Quá trình hình thành nhận thức của Đảng về đổi mới tổ chức toà án Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng 12/1986 trong khi khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đã chủ trương
Trang 1ThS NguyÔn V¨n Khoa *
rong công cuộc đổi mới đất nước, thực
hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh, trong đó
quyền con người ngày càng được tôn trọng,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công
tác cải cách tư pháp Đổi mới tổ chức của toà
án là khâu trung tâm trong quá trình cải cách
tư pháp nhằm xây dựng các cơ quan tư pháp
trong sạch vững mạnh, giữ nghiêm kỉ cương,
bảo vệ công lí và công bằng xã hội
Bài viết sau đây trình bày khái quát quá
trình hình thành và phát triển nhận thức của
Đảng về đổi mới tổ chức toà án trong công
cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay
1 Quá trình hình thành nhận thức của
Đảng về đổi mới tổ chức toà án
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng (12/1986) trong khi khởi xướng công
cuộc đổi mới toàn diện đã chủ trương đồng
thời tiến hành cải cách và hoàn thiện bộ máy
nhà nước, ở đó nền tư pháp là bộ phận cấu
thành Đại hội khẳng định: “Để thiết lập cơ
ch ế quản lí mới, cần thực hiện một cuộc cải
cách v ề tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà
n ước theo phương hướng xây dựng và thực
hi ện một cơ chế quản lí nhà nước thể hiện
quy ền làm chủ tập thể của nhân dân lao
động ở các cấp”.(1)
Đại hội VI tuy không trình bày riêng về
đổi mới tổ chức toà án nhưng vấn đề này
được thể hiện trong nội dung xây dựng pháp
luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa Đại hội khẳng định: “Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Trong điều
ki ện Đảng cầm quyền, mọi cán bộ, bất cứ
c ương vị nào, đều phải sống và làm việc theo pháp lu ật, gương mẫu trong trong việc tôn tr ọng pháp luật Không cho phép bất cứ
ai d ựa vào quyền thế để làm trái pháp luật
M ọi vi phạm đều phải được xử lí Bất cứ ai
ph ạm pháp đều đưa ra xét xử theo pháp luật, không được giữ lại để xử lí “nội bộ” Không làm theo ki ểu phong kiến: dân thì chịu hình pháp, quan thì x ử theo “lễ” Hiến pháp quy định: “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp
lu ật”; Văn kiện Đại hội Đảng lần VI cũng đã khẳng định: “Cấm bao che hành động phạm pháp và ng ười phạm pháp dưới bất cứ hình
th ức nào Phải dùng sức mạnh của pháp chế
xã h ội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh của dư
lu ận quần chúng để đấu tranh chống những hành vi ph ạm pháp Các cấp uỷ đảng, từ trên
xu ống dưới phải thường xuyên lãnh đạo công tác pháp ch ế, tăng cường cán bộ có phẩm
ch ất và năng lực cho lĩnh vực pháp chế và
ki ểm tra chặt chẽ hoạt động của các cơ quan pháp ch ế Trong điều kiện Đảng cầm quyền,
m ọi cán bộ, bất cứ cương vị nào, đều phải
s ống và làm việc theo pháp luật, gương mẫu
T
* Giảng viên Khoa lí luận chính trị Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2tôn tr ọng pháp luật Không cho phép bất cứ
ai d ựa vào quyền thế để làm trái pháp luật
M ọi vi phạm đều phải được xử lí”.(2)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
của Đảng (6/1991) diễn ra trong bối cảnh
công cuộc đổi mới đã đạt được những thành
tựu bước đầu rất quan trọng, tạo tiền đề cho
việc tiếp tục thúc đẩy công cuộc đổi mới đi
vào chiều sâu Đại hội khẳng định: “Tăng
c ường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp
lu ật Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động
c ủa viện kiểm sát nhân dân và toà án nhân
dân B ảo đảm các điều kiện và phương tiện
c ần thiết để các cơ quan bảo vệ pháp luật
làm t ốt nhiệm vụ”.(3) Đại hội VII bắt đầu thể
hiện rõ sự cần thiết đổi mới tổ chức và hoạt
động của các cơ quan tư pháp, trong đó có tổ
chức toà án nhân dân
Hội nghị trung ương lần thứ hai khoá VII
(11-1991) chủ trương sửa đổi hiến pháp làm
cơ sở cho cải cách tư pháp được đặt trong
tổng thể cải cách tổ chức bộ máy nhà nước
Nghị quyết khẳng định: “Cải cách tư pháp là
m ột bộ phận rất quan trọng trong cải cách bộ
máy và ho ạt động của Nhà nước, phải tiến
hành đồng bộ với đổi mới lập pháp và hành
pháp”.(4) Hội nghị nêu rõ: Toà án nhân dân
tối cao là cơ quan xét xử cao nhất, giám đốc
việc xét xử của các toà án nhân dân địa
phương, các toà án quân sự và toà án khác
Hội nghị trung ương lần thứ tám khoá
VII (1/1995) chủ trương tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một
bước nền hành chính, trong đó có định
hướng về cải cách tổ chức toà án Nếu như
Nghị quyết trung ương 2 (khoá VII) mới chỉ
nêu lên Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất, giám đốc việc xét xử của các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự và toà án khác, thay đổi chế độ bầu
cử thẩm phán thành chế độ bổ nhiệm, thành lập một số toà án chuyên trách khác thì đến Nghị quyết trung ương 8 (khoá VII) đã có sự phát triển hơn về mặt nhận thức khi chủ trương: 1) Tăng thẩm quyền xét xử cho toà
án nhân dân cấp quận, huyện; 2) Làm rõ chức năng của toà án nhân dân cấp tỉnh chủ yếu là xét xử phúc thẩm; 3) Làm rõ chức năng của Toà án nhân dân tối cao chủ yếu là tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn các toà án địa phương áp dụng thống nhất pháp luật và hướng tới hạn chế việc xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm
2 Quá trình bổ sung, phát triển nhận thức của Đảng về đổi mới tổ chức toà án
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) tiếp tục nêu một cách khái quát, cô đọng tinh thần cải cách tổ chức và hoạt động của toà án theo Nghị quyết trung
ương 8 khoá VII Đại hội khẳng định: “Phân định lại thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân, t ừng bước mở rộng thẩm quyền xét xử
s ơ thẩm cho toà án nhân dân cấp huyện”.(5)
Hội nghị trung ương lần thứ ba khoá
VIII (1997) về phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh Nghị quyết đã quán triệt tinh thần của Hội nghị trung ương lần thứ tám khoá VII về cải cách tổ chức toà án Tuy nhiên, Nghị quyết trung ương 3 khoá VIII
đã có bước phát triển mới đối với tổ chức
và hoạt động của toà án, đó là: “Bỏ thủ tục
Trang 3xét x ử sơ chung thẩm của Toà án nhân dân
t ối cao và Toà án quân sự trung ương” và
“Nghiên cứu phân cấp thẩm quyền bổ
nhi ệm thẩm phán toà án cấp tỉnh và toà án
c ấp huyện”.(6)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng (4/2001) tiếp tục khẳng định những
định hướng về tổ chức và hoạt động của toà
án nhân dân theo tinh thần Nghị quyết trung
ương 3 khoá VIII Điểm mới của Đại hội IX
là bắt đầu đề cập sự cần thiết phải “sắp xếp
l ại hệ thống toà án nhân dân, phân định hợp
lí th ẩm quyền của toà án các cấp”.(7) Tuy
nhiên, sắp xếp và phân định như thế nào cho
hợp lí thì Đại hội IX cũng chưa làm rõ
Ngoài ra, Đại hội IX nhấn mạnh cần tăng
cường đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân
dân đảm bảo về số lượng và chất lượng, đáp
ứng được yêu cầu xét xử của toà án
Trước yêu cầu của thực tiễn tư pháp,
ngày 02/01/2002, Bộ chính trị ban hành
Nghị quyết số 08/NQ-TW về “Một số nhiệm
v ụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian t ới” đã cụ thể hoá đường lối của Đại
hội IX trong thực tiễn, trong đó có đổi mới
tổ chức toà án
Đối với tổ chức mô hình của toà án về
cơ bản Nghị quyết số 08/NQ-TW tiếp tục
khẳng định tinh thần của các Nghị quyết
Trung ương 8 khoá VII, Nghị quyết Trung
ương 3 khoá VIII của Đảng Điểm mới
trong Nghị quyết số 08/NQ-TW trong đổi
mới tổ chức toà án là: “Mở rộng thẩm
quy ền xét xử của toà án trong việc giải
quy ết các khiếu kiện hành chính; thành lập
Toà án hôn nhân và gia đình” và “Toà án
nhân dân t ối cao quản lí toà án địa phương
v ề tổ chức để bảo đảm gắn việc theo dõi,
h ướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn với việc
nh ận xét, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ; phân c ấp, bổ nhiệm thẩm phán theo hướng
Ch ủ tịch nước chỉ bổ nhiệm thẩm phán Toà
án nhân dân t ối cao”.(8) Đối với hoạt động xét xử, Nghị quyết số 08/NQ-TW nhấn mạnh các nguyên tắc khi xét xử “mọi công dân bình đẳng trước pháp luật”, nguyên tắc “tranh tụng trước toà”, nguyên tắc “thẩm phán và hội thẩm độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật”
Đối với nguyên tắc “tranh tụng trước toà”, việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn quy định Đây chính là sự chuyển đổi từ hình thức tố tụng xét hỏi sang hình thức tố tụng tranh tụng Tố tụng xét hỏi dẫn đến việc toà án bị lệ thuộc vào kết quả điều tra, không độc lập trong quá trình xét xử, kết quả tranh tụng khó chính xác Theo nguyên tắc tranh tụng, một bên là công tố viên (bên buộc tội), một bên là bị cáo và luật sư (bên
gỡ tội) là bình đẳng, còn toà án là trọng tài trung lập Toà án không nên xét hỏi như một
“cơ quan công tố thứ hai” mà chỉ xét hỏi khi thấy thật cần thiết Hội đồng xét xử phải giữ vai trò là người trọng tài giữa các bên tranh tụng: Nghe ý kiến tranh luận giữa đại diện viện kiểm sát và luật sư cùng những người tham gia tố tụng, trên cơ sở đó xem xét và
Trang 4căn cứ vào pháp luật để đưa ra phán quyết
Nguyên tắc “thẩm phán và hội thẩm độc
l ập và chỉ tuân theo pháp luật” Đây là
nguyên tắc chủ đạo trong hoạt động tố tụng
của toà án Vi phạm nguyên tắc này là vi
phạm đường lối xét xử của Đảng, vi phạm
hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Thực
hiện nguyên tắc độc lập xét xử là vấn đề
trọng tâm, bởi nó làm cho toà án thực sự
đóng vai trò phán quyết, từ đó mới bảo vệ
một cách thực sự lợi ích của Nhà nước, xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
Có nghĩa là tạo điều kiện cho toà án ra được
những bản án, quyết định khách quan, công
bằng, vô tư, đúng pháp luật
Ngày 02/06/2005, Bộ chính trị đã ban
hành Nghị quyết số 49/NQ-TW về “Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Nghị
quyết số 49/NQ-TW đã có bước phát triển
quan trọng trong nhận thức của Đảng về cải
cách tư pháp nói riêng và đổi mới tổ chức
toà án nói riêng
Điểm mới so với Nghị quyết số 08/NQ-TW
là “Tổ chức hệ thống toà án theo thẩm quyền
xét x ử, không phụ thuộc vào đơn vị hành
chính”.(9) Theo đó, hệ thống toà án gồm: Toà
án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc
một số đơn vị hành chính cấp huyện; toà án
phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử
phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án;
toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực
có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm Toà án nhân
dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh
nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống
nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử
giám đốc thẩm, tái thẩm Đây là nét mới về
mô hình tổ chức toà án nhân dân
Những lợi ích mang lại là rất quan trọng nếu như toà án được tổ chức theo khu vực,
đó là: Tập trung được lực lượng thẩm phán
mà hiện này còn thiếu và yếu; giảm được số lượng lớn ngân sách xây dựng trụ sở toà án huyện, kinh phí cho các phương tiện, xe cộ, thông tin liên lạc Giao quyền xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ án cho toà án sơ thẩm khu vực là điều kiện căn bản để thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử; tạo điều kiện để giao phần lớn thẩm quyền xét xử phúc thẩm cho
(Xem ti ếp trang 34)
(1).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1987 tr 118
(2).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1987 tr 121
(3) Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại
bi ểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1991 tr 92
(4).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội
ngh ị lần thứ hai BCHTW Đảng khoá VII, Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1991, tr.36
(5).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội,
1996, tr 132
(6).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội
ngh ị lần thứ ba BCHTW Đảng khoá VIII, Nxb
CTQG, Hà Nội, 1997, tr.57
(7).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội,
2001, tr 134
(8).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết của
Bộ chính trị số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về “Một
s ố nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian t ới”
(9).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết của
Bộ chính trị số 49-NQ/TW ngày 02/06/2006 về
“Chi ến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”