Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hóa– tiền tệ, kinh tế thị trường, những diễn biến phức tạp của cục diện chính trị thế giới, cũngnhư cách tiếp cận của Chính phủ các nước trong
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ (4 TIẾT)
1.1 Sự hình thành và phát triển của tài chính quốc tế
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, Tài chính quốc tế (TCQT) đã ra đời
và phát triển từ hình thức đơn giản đến những hình thức phức tạp, đa dạng gắn liền vớinhững điều kiện khách quan của sự phát triển xã hội của mỗi quốc gia và của đời sốngquốc tế trên cả khía cạnh kinh tế và khía cạnh chính trị
Những hình thức sơ khai của quan hệ Tài chính quốc tế như việc trao đổi, buônbán hàng hóa giữa các quốc gia, cống nộp vàng bạc, châu báu giữa nước này với nướckhác đã xuất hiện từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ gắn liền với Nhà nước chủ nô Cùng với sựphát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế, thuế xuất khẩu, nhập khẩu đã ra đời để điềuchỉnh các quan hệ buôn bán giữa các quốc gia và tín dụng quốc tế đã xuất hiện do có cácquan hệ vay nợ giữa các nước Vào cuối thời kỳ phong kiến, tín dụng quốc tế đã có bướcphát triển mạnh mẽ và đã trở thành một trong những đòn bẩy mạnh mẽ nhất của tích lũynguyên thủy Tư bản
Với sự xuất hiện của Chủ nghĩa tư bản, những hình thức cổ truyền của quan hệ Tàichính quốc tế như thuế xuất nhập khẩu, tín dụng quốc tế vẫ tiếp tục tồn tại và ngày càngphát triển đa dạng thích ứng với những bước phát triển mới của các quan hệ kinh tế quốc
tế và thái độ chính trị của các Nhà nước Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hóa– tiền tệ, kinh tế thị trường, những diễn biến phức tạp của cục diện chính trị thế giới, cũngnhư cách tiếp cận của Chính phủ các nước trong quan hệ quốc tế, bên cạnh những hìnhthức cổ truyền, đã xuất hiện những hình thức mới của quan hệ Tài chính quốc tế như đầu
tư quốc tế trực tiếp, đầu tư quốc tế gián tiếp với các loại hình hoạt động đa dạng, viện trợquốc tế không hoàn lại, hợp tác quốc tế về tài chính – tiền tệ thông qua việc thiết lập các
tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế…
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, Việt Nam đã có các quan hệ kinh tế –tài chính quốc tế với các quốc gia láng giềng trong khu vực và với một số quốc gia khácnhư Lào, Trung Quốc, Nhật Bản, Campuchia, Malaysia, Indonesia, Pháp, Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha…Tuy nhiên, những quan hệ đó không mang tính thường xuyên, tích cực vàchủ động Sau khi miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phòng (1955), Việt Nam đã có cácquan hệ kinh tế tài chính với các nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN) và các tổ chức kinh tế
Xã hội chủ nghĩa như Hội đồng tương trợ kinh tế, ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế,ngân hàng đầu tư quốc tế…)
Sau khi hoàn toàn thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam đã chủ động mở rộngquan hệ hợp tác kinh tế với tất cả các quốc gia Tư bản chủ nghĩa (TBCN), dân tộc chủ
Trang 2nghĩa, các tổ chức quốc tế trong và ngoài Liên hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ…,đặc biệt là với các nước trong khu vực Đông Nam Á Chính việc mở rộng và đa dạng hóacác quan hệ kinh tế quốc tế theo xu hướng hội nhập, khu vực hóa, toàn cầu hóa đã làmcho các quan hệ Tài chính quốc tế của Việt Nam phát triển đa dạng, phong phú và phứctạp hơn Từ chỗ các quan hệ tài chính quốc tế chủ yếu là nhận viện trợ không hoàn lại,vay vốn quốc tế với lãi suất ưu đãi…chuyển dần sang các quan hệ Tài chính quốc tế độclập, bình đẳng nảy sinh trong lĩnh vực hợp tác sản xuất – kinh doanh, thương mại, đầutư…mà Việt Nam là một bên tham gia; từ chỗ chủ yếu là quan hệ với các nước Xã hộichủ nghĩa tới chỗ quan hệ với tất cả các quốc gia trên thế giới trên cơ sở quan điểm đốitác kinh tế cùng có lợi.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia ngày càng sâu rộng, vớiviệc là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), Việt Nam đã mởrộng các quan hệ Tài chính quốc tế phải phù hợp với điều kiện cụ thể và đảm bảo thực hiệncác nguyên tắc của Nhà nước Việt Nam để có thể vừa phù hợp với các thông lệ quốc tế,vừa củng cố chế độ chính trị và giữ gìn các giá trị truyền thống của quốc gia Vì lẽ đó,trong quá trình thực hiện các quan hệ Tài chính quốc tế cần quán triệt các nguyên tắc cơbản là: Tự nguyện, Bình đẳng, Tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau và đôi bên cùng cólợi Các nguyên tắc này không những chỉ quán triệt trong việc hoạch định chính sách hộinhập kinh tế – tài chính quốc tế, trong xây dựng chiến lược, sách lược, cơ sở pháp lý chocác hoạt động Tài chính quốc tế, mà còn rất cần được quán triệt trong từng hoạt động Tàichính quốc tế cụ thể nhằm đảm bảo các lợi ích kinh tế – chính trị và chủ quyền quốc gia
1.2 Khái niệm, đặc điểm tài chính quốc tế
1.2.1 Khái niệm tài chính quốc tế
Tài chính quốc tế là một lĩnh vực vô cùng rộng lớn, hoạt động rất phức tạp với cáchình thức, các chủ thể đa dạng, liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau trên phạm vi khuvực hoặc toàn cầu Tài chính quốc tế chính là sự di chuyển giữa các dòng tiền vốn giữa cácquốc gia; trong phạm vi quốc gia và được biểu hiện bằng các hình thức hoạt động thu - chibằng tiền, các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ ngoại tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội củamỗi nước Trong đó, các hoạt động thu - chi bằng tiền, tạo lập và sử dụng quỹ ngoại tệchính là kết quả tất yếu của các quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực khác nhau của các chủthể bên trong và ngoài quốc gia
Hiện nay, có các quan điểm chủ yếu về về Tài chính quốc tế như sau:
Quan điểm thứ nhất, theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia.org) thì "Tài chính
quốc tế (International Finance) là một chuyên ngành hẹp thuộc chuyên ngành Kinh tế
Trang 3quốc tế Tài chính quốc tế chuyên nghiên cứu về tỷ giá hối đoái, đầu tư quốc tế, các địnhchế tài chính quốc tế" (như các tổ chức tài chính quốc tế, các công ty đa quốc gia )
Quan điểm thứ hai, xét trên góc độ quốc gia: Tài chính quốc tế bao gồm hoạt động
tài chính đối nội và đối ngoại, hoạt động tài chính thuần tuý giữa các quốc gia với nhau.Hoạt động tài chính thuần tuý lại bao gồm hoạt động tài chính của các công ty đa quốcgia (MNC - Multinational Corporation hoặc MNE - Multinational Enterprises) và các tổchức tài chính quốc tế (IFO - International Financial Organizations) Thực vậy: Đứng trêngóc độ từng quốc gia để nhìn nhận thì hoạt động tài chính gồm có: Hoạt động tài chínhđối nội (nội địa), hoạt động tài chính đối ngoại và hoạt động tài chính thuần túy giữa cácquốc gia Hoạt động tài chính thuần túy giữa các quốc gia (hay còn gọi là hoạt động tàichính quốc tế thuần túy) lại bao gồm hoạt động tài chính của các Công ty đa quốc gia vàhoạt động tài chính của các tổ chức quốc tế Theo cách nhìn nhận này, thì hoạt động tàichính quốc tế được quan niệm bao gồm hoạt động tài chính đối ngoại và hoạt động tàichính quốc tế thuần túy Quan niệm này thường được sử dụng ở các quốc gia đang pháttriển, mức độ hội nhập còn hạn chế
Quan điểm thứ ba, xét trên góc độ toàn cầu: Quan điểm này cho rằng, hoạt độngtài chính bao gồm: hoạt động tài chính đối nội và hoạt động tài chính đối ngoại, do đó,Tài chính quốc tế chỉ bao gồm các hoạt động tài chính thuần tuý tức là hoạt động tàichính của các công ty đa quốc gia (MNC) và các tổ chức tài chính quốc tế (IFO), chỉnhững hoạt động tài chính mang phạm vi toàn cầu mới là Tài chính quốc tế Quan điểmnày thường được sử dụng ở các nước có nền kinh tế phát triển, mức độ mở cửa hội nhậpcao Đứng trên góc độ toàn cầu để nhìn nhận thì hoạt động Tài chính quốc tế được quanniệm chỉ bao gồm các hoạt động Tài chính quốc tế thuần túy, bởi vì hoạt động tài chínhcủa mỗi quốc gia đã bao gồm hoạt động tài chính đối nội và hoạt động tài chính đốingoại; chỉ những hoạt động tài chính chung trên phạm vi toàn cầu mới là Tài chính quốc
tế Quan niệm này thường được sử dụng ở các quốc gia phát triển, mức độ mở cửa hộinhập cao
Để làm rõ hơn về Tài chính quốc tế nhằm giúp người đọc có một cách nhìn tổngquan nhất về hệ thống tài chính quốc tế hiện nay, dựa trên việc kết hợp phạm vi hoạtđộng của các hoạt động tài chính quốc tế theo ba quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm
về Tài chính quốc tế như sau:
Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra giữa các quốc gia Đó là sự di chuyển của các dòng tiền vốn giữa các quốc gia, gắn liền với các quan hệ quốc tế giữa các chủ thể trong nước và ngoài nước, nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể đó khi
Trang 4thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế Tài chính quốc tế chuyên nghiên cứu về tỷ giá hối đoái, các hình thức thanh toán và đầu tư quốc tế, các thể chế, các tổ chức, các tập đoàn tài chính quốc tế".
Đứng trên giác độ một quốc gia, Tài chính quốc tế được hiểu là sự vận động củacác luồng tiền tệ giữa các quốc gia Có nghĩa là các hoạt động tài chính diễn ra giữa mộtbên là các chủ thể của các quốc gia khác hoặc các tổ chức tài chính quốc tế Trong mỗimột quốc gia, hoạt động tài chính quốc tế là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt độngtài chính của quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế và các chính sách của quốcgia đó trong quan hệ với cộng đồng quốc tế
Lịch sử phát triển của mọi quốc gia độc lập đều khẳng định một xu thế tất yếu là đểtồn tại và phát triển, mỗi quốc gia cần phải mở cửa tiến hành và ngày càng đẩy mạnh quan
hệ hợp tác quốc tế Ngày nay, với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của phân công laođộng, không chỉ trong phạm vi từng quốc gia mà trên phạm vi toàn thế giới, nền kinh tế thếgiới được xem như một chỉnh thể; trong đó, nền kinh tế của mỗi quốc gia như các bộ phậncấu thành có quan hệ khăng khít với nhau, phụ thuộc lẫn nhau và do đó phải hợp tác vớinhau để cùng tồn tại và phát triển
1.2.2 Đặc điểm của tài chính quốc tế
Các quan hệ Tài chính quốc tế là một bộ phận trong tổng thể các quan hệ tài chính,
vì vậy nó cũng mang các đặc điểm chung của các quan hệ tài chính là:
Các quan hệ nảy sinh trong phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị phân phối các nguồn tài chính
- Gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Các quan hệ tài chính nảy sinh trong cả phân phối lần đầu và phân phối lại.Ngoài ra, Tài chính quốc tế còn có những đặc điểm riêng phụ thuộc vào các vấn đềsau:
1.2.2.1 Sự chi phối của các yếu tố chính trị trong lĩnh vực Tài chính quốc tế
Trong phạm vi quốc gia, Tài chính quốc tế là một bộ phận trong tổng thể các hoạtđộng tài chính của quốc gia Do đó, các hoạt động Tài chính quốc tế phải gắn liền vànhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – chính trị – xã hội của Nhà nước
Trên bình diện quốc tế, hoạt động Tài chính quốc tế của các chủ thể của một quốcgia được tiến hành trong quan hệ với các chủ thể của một quốc gia khác hoặc các tổ chức
Trang 5quốc tế; do đó, nó cũng chịu sự ràng buộc bởi chính sách của các quốc gia khác, bởi cácthông lệ mang tính quốc tế hoặc qui định của các tổ chức mà chủ thể đó có quan hệ.
Do vậy, trong hoạt động Tài chính quốc tế các chủ thể của một quốc gia khôngnhững cần nắm vững các chính sách kinh tế, pháp luật của quốc gia mà còn phải thônghiểu chính sách, pháp luật của các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác có quan hệ
1.2.2.2 Phạm vi, môi trường hoạt động của các nguồn tài chính trong lĩnh vực Tài chính quốc tế
Diễn ra trên phạm vi rộng lớn, giữa các quốc gia, có rất nhiều chủ thể tham gia,nhiều đồng tiền của các quốc gia khác nhau, bị chi phối trực tiếp bởi nhiều nhân tố như;Tình hình chính trị, Luật pháp, trình độ phát triển kinh tế, chính sách tài khóa của cácquốc gia Do vậy, Tài chính quốc tế có những đặc điểm sau:
- Rủi ro chính trị: Rủi ro này rất đa dạng, bao gồm những sự thay đổi ngoài dự
kiến các quy định về thuế nhập khẩu, hạn ngạch, về chế độ quản lý ngoại hối hoặc là mộtchính sách trưng thu hay tịch biên các tài sản trong nước do người nước ngoài nắm giữ…Loại rủi ro này bắt nguồn từ những biến động về chính trị – xã hội của các quốc gia như
sự thay đổi thể chế, những cuộc cải cách…từ đó Chính phủ các nước có thể thay đổi cácchính sách quản lý kinh tế của quốc gia mình; hoặc chiến tranh, xung đột sắc tộc… vàcác chủ thể nước ngoài phải gánh chịu rủi ro bất khả kháng
- Rủi ro tỷ giá hối đoái: Do tác động của nhiều nhân tố khác nhau mà tỷ giá hối đoái
luôn có sự biến động và có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của các chủ thể tham gia các quan
hệ Tài chính quốc tế trong các lĩnh vực ngoại thương, đầu tư, tín dụng, thanh toán, cán cânthanh toán….Ví dụ: Đối với một quốc gia, tỷ giá hối đoái tăng cao (đồng bản tệ giảm giá)
có tác dụng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Ngược lại, một tỷ giá hối đoáithấp (đồng bản tệ tăng giá) lại có tác dụng khuyến khích nhập khẩu, nhưng lại hạn chế xuấtnhập khẩu Trong lĩnh vực Tài chính quốc tế, các vấnn đề về cơ chế xác lập tỷ giá giữa cácđồng tiền, những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá và sự tác động trở lại của tỷ giá đến cán cânxuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế, đến tình hình tài chính của các tổ chức ngoạithương, các nhà đầu tư, các ngân hàng…là vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu
1.2.2.3 Xu hướng phát triển của toàn cầu hóa đối với lĩnh vực Tài chính quốc tế
Hiện nay, nền kinh tế thế giới hiện nay đã mang tính toàn cầu hóa và thống nhấtcao độ Điều đó đã và đang là nhân tố ảnh hưởng có tính chất quyết định cho sự phát triểnTài chính quốc tế Do vây: Tài chính quốc tế bao gồm thêm những đặc điểm sau:
Trang 6- Sự ra đời của các Công ty đa quốc gia (MNC/ MNE) với phạm vi và qui mô ngàycàng mở rộng của các tổ chức kinh tế, tài chính - tín dụng trong nước, khu vực và quốc tế
đã tạo điều kiện cho sự tăng cường hợp tác quốc tế về chính sách tài chính - tiền tệ củacác quốc gia với nhau Mặt khác, với sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty đa quốc gia(MNC/ MNE) vừa tạo ra nhu cầu, vừa là yếu tố quan trọng thúc đẩy các quan hệ Tàichính quốc tế phát triển
- Sự hình thành và hoạt động - Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của thị trườngvốn quốc tế đã tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư, các Chính phủ, các tổ chức Tài chínhquốc tế huy động vốn và đầu tư vốn dưới nhiều hình thức khác nhau, trên nhiều nướckhác nhau, bằng nhiều đồng tiền khác nhau làm cho các quan hệ Tài chính quốc tế vốn đã
đa dạng, phức tạp càng đa dạng, phức tạp hơn
- Sự hình thành và hoạt động với phạm vi và qui mô ngày càng mở rộng của các tổchức kinh tế, tài chính – tín dụng khu vực và quốc tế đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho
sự tăng cường hợp tác về tài chính – tiền tệ của các nước thành viên
Xu hướng phát triển mạnh mẽ của Tài chính quốc tế cả về bề rộng và cả về chiềusâu đó đòi hỏi các chủ thể tham gia vào quan hệ Tài chính quốc tế phải quan tâm và amhiểu nhiều vấn đề mà tài chính nội địa ít quan tâm như: Những hình thức đi vay và chovay vốn trên thị trường vốn quốc tế; Tính toán cơ hội đầu tư và các biện pháp quản lý sửdụng vốn trong đầu tư quốc tế Nghiên cứu các công cụ tài chính phát sinh để phòngngừa, hạn chế các rủi ro hối đoái có hiệu quả; Nắm vững chức năng cơ chế hoạt động củacác tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế để có được hiệu ích cao nhất trong quan hệ vớicác tổ chức này
1.3 Vai trò của tài chính quốc tế
1.3.1 Tài chính quốc tế là công cụ để phân phối lại các nguồn lực tài chính, công nghệ, kỹ thuật và lao động trên phạm vi toàn thế giới
Bằng việc mở rộng các quan hệ Tài chính quốc tế thông qua các hình thức thươngmại quốc tế, tín dụng quốc tế, viện trợ phát triển, đầu tư quốc tế và tham gia vào các thịtrường tài chính quốc tế , các quốc gia có thể tận dụng tiềm lực tài chính của nước ngoài
và các tổ chức quốc tế cùng với nó là công nghệ, kỹ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản
lý tiên tiến
1.3.2 Tài chính quốc tế là công cụ quan trọng khai thác các nguồn lực ngoài nước phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong nước
Trang 7Thông qua các hoạt động Tài chính quốc tế, các nguồn tài chính, công nghệ, kỹthuật, lao động…được phân phối lại trên phạm vi thế giới Mỗi quốc gia phải cân nhắc để
có thể khai thác sử dụng nguồn lực của các quốc gia khác và sử dụng nguồn lực của mình
để tham gia hợp tác quốc tế một cách có hiệu quả Đặc biệt, đối với các quốc gia nghèo
và chậm phát triển thì vấn đề tranh thủ nguồn vốn ngoài càng cần phải coi trọng Bằngviệc mở rộng quan hệ tài chính quốc tế thông qua các hình thức: vay nợ quốc tế, viện trợquốc tế, đầu tư quốc tế, tham gia vào thị trường vốn quốc tế…các quốc gia có thể tậndụng tốt nguồn lực tài chính nước ngoài và các tổ chức quốc tế; cùng với nó là côngnghệ, kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến
1.3.3 Tài chính quốc tế là cầu nối tài chính giữa các quốc gia, tạo điều kiện để các quốc gia được bình đẳng, hoà nhập vào nền kinh tế toàn cầu
Việc mở rộng các hình thức tín dụng quốc tế, đầu tư quốc tế, tham gia các thịtrường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái quốc tế, mở rộng thương mại và dịch vụquốc tế… vừa góp phần phát triển kinh tế trong nước vừa thúc đẩy hoàn thiện chính sách
và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế theo các yêu cầu của các tổ chức quốc tế và khuvực Đối với các tổ chức kinh tế – tài chính khu vực và quốc tế, nguyên tắc quan trọnghàng đầu là đối xử bình đẳng với mọi đối tác thành viên
1.3.4 Tài chính quốc tế thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Tài chính quốc tế vừa là yếu tố tiền đề, vừa là yếu tố có tác động thúc đẩy cácquốc gia nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới Theo qui chế tối huệ quốc và qui chếđãi ngộ quốc gia của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nguyên tắc quan trọng hàngđầu là đối xử bình đẳng giữa các thành viên với nhau Điều đó đòi hỏi hệ thống pháp lýphải được điều chỉnh theo thông lệ quốc tế và phải tương đối ổn định Đây là một côngviệc khó khăn, phức tạp, đặc biệt đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
1.3.5 Tài chính quốc tế thúc đẩy sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính của các quốc gia
Do sự dịch chuyển của các dòng vốn giữa các quốc gia ngày càng dễ dàng vàmạnh mẽ, nên chu chuyển vốn quốc tế ngày càng nhanh hơn, tạo điều kiện cho các công
ty đa quốc gia, các tổ chức tài chính quốc tế, các định chế tài chính trung gian khai thác
và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, từ đó có thể hạn chế những rủi ro trong các mối quan
hệ Tài chính quốc tế và đầu tư quốc tế ngày càng phát triển
Trang 8Sự mở rộng và phát triển của Tài chính quốc tế cho phép các nguồn tài chính cókhả năng lưu chuyển dễ dàng, thuận lợi và mạnh mẽ giữa các quốc gia đã tạo điều kiệncho các chủ thể ở mỗi quốc gia có cơ hội giải quyết những khó khăn tạm thời về nguồntài chính và nâng cao hiệu quả của các nguồn lực tài chính được đưa vào sử dụng cả trên
vị trí nhà đầu tư hay người cần vốn
1.4 Nội dung của tài chính quốc tế
Nội dung của Tài chính quốc tế (các quan hệ Tài chính quốc tế) có thể phân loạitheo các tiêu chí sau đây:
1.4.1 Theo các quan hệ tiền tệ, nội dung của Tài chính quốc tế bao gồm
- Các quan hệ thanh toán quốc tế: Chủ thể tham gia thanh toán trong các quan hệ
thanh toán quốc tế là các ngân hàng thương mại, các tổ chức, cá nhân, Chính phủ ở cácnước…đối với các lĩnh vực về thương mại quốc tế, hợp tác quốc tế về văn hóa – xã hội,hợp tác lao động quốc tế, du lịch quốc tế…các hoạt động hợp tác quốc tế về chính trị,ngoại giao… Vì vậy các quan hệ thanh toán quốc tế bao gồm các hình thức thanh toán cụthể sau:
Thanh toán về thương mại quốc tế
Thanh toán hợp tác quốc tế về văn hóa – xã hội, hợp tác lao động quốc tế, du lịchquốc tế…
Thanh toán đối với các hoạt động hợp tác quốc tế về chính trị, ngoại giao…
- Viện trợ quốc tế không hoàn lại: Chủ thể nhận viện trợ có thể là Chính phủ, tổ
chức kinh tế – xã hội hoặc địa phương Chủ thể cho viện trợ là Chính phủ, các tổ chứcquốc tế, các tổ chức phi Chính phủ Viện trợ không hoàn lại là hình thức đầu tư quốc tếgián tiếp Gồm các hình thức
Viện trợ song phương:
Viện trợ đa phương (Nguồn tài chính do các nước đóng góp: loại quỹ chung.Hoặc của một số nước viện trợ: quĩ ủy thác)
Viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ (N.G.O)
- Tín dụng quốc tế: Là một hình thức của đầu tư quốc tế gián tiếp Chủ thể có
nguồn tài chính đầu tư dưới dạng cho vay vốn và thu lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay
đã được hai bên thỏa thuận trong các Hiệp định hay khế ước vay vốn
Trang 9Chủ thể tham gia có thể là tất cả các chủ thể kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia vàcác tổ chức quốc tế, chủ yếu là các tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế Tín dụng Nhànước quốc tế là hình thức mà trong đó Nhà nước là một bên của quan hệ tín dụng.
- Đầu tư chứng khoán quốc tế: Là một hình thức đầu tư quốc tế gián tiếp Các chủ
thể có nguồn tài chính đầu tư dưới hình thức mua chứng khoán trên thị trường tiền tệ, thịtrường trái phiếu, thị trường cổ phiếu quốc tế để hưởng lợi tức nhưng không tham giađiều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Các chủ thể tham gia có thể là mọi chủ thểkinh tế – xã hội…
- Đầu tư quốc tế trực tiếp (FDI): Là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư ở một nước
bỏ toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư vào một quốc gia khác để nắm một phần haytoàn bộ một doanh nghiệp ở quốc gia đó Có rất nhiều các hình thức đầu tư trực tiếp khácnhau Chủ thể tham gia có thể là mọi tổ chức kinh tế, cá nhân công dân của các quốc gia
1.4.2 Theo các quĩ tiền tệ, nội dung của Tài chính quốc tế bao gồm
- Các quĩ tiền tệ trực thuộc các chủ thể của từng quốc gia: Là các quĩ tài chính của
các cá nhân, các tổ chức kinh tế, Chính phủ các nước tham gia vào các hoạt động kinh tếquốc tế
- Các quĩ tiền tệ thuộc các chủ thể khu vực: Là các quĩ tài chính của các tổ chức
kinh tế – tài chính khu vực như ADB, AfDB…
- Các quĩ tiền tệ thuộc các tổ chức quốc tế toàn cầu: Là các quĩ tài chính của các
tổ chức quốc tế toàn cầu như Liên hợp quốc , ngân hàng thế giới, ngân hàng thanh toánquốc tế…
- Các quĩ tài chính của các Công ty xuyên quốc gia (MNC/ MNE).
1.4.3 Theo các chủ thể tham gia hoạt động Tài chính quốc tế, nội dung của Tài chính quốc tế bao gồm
- Hoạt động Tài chính quốc tế của các tổ chức kinh tế: Các tổ chức kinh tế của
một quốc gia tham gia hoạt động Tài chính quốc tế dưới hình thức đầu tư quốc tế (cả trựctiếp và gián tiếp) và thương mại quốc tế
- Hoạt động Tài chính quốc tế của các ngân hàng thương mại: Các ngân hành
thương mại tham gia hoạt động Tài chính quốc tế với các nghiệp vụ chủ yếu:
Tín dụng quốc tế
Đầu tư quốc tế (trực tiếp và gián tiếp)
Trang 10 Các hoạt động tài chính quốc tế khác như: dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, ủythác, tư vấn, bảo lãnh…
- Hoạt động Tài chính quốc tế của các Công ty kinh doanh bảo hiểm:
Thu phí Bảo hiểm, chi bồi thường, chi đề phòng tổn thất đối với các nghiệp vụBảo hiểm quốc tế: Bảo hiểm hàng hải quốc tế, Bảo hiểm hàng không quốc tế, tái Bảohiểm quốc tế…
Đầu tư tài chính quốc tế trực tiếp và gián tiếp và các nghiệp vụ khác…
- Hoạt động Tài chính quốc tế của các Công ty chứng khoán:
Môi giới chứng khoán quốc tế
Mua và bán chứng khoán (đầu tư chứng khoán) trên thị trường tài chính quốc tế
Bảo lãnh phát hành chứng khoán quốc tế
Tư vấn đầu tư chứng khoán quốc tế và các nghiệp vụ khác
- Hoạt động Tài chính quốc tế của các tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế:
Các tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế là các hình thức tổ chức hợp tác kinh tếquốc tế do các nước cùng quan tâm lập ra trên cơ sở các hiệp định được ký kết trong lĩnhvực tài chính – tiền tệ – tín dụng Tiêu biểu là IMF, WB, ADB, IBS… Chức năng chủ yếucủa các tổ chức này là phối hợp hoạt động của các nước thành viên trong lĩnh vực tàichính – tiền tệ – tín dụng Đồng thời, các tổ chức này cũng sử dụng các nguồn vốn chung
để tài trợ cho các nước thành viên, chủ yếu là dưới hình thức cho vay
- Hoạt động Tài chính quốc tế của Nhà nước:
Viện trợ quốc tế không hoàn lại: Trong hoạt động này, Nhà nước có thể là ngườinhận hoặc người cấp viện trợ không hoàn lại với các Nhà nước khác hoặc các tổ chứcquốc tế
Tín dụng Nhà nước quốc tế (Vay ODA, phát hành trái phiếu quốc tế, vay thươngmại quốc tế hoặc cho vay bằng vốn ngân sáh Nhà nước (NSNN)
Thu thuế quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới nước chủ nhà
1.4.4 Theo góc độ kinh tế vĩ mô, nội dung của Tài chính quốc tế bao gồm
- Tỷ giá hối đoái và các vấn đề về các chế độ tỷ giá, cơ chế xác định tỷ giá và các nhân tố quyết định tỷ giá, chính sách tỷ giá của Chính phủ các nước.
Trang 11 Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá( Tỷ giá hối đoái) là giá cả của một đồng tiền được biểu
thị thông qua một đồng tiền khác.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình.Thương mại, đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải thanhtoán với nhau Thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc trao đổi các đồng tiền khácnhau, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia Hai đồng tiền được trao đổi với theo một tỷ lệnhất định, tỷ lệ này được gọi là tỷ giá
Chế độ tỷ giá: Chế độ tỷ giá hối đoái, nó bao gồm những quy tắc xác địnhphương thức mua bán ngoại hối đối với các thể nhân và pháp nhân là người cư trú vàkhông cư trú
Những quốc gia độc lập bao giờ cũng thiết lập một khung pháp lý dành cho cácgiao dịch tài chính quốc tế của riêng mình
- Cán cân thanh toán quốc tế với các vấn đề về lý thuyết, chính sách, các nhân tố ảnh hưởng, nội dung và vai trò của cán cân thanh toán quốc tế.
Cán cân thanh toán quốc tế (BOP) là: một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệthống, ghi chép lại tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trútrong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm
Các chỉ tiêu phản ánh Cán cân thanh toán quốc tế cho biết có bao nhiêu hàng hoá
và dịch vụ mà một quốc gia đã xuất khẩu và nhập khẩu và quốc gia này hiện đang là con
nợ hay chủ nợ đối với phần thế giới còn lại Ngoài ra, Cán cân thanh toán quốc tế còncho biết dự trữ ngoại hối của NHTW đã tăng lên hay giảm xuống trong kỳ báo cáo là nhưthế nào
- Hệ thống tiền tệ quốc tế và các thị trường tiền tệ quốc gia chủ yếu.
Trước đây, hệ thống tiền tệ thế giới chủ yếu được hình thành tự phát trên cơ sở chế
độ bản vị vàng, có nghĩa là các quốc gia đều chấp nhận vàng làm công cụ trung giantrong trao đổi thanh toán quốc tế Trong thế kỷ XX đã chứng kiến sự xuất hiện, tồn tạii vàsuy vong của một số hệ thống tiền tệ quốc tế Đó là:
Chế độ bản vị bảng Anh (1922-1929)
Chế độ bản vị dollar Mỹ (1944-1971)
Chế độ Rúp chuyển nhượng của SEV (1964-1991)
Hệ thống tiền tệ của Châu Âu
Trang 12 Hệ thống tiền tệ toàn cầu
- Nợ nước ngoài.
Cùng với việc huy động nguồn vốn trong nước, việc vay nợ nước ngoài là mộtphương thức, một biện pháp quan trọng của tín dụng Nhà nước đặc biệt đối với các nướcđang phát triển và các nước nghèo
Các hình thức vay nợ nước ngoài bao gồm;
Vay nợ nước ngoài dưới hình thức hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Vay nợ nước ngoài dưới hình thức phát hành trái phiếu quốc tế
Vay thương mại nước ngoài
1.4.5 Theo góc độ góc độ thị trường, nội dung của Tài chính quốc tế bao gồm
Đứng trên góc độ thị trường, vấn đề quản trị tài chính vi mô đối với Tài chínhquốc tế bao gồm những nội dung cụ thể sau:
- Đánh giá và quả trị rủi ra quốc tế: Có nhiều loại rủi ro khác nhau, lạm phát có
thể gây ra tình trạng giảm giá tài sản hiện tại Trước khi phân tích những công cụ và một
số kỹ thuật đơn giản được dùng trong quản trị rủi ra quốc tế, điều cần thiết ở đây là phảibiết các nội dung thường được sử dụng và tuân theo trong quá trình quản lý này
Các nội dung trong quản trị rủi ra quốc tế:
Quản trị các rủi ro trong giao dịch: Các rủi ro trong giao dịch thường liên quanđến các khoản phải thu, phải trả bằng đơn vị tiền nước ngoài Để hạn chế rủi ro loại này,thường sử dụng nghiệp vụ tự bảo hiểm kỳ hạn, hoặc thông qua thị trường tiền tệ, tíndụng, nghiệp vụ chọn phương thức thanh toán, nghiệp vụ khấu trừ tổn thất, nghiệp vụđiều chỉnh giá
Quản trị rủi ro tài chính trong chuyển đổi: Do tỷ giá biến động và kể cả lạm phát,việc chuyển các giá trị tài sản tài chính của công ty con theo hình thức song phương, đaphương ở những thời điểm khác nhau có thể khác nhau, gây ra loại rủi ro chuyển đổi
Quản trị rủi ro trong đầu tư: bao hàm các loại quản trị giá tài sản hiện tại, giá cổphiếu, trái phiếu, lãi suất, tỷ giá, giá trị vốn cổ phần Trong đó, quản trị rủi ro về tỷ giá làquan trọng nhất, bởi nó tác động đến tất cả các loại còn lại
- Các thị trường tài chính cụ thể:
Thị trường ngoại hối: Thị trường ngoại hối thường được biết đến với thuật ngữFOREX Market (thị trường Forex) hay là FX Market hay Spot FX Market, là thị trường
Trang 13giao dịch các loại ngoại tệ và đây là thị trường tài chính lớn nhất thế giới, với số lượngtiền giao dịch mỗi ngày đã lên đến hơn 3.000 tỷ USD (2008).
Thị trường đồng tiền Châu Âu: thị trường đồng tiền Châu Âu được biết đến vớitên gọi "Thị trường dollar Châu Âu", ra đời nhằm đáp ứng sự gia tăng của các hoạt độngkinh doanh quốc tế Thị trường dollar châu Âu ra đời khi các doanh nghiệp Mỹ ký gửicác khoản dollar Mỹ tại các ngân hàng châu Âu Các ngân hàng này chấp nhận chúng bởi
vì sau đó họ có thể cho vay bằng USD đối với các khách hàng châu Âu
Thị trường tín dụng Châu Âu (Eurocredit Market)): Những khoản tín dụng châu
Âu hoặc khoản vay tín dụng châu Âu (Eurocredit) được cung cấp đến nơi mà người ta gọi
là thị trường tín dụng châu Âu (Eucrocredit Market) Các khoản vay này có thể được địnhdanh bằng đồng USD hoặc các đồng tiền mạnh khác và thường có thời gian là trên 5năm
Thị trường trái phiếu châu Âu (Eurobond Market): Là thị trường mua bán tráiphiếu do người không cư trú (công ty, ngân hàng, chính phủ và các tổ chức quốc tế) pháthành nằm ngoài nước phát hành đồng tiền được ghi trên trái phiếu
Thị trường chứng khoán quốc tế: Các MNC có thể thu hút nhà đầu tư nước ngoàibằng cách phát hành cổ phiếu ra thị trường chứng khoán quốc tế Các cổ phiếu mới đượcphát hành được thả nổi trên thị trường Mỹ và các thị trường khác bởi các MNC lớn của
Mỹ Việc phát hành này tương đối dễ dàng, hơn nữa phát hành cổ phiếu xuyên quan cácquốc gia nhằm để quảng bá thương hiệu của các MNC
- Hoạt động đầu tư quốc tế (đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp).
Đầu tư trực tiếp quốc tế là hình thức chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ haymột phần đủ lớn vốn vào các dự án nhằm giành quyền điều hành và trực tiếp điều hànhđối tượng mà họ bỏ vốn Trong những năm gần đây, hình thức này chiếm vị trí chủ yếutrong đầu tư quốc tế Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Là sự di chuyểnmột khối lượng nguồn vốn kinh doanh dài hạn giữa các quốc gia nhằm thu lợinhuận caohơn Đó chính là hình thức xuất khẩu tư bản để thu lợi nhuận cao Do đi kèm với đầu tưvốn là đèâu tư công nghệ và tri thức kinh doanh nên hình thức này thúc đẩy mạnh mẽ quátrình CNH – HĐH ở nước nhận đầu tư Các nước công nghiệp phát triển và các TNCsđóng vai trờ chủ yếu trong sự vận động của dòng vốn FDI trên thế giới Từ những năm
90, FDI đi vào các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia Châu Á tăng đángkể
Trang 14 Đầu tư quốc tế gián tiếp của các tổ chức kinh tế là hình thức chủ đầu tư nướcngoài góp một phần vốn dưới hình thức đầu tư chứng khoán hoặc cho vay để thu lợinhuận và không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn và bao gồm:
- Đầu tư chứng khoán
- Tín dụng quốc tế
- Đầu tư quốc tế gián tiếp của các tổ chức kinh tế thông qua đầu tư chứng khoán
- Đầu tư bằng cổ phiếu
- Tài chính của các Công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia.
Tài chính quốc tế tạo ra môi trường hoạt động rất cần thiết cho các Công ty đaquốc gia và xuyên quốc gia (MNC) trong nhiều năm qua Và các Công ty đa quốc gia vàxuyên quốc gia là những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của tài chính quốc tế.Tài chính quốc tế của các Công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia bao gồm toàn bộ cáchoạt động Tài chính quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế, xuất nhập khẩu Đồngthời để tài trợ cho quá trình này, Công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia (MNC) tiến hànhcác giao dịch ngoại hối trên thị trường ngoại hối, huy động vốn để đầu tư và tài trợ quốc
tế trên các thị trường đồng tiền Châu Âu, tín dụng và trái phiếu Châu Âu, thị trườngchứng khoán quốc tế, quản trị tiền mặt quốc tế bằng việc phân phối chuyển tiền và tài trợtrong nội bộ công ty (dựa MNC mẹ, các công ty con với nhau)
Dù với cách tiếp cận nào thì đều nhằm chỉ ra các nội dung chủ yếu của hoạt độngTài chính quốc tế để tổ chức hoạt động và quản lý tốt các hoạt động đó nhằm mở rộng vànâng cao hiệu quả của hoạt động Tài chính quốc tế
Trang 15CHƯƠNG 2: TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
(7 TIẾT) 2.1 Hệ thống tiền tệ quốc tế
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế
Như chúng ta đã biết, điều kiện để xuất hiện và tồn tại Tài chính quốc tế là phải cócác quan hệ kinh tế và có vai trò của chức năng tiền tệ thế giới của tiền Tuy nhiên, đểthúc đẩy thương mại quốc tế cần có sự hợp tác giữa một số quốc gia nhằm tạo ra nhữngchế độ tiền tệ được các quốc gia chấp nhận trong lưu thông và thanh toán Từ đó xuấthiện hệ thống tiền tệ quốc tế
Kể từ thời cổ cho đến thời cận đại, thương mại quốc tế hoạt động trên cơ sở “Bản vịhàng hoá”, trong đó, kim loại là hàng hoá (chủ yếu là vàng và bạc) được đúc thành nhữngkhối với chức năng làm phương tiện trao đổi và lưu thông trong nền kinh tế Trong thời kỳđầu, tiền kim loại được đúc chủ yếu ở dạng tuỳ ý hoặc thành những thỏi hay những chiếcvòng, về sau những phát kiến đã tiêu chuẩn hoá tiền tệ về trọng lượng của các đồng xuđược quốc gia bảo hộ Do đó, hệ thống tiền đúc (tiền xu) đã tạo điều kiện cho quốc gia giaodịch và giúp những nhà buôn tiết kiệm được thời gian trong việc nhận dạng, định lượng vàđánh giá chất lượng kim loại
Trong lịch sử, vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơn hẳncác kim loại khác, bởi vì những đặc tính của chúng đã đáp ứng được nhiều nhất những gì
mà một đồng tiền hàng hoá (commodity money) cần có, như: sự khan hiếm, tính bền, cóthể chuyển trở, dễ phân chia, đồng chất, và chất lượng được duy trì lâu bền Sự chấp nhậnvàng và bạc như là tiền còn được củng cố từ một thực tế là các kim loại này được thừanhận rộng rãi là có giá trị sử dụng phi tiền tệ trong các ngành công nghiệp và trang sức.Hơn nữa, giá trị của vàng và bạc được ổn định tương đối so với các hàng hoá khác; ngoài
ra, chất lượng của chúng có thể được kiểm tra một cách chính các và được các chuyên gia(thợ vàng) chứng nhận) Chính vì vậy trong một thời gian gian dài, hầu hết các nước đềulấy vàng và bạc là bản vị hàng hoá kim loại hoạt động trên cơ sở giá trị đầy đủ của cácđồng xu (full - bodied conins), tức giá trị tiền tệ của chúng cũng chính là giá trị kim loạicủa đồng xu
Năm 1880, bản vị vàng từ một số ít quốc gia đã phát triển thành Hệ thống tiền tệquốc tế với hầu hết các nước áp dụng Khi bùng nổ chiến tranh Thế giới Thứ nhất 1914,bản vị vàng bị bỏ rơi; và trong hơn 30 năm từ 1880 đến 1914 hệ thống bản vị vàng quốc
Trang 16tế đã thống trị ở hầu khắp các nước, nó đã liên kết chặt chẽ các quốc gia lớn với nhaucũng như giữa các nước thống trị và các nước thuộc địa trong suốt thời gian này.
Những đặc diểm cơ bản trong hoạt động của chế độ bản vị vàng có thể mô tảthông qua 3 quy tắc căn bản sau đây:
Thứ nhất, dưới chế độ bản vị vàng, quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của
mình với vàng; hay nói cách khác, Chính phủ ấn định cố định giá vàng tính bằng tiềnquốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã quy định
Thứ hai, dưới chế độ bản vị vàng, xuất khẩu và nhập khẩu vàng giữa các quốc gia
được tự do hoạt động Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia, cho nên tỷ giátrao đổi thực tế trên thị trường tự do không biến động đáng kể so với bản vị vàng
Thứ ba, dưới chế độ bản vị vàng, ngân hàng trung ương luôn phải duy trì một
lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành Số vàng dự trữ chophép ngân hàng trung ương lý uyển chuyển việc chuyển đổi tiền ra vàng mà không gặpbất cứ một trở ngại nào, hay nói cách khác, tiền do ngân hàng trung ương phát hành được
“bảo đảm bằng 100%” và tiền được chuyển đổi tự do không hạn chế ra vàng
Quy tắc bảo đảm bằng vàng buộc ngân hàng trung ương khi mở rộng cung ứngtiền cho nền kinh tế phải tuân thủ kỷ luật “chỉ phát hành tiền khi có luồng vàng từ côngchúng chảy vào ngân hàng trung ương Như vậy, vô hình chung chế độ bản vị vàng đãhạn chế sự năng động của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền trong lưu thông Do vậy
sự phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế đã hình thành những hình thức mới theo nhữnggiai đoạn phát triển cụ thể của các nước, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới lần 1
2.1.2 Khái niệm về hệ thống tiền tệ quốc tế
2.1.2.1 Khái niệm
Hệ thống tiền tệ quốc tế là hệ thống các đồng tiền và chế độ tổ chức lưu thông tiền
tệ được thể hiện bằng những thỏa ước và những qui định của một số quốc gia, có hiệu lực trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định Như vậy: Khi đề cập đến hệ
thống tiền tệ quốc tế phải gắn liền với 2 vấn đề:
Thứ nhất, hệ thống tiền tệ quốc tế bao gồm hệ thống các đồng tiền của một số
quốc gia đã có quan hệ gắn bó hoặc phụ thuộc lẫn nhau, với ý định cạnh tranh hoặcchống lại sự xâm nhập kinh tế – tài chính của các khối kinh tế khác Đồng thời, thúc đẩyquan hệ giao thương về kinh tế – xã hội giữa các nước trong khối
Trang 17Thứ hai, chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ của một số quốc gia đã có quan hệ gắn
bó hoặc phụ thuộc lẫn nhau được thể hiện bằng những thỏa ước với mục đích, thườnglà:
Tạo sự liên kết kinh tế giữa một số nước đã có quan hệ gắn bó hoặc phụ thuộclẫn nhau, với ý định cạnh tranh hoặc chống lại sự xâm nhập kinh tế – tài chính của cáckhối kinh tế khác Đồng thời, thúc đẩy quan hệ giao thương về kinh tế – xã hội giữa cácnước trong khối
Thiết lập một liên minh chính trị chặt chẽ hoặc ràng buộc lỏng lẻo giữa cácnước, dưới sự chỉ huy hoặc thao túng của một quốc gia mạnh
Củng cố vai trò và vị trí kinh tế – tiền tệ của một quốc gia nào đó trong khu vực,buộc các nước kém lợi thế lớn phải phụ thuộc về tiền tiền sau đó là phụ thuộc kinh tế vàoquốc gia này
2.1.2.2 Nội dung của hệ thống tiền tệ quốc tế
Hệ thống tiền tệ quốc tế bao gồm hai nội dung cơ bản sau:
Đơn vị tiền tệ chung:
Đơn vị tiền tệ chung: Là đơn vị thanh toán, đo lường và dự trữ giá trị của mộtcộng đồng kinh tế Thông thường các nước sử dụng một đồng tiền mạnh của một quốcgia nào đó trong khối làm đồng tiền chung Ví dụ: Như GBP (bảng Anh), USD (Đôla Mỹ)
… đã từng là đồng tiền quốc tế một thời gian Sau này do sự phát triển và hội nhập kinh
tế, các liên minh kinh tế được hình thành và phát triển hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện, dovậy không có đồng tiền của một quốc gia nào được chọn là “đơn vị tiền tệ chung”, màcác liên minh tự định ra đồng tiền chung của khối Đồng tiền của khối có tên gọi riêng, có
tỷ giá xác định với các đồng tiền thành viên và các đồng tiền ngoài khối Ví dụ: Cộngđồng kinh tế Châu Âu gồm 25 thành viên, đã ký kết hiệp ước Maastricht – 1992, xác lậpđồng tiền chung gọi là Euro Đồng tiền này đã thực sự đi vào cuộc sống kinh tế – xã hộicủa 11 nước EU vào ngày 1/1/1999 Tỷ giá được xác lập giữa USD/EURO ngay ngày rađời là 1 EURO = 1,16675 USD
Chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ: Thông thường chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ
quốc tế bao gồm những nội dung đặc trưng sau:
Qui định tỷ giá giữa đồng tiền chung với các đồng tiền thành viên của khối; cóthể theo tỷ giá cố định, cũng có thể theo tỷ giá linh hoạt
Trang 18 Qui định về lưu thông tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt và lưu thông cácloại giấy tờ có giá trị khác ghi bằng đồng tiền chung.
Qui định về dự trữ ngoại hối: ấn định tỷ trọng giá trị của đồng tiền chung trongtổng dự trữ ngoại hối của các nước thành viên, cũng như của ngân hàng thuộc khối
Tiền tệ quốc tế và hệ thống tiền tệ quốc tế là sản phẩm của các liên minh kinh tế,
do vậy sự tồn tại và phát triển của các liên minh kinh tế quyết định sự tồn tại và phát triểncủa tiền tệ quốc tế và hệ thống tiền tệ quốc tế Trên thực tế, các liên minh kinh tế thườngkhông đứng vững được trong một thời gian dài do những nguyên nhân khác nhau Khiliên minh tan vỡ thì các sản phẩm được hình thành theo các thỏa ước cũng bị tiêu vong
Là một hiện tượng kinh tế, việc một hệ thống tiền tệ này tan vỡ và một hệ thống tiền tệkhác xuất hiện là một sự kiện thường xuyên trong đời sống kinh tế của xã hội loài người
có trình độ sản xuất và trao đổi hàng hóa đã phát triển cao
2.1.2.3 Các hệ thống tiền tệ quốc tế chủ yếu
Trước đây, hệ thống tiền tệ thế giới chủ yếu được hình thành tự phát trên cơ sở chế
độ bản vị vàng, có nghĩa là các quốc gia đều chấp nhận vàng làm công cụ trung giantrong trao đổi thanh toán quốc tế Các hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành và pháttriển chỉ trong một giai đoạn nhất định Trong thế kỷ XX đã chứng kiến sự xuất hiện, tồntại và suy vong của một số hệ thống tiền tệ quốc tế Đó là:
- Chế độ bản vị bảng Anh (1922-1929) tồn tại được 7 năm
- Chế độ bản vị USD (1944-1971) tồn tại được 27 năm
- Rúp chuyển nhượng của SEV (1964-1991) tồn tại được 27 năm…
1 Chế độ bản vị bảng Anh (1922-1929)
Sau Đại chiến thế giới I (1914-1918) các quốc gia ở Châu Âu bị kiệt quệ về kinh
tế Nước Anh cũng ở trong tình trạng này, tuy nhiên London vẫn giữ được vị thế mạnh vềkinh tế và tài chính so với các nước trong khu vực nhờ có hệ thống thuộc đị rộng lớn vàthị trường tài chính London rất phát triển của mình Lợi dụng vị tế đó, Anh đã thiết lập
hệ thống tiền tệ quốc tế, lấy chính đồng bảng Anh làm đồng tiền chủ chốt Được nhiềunước ủng hộ và được Hoa Kỳ hậu thuẫn, hệ thống tiền tệ quốc tế với bảng Anh là đồngtiền chủ chốt đã ra đời
Tuy nhiên, trong thời kỳ này nhiều quốc gia vẫn muốn quay trở lại chế độ bản vịvàng Nhưng do khối lượng hàng hóa, dịch vụ lưu thông rất lớn và ngày càng gia tăng, màkhối lượng vàng dự trữ lại có hạn, nên các ngân hàng không thể đổi giấy bạc ngân hàng ra
Trang 19vàng cho mọi đối tượng có nhu cầu Do đó ngân hàng Anh qui định, các đối tượng muốnđổi giấy bạc ra vàng phải có 1.700 bảng Anh để đổi lấy 400 ounce (1 ounce = 31,135 gr)tức 12,4414 kg vàng Vì vậy, chế độ tiền tệ quốc tế này còn được gọi là chế độ bản vị vàngthoi, hay chế độ bản vị vàng hối đoái.
Hệ thống tiền tệ dựa trên bảng Anh được hình thành nhằm phục vụ cho ý đồ kinh
tế và chính trị của nước Anh Khi kinh tế nước Anh suy thoái, hệ thống thuộc địa của Anh
bị thu hẹp mạnh mẽ do phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và nhát là cuộc khủnghoảng kinh tế lớn của thế gới (1929-1933) đến gần thì vị trí của GBP không còn nữa Hệthống tiền tệ dựa trên bảng Anh sụp đổ Bảng Anh mất vị trí là đồng tiền quốc tế tế, nóchỉ còn là đồng tiền quốc gia Nhưng do vị thế tài chính của nước Anh trên thị trườngquốc tế còn rất lớn, cho nên hiện nay bảng Anh vẫn là đồng tiền có khả năng thanh toánmạnh trên thế giới
2.Chế độ bản vị dollar Mỹ (1944-1971)
Khi Đại chiến thế giới II (1939-1945) gần kết thúc, Hoa Kỳ không những ít bịthiệt hại trong chiến tranh mà còn thu lợi từ cuộc chiến tranh này và vươn lên chiếm vị tríhàng đầu thế giới về kinh tế – tài chính Tháng 7/1944 Hoa Kỳ triệu tập Hội nghị tàichính – tiền tệ họp ở Bretton Woods (Mỹ) Một trong những nội dung của hội nghị này làbàn cách khôi phục lại chế độ bản vị vàng hối đoái và lấy USD làm phương tiện thanhtoán và dự trữ quốc tế Chế độ bản vị đôla Mỹ ra đời sau hội nghị này Ngân hàng Hoa
Kỳ camkết đổi 35 USD/1 ounce vàng (1 USD = 0,888671gr vàng) Cũng như chế độ bản
vị GBP, chế độ bản vị USD phụ thuộc vào vị trí kinh tế – tài chính của Hoa Kỳ Cuối thập
kỷ 60 của thế kỷ XX, kinh tế Hoa Kỳ đi vào suy thoái, không còn vị thế như những năm
50 Lạm phát ở mức cao, lượng vàng đảm bảo cho USD từ 2,72 lần năm 1950 giảmxuống còn 2,38 lần (1952); 1,84 lần (1954); 0,92 lần (1960); 0,5 lần (1966) Đến 1967Chính phủ Mỹ điều chỉnh 1 ounce vàng = 38 USD Đầu năm 1971, Hoa Kỳ từ bỏ cam kếtđổi giấy bạc ngân hàng ra vàng Đến tháng 8/1971 Hoa Kỳ đơn phương từ chối nghĩa vụthực hiện Hiệp ước Bretton Wood và tuyen bố phá giá USD trong quan hệ ngoại thương7,89% Đến thời điểm này, chế độ bản vị USD đã chấm dứt
Hệ thống tiền tệ quốc tế dựa trên USD không tồn tại nữa, nhưng do tiềm lực kinh
tế của Hoa Kỳ vẫn đứng đầu thế giới, do đó USD vẫn được ưa chuộng Hiện nay, USDvẫn là đồng tiền có khả năng thanh toán mạnh nhất Nó là đồng tiền chuyển đổi hoàntoàn, là đồng tiền chuẩn để tính thu nhập quốc dân, thu nhập tính theo đầu người, tính giátrị dự trữ ngoại hối, kim ngạch xuất khẩu…của nhiều quốc gia cũng như của toàn thếgiới
Trang 203 Chế độ Rúp chuyển nhượng của SEV (1964-1991)
Các nước Xã hội chủ nghĩa là thành viên khối Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV),
đã ký hiệp định thanh toán nhiều bên bằng Rúp chuyển nhượng ngày 20/10/1963 Đồngthời thành lập ngân hàng Hợp tác kinh tế quốc tế (MBES) để theo dõi và thực hiện quátrình thanh toán Hiệp định này có hiệu lực từ ngày 1/1/1964
Như vậy, từ đầu năm 1964, Rúp chuyển nhượng (RCN) là đồng tiền tập thể của 10nước XHCN thuộc khối SEV là: Liên Xô, Tiệp Khắc, Hungari, Rumani, Mông Cổ,CHDC Đức, Bungari, Cuba và Việt Nam với tỷ giá 1 RCN = 1,5 USD Tuy nhiên, RCNchỉ tồn tại dưới hình thức ghi sổ trên tài khoản của các nước thành viên SEV và được sửdụng để thanh toán bù trừ
Khi hệ thống Xã hội chủ nghĩa tan rã, khối Hội đồng tương trợ kinh tế không cònnữa thì Rúp chuyển nhượng cũng chấm dứt vai trò lịch sử của nó vào ngày 31/12/1991,sau 27 năm tồn tại
4 Hệ thống tiền tệ của Châu Âu
Euro là đồng tiền chung của Liên Minh Châu Âu (EU) Đồng tiền này được hìnhthành trên cơ sở thỏa ước Maastriccht được ký kết giữa các nguyên thủ các nước thànhviên EU vào năm 1992
Từ ngày 1/1/1999, 11/15 nước của EU đã sử dụng Euro trong các giao dịch chuyểnkhoản song song với bản tệ của các nước Lúc này ECU, đơn vị thanh toán cũ của EU đã
bị bãi bỏ
Từ ngày 01/01/2002, 12 nước trong EU đã lưu thông Euro tiền mặt và xóa bỏ cácđồng tiền bản tệ riêng biệt của các nước với 65 tỷ EUR tiền giấy và 35 tỷ EUR tiền kimloại Euro là đồng tiền chung của hệ thống tiền tệ khu vực Hiện tại là của 12 nước (EU-12) với số dân hơn 300 triệu người Khi ra đời 1 Euro = 1,16675 USD Sau một thời giandài xuống giá so với USD, trong thời gian dần đây Euro đã lên giá rất mạnh, thậm chívượt qua cả giá qui định ban đầu so với USD và đang trở thành một đồng tiền mạnh trênthế giới
5 Hệ thống tiền tệ toàn cầu
Trên thực tế không có hệ thống tiền tệ toàn cầu, mà chỉ có một cơ chế thanh toán
và tín dụng do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thiết lập cho các nước thành viên Cơ chế này
gọi là “quyền rút vốn đặc biệ”t, viết tắt theo thuật ngữ tiếng Anh là SDR (Special
Drawing Rights).
Trang 21“Quyền rút vốn đặc biệt” được tạo ra với mục đích giúp các nước thành viên củaQuỹ tiền tệ quốc tế thanh toán các khoản nợ cho nhau mà không phải sử dụng vàng hayngoại tệ Để thuận lợi cho quá trình thanh toán và tín dụng, năm 1976 các nước thànhviên của Quỹ tiền tệ quốc tế đã ký hiệp định tại Jamaica thừa nhận “Quyền rút vốn đặcbiệt” là đơn vị tiền tệ trong giao dịch thanh toán giữa các nước thành viên của Quỹ tiền tệquốc tế.
Giá trị ban đầu của “Quyền rút vốn đặc biệt” (1970) được qui định tương đươngvới USD (1SDR = 0,888671gr vàng) Nhưng từ năm 1976 giá trị của “Quyền rút vốn đặcbiệt” được xác địn trên nguyên tắc “rổ tiền tệ” gồm 16 đồng tiền mạnh nhất của thế giới.Hiện nay “rổ tiền tệ” chỉ gồm USD, JPY, EURO, GBP và được công bố hàng ngày, hàngtuần trên các bản tin của Quỹ tiền tệ quốc tế Thành phần của rổ tiền tệ sẽ được xem xétlại 5 năm một lần
“Quyền rút vốn đặc biệt” là đơn vị tiền tệ để xác định khối lượng tín dụng mà cácnước thành viên có quyền được vay từ Quỹ tiền tệ quốc tế “Quyền rút vốn đặc biệt” cóquan hệ tỷ giá với các đồng tiền thực hiện, nhưng bản thân nó thì lại không phải là đồngtiền hiện thực Nó chỉ có ý nghĩa ghi sổ
Mỗi nước tiến hành tùy theo số vốn góp của mình vào Quỹ tiền tệ quốc tế sẽ đượchưởng một khoản “Quyền rút vốn đặc biệt” nhất định Mặc dù các nước đã có quyền sởhữu “Quyền rút vốn đặc biệt”, nhưng họ chỉ được sử dụng nó khi cán cân thanh toán bộichi bằng cách sử dụng “Quyền rút vốn đặc biệt” trong phạm vi sở hữu để thanh toán chonước chủ nợ Tuy nhiên, “Quyền rút vốn đặc biệt” là của mình nhưng mỗi khi sử dụng,nước sở hữu lại phải trả lãi cho Quỹ tiền tệ quốc tế Còn nước vừa nhận được “Quyền rútvốn đặc biệt” sẽ được Quỹ tiền tệ quốc tế ghi tăng số “Quyền rút vốn đặc biệt” trên tàikhoản của nước này và coi như Quỹ tiền tệ quốc tế phải vay số “Quyền rút vốn đặc biệt”
đó Khi cán cân thanh toán của nước vừa nhận “Quyền rút vốn đặc biệt” bội chi, nướcnày lại sẽ dùng “Quyền rút vốn đặc biệt” trong quyền sở hữu và số “Quyền rút vốn đặcbiệt” vừa nhận được để thanh toán…
Vòng thanh toán cứ tiếp diễn như vậy và Quỹ tiền tệ quốc tế trở thành trung tâmthanh toán và tín dụng quốc tế Quỹ tiền tệ quốc tế vừa là người đi vay và vừa là ngườicho vay trong quá trình thanh toán cho các nước thành viên
6 Xu hướng chung của các hệ thống tiền tệ quốc tế
Hiện nay, xu hướng chung của các hệ thống tiền tệ quốc tế là:
Trang 22- Được hình thành từ một liên minh hoặc thỏa ước kinh tế giữa một số quốc gia cóquyền lợi gắn bó hoặc phụ thuộc lẫn nhau.
- Sự phát triển của hệ thống tiền tệ đạt đỉnh cao khi quyền lợi kinh tế giữa cácquốc gia trong khối được giải quyết hài hòa Đồng thời các mục tiêu chính trị không xảy
Hiện nay, trên thế giới thường sử dụng các pháp xác định tỷ giá như sau:
Phương pháp 1: Dựa vào tiêu chuẩn giá cả của các đồng tiền.
Tiêu chuẩn giá cả của một đồng tiền là hàm lượng vàng đại diện cho đơn vị đolường của đồng tiền đó
Tỷ giá của đồng tiền A và B = Tiêu chuẩn giá cả của A
Tiêu chuẩn giá cả của B
Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán, rất chính xác, đặc biệt với những đồng tiền vàng.
Nhược điểm: Không áp dụng được với những đồng tiền không có tiêu chuẩn giá
cả
Phương pháp 2: Dựa vào ngang giá sức mua PPP (Purchasing Power Parity).
Trên hai thị trường của 2 đồng tiền, người ta chọn 2 nhóm hàng hóa giống hệtnhau và xác định tổng giá cả của từng nhóm hàng hóa theo từng đồng tiền riêng Sau đó
so sánh tổng giá cả của đồng tiền ở hai nhóm sẽ được tỷ giá của hai đồng tiền
A/B = = xTrong đó: PiA (PiB): Tổng giá cả nhóm i hàng hóa tính theo đồng tiền nước A (B)
B/A = 1/x = y
Trang 23Ưu điểm: Xác định tương đối chính xác sức mua của đồng tiền Nhóm hàng hóa
lựa chọn càng lớn thì độ chính xác càng cao (Thường tối thiểu 25 hàng hóa)
Nhược điểm:
Khó tìm được nhóm hàng hóa giống hệt nhau của 2 thị trường
Khó loại trừ tuyệt đối các yếu tố tác động vào tỷ giá như thuế, đầu cơ…
Tốn nhiều công sức
Phương pháp 3: Xác định tỷ giá qua đồng tiền thứ 3 (Xác định tỷ giá chéo)
Khi cần xác định tỷ giá giữa 2 đồng tiền A và B, khi đã có tỷ giá của 2 đồng tiềnnày với một đồng tiền C, ta sẽ xác định theo phương pháp “bắc cầu”
A/C = a; B/C = b Þ A/B = a/b
Ví dụ: USD/BUK = 2.000 (Kyal-Myanmar); USD/VND = 16.000 Þ BUK/VND =8
Ưu điểm: Đơn giản, tính khả thi và tính thực tiễn cao.
Nhược điểm: Độ chính xác bị hạn chế do tỷ giá phụ thuộc vào đồng tiền thứ
Nên chọn đồng tiền thứ 3 là đồng tiền mạnh, có khả năng chuyển đổi cao
tệ nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế – xã hội dự định
Ý nghĩa của chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá gọi là một bộ phận hữu cơ của chính sách tiền tệ, liên quan tớingoại tệ và ngoại hối nói chung
Có ảnh hưởng quan trọng đến cách mục tiêu kinh tế vĩ mô như: xuất nhập khẩu,thu hút đầu tư, vay trả nợ, lợi suất tái chiết khấu…nên ảnh hưởng lớn tới lưu thông tiềntệ
Tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng nội địa trên thị trường quốc tế, cũngnhư bảo vệ các ngành sản xuất trong nước
Trang 24 Có tác động lớn đến chính sách dòng chảy ngoại tệ của quốc gia như thu hút kiềuhối và ngoại tệ, ảnh hưởng lớn tới dự trữ quốc gia.
2.2.2.2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá
Các chính sách tỷ giá của các quốc gia nhằm:
Mục tiêu chiến lược lâu dài:
Giữ vững chủ quyền tiền tệ quốc gia, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, chống hiện tượng ngoại tệ hóa, đặc biệt là dollar hóa trong các giao dịch trên thịtrường
Nâng dần vị thế của nội tệ, thực hiện chuyển đổi từng phần, tiến tới chuyển đổihoàn toàn đồng nội tệ
2.2.2.3 Nội dung của chính sách tỷ giá
Nội dung của chính sách tỷ giá gắn liền với nội dung của chính sách tiền tệ nóichung và chính sách hối đoái nói riêng, chỉ có thể nêu khái quát định hướng hoạt động vàthực thi chính sách này:
- Chính sách ổn định tỷ giá: Các Chính phủ cố gắng duy trì tỷ giá hối đoái ổn định
- Điều chỉnh tỷ giá thay đổi phù hợp với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trongtừng điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhất định
- Hoạch định chiến lược tỷ giá với các đồng tiền mạnh như USD, EUR, JPY
- Đưa ra những biện pháp nhằm đảm bảo tỷ giá luôn ổn định tương đối, tránh các
cú sốc về tỷ giá thông qua các công cụ sử dụng linh hoạt quỹ dự trữ ngoại tệ, chính sáchlãi suất, khuyến khích, hay hạn chế xuất nhập khẩu, tăng cường thu hút vốn đầu tư va tàitrợ nước ngoài…
2.3 Xác lập cán cân thanh toán quốc tế
Trang 252.3.1 Định nghĩa và vai trò của cán cân thanh toán quốc tế
2.3.1.1 Định nghĩa
Mỗi quốc gia đều có những mối quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự,ngoại giao với các quốc gia khác trên thế giới Trên phương diện tài chính, gắn với cácquan hệ này là sự vận động của các luồng tiền tệ đi vào hoặc đi ra của quốc gia đó; tứcphát sinh các khoản thu chi ngoại tệ Các khoản thu chi này được ghi chép, phản ánhtrong một biểu riêng gọi là “Cán cân thanh toán quốc tế” (Balance of Payment – BOP)
Định nghĩa: Cán cân thanh toán quốc tế (CCTTQT) là biểu tổng hợp phản ánh tất
cả các giao dịch ngoại tệ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới BOP là một bản
báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép lại tất cả các giao dịch kinh tế giữa
người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm Tuy
nhiên, tuỳ theo yêu cầu mà Cán cân thanh toán quốc tế có thể được lập và báo cáo thườngxuyên hơn, ví dụ hàng tháng, quý hoặc năm Cán cân thanh toán quốc tế là một trongnhững bản báo cáo thống kê tổng hợp quan trọng nhất đối với mỗi quốc gia Các chỉ tiêucủa Cán cân thanh toán quốc tế cho biết có bao nhiêu hàng hoá và dịch vụ mà một quốcgia đã xuất khẩu và nhập khẩu và quốc gia này hiện đang là con nợ hay chủ nợ đối vớiphần thế giới còn lại Ngoài ra, Cán cân thanh toán quốc tế còn cho biết dự trữ ngoại hốicủa NHTW đã tăng lên hay giảm xuống trong kỳ báo cáo là như thế nào
Trước Đại chiến thế giới lần thứ II, mỗi quốc gia biên lập cán cân thanh toán quốc
tế theo các riêng của mình Khi Quỹ tiền tệ quốc tế được thành lập đã công bố một mẫuCán cân thanh toán quốc tế thống nhất để áp dụng cho các nước thành viên Sau đó, cácnước thấy đây là mẫu cán cân thanh toán quốc tế đơn giản và khoa học nên hầu hết cácnước đều áp dụng và mẫu này được gọi là “cán cân thanh toán quốc tế theo phương thứcQuỹ tiền tệ quốc tế
Để nhất quán, Quỹ tiền tệ quốc tế đã quy định chỉ ghi chép vào cán cân thanh toánquốc tế của mỗi quốc gia các giao dịch ngoại tệ giữa “người cư trú” và “người không cưtrú” quốc gia đó
Như vậy, để hiểu được phạm vi của cán cân thanh toán quốc tế thì điều cần thiết làphải giải thích các thuật ngữ "người cư trú" và "người không cư trú" Nếu xét từ góc độ
báo cáo thống kê cán cân thanh toán quốc tế, thì "quyền công dân" và "nơi cư trú" không
nhất thiết phải trùng nhau, ví dụ: có thể là công dân của nước này, nhưng cư trú lại ở
nước khác; khi lập cán cân thanh toán quốc tế ta chỉ quan tâm đến nơi cư trú mà không
cần để ý đến quyền công dân là thuộc nước nào Khái niệm "người cư trú và người
Trang 26không cư trú" bao gồm: các cá nhân, các hộ gia đình, các công ty, các nhà chức trách vàcác tổ chức quốc tế Khái niệm này làm phát sinh một vấn đề cần giải thích như sau:
- Đối với các công ty đa quốc gia sẽ là người cư trú đồng thời tại nhiều quốc gia
Do đó, để tránh trùng lắp thì chỉ các chi nhánh của công ty đặt tại nước sở tại mới đượccoi là người cư trú
- Đối với tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Liệp hợp
quốc, v.v được xem như người không cư trú đối với mọi quốc gia, tức ngay cả với quốc
gia mà tổ chức đóng trụ sở Ví dụ, mặc dù Quỹ tiền tệ quốc tế đóng trụ sở tại Washington,nhưng những khoản đóng góp vào Quỹ tiền tệ quốc tế của chính phủ Mỹ vẫn được ghichép trong cán cân thanh toán quốc tế của Mỹ như những khoản giao dịch với ngườikhông cư trú
- Đối với kách du lịch nước ngoài và những người nước ngoài khác được xem làngười không cư trú nếu thời gian lưu trú tại nước sở tịa dưới 1 năm
Nhìn chung, khái niệm "người cư trú" và "người không cư trú" đối với mỗi quốc
gia đều được hiểu theo luật định và tương đối thống nhất giữa các quốc gia.
Đối với Việt Nam, khái niệm người cư trú và người không cư trú được quy địnhtại Khoản 2 và 3 thuộc Điều 3 trong Nghị định 164/1999/NDD-CP, ngày 16 tháng 11năm 1999 của Chính phủ về Quản lý Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
Đối với một quốc gia, tiêu chí để đưa một giao dịch kinh tế vào BOP là: giao dịch
phải được tiến hành giữa người cư trú và người không cư trú Mọi giao dịch kinh tế giữa
người cư trú với nhau của cùng một quốc gia không được phản ánh trong BOP
Có một số ngoại lệ:
- Công dân của quốc gia khác đến học tập, du lịch, chữa bệnh không kể thời giandài hay ngắn đều được coi là “người không cư trú” Ngược lại, các công dân đi học tập,chữa bệnh, du lịch ở nước ngoài không kể thời gian dài hay ngắn đều được coi là “người
cư trú”
- Các cơ quan và những người làm việc tại các cơ quan đại diện cho Chính phủ cácquốc gia (đại sứ quán, tổng lãnh sự quán…), cho các tổ chức quốc tế (IMF, WB, UN,WTO…) đều được coi là “người không cư trú”
- Các Công ty xuyên quốc gia có chi nhánh ở nhiều nước khác nhau, thì chỉ nhữngchi nhánh ở nước sở tại mới được coi là “người cư trú”
Trang 27Cán cân thanh toán quốc tế được xác lập cho từng khoảng thời gain nhất định,thường là 1 năm Trong những trường hợp cần thiết có thể lấp theo quý, tháng Tất cả cáckhoản thu chi phản ánh trên cán cân thanh toán quốc tế phải được tính thống nhất theomột đồng tiền nhất định, có thể là ngoại tệ hay nội tệ, thường là một đồng tiền mạnh.
2.3.1.2 Vai trò của cán cân thanh toán quốc tế
- Là tấm gương phản ánh tổng hợp tình hình hoạt động kinh tế đối ngoại, và ở mọtmức độ nhất định phản ánh tình hình kinh tế – xã hội của một quốc gia thông qua cán cânthương mại, cán cân vốn, dự trữ ngoại tệ; cho biết quốc gia này là con nợ hay chủ nợ vớiphàn còn lại của thế giới
- Phản ánh mức độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thếgiới và địa vị tài chính của quốc gia trên trường quốc tế
- Phản ánh cung cầu ngoại tệ của một quốc gia, có ảnh hưởng to lớn đến tỷ giá hốiđoái, chính sách tỷ giá, chính sách tiền tệ quốc gia Khi cán cân thanh toán quốc tế thâmhụt, tỷ giá tăng cao, đồng nội tệ mất giá, Chính phủ có thể quyết định: tăng lãi suất hoặcgiảm chi tiêu công cộng nhằm giảm nhu cầu nhập khẩu; hoặc kiểm soát nhập khẩu hànghóa, ngoại hối và chu chuyển vốn nhằm nâng giá nội tệ, giữ ổn định tỷ giá
2.3.2 Nội dung và cách xác lập cán cân thanh toán quốc tế
2.3.2.1 Nội dung cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
(1) Cán cân vãng lai hay tài khoản vãng lai (Currency Account – CA): Ghi chép
giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu và những khoản thu chi khác có liên quan vớinước ngoài về hàng hóa, dịch vụ của quốc gia Được chia ra:
- Cán cân thương mại hàng hóa – Trade Balance (Visible trad balance): Phản ánhtoàn bộ các khoản thu chi ngoại tệ gắn với xuất nhập khẩu hàng hóa của quốc gia đó
Bên nợ: Phản ánh giá trị (giá FOB) hàng hóa nhập khẩu (-): chi tiền ra
Bên có: Phản ánh giá trị (giá FOB) hàng hóa xuất nhập khẩu (+): thu tiền vào
- Cán cân thương mại dịch vụ – Services Balance: Phản ánh giá trị dịch vụ màquốc gia đó cung cấp hay nhận từ thế giới
Bên nợ: Giá trị dịch vụ nhập khẩu (-): chi tiền ra
Bên có: Giá trị dịch vụ xuất khẩu (+): thu tiền về
Trang 28- Cán cân thu nhập – Income Balance: Phản ánh thu nhập ròng của người lao độnghoặc thu nhập ròng từ đầu tư Thu nhập của người lao động gồm: Các khoản tiền lương,tiền thưởng và các khoản thu nhập bằng tiền, hiện vật do người không cư trú trả chongười cư trú và ngược lại Thu nhập về đầu tư gồm: Thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp(profits), lãi đầu tư vào giấy tờ có gái (dividents), các khoản lãi từ cho vay (interests) giữangười không cư trú trả cho người cư trú và ngược lại.
Trang 29Bên nợ: Giá trị các khoản thu nhập phải trả cho nước bên ngoài (-): Chi tiền ra
Bên có: Giá trị các khoản thu nhập thu về trong nước (+): Thu ngoại tệ về
- Các khoản chuyển giao một chiều: Viện trợ không hoàn lại (độc lập), quà tặng,biếu… Khi cấp viện trợ phản ánh bên nợ; khi nhận phản ánh bên có
Cán cân vãng lai hay tài khoản vãng lai thặng dư khi số phát sinh bên Có lớn hơn
số phát sinh bên Nợ Cán cân vãng lai hay tài khoản vãng lai thâm hụt khi số dư bên Nợlớn hơn số dư bên Có
(2) Cán cân vốn và tài chính (Capital account – KA): Phản ánh toàn bộ luồng
vốn đầu tư (cả trực tiếp và gián tiếp) vào, ra quốc gia đó Bao gồm:
- Cán cân vốn dài hạn: Phản ánh các khoản đầu tư dài hạn Gồm:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư gián tiếp nước ngoài dài hạn (mua cổ phiếu, trái phiếu)
Đầu tư dài hạn khác: Cho vay thương mại dài hạn, cho vay ưu đãi dài hạn…
Bên nợ: Đầu tư dài hạn của quốc gia đó ra nước ngoài (Hoặc vốn đầu tư rút ra)
Bên có: Đầu tư của nước ngoài vào quốc gia đó (Hoặc vốn đầu tư thu hồi về)
- Cán cân vốn ngắn hạn: Phản ánh các luồng vốn ngắn hạn Gồm nhiều hạng mục
phong phú, nhưng chủ yếu là:
Tín dụng thương mại ngắn hạn
Hoạt động tiền gửi
Mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn
Các khoản tín dụng ngân hàng ngắn hạn
Kinh doanh ngoại hối
Bên nợ: Các luồng vốn ngắn hạn đi ra khỏi quốc gia (Bao gồm cả trả nợ)
Bên có: Các luồng vốn ngắn hạn đi vào quốc gia đó (Bao gồm cả thu nợ)
- Cán cân chuyển giao một chiều về vốn: Phản ánh các khoản viện trợ không hoàn
lại đi kèm với các khoản cho vay ưu đãi
Bên nợ: Các khoản viện trợ kèm cho vay ưu đãi của quốc gia đi ra
Bên có: Các khoản viện trợ đi kèm cho vay ưu đãi mà quốc gia nhận được
Trang 30Cán cân vốn và tài chính (KA) thặng dư khi tổng số phát sinh Có lớn hơn tổng số
phát sinh Nợ (Hay tổng vốn đầu tư vào và vốn đầu tư thu hồi được lớn hơn tổng vốn đầu
tư ra nước ngoài và bên nước ngoài rút vốn về) Cán cân vốn và tài chính (KA) thâm hụt
thì ngược lại
(3) Cán cân tổng thể (Overall Balance – OB): Phản ánh toàn bộ giao dịch tiền tệ
giữa người cư trú với người không cư trú trong kỳ gồm cả hàng hóa, dịch vụ, nguồn vốntài chính Như vậy, về lý thuyết: OB = CA + KA
OB thặng dư khi Có lớn hơn Nợ Thâm hụt khi Nợ lớn hơn Có
(4) Lỗi và sai sót: là một hạng mục lớn và luôn tồn tại trong Cán cân thanh toán
quốc tế Một phần vì công tác thống kê đối với các hoạt động tài chính quốc tế rất phứctạp, khó khăn nên lỗi và sai sót khó tránh Mặt khác, có nhiều khoản không được cácChính phủ liệt kê công khai Ví dụ: Viện trợ bí mật, chi trả các khoản chuyển giao côngnghệ quốc phòng, tin tức tình báo… Hoặc lãi suất phải trả cho nước ngoài không xuấtphát từ đầu tư, biến động giá cả quốc tế về vàng, dầu lửa, ngoại tệ làm cho tài khoản vốnthặng dư…
Như vậy, thực tế: OB = CA + KA + Lỗi và sai sót
(5) Cán cân bù đắp chính thức (Official Financing Balance – OFB):
Thực tế, cán cân bù đắp chính thức là một dạng “cân đối tài khoản kế toán” đểtổng các hạng mục bên nợ và bên có trong CCTTQT phải bằng nhau để có số dư bằng
“0” Vì vậy, số dư của OFB bằng với số dư của OB nhưng ngược chiều
Ta có: OFB = -OB Hay OFB + OB = 0.
Ta có: CAQ + KA + Lỗi và sai sót = - OFB
Hay: CA + KA + OFB = Lỗi và sai sót
Trang 31- Dàn xếp những cách bù đắp đặc biệt: Khi OB thâm hụt có thể dàn xếp để : Tích tụ
nợ quá hạn; thu xếp giãn nợ; thu xếp xóa nợ Khi OB thặng dư thì ngược lại
CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ (Mẫu của IMF)
1 Cán cân thương mại
2 Cán cân thương mại dịch vụ
3 Cán cân thu nhập
4 Các chuyển giao một chiều
II Cán cân vốn và tài chính
1 Cán cân vốn ngắn hạn
2 Cán cân vốn dài hạn
3 Chuyển giao một chiều
III Cán cân tổng thể (I + II)
IV Lỗi và sai sót
Trang 32Việc ghi chép vào cán cân thanh toán quốc tế dựa trên nguyên tắc bút toán kép,nghĩa là mỗi một giao dịch với nước ngoài sẽ được ghi hai làn (đối ứng), một lần bên nợ
và một lần bên có với giá trị bằng nhau Về nguyên tắc:
- Ghi nợ: Trong trường hợp phải chi trả nước ngoài hay có dòng tiền chảy rakhỏi quốc gia Trong Cán cân thanh toán quốc tế những khoản này được mang dấu “-”
- Ghi có: Trong trường hợp nhận được chi trả từ nước ngoài hay có dòng tiền từbên ngoài chảy vào quốc gia Trong cán cân thanh toán quốc tế những khoản này đượcmang dấu “+”
Hạch toán một số nghiệp vụ cơ bản:
Nhập khẩu hàng hóa: Đều ghi nợ CA, chi tiết Nợ cán cân thương mại hànghóa
(1) Nhập khẩu hàng hóa và xuất ngoại tệ để trả nợ: Ghi Nợ CA; ghi Có KA, mụccán cân vốn ngắn hạn, chi tiết hoạt động tiền gửi
(2a) Nhập khẩu hàng hóa và vay ngắn hạn nước ngoài: Ghi Nợ CA; ghi Có KA,mục cán cấn vốn ngắn hạn, chi tiết tín dụng thương mại ngắn hạn
(2b) Xuất ngoại tệ để trả nợ vay ngắn hạn nhập hàng hóa: Ghi Nợ KA; ghi Có
KA, mục cán cân vốn ngắn hạn, chi tiết hoạt động tiền gửi
(3) Nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu bằng vốn ODA, FDI: Ghi NợCA; Ghi Có KA, chi tiết cán cân vốn dài hạn
(4) Viện trợ không hoàn lại, quà tặng bằng hiện vật nhập khẩu; Ghi Nợ CA, chitiết Cán cân thương mại hàng hóa; Ghi Có CA, chi tiết Cán cân chuyển giao một chìeu
Nhập khẩu dịch vụ: Đều ghi nợ CA, chi tiết Cán cân thương mại dịch vụ Giống(1), (2a), (2b) ở nhập khẩu hàng hóa
Xuất khẩu hàng hóa: đèu ghi Có vào CA, chi tiết cán cân thương mại hàng hóa.(1) Nhận được ngoại tệ thanh toán: Ghi Nợ KA, mục cán cân vốn ngắn hạn, chitiết hoạt động tiền gửi; Ghi Có CA
(2a) Nhà nhập khẩu chưa thanh toán: Ghi Nợ KA, mục cán cân vốn ngắn hạn chitiết tín dụng thương mại; Ghi Nợ CA
(2b) Khi nhà nhập khẩu chuyển tiền thanh toán nợ vay: Ghi Nợ KA, mục cán cânvốn ngắn hạn, chi tiết tín dụng thương mại ngắn hạn Ghi Có KA, chi tiết Cán cân vốnngắn hạn
Trang 33(3) Đầu tư ra nước ngoài bằng xuất khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu: Ghi
Nợ KA, chi tiết Cán cân vốn dài hạn; Ghi có CA
(4) Chuyển viện trợ không hoàn lại, quà tặng bằng hiện vật ra nước ngoài: Ghi Nợ
CA, chi tiết Cán cân chuyển giáo một chiều; Ghi Có CA
Xuất khẩu dịch vụ: Đều ghi Có CA, chi tiết Cán cân thương mại dịch vụ Giống(1), (2a), (2b) ở xuất khẩu hàng hóa
Nhận FDI, ODA bằng tiền: Ghi Nợ KA, mục cán cân vốn ngắn hạn, chi tiết hoạtđộng tiền gửi; Ghi Có KA, chi tiết Cán cân vốn dài hạn
Đầu tư ra nước ngoài: Ghi Nợ KA, chi tiết Cán cân vốn dài hạn; Ghi Có KA,mục cán cân vốn ngắn hạn, chi tiết hoạt động tiền gửi
Trang 34CHƯƠNG 3: CÁC NGHIỆP VỤ CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
(6 TIẾT) 3.1 Sự hình thành và vai trò của thị trường tài chính quốc tế
3.1.1 Sự hình thành của thị trường tài chính quốc tế
Thị trường tài chính quốc tế ra đời được xuất phát từ những căn nguyên chủ yếu sau đây:
- Sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia: Sự phát triển không đồng đều
của các nên kinh tế làm nảy sinh nhu cầu về vốn cũng như khả năng cung cấp vốn giữacác quốc gia Để thực hiện được quan hệ cung – cầu đó, cần phải có thị trường tài chínhquốc tế
- Các quốc gia cần tăng cường sức mạnh công nghiệp: Thị trường TCQT có ưu
thế to lớn trong cung cấp vốn cho các quốc gia thực hiện công nghiệp hóa Trong lịch sử,các ngành công nghiệ của Anh, Mỹ… phần lớn nhờ nguồn tài chính trực tiếp từ thịtrường tài chính thông qua việc bán chứng khoán Một xu hướng mới đang phát triển chocác khoản vay của tập đoàn là phát hành chứng khoán chuyển nhượng ở thị trường chứngkhoán
Chứng khoán hóa là quá trình chuyển dịch một tổ hợp các khoản cho vay thànhcác chứng khoán khả mại có thể bán trên thị trường thứ cấp Bằng việc chia nhỏ tập chọncác khoản cho vay theo những hạng tiền đã được chuẩn hóa, ngân hàng có thể bán gốc vàquyền thu lãi của các khoản cho vay này cho bên thứ ba như một chứng khoán Dước góc
độ quản trị ngân hàng hiện đại, kỹ thuật sáng tạo này được gọi là chứng khoán hóa cáckhoản cho vay
Với sự xuất hiện và tồn tại của công cụ tài chính mới này, giờ đây các tổ chức tíndụng có thể dễ dàng tập hợp các khoản cho vay thế chấp có hạng tiền tương tự nhau có
thể bán lại cho nhà đầu tư Việc “chứng khoán hóa” một cách rộng rãi đã làm giảm chi
phí sử dụng vốn ở thị trường tài chính, trong khi đó chi phí vay từ ngân hàng cao Cáccông ty nhỏ, danh tiếng thấp nhận thấy vay từ thị trường tài chính thì kinh tế và đơn giảnhơn là vay từ các ngân hàng trong nước Từ đó ra đời các trung tâm tài chính quốc tế lớn– nơi chuyển giao, vay mượn các nguồn vốn của các doanh nghiệp lớn, công ty siêu quốcgia
Như vậy, do cạnh tranh đã dẫn đến một hệ thống tài chính quốc tế, mà yếu tố cơbản chính là sự sáng tạo sự phát triển của khoa học công nghệ Chính sự phát triển này đãcho phép các công ty đi vào thị trường mà trước đây không thể thâm nhập và cho phép
Trang 35các nhà đầu tư cũng như các nhà phát hành chứng khoán mua bán vốn tự do trên thịtrường, làm cho lưu chuyển vốn quốc tế tăng lên nhanh chóng.
- Sự phát triển của khoa học, công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin: Cùng
với những tiến bộ trong công nghệ thông tin, việc giảm các quy định về tài chính nướcngoài đã xóa mờ những ngăn cách giữa thị trường tài chính trong nước và thị trườngngoài nước Khi công nghệ thông tin phát triển, chi phí giao dịch giảm, thế giới trở nênrộng lớn, nối liền thành một thị trường Thị trường trái phiếu, khị trường hối đoái…hoạtđộng liên tục 24 giờ và trên khắp thế giới với một quy mô khổng lồ Toàn cầu hóa thịtrường tài chính mang lại sức mạnh cạnh tranh chưa từng có giữa những trung tâm tàichính và các định chế tài chính Điều này đã làm giảm hơn nữa chi phí huy động vốn trênthị trường thông qua việc phát hành chứng khoán mới
Với thông tin sẵn có rộng rãi đặt nền tảng cho sự phát triển toàn cầu lượng giaodịch chứng khoán xuyên quốc gia và nguồn tài trợ cũng không ngừng tăng lên Các tổchức tín dụng, các công ty không ngừng mở rộng nguồn quỹ của mình ở thị trường nộiđịa mà còn nhanh chóng khai thác và thu hút vốn trên các thị trường vốn quốc tế
Do quá trình hiện đại hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế đã tạo ra một không giankinh tế mới có khả năng thực hiện mọi quan hệ giao lưu, tương tác trong một thời gianngắn nhất với mọi chủ thể của các quá trình kinh tế ở mọi cấp độ khác nhau Nhờ đó, lưuthông kinh tế quốc tế trở thành một mạch máu kinh tế tuần hoàn liên tục bao trùm cảhành tinh Vì vậy, thị trường tài chính quốc tế ra đời và phát triển ở khắp mọi nơi, có vaitrò như những tổ chức trung gian tài chính giữa những nhà cung cấp và người sử dụng
3.1.2 Vai trò của thị trường tài chính quốc tế
Thị trường tài chính quốc tế có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thể hiện:
- Thu hút và điều hòa các nguồn vốn quốc tế:
Sự thu hút và cung cấp các nguồn lực tài chính của thị trường tài chính quốc tế đốivới sự phát triển của nền kinh tế được thực hiện dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.Việc tài trợ trực tiếp được thể hiện ở chỗ các chủ thể thừa vốn đáp ứng trực tiếp nhu cầuthiếu vốn của các chủ thể khác thông qua việc mua các chứng khoán khởi thủy của cácchủ thể này Trường hợp này dòng tiện tệ vận động thẳng từ các thủ thể thừa vốn sang cácchủ thể thiếu vốn và các chứng khoán khởi thủy vận động ngược chiều với dòng tiền tệ.Còn trường hợp tài trợ gián tiếp thì các chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếu vốn giao dịchthông qua các trung gian tài chính Các trung gian tài chính ngoài việc huy động dưới
Trang 36hình thức tiết kiệm, còn phát hành các chứng khoán (trái phiếu, tín phiếu…) để thu hútvốn, sau đó dùng vốn gom được để mua các chưng khoán khởi thủy của các chủ thể thiếuvốn phát hành Như vậy, dòng tiền tử nơi thừa được đưa sang nơi thiếu thông qua cáctrung gian tài chính.
- Thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn quốc tế:
Thông qua việc tiếp nhận và sử dụng vốn, các doanh nghiệp, đặc biệt là doanhnghiệp ở các nước đang phát triển, có cơ hội tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm quản lýtiên tiến của nước ngoài
Việc huy động và sử dụng vốn trên thị trường tài chính quốc tế diễn ra trên cơ sởquan hệ cung cầu Bất kỳ chủ thể ở quốc gia nào khi sử dụng vốn trên thị trường tài chínhđều phải trả chi phí vốn Điều này buộc chủ thể cần vốn phải quan tâm đến hiệu quả sửdụng vốn Với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội chocác chủ thể đầu tư bỏ vốn vào những nơi có hiệu quả nhất
- Thúc đẩy phát triển các thị trường quốc tế khác:
Thị trường tài chính quốc tế giúp cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng, tăngcường hợp tác lao động quốc tế, trao đổi khoa học công nghệ…,mở rộng giao lưu cácnguồn lực giữa các quốc gia trên toàn thế giới
3.2 Các nghiệp vụ chủ yếu của thị trường hối đoái quốc tế
Trên thị trường hối đoái quốc tế, do giá cả là tỷ giá hối đoái, một yếu tố rất nhạycảm, chịu tác động bởi rất nhiều các nhân tố khác nhau, nên dễ phát sinh rủi ro tỷ giá Từ
đó, ngoài phương thức mua bán cơ bản là Giao ngay, còn có nhiều phương thức khác pháisinh trên nền tảng cơ bản Cụ thể, giao dịch trên thị trường được thực hiện thông quanhiều nghiệp vụ, nghiệp vụ Giao ngay, nghiệp vụ Kỳ hạn, nghiệp vụ Hoán đổi, nghiệp vụQuyền chọn, nghiệp vụ Tương lai…
3.2.1 Nghiệp vụ giao ngay (Spot Exchange)
a Khái niệm
Giao dịch giao ngay là giao dịch cơ bản và phổ biến nhất trong các giao dịch trênthị trường hối đoái quốc tế Đó là hoạt động thanh toán diễn ra ngay tại thời điểm giaodịch ở một mức tỷ giá gọi là tỷ giá giao ngay (Spot exchange rate – S) Tỷ giá giao ngaygồm tỷ giá mua SB và tỷ giá bán So, được hình thành trên cơ sở cung cầu của thị trườnghối đoái
Trang 37Như vậy, nghiệp vụ giao ngay là nghiệp vụ mua hay bán một số lượng tiền tệ theo
tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng một số ngàylàm việc kể từ thời điểm cam kết mua bán
b Nội dung của nghiệp vụ giao ngay
Thỏa thuận giao dịch giữa hai bên thường bao gồm các điều kiện như: tỷ giá giaongay, số lượng tiền tệ giao dịch, các loại tiền trong giao dịch; chi phí giao dịch; địa chỉchuyển tiền đến, chuyển tiền đi, ngày thanh toán…
- Tỷ giá giao ngay: Tỷ giá giao ngay là tỷ giá được hai bên thỏa thuận và có giá trị
tại thời điểm giao dịch Chúng được xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay của thịtrường được niêm yết tại các trung tâm giao dịch hối đoái; tại các ngân hàng thương mại,các phương tiện thông tin đại chúng, như báo viết, báo mạng, truyền hình…
Tỷ giá giao ngay thường được niêm yết theo cặp, theo cách phổ biến của quản trịkinh doanh là đồng tiền yết giá đứng trước, đồng tiền định giá đứng sau, gồm cả tỷ giámua và tỷ giá bán
Trong giao dịch giao ngay, thông thường các ngân hàng không thu hoa hồng trêncác thương vụ mà thu lời từ chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán
- Ngày giá trị (value date): Trong giao dịch giao ngay, các bên cần xác định điểm
thời gian thực hiện chuyển tiền thanh toán Ngày mà tiền phải được thanh toán cho các
bên liên quan gọi là ngày giá trị Thông thường, trên thị trường giao ngay, ngày giá trị
được quy định tối đa là 2 ngày làm việc sau ngày giao dịch, được ký hiệu là t + 2 Nhưvậy, sẽ có những trường hợp ngày giá trị được xác định là t + 0, t+1, hoặc t +2 tùy theotừng thỏa thuận giao dịch
- Các bước thực hiện Thông thường, một nghiệp vụ giao ngay gồm 2 bước
+ Bước 1: Cam kết mua bán và xác nhận lại việc mua bán;
+ Bước 2: Chuyển tiền cho các bên liên quan
Các nghiệp vụ khác được trình bày sau đây được coi là các nghiệp vụ phái sinh
3.2.2 Nghiệp vụ kỳ hạn (Forward Exchange)
a Khái niệm và đặc điểm
Nghiệp vụ kỳ hạn là một loại nghiệp vụ phái sinh mà trong đó hai bên cam kếtmua bán một lượng tiền tệ sau một số ngày nhất định nhưng theo mức tỷ giá xác địnhđược thỏa thuận tại thời điểm hiện tại và được ghi trong hợp đồng
Trang 38Như vậy, trong một giao dịch kỳ hạn, các yếu tố như tỷ giá, số tiền, ngày thanhtoán…đều được xác định ở thời điểm hiện tại, nhưng việc thực hiện chúng lại diễn ra tạimột thời điểm trong tương lai Mục đích cơ bản của một giao dịch kỳ hạn chính là đểphòng ngừa những rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra do biến động của tỷ giá hối đoái.
Nghiệp vụ kỳ hạn thường có các đặc điểm:
+ Được thực hiện thông qua hợp đồng (Hợp đồng kỳ hạn) và chúng thường không
bị giới hạn về quy mô và kỳ hạn giao dịch;
+ Khi ký hợp đồng, khách hàng bắt buộc phải ký quỹ
+ Là loại hợp đồng bắt buộc phải thực hiện Đến ngày đáo hạn, khách hàng khôngthực hiện các điểu khoản đã cam kết, sẽ bị mất số tiền ký quỹ; người kinh doanh tiền tệnếu không thực hiện là vi phạm luật hợp đồng
+ Hợp đồng kỳ hạn không được mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp
b Nội dung của nghiệp vụ kỳ hạn
- Hàng hóa cơ sở (HHCS) Đó là tổng số tiền mua bán được ghi trong hợp đồng kỳ
hạn Nếu tổng số tiền càng lớn thì quy mô của hợp đồng càng lớn
- Thời hạn hợp đồng: Là số ngày kỳ hạn để hợp đồng có hiệu lực Thông thường
ngày kỳ hạn được lựa chọn là 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng… hoặc 30 ngày, 60 ngày, 90ngày…theo tự nhiên
- Tỷ giá kỳ hạn:
+ Yết giá kỳ hạn: trong hợp đồng kỳ hạn có hai kiểu yết tỷ giá, yết tỷ giá kỳ hạntrực tiếp và yết tỷ giá gián tiếp theo kiểu swap Yết tỷ giá trực tiếp là tỷ giá kỳ hạn đượcxác định theo số ngày kỳ hạn, lãi suất của các đồng tiền…Yết tỷ giá gián tiếp kiểu swap
là dựa vào tỷ giá giao ngay và mức swap
+ Xác định tỷ giá kỳ hạn:
Xác định gián tiếp theo mức swap:
Mức swap được yết theo điểm Từ đó, tỷ giá kỳ hạn được xác định bằng tỷ giágiao ngay cộng hoặc trừ mức swap
Tỷ giá kỳ hạn (F) = Tỷ giá giao ngay (S) +- Mức Swap (w)
Khi mức swap mua WB nhỏ hơn mức swap bán Wo, sử dụng dấu +, còn khi WBlớn hơn Wo sử dụng dấu –
Trang 39Xác định trực tiếp
Về lý thuyết, tỷ giá kỳ hạn là thỏa thuận giữa người mua và người bán, nên có thể
là bất kỳ tỷ giá nào được lựa chọn mà hai bên chấp nhận Tuy vậy, trên thực tế việc xácđịnh tỷ giá kỳ hạn chủ yếu được dựa trên lý thuyết ngang bằng lãi suất của hai đồng tiền,theo công thức sau
F = S x (1+r T t)/(1+r c t)
Trong đó: F là tỷ giá kỳ hạn;
S là tỷ giá giao ngay;
rT: là lãi suất năm của đồng tiền định giá
rc: là lãi suất năm của đồng tiền yết giá
t: là kỳ hạn, được tính bằng số ngày kỳ hạn n trên 360 (n/360)
Có thể cụ thể hóa cho tỷ giá kỳ hạn mua và bán như sau:
FB= S B x (1+r TD t) / (1 + r LC t)
F 0 = So x (1+r TL t)/(1+r CD t) Trong đó: FB là tỷ giá kỳ hạn mua;
S B là tỷ giá mua giao ngay
rTD là lãi suất tiền gửi (Deposit interest) tính theo năm của đồng tiền định giá;rCL là lãi suất cho vay (Loan interest) tính theo năm của đồng tiền yết giá;
t là kỳ hạn n/360
F0 là tỷ giá kỳ hạn bán;
So là tỷ giá bán giao ngay;
rTL là lãi suất cho vay tính theo năm cùa đồng tiền định giá;
rCD là lãi suất tiền gửi tính theo năm của đồng tiền yết giá;
c Lỗ lãi
- Đối với hợp đồng kỳ hạn mua:
Tỷ giá hợp đồng: Tỷ giá kỳ hạn bán Fo
Tỷ giá bán giao ngay tại thời điểm hợp đồng đáo hạn là SOF
Đến ngày đáo hạn, các trường hợp xảy ra giữa Fo và SOF là
Trang 40SOF <Fo: Khách hàng bị lỗ Mức lỗ là chênh lệch âm (-) của (SOF – Fo)
Số lỗ = HHCS x (SOF – Fo)
SOF = Fo: Khách hàng không lỗ, không lãi
SOF >Fo: Khách hàng được lãi Mức lãi chênh lệch dương (+) của (SOF – Fo)
Số lãi = HHCS x (SOF – FF)
Minh họa bằng đồ thị
Hình 3.1: Lỗ, lãi trong hợp đồng kỳ hạn mua
- Đối với hợp đồng kỳ hạn bán:
Tỷ giá hợp đồng: Tỷ giá kỳ hạn mua FB
Tỷ giá bán giao ngay tại thời điểm đáo hạn là SBF
Đến ngày đáo hạn, các trường hợp xảy ra giữa FB và SBF
+ SBF < FB: Khách hàng được lãi Mức lãi là chênh lệch dương của (FB – SBF)
Số lãi = HHCS x (FB – SBF)
SB = FB: Khách hàng không lỗ, không lãi;
SBF > FB: khách hàng bị lỗ Mức lỗ là chênh lệch âm của (FB – SBF)