Trần Viết Hoàng ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Nội Dung Câu Hỏi Kỳ 20211 Câu 1 1 Phân tích cơ sở thực tiễn Việt Nam Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sinh viên Xã hội Việt Na.
Trang 1Trần Viết Hoàng
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Nội Dung Câu Hỏi Kỳ 20211.
Câu 1.1: Phân tích cơ sở thực tiễn Việt Nam Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sinh viên.
Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là xã hội phong kiến độc lập tự chủ, với một nền nông nghiệp lạc hậu trì trệ Chính quyền nhà Nguyễn thi hành chính sách đối nội, ngoại trì trệ, bảo thủ Vì vậy, không phát huy được thế mạnh của dân tộc, không tạo ra tiềm lực vật chất là tinh thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây
Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam vào năm 1858, triều đình nhà Nguyễn đã lần lượt ký các hiệp ước đầu hàng và dâng nước ta cho thực dân Pháp Năm 1884, bản hiệp ước Patenôtre được ký kết, Việt Nam từ quốc gia phong kiến độc lập tự chủ trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Trong lòng xã hội thuộc địa, mâu thuẫn mới bao trùm mâu thuẫn cũ (nông dân với địa chủ phong kiến), nó không thủ tiêu mâu thuẫn cũ và là cơ sở để duy trì mâu thuẫn cũ Điều này làm xã hội Việt Nam ngày càng thêm đen tối
Những chính sách khai thác thuộc địa ở Việt Nam đã làm xuất hiện những giai cấp và tầng lớp mới (tư sản, tiểu tư sản, công nhân) Các phong trào vũ trang kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra rầm rộ và đi theo các con đường khác nhau nhưng cuối cùng đều thất bại Với khuynh hướng tư tưởng phong kiến, có phong trào Cần Vương, phong trào khởi nghĩa của nông dân Yên Thế Với khuynh hướng tư tưởng dân chủ tư sản có phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục Dưới sự ảnh hưởng của các trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc thông qua các tân văn, tân thư đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các tư tưởng và các phong trào yêu nước nhưng cuối cùng các phong trào này đều thất bại Các phong trào yêu nước thời kỳ này
dù dưới ngọn cờ nào đều bi thực dân Pháp dìm trong biển máu Điều này đã làm cho cách mạng Việt Nam rơi vào sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước Một câu hỏi lớn đặt ra là làm thế nào để giải phóng cho dân tộc, giai cấp nào sẽ lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng đó?
Trang 2Hồ Chí Minh sinh ra trong bối cảnh nước mất nhà tan, lớn lên cùng các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng người đã sớm tìm ra nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: giai cấp tư sản chưa đủ mạnh để lãnh đạo cách mạng, chưa gắn cuộc cách mạnh giải phóng dân tộc với sự phát triển tiến bộ của nhân loại, chưa thực hiện đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc
Đánh giá: Chứng kiến cuộc sống đau khổ của đồng bào, thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc
mang lại cuộc sống ấm no, tự do cho nhân dân, cho nên ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành đã ra
đi tìm đường cứu nước bằng một hướng đi mới khác với các con đường cứu nước mà các tiền bối
đã đi trước Con đường cứu nước đó đã đưa Hồ Chí Minh đến với Lenin, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liến với CNXH Như vậy sự xuất hiện của TTHCM là một tất yếu, đáp ứng nhu cầu đặt ra của lịch sử Cách mạng Việt Nam
Câu 1.2: Phân tích cơ sở lý luận (giá trị truyền thống dân tộc).Vận dụng việc phát huy giá trị truyền thống dân tộc ĐHBKHN.
Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hoá riêng phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp
Đầu tiên là truyền thống yêu nước Nó đã phát triển cao hơn là chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước là dòng chảy xuyên suốt trong lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất đứng đầu bảng giá trị văn hoá, tinh thần của dân tộc Việt Nam Đó là ý chí đấu tranh bất khuất cho độc lập tự do của dân tộc Truyền thống yêu nước được HCM tổng kết: “Dân ta có một lòng … bán nước và cướp nước”
Chủ nghĩa yêu nước truyền thống là nguồn gốc tư tưởng lý luận trực tiếp hình thành nên chủ nghĩa yêu nước HCM mà xuất phát điểm và cơ sở nền tảng cho suốt cuộc đời hoạt động của HCM
Thứ hai là truyền thống đoàn kết nhân nghĩa Xuất phát từ hoàn cảnh và nhu cầu sinh tồn, con người phải chống trọi với thiên nhiên và đấu tranh chống giặc ngoại xâm Từ đó đã hình thành nên một giá trị truyền thống đoàn kết của dân tộc Yêu nước đoàn kết nhân nghĩa đã trở thành một tình cảm tự nhiên thành phép ứng xử thành triết lý sống của mỗi người dân Việt Nam: đoàn kết trong nhà với tinh thần thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn, đoàn kết trong một làng hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau, đoàn kết trong một nước với tinh thần bầu ơi thương lấy bí
Trang 3cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn Từ thực tiễn ấy, HCM nhận thấy khi nào dân
ta đoàn kết thì nước ta độc lập, trái lại, khi dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn Vì vậy người đã khẳng định: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công Như vậy, giá trị đoàn kết của dân tộc Việt Nam đã trở thành triết lý phát triển giúp cho dân tộc Việt Nam chiến thắng được mọi kẻ thù Trong hành trình HCM tìm đường cứu nước cũng chính là hành trình Người đi tìm sự đoàn kết, tìm sức mạnh tổng hợp cho cả dân tộc Việt Nam trong cuộc cách mạng GPDT
Thứ ba là truyền thống cần cù, sáng tạo, thông minh Việt Nam là một dân tộc cần cù, hiếu học, thông minh trong lao động và chiến đấu Các triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam đều coi trọng việc học và hiền tài (hiền tài là nguyên khí quốc gia) Nhiều tấm gương cần cù hiếu học: Lương Thế Vinh, Cao Bá Quát…Đặc biệt, quê hương của HCM nổi tiếng vùng đất địa linh nhân kiệt Việt Nam có một vị trí địa lý thuận lợi, nơi giao lưu văn hoá tứ phương Trong quá trình hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam, luôn có sự giao lưu và tiếp biến văn hoá Chính điều này đã giúp cho dân tộc vừa giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc nhưng đã biết tiếp thu những cái hay của văn hoá nhân loại để tạo thành những giá trị riêng của mình HCM chính là hiện thân của tinh thần đó
Dân tộc Việt Nam có truyền thống lạc quan, yêu đời Trong muôn ngàn khó khăn, người Việt Nam vẫn luôn động viên nhau chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo Tinh thần đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân, tin vào sự tất thắng của tính chính nghĩa HCM cũng chính là biểu tượng cho tinh thần lạc quan Khi trong hoàn cảnh Cách mạng gian khổ, nhưng Người vẫn tìm thấy niềm tin và sự lạc quan để vượt qua mọi khó khăn thử thách Điều này được thể hiện:
“Sáng ra bờ suối…”
Như vậy, những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam chính là yếu tố nội sinh, cơ sở quan trọng để giúp HCM đến được với chủ nghĩa Marx – Lenin và là động lực trong hành trình Người
đi tìm đường cứu nước, giúp Người vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống Đây là cơ sở lý luận quan trọng với việc hình thành tư tưởng HCM
Câu 2.1: Phân tích luận điểm: Cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng
vô sản Vận dụng vào thực tiễn.
Trang 4Để GPDT khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, ông cha đã sử dụng nhiều con đường cứu nước gắn với những khuynh hướng chính trị khác nhau, sử dụng những vũ khí tư tưởng khác nhau
HCM đã rút ra những bài học kinh nghiệm từ sự thất bại của các con đường cứu nước trước đó
Từ cuối thế kỷ 19 – đầu 20, Pháp xâm lược nước ta đã thi hành chính sách bóc lột thuộc địa dã man Các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam đấu tranh chống thực dân phát triển mạnh mẽ, lan rộng theo nhiều khuynh hướng khác nhau như phong trào theo hệ tư tưởng phong kiến (Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế), phong trào theo hệ dân chủ tư sản (Đông Du, Duy Tân) Tuy nhiên, tất cả các phong trào đều thất bại, mà nguyên nhân là do thiếu đường lối đấu tranh đúng đắn trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã thành một hệ thống trên thế giới Cách mạng Việt Nam lâm vào khủng khoảng bế tắc đường lối HCM sinh ra và lớn lên, chứng kiến các phong trào cứu nước của ông cha Người nhận thấy con đường cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu chẳng khác gì đuổi hổ, rước beo Con đường của Phan Châu Trinh chẳng khác gì cầu xin giặc rủ lòng thương Con đường đấu tranh của Hoàng Hoa Thám, tuy có phần thực tế là trực tiếp đấu tranh chống Pháp, nhưng vẫn còn mang nặng cốt cách phong kiến Chính vì vậy, mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước nhưng HCM không tán thành những con đường đó và đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước mới.HCM nhận thấy cách mạng tư sản là không triệt để, cách mạng chưa đến nơi
Trong khoảng 10 năm, từ 1911 – 1920, HCM đã nghiên cứu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới: cách mạng tư sản Anh, cách mạng tư sản Mỹ, cách mạng tư sản Pháp Người tiếp xúc với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp, bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 và đi đến kết luận ngay cả cách mạng Pháp, Mỹ đã thiết lập nền cộng hoà dân chủ nhưng trong nước thì vẫn bóc lột công – nông, bên ngoài áp bức nhân dân các nước thuộc địa Như vậy, CMTS là cách mạng chưa giải phóng con người một cách triệt để và không phù hợp với yêu cầu đặt ra của cách mạng Việt Nam cũng như tâm nguyện của chủ tịch HCM Do đó, HCM không lựa chọn con đường CMTS cho cách mạng Việt Nam
Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sạn (cách mạng tháng 10 Nga 1917) là tất yếuTrong hành trình tìm đường cứu nước đó, HCM nhận thấy CMT10 Nga không chỉ là một
Trang 5cuộc CMVS mà còn là cách mạng GPDT Nó nêu gương sáng về sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa và cũng mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc – thời đại GPDT
Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng hạn chế của các vị tiền bối đương thời, HCM đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Marx – Lenin Tháng 7/1920, Người đã đọc Bản sơ thảo lần thứ nhất của Lenin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, trong đó Lenin đã vạch ra con đường giải phóng của các dân tộc thuộc địa Từ đó, HCM đã lựa chọn đi theo khuynh hướng chính trị vô sản Người khẳng định, muốn cứu nước GPDT, không có con đường nào khác ngoài CMVS
Như vậy, sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của HCM cũng chính là sự lựa chọn tất yếu của sự lựa chọn GPDT đối với con thuyền cách mạng Việt Nam, dân tộc Việt Nam và HCM chính là người thay mặt để lựa chọn
HCM cũng đã vận dụng sáng tạo học thuyết CMVS vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện Người đã đã đặt cách mạng GPDT gắn với GPGC, trong đó, GPDT là trước hết (theo Marx – Engel, con đường CMVS ở các nước châu Âu là đi từ GPGC đến GPDT, và cao nhất là GPCN) Căn cứ vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và các nước thuộc địa, HCM chỉ ra con đường CMVS ở đây là đi từ GPDT đễn GPGC – GPCN
Ngay trong Chính cương vắn tắt của Đảng 1930, HCM đã khẳng định: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản Tuy nhiên trong quan điểm của QTCS, CMTS dân quyền không bao hàm nhiệm vụ chống đế quốc, GPDT, 2 nhiệm vụ này phải được thực hiện đồng thời Trong quan điểm HCM, Người không coi nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến là ngang nhau mà đặt nhiệm vụ chống đế quốc GPDT nên trước hết Có thể khẳng định đây là nét độc đáo sáng tạo của HCM về học thuyết CMVS đối với các dân tộc thuộc địa
Giá trị của luận điểm
Đây là con đường cách mạng hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, đáp ứng được đòi hỏi của cách mạng Việt Nam Thắng lợi CMT8 kháng chiến chống Pháp
và Mỹ đã chứng minh được tính đúng đắn và triệt để của con đường cứu nước theo CMVS
Quan điểm này của HCM cũng đã trở thành nền tàng tư tưởng, kim chỉ nam trong việc hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam Điều này đã được Đảng ta khẳng địn
Trang 6Quan điểm này của HCM cũng đã trở thành nền tàng tư tưởng, kim chỉ nam trong việc hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam Điều này đã được Đảng ta khẳng định trong mục tiêu định hướng phát triển đất nước, ĐLDT gắn liền với CNXH
Quan điểm trên của HCM đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx -Lenin vào hoàn cảnh thực tiễn của nước ta Điều này thể hiện trước hết, chủ nghĩa Marx – Lenin mới chỉ ra con đường CMVS là tất yếu đối với các nước thuộc địa nhưng lại không chỉ rõ CMVS ở các nước thuộc địa phải làm như thế nào HCM đã làm rõ được những vấn đề này
Câu 2.2: Phân tích luận điểm “Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.” Giá trị của luận điểm trên đối với CMVN.
Theo quan điểm CN mác lê và quốc tế cộng sản cho rằng, cách mạng gpdt phụ thuộc trực tiếp vào sự thắng lợi cm vô sản ở chính quốc nghĩa là mối qh giữa 2 cuộc cm là không ngang bằng nhau nhưng có mối liên hệ qua lại, hỗ trợ lẫn nhau tuy nhiên mang tính chất phụ thuộc Như vậy, quan điểm này vô hình chung làm giảm đi tính chru động, sáng tạo của cách mạng gpdt
ở thuộc địa
Theo qđ của ct hcm, các nc thuộc đia là 1 trg những nguồn sống chủ yếu của cn đế quốc bởi vì tất cả sinh lực của cn tư bản đều lấy ở các nc thuộc địa vì đây là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu, nguồn nhân công giá rẻ, là thị trường tiêu thụ hàng hóa Hcm đã khẳn đinh “nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là chính quốc” Do vậy, trg các cuộc đtranh chống cn đế quốc, cn thực dân, hcm đã chỉ ra tầm qtrong đặc biệt của các mạng gpdt ở thuộc địa vì Ng nhìn thấy khả năng cm rất to lớn của nhân dân lao động
ở các nc thuộc địa, họ chịu nhiều tầng áp bức hơn Trên cơ sở đó, HCM đã chỉ ra mối qh giữa cm gpdt và cm vô sản ở chính quốc có mỗi quan hệ mật thiết vs nhau, tác động qua lại vs nhau trg cuộc đtranh choosg kẻ thù chung là cn đế quốc Đó là mối qh bình đẳng chứ ko phải là qh lệ thuộc, qh chính phụ Đánh giá đúng vai trò, vị trí chiến lược cách mạng thuộc địa, HCM còn khẳng định công cuộc gp dnhân dân các nc thuộc địa chỉ có thể thwujc hiện bằng sự nỗ lực tự giải phóng, thâm chí Ng còn chỉ ra rằng: cm gp thuộc địa còn có thể nổ ra và giành thăng slowij trc cm vô sản chính quốc nghĩa là thắng lợi của cm gp thuộc địa còn có thể tạo điều kiện cho cm
vô sản ở chính quốc
Trang 7Giá trị lđ: Đây là một luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh, có giá trị lý luận và thực tiễn
to lớn, góp phần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin Luận điểm này thể hiện sự độc lập,
tự chủ, sáng tạo trong tư duy lý luận của Bác Đây là cơ sở để Đảng ta tin tưởng và quyết tâm tổ chức, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên làm cách mạng để tự giải phóng khỏi ách áp bức của
đế quốc thực dân, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Đó cũng chính là cơ sở của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng Và thực tiễn lịch sử cách mạng đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm trên
Câu 4: Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh Liên hệ với việc xây dựng nhà nước ta hiện nay?
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh thể hiện:
1 Kiểm soát quyền lực nhà nước
+ Quyền lực nhà nước là quyền lực gắn liền với sự ra đời của nhà nước, theo đó nhà nước được
áp dặt ý chí và buộc những chủ thể khác trong xã hội phải phục tùng mệnh lệnh của mình nhằm đảm bảo an ninh, duy trì trật tự xã hội
+ Kiểm soát quyền lực nhà nước là toàn bộ hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá để ngăn chặn, loại bỏ những nguy cơ, những hành vi, những việc làm sai trái của các chủ thể trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước bảo đảm cho quyền lực nhà nước được sử dụng và thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật
Theo Hồ Chí Minh kiểm soát quyền lực là tất yếu vì:
Trước hết, kiểm soát quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của Nhà
nước pháp quyền XHCN là “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” Quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự có của Nhà nước mà quyền lực của nhân dân, được nhân dân ủy quyền, nhân dân giao quyền Nhân dân không trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước của mình
mà lại giao cho Nhà nước thay mình thực hiện, nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát quyền lực nhà nước Mặt khác, khi ủy quyền cho Nhà nước, quyền lực nhà nước lại thường vận động theo xu hướng tự phủ định mình, trở thành đối lập với chính mình lúc ban đầu (từ của nhân dân là số đông chuyển sang số ít của một nhóm người hoặc của một người) C.Mác gọi hiện tượng này là sự tha hóa của quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước là của
Trang 8nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước suy cho cùng là giao cho những con người cụ thể thực thi Mà hành động của con người thì luôn luôn chịu sự tác động của các loại tình cảm và dục vọng khiến cho lý tính đôi khi bị chìm khuất Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi các dục vọng, thói quen hay tình cảm thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực nhà nước càng lớn
Hai là, kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền XHCN còn là tất yếu kỹ thuật để
thực thi quyền lực đạt hiệu quả Quyền lực nhà nước nếu không được tổ chức thành hệ thống, tuân theo những nguyên tắc, cơ chế, quy trình nhất định và được thực thi bởi những con người cụ thể thì quyền lực không phát huy được vai trò của mình Do khả năng sai lệch trong nhận thức và thực thi quyền lực nhà nước, khả năng sử dụng quyền lực thiếu hiệu quả là có thể xảy ra
Ba là, kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam còn
bắt nguồn từ đặc trưng Nhà nước ta do một Đảng duy nhất lãnh đạo Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là một tất yếu lịch sử Tất yếu đó đòi hỏi phải kiểm soát quyền lực giữa các chủ thể cấu thành hệ thống chính trị ở nước ta Đó là:
+ Kiểm soát của nhân dân, chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước đối với quyền lực nhà nước + Kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, giữa quyền lực nhà nước ở trung ương và quyền lực nhà nước ở địa phương
+ Kiểm soát của chủ thể lãnh đạo nhà nước là Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước
Vì vậy theo Hồ Chí Minh: Muốn khéo kiểm soát quyền lực nhà nước thì:
• Cần phải kiểm soát từ trên xuống và từ dưới lên
• Việc kiểm soát phải có hệ thống và người đi kiểm soát phải là những người có uy tín
2 Phòng, chống những tiêu cực trong nhà nước
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng Nhà nước Việt Nam, Hồ Chí Minh thường nhắc nhở mọi người đề phòng và khắc phục những tiêu cực sau:
Trang 9• Đặc quyền, đặc lợi: Đặc quyền, đặc lợi là sản phẩm tất yếu của một chế độ xã hội độc
đoán, chuyên quyền, không có dân chủ Bản chất của đặc quyền, đặc lợi là xấu xa, không nhân văn, không văn hoá, đối lập với bản chất tốt đẹp của chính đảng vô sản và những người cộng sản chân chính
+ thói cậy mình là người trong cơ quan chính quyền để cửa quyền, hách dịch với dân + Lạm quyền để vơ vét tiền của, làm lợi cho cá nhân mình
• Tham ô, lãng phí, quan liêu:
+ Tham ô: Lấy của công dùng vào việc riêng, Quên cả thanh liêm, đạo đức
+ Lãng phí: Là lãng phí thời gian, sức lao động, tiền của …
+ Quan liêu: Là nguồn gốc sinh ra bệnh tham ô, lãng phí, Không sát công việc thực tế, trọng hình thức, không đi sâu vào vấn đề
Theo Hồ Chí Minh “Tham ô, lãng phí, quan liêu dù vô tình hay cố ý, đều là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến”; “Tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian, mật thám”
• Tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo:
+ Tư túng: Là kéo bè, kéo cánh, tệ nạn bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ Người tài đức nhưng không vừa lòng thì đẩy ra ngoài
+ Chia rẽ: Là “bênh lớp này chống lại lớp khác”, không biết cách đoàn kết làm cho mọi người hòa thuận dẫn đến mất đoàn kết
+ Kiêu ngạo: Là “tưởng rằng mình ở trong cơ quan chính phủ là thần thánh rồi …Cử chỉ lúc nào cũng vác mặt quan cách mạng”, làm mất uy tín của Chính phủ
Để đề phòng, khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của nhà nước theo Hồ Chí Minh cần phải làm:
+ Nâng cao trình độ dân chủ trong xã hội, thực hành dân chủ rộng rãi, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
+ Pháp luật của nhà nước, kỉ luật của Đảng phải nghiêm minh
Trang 10+ Kết hợp thực hiện tính nghiêm minh của luật pháp và đẩy mạnh giáo dục đạo đức + Thực hiện việc nêu gương, tu dưỡng đạo đức trong cán bộ
+ Huy động sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước
Vận dụng:
Phải xây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh Cần đẩy mạnh việc hoàn thiện
pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội
Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân
Phải xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền Đồng thời, quy định rõ hơn cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền Tiếp tục phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa các
cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương
Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Đảng phải tập trung lãnh đạo về đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách về cán bộ, công chức Đẩy mạnh dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp để thực thi đầy đủ trách nhiệm công vụ, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lý Hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ; lấy bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, hiệu quả thực thi nhiệm vụ để đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ Xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài