1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Đổi mới nhận thức về hình thức pháp luật " doc

5 414 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 85,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở giai đoạn này, tòa án xét xử lại những vụ án mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thông qua đó nhằm kịp thời phát hiện và khắc phụ

Trang 1

Bàn về tính chất của phúc thẩm

ThS Phan thanh mai * húc thẩm là giai đoạn quan trọng

trong tố tụng hình sự ở giai đoạn

này, tòa án xét xử lại những vụ án mà bản

án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu

lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng

nghị, thông qua đó nhằm kịp thời phát

hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu

sót của tòa án cấp dưới cả về nội dung

cũng như về hình thức tố tụng; đảm bảo

sự công bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ích

của Nhà nước, tổ chức xC hội, quyền và

lợi ích hợp pháp của bị cáo và những

người tham gia tố tụng khác

Một trong những vấn đề cần được

quan tâm đầu tiên khi nghiên cứu về thủ

tục phúc thẩm đó là tính chất của phúc

thẩm Tính chất của phúc thẩm sẽ quyết

định đến những vấn đề khác của phúc

thẩm như phạm vi xét xử phúc thẩm,

những quy định chung về thủ tục tại

phiên tòa phúc thẩm, trình tự phiên tòa

phúc thẩm cũng như quyền hạn của tòa

án cấp phúc thẩm Mặt khác, tính chất

của phúc thẩm cũng là một trong những

điểm khác biệt để có thể phân biệt giữa

thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm

Trong cuốn từ điển tiếng Việt từ

"phúc thẩm" được giải thích như sau:

"Phúc thẩm là tòa án cấp trên xét xử lại

một vụ án do cấp dưới đ xử sơ thẩm mà

có chống án"(1)

Các quy phạm pháp luật về phúc thẩm

từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ

cộng hòa đến trước khi ban hành BLTTHS năm 1988 cũng đều dùng thuật ngữ "xét xử" để chỉ hoạt động của tòa án cấp phúc thẩm Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 của Chủ tịch nước về tổ chức tòa án và ngạch thẩm phán, quy định về thẩm quyền của tòa án khi xét xử phúc thẩm đC quy định Tòa thượng thẩm có quyền " quyết nghị về tất cả những vấn

đề thuộc về tội trạng, hình phạt, trường hợp tăng nặng và trường hợp giảm nhẹ"(2) Thông tư số 1459/HCTP của Bộ tư pháp ngày 19/8/1955 đC nhấn mạnh:

"Nguyên tắc hai lần xét xử là một trong những nguyên tắc tố tụng của nhân dân cần phải được bảo đảm" Điều 9 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 đC quy

định nguyên tắc hai cấp xét xử và nguyên tắc này trở thành nguyên tắc luật định Năm 1974, Tòa án nhân dân tối cao xây dựng bản hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự (kèm theo Thông tư

số 19/TATC ngày 2/10/1974) quy định rõ chức năng của tòa án cấp phúc thẩm là

"xét xử lại những vụ án đ được xét xử theo trình tự sơ thẩm, khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hay kháng nghị"(3)

P

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

Sau khi ban hành BLTTHS 1988, về

cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của tòa án

cấp phúc thẩm vẫn được duy trì như trước

đây Tuy vậy, Điều 204 BLTTHS lại quy

định về tính chất của phúc thẩm như sau:

"Phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực

tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định

sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị

kháng cáo hoặc kháng nghị" Quy định

này chưa phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ của tòa án cấp phúc thẩm đồng thời

không phân định được rõ ràng giữa tính

chất của phúc thẩm và giám đốc thẩm

Điều 241 BLTTHS quy định về tính chất

của giám đốc thẩm cũng dùng thuật ngữ

"xét lại" để chỉ hoạt động của tòa án cấp

giám đốc thẩm như sau: "Giám đốc thẩm

là xét lại bản án hoặc quyết định đ có

hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì

phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc

xử lí vụ án" Việc quy định không rõ ràng

như vậy dẫn đến nhiều quan điểm không

thống nhất về tính chất của phúc thẩm là

"xét xử lại vụ án " hay là "xét lại bản án

và quyết định" Do vậy, việc làm rõ tính

chất của phúc thẩm là cần thiết Chúng

tôi xin trình bày một số ý kiến về vấn đề

này

Tính chất của phúc thẩm được thể

hiện rõ qua những nét đặc trưng cơ bản

của phúc thẩm Đồng thời qua những nét

đặc trưng đó, có thể thấy rõ sự khác biệt

về tính chất của phúc thẩm với các thủ tục

giải quyết vụ án khác của tòa án Đó là

những nét đặc trưng sau:

1 Căn cứ làm phát sinh trình tự phúc

thẩm là kháng cáo, kháng nghị phúc

thẩm, trong đó, quyền kháng cáo là nét

đặc trưng của phúc thẩm Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án, quyết định của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, bị cáo và những người tham gia tố tụng còn có quyền được yêu cầu xét xử lại một lần nữa ở tòa án cấp trên trực tiếp Nếu như căn cứ để tiến hành xét xử sơ thẩm là quyết định truy tố của viện kiểm sát, căn

cứ để tiến hành giám đốc thẩm, tái thẩm

là kháng nghị của những người tiến hành

tố tụng có thẩm quyền là những căn cứ mang tính quyền lực nhà nước thì trình tự phúc thẩm có thể được phát sinh bởi kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật

Quyền kháng cáo được thể hiện qua việc bị cáo và người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo đối với bất kì bản án sơ thẩm nào, trừ trường hợp xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm tại Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao và Tòa

án quân sự trung ương Quy định này cần phải được sửa đổi, Nghị quyết hội nghị lần thứ III Ban chấp hành trung ương

Đảng khóa VIII đC nêu rõ: "Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, bỏ thủ tục xét

xử sơ chung thẩm của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương", nhằm mục đích đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia

tố tụng khác Thông qua kháng cáo, họ thể hiện sự bất đồng và những quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm đồng thời đề đạt những nguyện vọng, những yêu cầu của mình đối với tòa

án cấp phúc thẩm

Trang 3

Để tạo điều kiện cho bị cáo và những

người tham gia tố tụng khác thực hiện tốt

quyền kháng cáo của mình, khi tuyên án,

hội đồng xét xử phải giải thích cho bị cáo

và những người khác về quyền kháng cáo

và họ phải được giao bản sao bản án trong

thời hạn 15 ngày Đối với bị cáo và những

người tham tố tụng khác vắng mặt tại

phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính

từ ngày họ được giao nhận bản sao bản án

hoặc trích lục bản án hoặc từ ngày bản

sao bản án được niêm yết tại trụ sở chính

quyền địa phương nơi cư trú hoặc làm

việc cuối cùng của họ

Quyền kháng cáo của bị cáo và những

người tham gia tố tụng khác không chỉ

được thể hiện qua các quyền của họ mà

còn thể hiện qua nghĩa vụ của tòa án

trong việc giải quyết kháng cáo của họ

Trong trường hợp kháng cáo hợp lệ về

hình thức, tòa án cấp phúc thẩm phải mở

phiên tòa để giải quyết, việc chấp nhận

hay bác bỏ kháng cáo về nội dung phải

được xem xét, giải quyết tại phiên tòa

Nếu không chấp nhận kháng cáo, tòa án

cấp phúc thẩm cũng phải nói rõ lí do của

việc không chấp nhận

Tòa án cấp phúc thẩm không được

làm xấu đi tình trạng của bị cáo nếu

không có kháng nghị của viện kiểm sát

hoặc kháng cáo của người bị hại theo

hướng bất lợi cho bị cáo Quy định này

đảm bảo cho bị cáo yên tâm thực hiện

quyền kháng cáo mà không lo sợ điều đó

có thể gây hậu quả bất lợi cho mình

Thực tế cho thấy, hầu hết các vụ án phải

xử phúc thẩm phát sinh từ kháng cáo của

bị cáo và những người có quyền kháng

cáo khác, số vụ án bị viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ Ta

có thể xem xét vấn đề trên một cách cụ thể hơn qua bảng thống kê theo số liệu của TANDTC từ năm 1993 đến năm

1997 sau đây:

Năm

Tổng số vụ án sơ

thẩm bị kháng cáo, kháng nghị

Viện kiểm sát kháng nghị

Vụ Bị cáo Vụ % Bị cáo %

1993

1994

1995

1996

1997 Cộng

9.430 9.198 11.367 11.697 11.645 53.337

15.525 14.956 17.962 18.985 18.167 85.585

550

626

694

707

719 3.296

5,8 6,8 6,1 6,0 6,1 6,2

1.035 1.050 1.199 1.232 1.244 5.750

6,7 7,0 6,7 6,5 6,8 6,7

2 Nhiệm vụ của tòa án cấp phúc thẩm

là kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm đồng thời xét xử lại về mặt nội dung tính hợp pháp của bản án thể hiện ở chỗ không những

nó phải phù hợp với pháp luật hình sự, dân sự về mặt nội dung trong việc giải quyết vụ án đồng thời còn phải phù hợp với những quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự về mặt hình thức Tính có căn cứ của bản án và quyết định thể hiện ở chỗ các chứng cứ đưa ra để chứng minh vụ án phải phù hợp với những sự kiện thực tế của vụ án đC xảy

ra(4) Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ xem xét lại bản án mà còn xét xử lại vụ án Xét xử lại vụ án về mặt nội dung ở cấp phúc thẩm là đi sâu xác định lại thực chất của vụ án Trên cơ sở đánh giá lại những chứng cứ mới, cấp phúc thẩm có thể có

được những quyết định về những vấn đề

Trang 4

về nội dung vụ án và những quyết định

khác có liên quan, những quyết định này

có thể giống hoặc khác so với quyết định

của tòa án cấp sơ thẩm Đây là điểm khác

biệt của phúc thẩm so với giám đốc thẩm

hoặc tái thẩm Tòa án cấp giám đốc thẩm

hoặc tái thẩm chỉ kiểm tra tính hợp pháp

và tính có căn cứ của những bản án hoặc

quyết định của tòa án đC có hiệu lực pháp

luật mà không xét xử lại về nội dung

Trong trường hợp tòa án cấp giám đốc

thẩm sửa án theo hướng giảm nhẹ, có

quan điểm cho rằng đó là xét xử lại Theo

chúng tôi, trong trường hợp này, tòa án

cấp giám đốc thẩm chỉ xem xét trên cơ sở

hồ sơ, tài liệu nếu thấy có sai lầm nghiêm

trọng trong việc áp dụng các điều khoản

của BLHS thì sửa lại cho đúng (chỉ trong

trường hợp có thể sửa theo hướng giảm

nhẹ) Thực chất, đó cũng chỉ là xem xét

lại vụ án về mặt áp dụng luật chứ không

phải là xét xử lại về nội dung của vụ án

3 Về phạm vi xét xử phúc thẩm, căn

cứ vào nội dung kháng cáo, kháng nghị,

"Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung

kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần

thiết có thể xem xét các phần khác không

bị kháng cáo, kháng nghị của bản án"

(Điều 214 BLTTHS) Theo quy định này,

việc xem xét trong phạm vi kháng cáo,

kháng nghị là trách nhiệm còn việc xem

xét ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị

là quyền của tòa án cấp phúc thẩm Đây

cũng là điểm khác biệt của phúc thẩm so

với các thủ tục khác của tòa án Khi xét

xử sơ thẩm, tòa án không được xét xử

ngoài phạm vi quyết định truy tố của viện

kiểm sát, còn khi giám đốc thẩm hoặc tái

thẩm, phạm vi xét xử là toàn bộ vụ án, không phụ thuộc vào nội dung của kháng nghị

4 Nếu như đặc thù của giám đốc thẩm là tòa án chủ yếu căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét lại tính có căn cứ và hợp pháp của bản án hoặc quyết định đC có hiệu lực pháp luật thì phúc thẩm tiến hành xét xử lại vụ án bằng phiên tòa công khai, xét xử theo nguyên tắc trực tiếp và bằng lời nói

Bị cáo và những người có liên quan

đến kháng cáo, kháng nghị bắt buộc phải

được tòa án triệu tập đến phiên tòa để hội

đồng xét xử xét hỏi Tòa án cấp phúc thẩm thông qua những chứng cứ, tài liệu

được đưa ra xem xét công khai tại phiên tòa và qua việc nghe lời trình bày và những lí lẽ tranh luận của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đồng thời xem xét ý kiến của kiểm sát viên để ra bản án và những quyết định cần thiết khác Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của BLTTHS như bị cáo có quyền đưa chứng cứ và yêu cầu, tranh luận tại phiên tòa, quyền bào chữa Khác với phúc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không phải là phiên tòa xét xử công khai, theo nguyên tắc xét

xử trực tiếp, bằng lời nói Việc triệu tập người bị kết án và những người khác không phải là bắt buộc và nếu có được triệu tập họ cũng không có các quyền và nghĩa vụ tố tụng như tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm Điều 251 BLTTHS quy định: "Trong phiên tòa, một thành

Trang 5

viên của hội đồng giám đốc thẩm trình

bày tóm tắt nội dung vụ án, nội dung của

kháng nghị và đại diện viện kiểm sát phát

biểu ý kiến Nếu đ triệu tập người bị kết

án, người bào chữa, người có quyền và lợi

ích liên quan đến việc kháng nghị thì

những người này được trình bày ý kiến

trước khi đại diện viện kiểm sát phát

biểu Trong trường hợp họ vắng mặt thì

hội đồng giám đốc thẩm vẫn có thể tiến

hành xét xử"

5 Tòa án cấp giám đốc thẩm và tái

thẩm xét lại bản án, quyết định đC có hiệu

lực pháp luật trên cơ sở chứng cứ, tài liệu

có trong hồ sơ vụ án nên vấn đề bổ sung,

xem xét chứng cứ mới không được đặt ra

Do việc phúc thẩm không chỉ là kiểm

tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án,

quyết định mà còn xét xử lại vụ án về mặt

nội dung, nghĩa là xem xét tính đúng đắn

của vụ án về mặt thực chất Vì vậy, pháp

luật quy định bị cáo và những người có

liên quan đến kháng cáo, kháng nghị có

quyền xuất trình những chứng cứ mới để

bảo vệ quyền lợi cho mình, không phải

phụ thuộc vào những chứng cứ đC đưa ra

tại phiên tòa sơ thẩm Họ có quyền thay

đổi lời khai, có quyền yêu cầu mời thêm

nhân chứng mới, có quyền đưa ra những

vật chứng mới Viện kiểm sát cấp phúc

thẩm cũng có thể tự mình hoặc theo yêu

cầu của tòa án tiến hành điều tra bổ sung

thu thập thêm những chứng cứ mới để

làm sáng tỏ những vấn đề về nội dung vụ

án Tất cả các chứng cứ mới và chứng cứ

cũ đều được đưa ra xem xét trực tiếp tại

phiên tòa và là căn cứ để tòa án cấp phúc

thẩm ra bản án hoặc quyết định

Qua việc phân tích những nét đặc trưng của phúc thẩm ta có thể thấy rõ sự khác biệt về tính chất giữa thủ tục phúc thẩm và các thủ tục xét xử sơ thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Tính chất của phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại những vụ án mà một phần hay toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị mà không phải là

"xét lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị" như quy định tại Điều

204 BLTTHS Để đảm bảo tính thống nhất giữa tính chất của phúc thẩm với những quy định khác về phúc thẩm, đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử, theo chúng tôi cần sửa đổi điều luật quy định về tính chất của phúc thẩm Điều 204 BLTTHS

về tính chất của phúc thẩm nên được quy

định như sau:

"Phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại những vụ án mà một phần hay toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị"./

(1).Xem: Từ điển tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học- Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học năm 1998 (2).Xem: Tập luật lệ về tư pháp - Bộ tư pháp, 1957 (3).Xem: Tập hệ thống hóa luật lệ về TTHS- TANDTC, 1976

(4).Xem: Bản hướng dẫn trình tự tố tụng phúc thẩm

về hình sự (kèm theo Thông tư số 19/TATC ngày 2/10/1974)

Ngày đăng: 23/03/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm