TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỌ VÀ TÊN LỚP MSSV BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MAC LENIN Đề tài 2 Phân tích tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam Trong giai đoạn hiện nay, Việt nam cần làm gì để hòa nhập mà không hòa tan vào kinh tế thế giới GVHD Hà Nội , Tháng 05 2022 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Nêu lý do chọn đề tài 1 2 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1 3 Tính thời sự của vấn đề nghiên cứu 2 PHẦN NỘI DUNG 3 Chương 1 Lí luận khái quát chúng về hội nhập quốc tế trong giai đ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỌ VÀ TÊN :
LỚP : MSSV : BÀI TẬP LỚN : KINH TẾ CHÍNH TRỊ MAC- LENIN
Đề tài 2 Phân tích tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam Trong giai đoạn hiện nay, Việt nam cần làm gì để hòa nhập mà không hòa tan vào kinh tế thế giới.
GVHD :
Hà Nội , Tháng 05 - 2022
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Nêu lý do chọn đề tài 1
2 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1
3.Tính thời sự của vấn đề nghiên cứu 2
PHẦN NỘI DUNG 3
Chương 1 : Lí luận khái quát chúng về hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay 3
1.1.Khái niệm 3
1.2 Các loại hình hội nhập kinh tế quốc tế 4
a Hợp tác kinh tế song phương 4
b Hội nhập kinh tế khu vực 4
Chương 2 : Phân tích tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam 5
2.1.Phân tích tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 5
2.2 Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế 6
2.3.Tác động 6
Chương 3: Việt Nam cần làm gì để hòa nhập mà không hòa tan vào kinh tế thế giới7 3.1.Khó khăn, hạn chế 7
3.2.Đề xuất kiến nghị 8
3.3.Giải pháp 9
3.4.Liên hệ thực tế 9
PHẦN KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Nêu lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế là xu hướng tất yếu đối với tất cả các quốc gia, kể cả Việt Nam Cùng với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là một xu thế khách quan Đây là một bước đi tất yếu, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Đặc biệt, Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Toàn cầu hóa kinh tế tạo
ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển” Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Nhận thức của Đảng và hội nhập quốc tế đã có một quá trình phát triển ngày một sâu sắc, toàn diện hơn Toàn bộ nội dung của Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế.Chính vì thế cá nhân em chọn :
Đề tài 2 “Phân tích tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam Trong giai đoạn hiện nay, Việt nam cần làm gì để hòa nhập mà không hòa tan vào kinh tế thế giới”.
2 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Hội nhập kinh tế với nền kinh tế toàn cầu và khu vực gần đây đã là xu hướng rõ rệt ở Việt Nam Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN năm 1995 và tham gia Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) năm 1998, đồng thời đàm phán tư cách thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việt Nam cũng đã ký một hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ vào năm 2000, và đã tham gia vào thỏa thuận thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN Hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới bắt đầu từ chính sách Đổi Mới vào cuối những năm 1980 và tiếp tục cho đến ngày nay Hội nhập kinh tế quốc tế là động lực chính cho sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt
Trang 4Nam.Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng và thu nhập trung bình đã tăng mạnh trong hai thập kỷ qua, nhưng trong tương lai nền kinh tế có thể phải đối mặt với nhiều thách thức hơn Trong hai thập kỷ qua, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp năng suất thấp sang chế biến sản xuất thâm dụng lao động
Đề tài nhằm hiểu rõ được những động lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, củng
cố sức mạnh tổng hợp quốc gia Việt Nam cần thúc đẩy mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, tận dụng nguồn vốn lớn, công nghệ, kiến thức, chuyển giao kinh nghiệm quản
lý và nhập khẩu các nguồn lực quan trọng để tạo thêm việc làm, các doanh nghiệp duy trì tăng trưởng bền vững đáng kể
3.Tính thời sự của vấn đề nghiên cứu
Trong đợt dịch covid 19 vừa trải qua, hội nhập kinh tế quốc tế là bước phát triển đột phá cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, là cơ sở cũng như là tiền đề để phát triển kinh tế vừa chống dịch hiệu quả Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội cho Việt Nam tiếp cận những thành tựu của khoa học và công nghệ trên thế giới, từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp trong nước vào môi trường cạnh tranh thực sự Doanh nghiệp Việt Nam
có cơ hội nhận được nhiều kinh nghiệm trong quản lý sản xuất hiện đại thông qua các dự
án liên doanh với các đối tác nước ngoài Nhiều công nghệ hiện đại, dây chuyền sản xuất tiên tiến được sử dụng để đưa ra những phát triển mới trong ngành sản xuất
Hội nhập kinh tế quốc tế buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh ở cả thị trường trong và ngoài nước Do đó, họ phải liên tục đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng quản lý, thúc đẩy các hoạt động tiếp thị và quản trị thương hiệu để tồn tại và phát triển
Trang 5PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : Lí luận khái quát chúng về hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay
1.1.Khái niệm
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và có nguồn gốc, bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa con người với con người Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải có mối liên kết chặt chẽ với nhau Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải liên kết với các quốc gia khác
Trong một thế giới hiện đại, sự phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế Đây chính là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế
Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX cho đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển vượt bậc các lĩnh vực của đời sống xã hội và xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất Quá trình xã hội hóa và phân công lao động
ở mức độ cao đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và được quốc tế hoá ngày một sâu sắc Sự quốc tế hoá như vậy thông qua việc hợp tác ngày càng sâu giữa các quốc gia
ở tầm song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu
Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế Hội nhập quốc tế cũng như các hình thức hợp tác quốc tế khác đều vì lợi ích quốc gia, dân tộc Các quốc gia tham gia quá trình này cơ bản vì lợi ích cho đất nước, vi sự phồn vinh của dân tộc mình Mặc khác, các quốc gia thực hiện hội nhập quốc tế cũng góp phần thúc đẩy thế giới tiến nhanh trên con đường văn minh, thịnh vượng
Nhìn tổng thể thì hội nhập quốc tế có ba cấp độ chính là: Hội nhập toàn cầu, khu vực và song phương Các phương thức hội nhập này được triển khai trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Cho đến nay, đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế được triển khai trên 3 lĩnh vực chính gồm: Hội nhập trong lĩnh vực kinh tế (hội nhập kinh tế quốc tế), hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn
Trang 6hóa - xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Các loại hình hội nhập kinh tế quốc tế
a Hợp tác kinh tế song phương
Hợp tác kinh tế song phương có thể tồn tại dưới dạng một thoả thuận, một hiệp định kinh tế, thương mại, đầu tư hay hiệp định tránh đánh thuế hai lần, các thoả thuận thương mại tự do (FTAs) song phương
Tại Việt Nam, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) được coi là cột mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi trong quá trình phát triển kinh tế đất nước Đại hội được ví là
“Đại hội của sự đổi mới” Đại hội nhấn mạnh đến việc mở rộng giao lưu quốc tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất nước Sau Đại hội, hàng chục hiệp định thương mại, đầu tư song phương đã được kí kết giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới
Ví dụ: Hiệp định về Thúc đẩy và bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa Việt Nam và Australia ngày 05/3/1991; Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư lẫn nhau ngày 30/10/1991; Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà Liên bang Nga về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư ngày 16/6/1994; Hiệp định Thương mại giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ngày 07/11/1991; Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư ngày 02/12/1992
b Hội nhập kinh tế khu vực
Xu hướng khu vực hóa xuất hiện từ khoảng những năm 50 của thế kỉ XX và phát triển cho đến ngày nay Hội nhập kinh tế khu vực phân thành các cấp độ từ thấp đến cao: Khu vực Mậu dịch tự do (FTA), Liên minh Hải quan (CU), Thị trường chung (CM), Liên minh Kinh tế và tiền tệ (EMU)
Trang 7Chương 2 : Phân tích tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam
2.1.Phân tích tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Đại hội IX năm 2001, văn kiện của Đảng chỉ nói đến “quốc tế hóa”, chưa đề cập tới
“toàn cầu hóa” Từ Đại hội IX của Đảng, Việt Nam đề cập đến “toàn cầu hóa kinh tế” Khi đó, Báo cáo chính trị Đại hội IX nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”
Đại hội X của Đảng, Việt Nam nhấn mạnh tới “toàn cầu hóa kinh tế” Đến Đại hội XI của Đảng (năm 2011), Việt Nam chuyển từ nhận thức về “toàn cầu hóa kinh tế” sang nhận thức về “toàn cầu hóa” Báo cáo chính trị Đại hội XI nhận định: “Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức”
Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục khẳng định: “Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh”.Vừa rồi Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) nhấn mạnh: “Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc ”
Điều đáng chú ý là tiến trình toàn cầu hóa không diễn ra một cách tuyến tính, mà có những bước nhảy vọt, gắn với các cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất xã hội loài người Có thể khẳng định rằng, trong thời gian tới, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) bùng nổ, nhất định sẽ có bước nhảy vọt mới trong tiến trình toàn cầu hóa, toàn cầu hóa hoàn toàn không chững lại
2.2 Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế
Mở cửa thị trường cho nhau, thực hiện thuận lợi hóa, tự dó hóa thương mại và đầu tư.Về thương mại hàng hóa: Các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như Quota, giấy phép xuất khẩu…, biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành và giảm dần theo lịch
Trang 8trình thỏa thuận.Về thương mại dịch vụ, các nước mở cửa thị trường cho nhau với cả bốn phương thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông qua liên doanh, hiện diện.Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài yêu cầu
về tỉ lệ nội địa hóa, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tê, khuyên khích tự do hóa đầu tư
Thông qua hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam đã tiếp thu được khoa học, công nghệ mới và cách quản lý tiên tiến trên nhiều lĩnh vực, qua đó góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Nhờ tranh thủ được các nguồn vốn đầu tư và viện trợ quốc tế, nhiều lĩnh vực
hạ tầng như Bưu chính viễn thông, Công nghệ thông tin, Giao thông vận tải… đã phát triển đáng kể, tạo tiền đề và cơ sở quan trọng, đáp ứng yêu cầu, tạo thuận lợi cho hội nhập ở tất cả các lĩnh vực khác Việc hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế đã kích thích sự thay đổi tích cực hơn của cơ cấu xuất khẩu, chuyển dần từ sản phẩm thô sang công nghiệp chế biến và sản phẩm có hàm lượng công nghệ, giá trị tăng cao hơn, thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững, tạo điều kiện cho nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận các yếu tố đầu vào như vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý…, thay đổi tư duy sản xuất, làm ăn mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh
2.3.Tác động
Tác động mạnh đến sự tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trường trong một số lĩnh vực cụ thể như: công nghiệp, thương mại, các ngành dịch vụ…; thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, theo đó tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo có giá trị
và hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn; thúc đẩy thương mại, tăng thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và mở rộng quan hệ hợp tác phát triển (ODA)
Góp phần "lan tỏa" tích cực trong nền kinh tế, nhất là tạo thêm việc làm, các ngành có tốc độ tăng việc làm cao nhất cũng là những ngành mở cửa nhanh hơn hoặc những ngành
áp dụng công nghệ mới để cạnh tranh, tạo tài sản sản xuất và hạ tầng như công nghệ chế
Trang 9tạo, xây dựng, tài chính ngân hàng, khoa học công nghệ; tác động tích cực tới tiền lương
và thu nhập của mọi tầng lớp cư dân, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh (quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm)
Tiếp thu được khoa học-công nghệ mới và kỹ năng quản lý tiên tiến trên nhiều lĩnh vực: Công nghiệp, nông nghiệp, kỹ thuật, văn hóa-xã hội… góp phần đào tạo cho Việt Nam có được đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ và năng lực cả về chuyên môn lẫn quản lý Góp phần hoàn thiện thể chế trong nước trên góc độ: pháp luật và tổ chức bộ máy, cùng với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hoàn thiện môi trường kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế nước ta trong dài hạn, tạo ra môi trường kinh doanh ngày càng bình đẳng, minh bạch, dễ dự đoán hơn và ngày càng phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất khu vực, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực, tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn
Chương 3: Việt Nam cần làm gì để hòa nhập mà không hòa tan vào kinh tế thế giới
3.1.Khó khăn, hạn chế
Tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhưng chưa thực sự vững chắc, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả xuất khẩu còn thấp, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tuy đã chuyển dịch mạnh sang hàng chế biến, chế tạo, nhưng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nhập siêu vẫn là nguy cơ, còn không ít bất cập trong cơ cấu nhập khẩu Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung còn thấp, chịu sức cạnh tranh lớn từ doanh nghiệp nước ngoài, dẫn đến một số ngành trong nước bị ảnh hưởng do tác động của việc mở cửa thị trường, nhập khẩu tăng mạnh, song thu ngân sách từ thuế nhập khẩu bị giảm,… Năng suất lao động tăng chậm, thu hút đầu tư vẫn dựa vào lợi thế nhân công và chi phí mặt bằng rẻ, chi phí năng lượng
Trang 10thấp đã ảnh hướng nhiều đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như của doanh nghiệp, sản phẩm
Khả năng tích lũy vốn nhân lực và tiến bộ công nghệ của Việt Nam còn rất khiêm tốn, biểu hiện ở mức năng suất lao động thấp và trình độ công nghệ của đa số doanh nghiệp còn khá lạc hậu
Các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ trong các lĩnh vực chưa được triển khai đồng bộ, nhịp nhàng trong một chiến lược tổng thế Chất lượng nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng chậm được cải thiện Năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, doanh nhân chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập
3.2.Đề xuất kiến nghị
Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh Các quốc gia tham gia ngày càng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu Xuất hiện nhiều hình thức liên kết kinh tế mới, các định chế tài chính quốc tế, khu vực, các hiệp định song phương, đa phương thế hệ mới Trong khi đó, Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn rất nhiều so với giai đoạn trước
Trong giai đoạn vừa qua, thực hiện chủ trương của Đảng và chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ Công Thương đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế; tiến hành nghiên cứu, đàm phán và ký kết nhiều thỏa thuận kinh tế thương mại quốc tế
Trong giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích cực hơn nữa trong việc tận dụng các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, vuợt qua các khó khăn thách thức, giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình hội nhập
3.3.Giải pháp
Cần quán triệt chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trong từng giai đoạn về hội nhập quốc tế, xác định vai trò trọng tâm của hội nhập kinh tế quốc tế trong tiến trình hội nhập trong quan điểm, nhận thức và hành động