trong và ngoài nước, tạo cơ sở xác đáng cho việc khẳng định tính mới của đề tài luận án

Xác định khoảng trống trong nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm và giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên các trường Đại học trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh theo quan điểm tích hợp

Khẳng định những giá trị của các công trình nghiên cứu đã có trong việc triển khai mục tiêu, nhiệm vụ và các nội dung nghiên cứu của luận án

Chương 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

2.1 Cơ sở lí luận của việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn

Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học hiện nay theo quan điểm tích hợp

2.1.1 Khái quát chung về kỹ năng mềm

2.1.1.1 Khái niệm về kỹ năng mềm

* Kỹ năng là khả năng của cá nhân thực hiện thành công hành động hay hoạt động

nhất định dẫn đến kết quả đã định dựa trên tri thức của cá nhân về hành đông hay hoạt động

đó cũng như những sự vật liên quan

* Kỹ năng mềm được hiểu là khả năng của cá nhân thực hiện thành công các hoạt động

thiết lập và phát triển mối quan hệ tương tác qua lại giữa mình với những người xung quanh dẫn đến những kết quả tích cực trong hoạt động nghề nghiệp dựa trên hệ thống tri thức liên quan đã được hình thành qua quá trình học tập và trải nghiệm

2.1.1.2 Đặc điểm kỹ năng mềm

Kỹ năng mềm bao gồm những đặc điểm cơ bản sau:

- Một là, kỹ năng mềm không phải là yếu tố thuộc về bẩm sinh

- Hai là, kỹ năng mềm không chỉ là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc

- Ba là, kỹ năng mềm được hình thành bằng con đường trải nghiệm chứ không phải là

sự "nạp" kiến thức đơn thuần

Trang 8

- Bốn là, kỹ năng mềm góp phần hỗ trợ cho kiến thức và kỹ năng chuyên môn, mà đặc

biệt là kỹ năng cứng

- Năm là, kỹ năng mềm mang tính đặc thù và không ngừng được hoàn thiện theo sự

phát triển của quá trình giáo dục - đào tạo nói riêng và xã hội nói chung

2.1.1.3 Phân loại kỹ năng mềm

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng, bên cạnh những kỹ năng cứng, hệ thống KNM của mỗi cá nhân bao gồm những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng nhận thức; kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lãnh đạo bản thân, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng vượt qua khủng hoảng, kỹ năng giải quyết xung đột, kỹ năng sáng tạo

2.1.2 Giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Đại học

2.1.2.1 Đặc điểm tâm, sinh lý của sinh viên

Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của SV

2.1.2.2 Khái niệm giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Đại học

Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có

mục đích và kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người

Giáo dục kỹ năng mềm là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục

đến người được giáo dục nhằm hình thành cho họ ý thức đầy đủ, thái độ đúng đắn và hành vi, thói quen phù hợp về việc chuẩn bị, thiết lập và phát triển mối quan hệ tương tác qua lại với những người xung quanh có liên quan đến hoạt động nghề nghiệp một cách hiệu quả

* Giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên Đại học là quá trình tác động có mục đích,

có tổ chức của cán bộ, giảng viên đến sinh viên trong nhà trường nhằm hình thành cho sinh viên ý thức đầy đủ, thái độ đúng đắn và hành vi, thói quen phù hợp về việc chuẩn bị, thiết lập và phát triển mối quan hệ tương tác qua lại với những người xung quanh có liên quan đến hoạt động nghề nghiệp trong tương lai một cách hiệu quả, giúp họ từng bước khẳng định được giá trị bản thân trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp và giá trị xã hội của mình 2.1.2.3 Mục tiêu giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên

Giáo dục kỹ năng mềm cho SV các trường Đại học nhằm thực hiện được những mục tiêu cơ bản về ý thức, thái độ, hành vi, thói quen

2.1.2.4 Nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên

Nội dung giáo dục KNM cho SV là nội dung hoạt động của GV và SV trong quá trình giáo dục Nội dung cụ thể của quá trình giáo dục kỹ năng mềm cho SV các trường Đại học bao gồm: Giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho SV; Giáo dục kỹ năng làm việc theo nhóm cho SV; Giáo dục kỹ năng quản lý thời gian cho SV; Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho SV; Giáo dục kỹ năng lãnh đạo bản thân cho SV; Giáo dục kỹ năng kiểm soát cảm xúc cho SV; Giáo dục kỹ năng vượt qua khủng hoảng cho SV; Giáo dục kỹ năng giải quyết xung đột cho SV; Giáo dục kỹ năng sáng tạo cho SV

Trang 9

2.1.2.5 Nguyên tắc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên

Quá trình giáo dục KNM cho SV các trường Đại học cần đảm bảo các nguyên tắc như: Đảm bảo tính mục đích của quá trình giáo dục SV ở trường Đại học; Đảm bảo sự gắn kết với đời sống xã hội và nghề nghiệp; Đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục ý thức và tạo lập thói quen hành vi của SV; Đảm bảo phát huy lợi thế của tập thể SV trong quá trình giáo dục; Đảm bảo tôn trọng và yêu cầu hợp lý đối với SV trong quá trình giáo dục; Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tổ chức sư phạm của GV và vai trò tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo tự giáo dục của SV; Đảm bảo tính hệ thống, kế tiếp, liên tục trong quá trình giáo dục

2.1.2.6 Các con đường giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên

Có nhiều con đường để giáo dục kỹ năng mềm cho SV các trường Đại học, trong đó, chúng ta có thể đề cập đến một số con đường giáo dục như: Thông qua hoạt động dạy học các môn học trong nhà trường; thông qua các hoạt động sinh hoạt tập thể của SV; thông qua các hoạt động xã hội dành cho SV; thông qua hoạt động tự rèn luyện, tự tu dưỡng của SV

2.1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên

Quá trình giáo dục kỹ năng mềm cho SV các trường Đại học chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau

2.1.3 Giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học

Chương trình môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học được Ban hành theo Quyết định số 52/2008/QĐ – BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Để thực hiện giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn TTHCM ở các trường Đại học đạt được chất lượng và hiệu quả cao, GV cần xác định được đầy đủ mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn TTHCM

2.1.4 Quan điểm tích hợp và giáo dục theo quan điểm tích hợp

Quan điểm tích hợp được hiểu là sự nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan như một chỉnh thể thống nhất và đòi hỏi phải nghiên cứu một cách tổng thể Giáo dục theo quan điểm tích hợp đề cập đến việc lồng ghép, đan xen các nội dung giáo dục khác nhau vào một hoạt động để mang lại hiệu quả giáo dục Chúng tôi cho rằng, theo quan điểm tích hợp, quá trình tích hợp cần đảm bảo một số yêu cầu cụ thể: Tích hợp phải đạt được một sự thống nhất về mặt nội dung; tích hợp phải đạt được mục đích dạy học, giáo dục; tích hợp phả hướng tới vấn đề khoa học và thực tiễn; có thể tích hợp nội dung giữa các môn học hoặc ngoài môn học

2.2 Thực trạng của việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn

Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay theo quan điểm tích hợp

2.2.1 Khái quát về địa bàn tiến hành khảo sát

2.2.2.1 Các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trên dịa bàn tỉnh Hải Dương có tất cả 5 trường đại học: ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương;

ĐH Sao Đỏ, ĐH Thành Đông; ĐH Hải Dương; ĐHSP Kỹ thuật Hưng Yên (cơ sở 3)

2.2.2.2 Đội ngũ giảng viên các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Kết quả thống kê cho thấy: cho đến nay, tổng số GV các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương là 1.313 người, trong đó, số GV giảng dạy môn TTHCM là 33 người

2.2.2.3 Thống kê sinh viên các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Kết quả thống kê SV của các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương được thể hiện ở bảng 1 dưới đây:

Trang 10

Bảng 1.Thống kê SV của các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

5 Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng

2.2.2 Giới thiệu về quá trình khảo sát thực trạng

* Mục tiêu khảo sát và đối tượng khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát nhằm đánh

giá thực trạng của đề tài nghiên cứu trên 33 GV giảng dạy môn TTHCM và 427 SV

* Nội dung khảo sát: Chúng tôi nghiên cứu nhiều nội dung có liên quan đến thực

trạng đề tài nghiên cứu

* Khách thể và địa bàn và thời gian khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát nhằm

đánh giá thực trạng của đề tài nghiên cứu trên 33 GV giảng dạy môn TTHCM và 427 SV tại

5 trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương và một số cán bộ quản lý giáo dục của trường Đại học và người sử dụng lao động Thời gian khảo sát: Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2018

2.2.3 Thực trạng giáo dục KNM cho SV ở các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

2.2.3.1 Thực trạng nhận thức của GV và SV về KNM và giáo dục KNM

* Nnhận thức của GV và SV về KNM và giáo dục KNM: Nhìn chung, các GV tham gia khảo

sát đều hiểu được một cách khái quát về khái niệm KNM Tuy nhiên, chưa có GV nào nêu ra được quan niệm phản ánh đầy đủ nội hàm của KNM Kết quả khảo sát thu được ở nhóm khách thể là

SV các trường Đại học cho thấy: Đa số SV tham gia khảo sát đều gặp khó khăn trong việc đưa ra quan niệm của bản thân về KNM Điều này xuất phát từ trình độ nhận thức của SV Những thông tin thu được về thực trạng của vấn đề này đòi hỏi lãnh đạo các trường Đại học cần tăng cường mức độ nhận thức cho GV, SV của nhà trường về KNM Điều này là cần thiết, bởi nó ảnh hưởng không nhở đến quá trình tổ chức các hoạt động hình thành và phát triển KNM cho SV của mỗi GV và quá trình rèn luyện KNM ở mỗi SV của nhà trường

* Nhận thức của giảng viên và sinh viên về tầm quan trọng của kỹ năng mềm

Kết quả nghiên cứu thu được thể hiện ở bảng 2

Bảng 2 Nhận thức của GV và SV về tầm quan trọng của kỹ năng mềm

TT Mức độ quan trọng Giảng viên Sinh viên

Trang 11

nghiệp nói chung và nhận thức về tầm quan trọng của KNM vẫn còn có những tồn tại nhất định và cần được tiếp tục hoàn thiện thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, tự rèn luyện

* Nhận thức của giảng viên và sinh viên về hệ thống kỹ năng mềm cần được hình thành và phát triển ở sinh viên các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy: Đa số GV và SV các trường Đại học tham gia khảo sát đều tán thành về hệ thống KNM cần hình thành ở SV đã được luận án nghiên cứu,

đề xuất Nói khác đi, đa số GV và SV tham gia khảo sát đồng thuận về hệ thống KNM cần hình thành và phát triển ở SV các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Đây là cơ sở thuận lợi

để nhà trường mà trực tiếp là đội ngũ GV triển khai các hoạt động nhằm hình thành và phát triển KNM cho SV của nhà trường, đồng thời, nó cũng là cơ sở để mỗi SV chủ động, tự giác học tập, rèn luyện KNM cho bản thân

Xét về tương quan giữa hai nhóm khách thể khảo sát chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy:

GV tham gia khảo sát tán thành về hệ thống KNM cần hình thành và phát triển ở SV các trường Đại học với tỉ lệ cao hơn so với tỉ lệ tán thành ở nhóm khách thể là SV

*Nhận thức của giảng viên và sinh viên về mục tiêu giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy: Đa số khách thể khảo sát đều nhận thấy được mục tiêu giáo dục KNM cho sinh viên các trường Đại học Trong đó, cả GV và SV tham gia

khảo sát đều khẳng định mục tiêu quan trọng nhất trong giáo dục KNM cho SV là “Giúp cho

sinh viên có được ý thức đầy đủ về những kỹ năng cần thiết liên quan đến việc chuẩn bị, thiết lập

và phát triển mối quan hệ tương tác qua lại giữa mình với những người xung quanh nhằm giúp hoạt động nghề nghiệp đạt được kết quả tối ưu” (97,9% GV và 88,1% SV tham gia khảo sát)

Xét trong tương quan giữa hai nhóm khách thể khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng, nhóm khách thể là GV có nhận thức đầy đủ hơn nhóm khách thể là SV về mục tiêu giáo dục KNM cho SV các trường Đại học

Kết quả nghiên cứu thu được cũng cho thấy, vẫn còn một bộ phận GV (dao động từ 10,1% đến12,1%) và SV (đến 14,1% đến 11,9%) chưa nhận thức được một cách đầy đủ về mục tiêu giáo dục KNM cho SV các trường ĐH Thực trạng này đòi hỏi các nhà trường, đội ngũ cán

bộ quản lí nhà trường cần tiếp tục nghiên cứu, triển khai các biện pháp nhằm giúp cho toàn thể

GV và SV ý thức đầy đủ về mục tiêu của quá trình giáo dục KNM cho SV trong thời gian tới

2.2.3.2 Thực trạng thực hiện giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên các trường Đại học trên

địa bàn tỉnh Hải Dương

* Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy: Trong những năm qua, tại các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương, các nội dung giáo dục KNM cho SV đã được triển khai thực hiện Tuy nhiên, các khách thể tham gia khảo sát đánh giá việc thực hiện các nội dung giáo

dục KNM tại các trường Đại học chủ yếu ở mức “Ít thường xuyên”

*Thực trạng thực hiện các con đường giáo dục KNM cho SV các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy: Trong những năm qua, các con đường giáo dục KNM nêu trên đã được triển khai trong thực tiễn giáo dục của các trường Đại học, song, các

GV và SV tham gia khảo sát đánh gia mức độ thực hiện các con đường giáo dục KNM cho

SV chủ yếu ở mức “Ít thường xuyên” Kết quả nghiên cứu thu được về thực trạng của vấn đề

Trang 12

này đòi hỏi các trường Đại học mà trực tiếp là cán bộ quản lý nhà trường, cùng đội ngũ GV cần quan tâm, nghiên cứu các biện pháp phù hợp hơn để có thể tăng cường mức độ thực

hiện các con đường giáo dục KNM cho SV của các nhà trường

* Thực trạng kết quả giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên các trường Đại học trên địa bàn

tỉnh Hải Dương

- Đánh giá của GV về mức độ KNM cần được hình thành và phát triển ở SV các trường ĐH trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Kết quả nghiên cứu thu được thể hiện ở bảng 3

Bảng 3 Đánh giá của GV về mức độ KNM của SV các trường Đại học

KN vượt qua khủng hoảng 1 3.0 12 36.4 19 57.6 1 3.0 0 0

KN giải quyết xung đột 0 0 14 42.4 17 51.5 2 6.1 0 0

Qua bảng số liệu 3 chúng tôi nhận thấy rằng: Đa số GV các trường Đại học tham gia

khảo sát đánh giá KNM của SV các trường Đại học mới chủ yếu đạt được ở mức “Trung

bình” (tỷ lệ đánh giá về mức độ này ở GV dao động từ 45,5% đến 66,7% tổng số GV tham

gia khảo sát) Xét trong hệ thống các KNM đã được nghiên cứu, một bộ phận khách thể khảo sát cho rằng các KNM của SV còn ở mức yếu như: KN tự nhận thức; KN làm việc theo nhóm; KN quản lý thời gian; KN vượt qua khủng hoảng; KN giải quyết xung đột

- Đánh giá của SV về mức độ KNM cần được hình thành và phát triển ở SV các trường ĐH trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Kết quả nghiên cứu thu được thể hiện ở bảng 4

Bảng 4 Nhận thức của SV về mức độ KNM của SV các trường ĐH trên địa bàn tỉnh Hải Dương

KN vượt qua khủng hoảng 62 14.5 168 39.3 173 40.5 22 5.2 2 0.5

KN giải quyết xung đột 61 14.3 182 42.6 167 39.1 16 3.7 1 0.2

KN sáng tạo 60 14.1 189 44.3 157 36.8 17 40.0 4 0.9

Trang 13

Qua bảng số liệu 4 chúng tôi nhận thấy rằng: Đa số SV tham gia khảo sát đánh giá

KNM của SV các trường Đại học mới chủ yếu đạt được ở mức “Khá” (tỷ lệ đánh giá về

mức độ này ở SV dao động từ 39,3% đến 45,0% tổng số GV tham gia khảo sát) Bên cạnh

Kết quả nghiên cứu thu được qua việc sử dụng phương pháp phỏng vấn một số cán bộ quản lý giáo dục của các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương và lãnh đạo doanh nghiệp sử dụng lao động được đào tạo tại các trường Đại học trên địa bàn tỉnh với câu hỏi:

“Đánh giá của đồng chí về mức độ kỹ năng mềm của người lao động qua đào tạo tại các

trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương?” đã giúp chúng tôi có thêm thông tin thực

tiễn để khẳng định về thực trạng của vấn đề này

Kết quả nghiên cứu thu được về thực trạng mức độ KNM của SV các trường Đại học

đã cung cấp những thông tin thực tiễn đòi hỏi các nhà trường mà cụ thể là đội ngũ GV cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu, áp dụng các biện pháp mang tính phù hợp nhằm từng bước phát triển KNM cho SV qua đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường, giúp cho nhà trường có thể cung ứng cho thị trường lao động nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng mềm tốt

2.2.3.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục KNM cho SV các trường ĐH trên

địa bàn tỉnh Hải Dương

Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy: Nhìn chung, có sự thống nhất giữa các nhóm khách thể khảo sát trong đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan đến giáo dục KNM cho SV các trường Đại học khi đều khẳng định các yếu tố được chúng tôi

nghiên cứu, đề xuất đều ở mức độ “Ảnh hưởng” và “Ảnh hưởng nhiều”, không có ý kiến nào đánh giá ở mức độ “Bình thường”, “Ít ảnh hưởng” hay “Không ảnh hưởng” Các khách thể khảo

sát đều thống nhất cho rằng nhóm các yếu tố chủ quan ảnh hưởng nhiều hơn đến giáo dục KNM cho SV các trường Đại học so với nhóm các yếu tố khách quan Nhóm khách thể là GV trường Đại học đánh giá các yếu tố trên đánh giá cao hơn so với nhóm khách thể là SV (ĐTB chung lần lượt là 4, 66 và 4,53) Kết quả nghiên cứu thu được về thực trạng của vấn đề này đòi hỏi Hiệu trưởng trường Đại học cần chỉ đạo cán bộ, GV đảm nhiệm quá trình giáo dục KNM cho SV các khai thác tối ưu ảnh hưởng tích cực của các yếu tố trong quá trình tổ chức thực hiện quá trình này, nhằm đảm bảo quá trình giáo dục KNM cho SV các trường Đại học được thực hiện thường xuyên, thuận lợi và ngày càng đạt được kết quả tốt

2.2.4 Thực trạng giáo dục kỹ năng mềm trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên ở các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

2.2.4.1 Mức độ tán thành của giảng viên và sinh viên về khả năng phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương thông qua dạy học môn

Tư tưởng Hồ Chí Minh

Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy: GV và SV các trường ĐH trên địa bàn tỉnh Hải Dương tham gia khảo sát đều khẳng định việc giáo dục KNM trong dạy học môn Tư tưởng

Hồ Chí Minh ở các trường Đại học có khả năng phát triển KNM cho SV

Ngày đăng: 02/01/2023, 22:47

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm