1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

van hoa dai cuong 4204

169 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa, Định Nghĩa Và Bản Chất
Tác giả Trần Ngọc Thêm
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Thơ
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Tập bài giảng
Năm xuất bản Năm 20…
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 7,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rồng mang một số đặc trưng quan trọng liên quan đến văn hóa Bách Việt như 1 nguyên mẫu chính từ rắn hoặc cá sấu, tức các loài động vật phổ biến củaphương Nam1, 2 tính cách thích nư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Khoa Văn hóa học -o0o -

TẬP BÀI GIẢNG

Môn ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA HỌC

TS Nguyễn Ngọc Thơ

Năm 20…

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1: VĂN HÓA

1 Lịch sử văn hóa và văn minh

2 Khái niệm văn hóa

3 Đặc trưng của văn hóa

4 Chức năng của văn hóa

5 Bản sắc văn hóa

6 Cấu trúc văn hóa

7 Loại hình văn hóa

8 Toàn cầu hóa và văn hóa

Chương 2: VĂN HÓA HỌC

1 Tổng quan Văn hóa học

2 Qúa trình hình thành và phát triển văn hóa học ở phương Tây

3 Lý luận Văn hóa học ở Trung Quốc

4 Văn hóa học và Nghiên cứu văn hóa

5 Một số lý thuyết Văn hóa học tiêu biểu

a Tiến hóa luận cổ điển

b Tân tiến hóa luận

Chủ nghĩa Hậu cấu trúc

Chủ nghĩa Hậu Nhân văn

Trang 3

CHƯƠNG I VĂN HÓA

1 NHẬN DIỆN VĂN HOÁ

GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp HCM

Ngày nay, không còn ai nghi ngờ gì về sự tồn tại của văn hóa học như mô ̣t khoa học đô ̣c lâ ̣p Tuynhiên, nền tảng lý luâ ̣n của nó thì vẫn đang trên đường hoàn thiê ̣n

Nền tảng lý luâ ̣n của văn hóa học có thể được xây dựng từ nhiều hướng, nhưng trong bất kỳ trườnghợp nào thì nó cũng phải giúp giải quyết được những vấn đề rất cụ thể do thực tiễn đă ̣t ra Trước hết, nóphải cho phép trả lời ba câu hỏi: Thứ nhất, làm sao để xác định được mô ̣t sự vâ ̣t, hiê ̣n tượng có thuô ̣c về

văn hóa hay không Thứ hai, làm sao để xác định được mô ̣t đối tượng có phải là mô ̣t nền văn hóa hay không Và thứ ba, làm sao để nhâ ̣n diê ̣n được mô ̣t nghiên cứu có phải là thuô ̣c lĩnh vực văn hóa học hay

I- Định nghĩa văn hoá

a) Văn hoá như một hệ giá tri

Không thoả mãn với những định nghĩa đã có, trong bản in đầu tiên (lưu hành nô ̣i bô ̣) của cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội ấn hành năm 1991 [Trần Ngọc Thêm 1991],

chúng tôi đã đề xuất định nghĩa coi "văn hoá là mô ̣t hê ̣ thống hữu cơ của các giá trị vâ ̣t chất và tinh thần

do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt đô ̣ng thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tựnhiên và xã hô ̣i của mình" Định nghĩa này vẫn được giữ nguyên trong các bản in chính thức sau này của

cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam cũng như cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của cùng tác giả

Định nghĩa này xem văn hóa như mô ̣t hê ̣ giá trị Trong lý luâ ̣n văn hóa học, những định nghĩa như vâ ̣y

thường được xếp vào "cách tiếp câ ̣n giá trị học" (axiological approach, t Hy Lạp axios = giá trị), bên cạnh

những cách tiếp câ ̣n khác như miêu tả, chức năng, nhân loại học, tâm lý học, xã hội học, ký hiê ̣u học

Trang 4

Có ý kiến cho rằng chỉ giới hạn văn hóa ở các giá trị là thu hẹp pham vi của nó và đối lâ ̣p cách tiếp câ ̣n

giá trị học với cách tiếp câ ̣n nhân loại học coi văn hóa là tổng thể các sản phẩm hoạt đô ̣ng của con người,

họ cho rằng chỉ có như vâ ̣y mới bao quát được toàn bô ̣ khái niệm văn hóa

Thực ra, nói như vâ ̣y là chưa hiểu hết khái niệm giá trị

"Giá trị" là khái niê ̣m có đô ̣ bao quát rất lớn Không chỉ các đồ vâ ̣t, sách vở, tác phẩm nghê ̣ thuâ ̣t mới

có thể là giá trị, mà cả truyền thống, nếp sống, chuẩn mực, tư tưởng, thiết chế xã hô ̣i, biểu trưng, thôngtin đều có thể là giá trị Không chỉ các sản phẩm mới là giá trị, mà cả các hoạt đô ̣ng, công nghê ̣, quytrình, phương thức, quan hê ̣ đều có thể xác định như các giá trị Giá trị có thể hữu hình hoă ̣c vô hình, cóthể tĩnh hoă ̣c đô ̣ng Và điều quan trọng là giá trị phụ thuô ̣c vào người đánh giá, nơi đánh giá, thời điểmđánh giá, tiêu chí đánh giá, v.v Vì vâ ̣y, mọi sản phẩm hoạt đô ̣ng của con người đều có thể là giá trị Ngoài ra, văn hóa không chỉ là những giá trị, mà còn là những biểu tượng

b) Văn hoá như một hệ biểu tượng

Hoạt động sáng tạo ra các giá trị văn hóa có thể xuất phát từ những tư tưởng, ý nghĩa mà tạo ra nhữngsự vật, khái niệm thể hiê ̣n các tư tưởng, ý nghĩa đó; hoă ̣c cũng có thể ngược lại, xuất phát từ những sự vật

có sẵn để tìm mô ̣t tư tưởng, ý nghĩa thích hợp để gán vào Bất luâ ̣n trong trường hợp nào, hoạt động "gắn

mô ̣t sự vật, khái niệm với mô ̣t ý nghĩa, tư tưởng" là hoạt đô ̣ng biểu trưng

Sản phẩm của hoạt động biểu trưng là biểu tượng (symbol) Biểu tượng là tổng thể của hình ảnh được

trưng ra (cái biểu hiê ̣n) cùng mối quan hê ̣ của nó với sự vật, khái niệm, tư tưởng mà nó thay thế (cái được biểu hiê ̣n, ý nghĩa)

Thực vâ ̣t là sản phẩm tự nhiên Thực vâ ̣t ăn được / không ăn được cũng là phẩm chất của tự nhiên.

Nhưng cùng mô ̣t loại thực vâ ̣t, tô ̣c người này ăn, tô ̣c người kia có thể không ăn Cùng ăn, nhưng tô ̣c ngườinày đánh giá là ngon, tô ̣c người kia cho là không ngon Viê ̣c gắn quan niê ̣m "ăn / không ăn", "ngon /không ngon" vào mô ̣t loại thực vâ ̣t là hoạt động biểu trưng, xuất phát từ cùng mô ̣t chất liê ̣u tự nhiên mà

tạo nên những biểu tượng khác nhau: "thực vâ ̣t ăn / không ăn", "thực vâ ̣t ngon / không ngon" Những biểu

tượng đó thuô ̣c về văn hóa

Nhờ có mối quan hê ̣ với cái được biểu hiê ̣n và cùng với nó (quan hê ̣) mà cái biểu hiê ̣n trở thành biểu tượng văn hóa Nhờ có mối liên hê ̣ với ý nghĩa và cùng với nó mà mô ̣t sự vâ ̣t trở thành giá trị văn hóa.

"Biểu tượng" và "giá trị" thực chất là hai khái niệm tương đồng, chúng thể hiê ̣n cùng mô ̣t đối tượng từ haigóc đô ̣ khác nhau

Như vâ ̣y, định nghĩa văn hóa đã nêu sẽ có cách trình bày thứ hai như sau: Văn hóa là mô ̣t hệ thống

biểu tượng do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi

trường tự nhiên và xã hội của mình

Khi dùng khái niệm "biểu tượng" là ta muốn chỉ ra phương thức cấu tạo của đơn vị văn hóa; còn khi dùng khái niệm "giá trị" là ta muốn nói đến tính sản phẩm của đơn vị văn hóa đó

Ta cũng có thể kết hợp cả hai cách trình bày thành mô ̣t định nghĩa tổng quát: Văn hóa là mô ̣t hệ

thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực

tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình

c) Văn hoá trong một hệ toạ độ và như một chùm đặc trưng

Ý nghĩa của định nghĩa này là ở chỗ nó cung cấp cho ta hai bô ̣ công cụ quan trọng cho viê ̣c tìm hiểu vànghiên cứu văn hóa

Bô ̣ công cụ thứ nhất mà định nghĩa văn hóa cung cấp là mô ̣t hê ̣ toạ đô ̣ ba chiều mà trong đó văn hoá tồn tại: Định nghĩa nói đến Con người - đó là Chủ thể văn hoá Định nghĩa nói đến Môi trường tự nhiên và xã hô ̣i - đó là Không gian văn hoá Định nghĩa nói đến Quá trình hoạt đô ̣ng - đó là Thời gian văn

hoá Viê ̣c cụ thể hoá ba thông số của hê ̣ toạ đô ̣ này sẽ cho ta những nền văn hoá, những tiểu văn hóa, và

những biến thể văn hoá khác nhau

Trang 5

Bô ̣ công cụ thứ hai mà định nghĩa văn hóa cung cấp là mô ̣t chùm bốn đă ̣c trưng cho phép nhâ ̣n diê ̣n

văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị (hoă ̣c tính biểu trưng), tính nhân sinh và tính lịch sử Đó là bốn đă ̣c

trưng cần và đủ, có thể dùng làm công cụ để phân biê ̣t văn hóa với những khái niê ̣m, hiê ̣n tượng có liênquan

II- Nhâ ̣n diê ̣n văn hoá

Dựa vào bô ̣ công cụ thứ hai của định nghĩa văn hoá là chùm bốn đă ̣c trưng, ta có thể nhâ ̣n diê ̣n đối

tượng có thuô ̣c về văn hóa hay không bằng cách xem xét nó trên hai bình diê ̣n: bình diê ̣n yếu tố và bình diê ̣n quan hê ̣

Bình diê ̣n yếu tố cho phép nhâ ̣n diê ̣n văn hóa mô ̣t cách đô ̣c lâ ̣p: mô ̣t đối tượng sẽ là văn hóa hoă ̣c

không phải là văn hóa

Bình diê ̣n quan hê ̣ cho phép nhâ ̣n diê ̣n văn hóa mô ̣t cách tương đối: mô ̣t đối tượng đă ̣t trong những

mối quan hê ̣ này thì là văn hóa nhưng đă ̣t trong những mối quan hê ̣ khác thì lại có thể không phải là vănhóa

1 Bình diê ̣n yếu tố: khu biê ̣t Văn hoá với Tự nhiên và Văn minh

Trên bình diê ̣n yếu tố, văn hóa được phân biê ̣t với tự nhiên và văn minh Văn hóa phân biê ̣t với tự nhiên là nhờ tính nhân sinh Văn hóa phân biê ̣t với văn minh là nhờ tính lịch sử

a) Văn hoá với Tự nhiên: Tính nhân sinh

Tính nhân sinh cho phép phân biê ̣t văn hoá với tự nhiên Văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người

và gián tiếp của tự nhiên Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, là mô ̣t "tự nhiên thứ hai"

Tính nhân sinh, thông qua tính biểu trưng, là mô ̣t đă ̣c trưng định tính cho phép nhâ ̣n biết giá trị văn hoá

của mô ̣t sự vâ ̣t (hiê ̣n tượng) có nguồn gốc tự nhiên

Tuy nhiên, do mọi đối lâ ̣p đều chỉ là tương đối cho nên, trên thực tế, không phải cứ có tính nhân sinh

là đã đủ để xếp mô ̣t sự vâ ̣t (hiê ̣n tượng) vào văn hoá Vịnh Hạ Long, hòn Vọng Phu, đều có bàn tay vàkhối óc của con người, chúng đều có tính nhân sinh Nhưng để khu biê ̣t và quyết định xếp đối tượng này

vào tự nhiên, đối tượng kia vào văn hóa, cần so sánh mức đô ̣ tỷ lê ̣ giữa "chất con người" và "chất tự nhiên"

trong mỗi đối tượng Như vâ ̣y, định tính vẫn phải kết hợp với định lượng mới đủ để giải bài toán khu biê ̣t

b) Văn hoá với văn minh: Tính lich sư

Tự nhiên được biến thành văn hóa là nhờ có hoạt đô ̣ng xã hô ̣i - sáng tạo của con người Bản thân các

hoạt đô ̣ng này cũng chính là những giá trị văn hoá Hoạt đô ̣ng sáng tạo và tích lũy các giá trị diễn ra trong thời gian tạo nên tính lịch sử

Tính lịch sử đảm bảo sự ổn định của văn hoá và cho phép phân biê ̣t văn hóa như cái được tích lũy lâu

đời với văn minh như cái chỉ trình đô ̣ phát triển ở mô ̣t thời điểm nhất định Những sản phẩm vừa ra lòhàng loạt của văn minh mang đâ ̣m đă ̣c chất nhân sinh, nhưng thiếu hẳn tính lịch sử Khi được sử dụng,

chúng bắt đầu có cuô ̣c sống riêng của mình, chúng được cá thể hoá, lịch sử hoá, và phần nào tự nhiên hoá.

 Tự

nhiên2

Hình 1: Cuô ̣c đời mô ̣t sản phẩm văn minh

Cuô ̣c đời của mô ̣t sản phẩm văn minh có thể hình dung như mô ̣t quá trình gồm hai giai đoạn, mỗigiai đoạn gồm 3 bước (x hình 1) Ở giai đoạn mô ̣t, xuất phát từ chất liê ̣u tự nhiên, sử dụng các thành tựuvăn hóa đã tích luỹ được và nâng cao lên để tạo ra sản phẩm văn minh Ở giai đoạn hai, sản phẩm văn

Trang 6

minh đi vào cuô ̣c sống, được lịch sử hoá và trở thành sản phẩm văn hóa; mô ̣t sản phẩm văn hóa thiếu sựchăm sóc của con người sẽ được tự nhiên hoá, trở về với tự nhiên (chẳng hạn quá trình từ mô ̣t kiến trúchiê ̣n đại trở thành phế tích)

Bảng 1: Quan hê ̣ giữa văn hóa với tự nhiên và văn minh

Khu biê ̣t: TỰ NHIÊN VĂN HOÁ VĂN MINH

Hoạt đô ̣ng chủ đạo: Bảo tồn Phát triển

Như vâ ̣y, văn hoá đứng giữa tự nhiên và văn minh Khi mô ̣t đối tượng chưa có hoă ̣c có quá ít tính

nhân sinh thì nó thuô ̣c về tự nhiên Còn khi mô ̣t sản phẩm của con người tạo ra mà chưa có hoă ̣c có quá ít tính lịch sử thì nó thuô ̣c về văn minh Khi tự nhiên không lấn át con người và con người không lấn át tự nhiên thì trước mă ̣t ta là văn hoá Tự nhiên thiên về âm tính và có năng lực bảo tồn rất cao; văn minh

thiên về dương tính và, ngược lại, có năng lực phát triển rất cao Văn hóa đứng giữa hai cực ấy (x bảng

1) Chính nhờ sự hài hoà ấy mà chỉ có văn hóa mới có thể vừa là nền tảng, vừa là đô ̣ng lực cho sự pháttriển của xã hội

2 Bình diê ̣n quan hê ̣: khu biê ̣t Văn hoá với Phi văn hoá và Tâ ̣p hợp giá trị

Trên bình diê ̣n quan hê ̣, văn hóa được phân biê ̣t với phi văn hoá và tâ ̣p hợp giá trị Văn hóa phân biê ̣t

với phi văn hoá là nhờ tính giá trị Văn hóa phân biê ̣t với tâ ̣p hợp giá trị là nhờ tính hê ̣ thống

a) Văn hóa với Phi văn hoá: tính giá tri

Mô ̣t đối tượng đã có tính nhân sinh (do con người tạo ra), tính lịch sử (tồn tại trong mô ̣t khoảng thờigian nhất định), còn phải có tính giá trị và tính hê ̣ thống nữa mới trở thành văn hóa Nếu thiếu tính giá trị

thì nó là phi văn hóa

Nhưng mă ̣t khác, cuô ̣c sống của con người là mô ̣t quá trình tìm kiếm các giá trị để thoả mãn các nhu cầu Do vâ ̣y, không có cái gì mà con người tạo ra lại không có giá trị và không thuô ̣c về văn hóa (nếu có

đủ ba đă ̣c trưng còn lại) Mà nếu vâ ̣y thì phi văn hoá do con người tạo ra thực chất cũng là mô ̣t loại vănhóa!

Sở dĩ có nghịch lý này là vì vạn vâ ̣t đều có tính hai mă ̣t, đồng thời chứa cả giá trị và phi giá trị Giátrị chỉ là kết quả thẩm định dương tính của chủ thể đối với đối tượng theo mô ̣t hoă ̣c mô ̣t số thang đô ̣ nhấtđịnh Do vâ ̣y, giá trị là khái niệm có tính tương đối Nó phụ thuô ̣c vào chủ thể, không gian và thời gian

Giá trị phụ thuô ̣c vào không gian: cùng mô ̣t đối tượng - chẳng hạn như mắm tôm - có giá trị ở Viê ̣t Nam nhưng không có giá trị ở phương Tây Nó phụ thuô ̣c vào thời gian: mắm tôm có giá trị vào bữa ăn nhưng không có giá trị vào lúc đang họp hô ̣i nghị Nó còn phụ thuô ̣c vào chủ thể định giá: mắm tôm chỉ

có giá trị đối với người biết ăn Phong trào "phản văn hóa" ( anti-culture) trong trào lưu hâ ̣u hiê ̣n đại chủ

trương coi mọi thứ là vô nghĩa, vô giá trị chính là mô ̣t loại văn hóa của những người thuô ̣c phái "tự yêu

mình" (narcissism) [Cahoone L.E 1988: 209]

Vì vâ ̣y, muốn xác định được giá trị của mô ̣t sự vâ ̣t (khái niệm) thì phải xem xét nó trong hê ̣ toạ đô ̣

"không gian - thời gian - chủ thể" cụ thể, trong mối tương quan giữa mức đô ̣ "giá trị" và "phi giá trị" mà

nó có Mô ̣t sự vâ ̣t, hiê ̣n tượng có thể có giá trị trong hê ̣ toạ đô ̣ này, nhưng lại là phi giá trị, và do vâ ̣y là phivăn hoá, trong mô ̣t hê ̣ toạ đô ̣ khác

Nhờ vâ ̣y, tính giá trị cho phép phân biê ̣t văn hóa với những hiê ̣n tượng vô văn hóa, phi văn hóa, phảnvăn hóa; nhưng đồng thời vẫn không loại bỏ bất kỳ mô ̣t sản phẩm nào, mô ̣t hoạt đô ̣ng nào của con

Trang 7

người[1] Nhờ tính giá trị, ta có được cái nhìn biê ̣n chứng và khách quan trong viê ̣c đánh giá sự vâ ̣t, hiê ̣ntượng; tránh được những xu hướng cực đoan - phủ nhâ ̣n sạch trơn hoă ̣c tán dương hết lời

b) Văn hóa với Tập hợp giá tri: tính hệ thống

Mô ̣t tâ ̣p hợp giá trị có tính nhân sinh, tính lịch sử và tính giá trị thì đã thuô ̣c văn hoá rồi, nhưng do

rời rạc nên nó không phải là mô ̣t đối tượng văn hoá riêng biê ̣t mà thôi

Tâ ̣p hợp có thể bao gồm những giá trị riêng biê ̣t thuô ̣c mô ̣t nền văn hóa, trong trường hợp này, viê ̣c

hê ̣ thống hoá, sắp xếp, liên kết chúng lại với nhau sẽ cho ta hình ảnh trọn vẹn của nền văn hoá đó

Nhưng tâ ̣p hợp cũng có thể bao gồm những giá trị riêng biê ̣t ngẫu nhiên thuô ̣c nhiều nền văn hóakhác nhau Trong trường hợp này thì tâ ̣p hợp vẫn chỉ dừng lại ở mức đô ̣ mô ̣t tâ ̣p hợp rời rạc mà thôi Như vâ ̣y, TÍNH HỆ THỐNG là mô ̣t yêu cầu quan trọng, nó đòi hỏi phải xem xét mọi giá trị văn hóatrong mối quan hê ̣ mâ ̣t thiết với nhau Nó giúp khắc phục nhược điểm lớn nhất của nhiều định nghĩa vănhóa lâu nay là coi văn hóa như mô ̣t phép cô ̣ng đơn thuần của những tri thức rời rạc từ nhiều lĩnh vực Địnhnghĩa văn hóa của E.B Taylor coi văn hóa như mô ̣t "phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghê ̣ thuâ ̣t,đạo đức, luâ ̣t pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác " [1871: 13] thuô ̣c loại như thế Viê ̣c nhâ ̣n diê ̣n "chất văn hóa" và khu biê ̣t nó với bốn hiê ̣n tượng có liên quan có thể được tổng kếtnhư sau (hình 2 & bảng 2)

Bảng 2: Nhâ ̣n diê ̣n "chất văn hóa"

Bình diê ̣n

yếu tố

Tự Nhiên + yếu tố con người

= VĂNHÓA

Văn Minh + yếu tố thời gian Bình diê ̣n

quan hê ̣

Phản Văn hóa + quan hê ̣ với toạ đô ̣ gốc

Tâ ̣p hợp Giá trị + quan hê ̣ với nhau

III- Nhâ ̣n diê ̣n các loại văn hoá

1 Văn hóa xét theo chủ thê

Trong định nghĩa văn hóa, chúng tôi dùng khái niệm "con người" để chỉ chủ thể văn hóa Đây là mô ̣t

phạm trù có đô ̣ bao quát khá rô ̣ng CON NGƯỜI tạo nên văn hoá có thể là mô ̣t cá nhân, mô ̣t tổ chức, mô ̣t

tô ̣c người, mô ̣t dân tô ̣c, cư dân của mô ̣t quốc gia, mô ̣t khu vực hoă ̣c toàn nhân loại.Mọi loại chủ thể vừa

nêu (trừ những em bé tử vong trong vòng mô ̣t tuổi, những tổ chức sớm nở tối tàn) đều "có văn hóa",nhưng không phải loại nào cũng "có văn hóa riêng"

"Có văn hóa" là khái niệm rô ̣ng hơn, văn hóa đó có thể do mình tạo ra, mang nét đă ̣c thù riêng của

mình, nhưng cũng có thể chỉ là văn hóa tiếp nhâ ̣n được, do nhiều đối tượng cùng sở hữu Để "có văn hóa"

chỉ cần đòi hỏi mô ̣t sự ổn định tương đối

"Văn hóa" nói đến trong định nghĩa là văn hóa được chủ thể sáng tạo ra, tức là văn hóa riêng Để " có

văn hóa riêng", đòi hỏi chủ thể phải có bản lĩnh mạnh

Cá nhân, nhất là cá nhân trong các nền văn hóa phương Đông, có khuynh hướng hoà mình vào cô ̣ng

đồng, nên phần đông đều không có văn hóa riêng Văn hóa riêng chỉ có ở các vĩ nhân

Phần nhiều các làng trong mô ̣t tô ̣c người, các công ty, các đô thị trong mô ̣t quốc gia có khuôn mă ̣t

giống nhau, cách tổ chức na ná như nhau cũng không có văn hóa riêng Có văn hóa riêng, phải là nhữnglàng rất đă ̣c thù, những công ty rất mạnh và có mô ̣t truyền thống ổn định

Chỉ có tô ̣c người (ethnic group) là chủ thể văn hóa điển hình nhất Mọi tô ̣c người đều có cùng nguồn

gốc, có cùng thời gian tồn tại trên cùng mô ̣t lãnh thổ cư trú, có ngôn ngữ riêng tạo thành mô ̣t lối ứng xử,lối tư duy đă ̣c thù, do vâ ̣y mọi tô ̣c người đều có văn hóa riêng

Trang 8

Dân tô ̣c - quốc gia (nation-etat) cũng có văn hóa riêng Đó là quốc gia đơn tô ̣c người hoă ̣c đa tô ̣c

người, mà những tô ̣c người này có cùng nguồn gốc hoă ̣c tuy có khác về nguồn gốc nhưng đã có thời giancùng chung sống khá dài, đủ tạo nên mô ̣t cái nền chung về ngôn ngữ, phong tục, tư duy Tuy nhiên, vănhóa của dân tộc - quốc gia dẫu sao cũng kém điển hình hơn so với văn hóa của tô ̣c người

Không phải quốc gia nào cũng có văn hóa riêng Những quốc gia đa tô ̣c người, mà những tô ̣c người

này có nguồn gốc rất khác nhau, thời gian cùng chung sống trên mô ̣t lãnh thổ lại quá ít thì chưa thể có vănhóa riêng được (như Australia)

Khả năng có văn hóa riêng của khu vực lại càng thấp nữa Chỉ có những khu vực có bản sắc mạnh do

cư dân là những tô ̣c người có cùng nguồn gốc, hoă ̣c sử dụng cùng mô ̣t ngôn ngữ, chữ viết, theo cùng mô ̣ttôn giáo thì mới có khả năng tạo dựng nên mô ̣t văn hóa đă ̣c thù (như văn hóa Đông Nam Á, văn hóaĐông Bắc Á, văn hóa Nga-Slavơ, văn hóa Hồi giáo )

Nhân loại thì quá đa dạng để mà có mô ̣t văn hóa riêng Cái mà ta vẫn gọi là "văn hóa nhân loại" thực

ra chỉ là mô ̣t cách nói tu từ để chỉ tổng thể các thành tựu, các giá trị của các nền, các vùng văn hóa, hoă ̣cnhững phần chung nhất của chúng

Như vâ ̣y, chủ thể văn hóa điển hình là những nhóm người có số lượng vừa phải (không quá ít, nhưngcũng không quá nhiều), tâ ̣p hợp theo mô ̣t chùm tiêu chí thống nhất về chủ thể, không gian, thời gian, ngônngữ Khả năng có văn hóa riêng của các loại chủ thể khác nhau có thể hình dung bằng biểu đồ ở hình 3 Tuy mô ̣t số loại chủ thể có thể có văn hóa riêng, nhưng tính chất của chúng không như nhau Văn hóa

tô ̣c người và văn hóa dân tộc - quốc gia nhờ có ngôn ngữ chung nên có tính điển hình cao nhất, chúng là

những NỀN văn hóa Văn hóa của cá nhân, của tổ chức chỉ khu biê ̣t về mô ̣t số mă ̣t, về những mă ̣t khác thì đồng nhất với văn hóa của chủ thể lớn hơn mà chúng lê ̣ thuô ̣c, nên chúng là những TIỂU văn hóa Văn hóa của khu vực bao gồm nhiều nền văn hóa bô ̣ phâ ̣n - đó là VÙNG văn hóa

2 Văn hóa xét theo không gian, thời gian, đối tượng

Cùng mô ̣t nền/vùng/tiểu văn hóa, nhưng đă ̣t trong những Không gian khác nhau sẽ tạo nên các biến thể không gian của văn hóa, vd: văn hóa Việt Nam hải ngoại, văn hóa Honda Việt Nam

Cùng mô ̣t nền/vùng/tiểu văn hóa, nhưng đă ̣t trong những Thời gian khác nhau sẽ tạo nên các biến thể thời gian của văn hóa, vd: văn hóa trung đại, văn hóa hiê ̣n đại

Xét theo đối tượng khảo sát, có thể phân biê ̣t văn hóa của từng bô ̣ phâ ̣n - đó là các thành tố văn hóa,

như văn hóa nghệ thuật, văn hóa chính trị, văn hóa tôn giáo

Tài liê ̣u trích dẫn

1 Cahoone Lawrence E 1988: The Dilemma of Modernity: Philosophy, Culture, and AntiCulture

-N.Y.: State University of New York Press, 325 p

2 Trần Ngọc Thêm 1991: Cơ sở văn hóa Việt Nam, tâ ̣p 1+2 (lưu hành nô ̣i bô ̣) - H.: Trường Đại học

Ngoại ngữ Hà Nội

3 Tylor E.B 1871: Primitive Culture Bản dịch tiếng Viê ̣t: Văn hóa nguyên thuỷ - H.: Tạp chí Văn

hóa Nghệ thuật, 2000, 1046 tr

Trang 9

[1] Ngay cả những hiê ̣n tượng tưởng như xấu xa tồi tê ̣ nhất như ma tuý, mại dâm, chiến tranh, chửi nhau cũng có những mă ̣t giá trị của nó Và ngay cả những hiê ̣n tượng tưởng như tốt đẹp nhất như thành tựu yhọc, thuỷ điê ̣n cũng có những mă ̣t phi giá trị của nó

B – BÀI ĐỌC

1 RỒNG TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

Nguyễn Ngọc Thơ

(Đã đăng trên Đặc san Khoa học Xã hội số 42, tháng 1 năm 2012)

Rồng là một biểu tượng văn hóa có độ phổ biến vào loại cao nhất thế giới Xét theo hình thức cấu tạo, rồng là linh vật tổng hợp từ nhiều loài vật khác nhau, song luôn có hình dáng gần nhất với một loài vật chính Dân gian phương Đông dùng thuyết “tam đình cửu tự” (thân 3 khúc: đầu, thân, đuôi, kết hợp từ 9 nét khác nhau của 9 loài vật có thật gồm “cửu tự” là chín nét giống, gồm: sừng giống nai, đầu giống đà, mắt giống thỏ, thân giống rắn, bụng giống trai, vảy giống cá, ngón chân giống chim, chân giống hổ, tai giống bò) để nói lên đặc trưng tổng hợp ấy, và để lý giải vị trí bá chủ vạn vật của rồng

1 Nguồn gốc Bách Việt của rồng

Nghiên cứu cho thấy rồng Đông Á mang nguồn gốc Bách Việt cổ (cộng đồng cư dân cổ thuộc ngữ hệAustro-asiatic cư trú từ hạ lưu Dương Tử đến Bắc Đông Dương, trong đó có tổ tiên Lạc Việt) trên cơ sở

của sự kết hợp rắn, cá sấu và nhiều loại vật khác Rồng mang một số đặc trưng quan trọng liên quan đến

văn hóa Bách Việt như (1) nguyên mẫu chính từ rắn hoặc cá sấu, tức các loài động vật phổ biến củaphương Nam(1), (2) tính cách thích nước và sinh sống ở môi trường sông nước; và (3) rồng là sản phẩmtổng hợp của tư duy âm dương phương Nam Theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn (2000), tên gọi

Rồng vốn xuất hiện trong tiếng Viê ̣t và mô ̣t số ngôn ngữ thuô ̣c tiểu chi Proto Viê ̣t-Chứt; từ Thìn trong thập

nhị địa chi là tên gọi do người Hán vay mượn từ ngôn ngữ Bách Việt cổ Người Bách Viê ̣t, mà cụ thể

là Lạc Viê ̣t, với truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, tự xem mình là “con Rồng cháu Tiên”

Nhiều nhà nghiên cứu Trung Hoa cũng đồng nhất quan điểm này Tác giả Văn Nhất Đa trong chuyênkhảo “Đoan ngọ khảo” (1993) gắn nguồn gốc xuất hiện của rồng với tết Đoan ngọ và tục đua thuyền rồngcủa cư dân Ngô Việt vùng hạ lưu Dương Tử Ngày nay, các vùng đất Nam Trung Hoa, Việt Nam, ĐàiLoan, Okinawa vẫn còn tục đua thuyền rồng trong các dịp đón năm mới, tết Đoan ngọ hay lễ hội truyềnthống (Trịnh Tiểu Lô 1997) Tác giả Trung Hoa Nghê Nông Thủy (2010) chứng minh nguồn gốc BáchViệt của tết Đoan ngọ cùng tục đua thuyền rồng, sau được người Trung Hoa tiếp nhận và gắn thêm chứcnăng cứu Khuất Nguyên để giáo dục cội nguồn

Nhà dân tộc học người Nga D.V Deopik (1993) từng viết “Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cảcác dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hóa Trung Hoa” Còn nhà Việt Nam học người Nga N I.Niculin cũng nhận xét: “Trong văn hoá truyền thống của người Việt, hình tượng con Rồng – một con vậttưởng tượng – trở thành biểu tượng quan trọng nhất Chính người Việt từ ngàn xưa đã biết trồng lúa nước

và đánh cá Hoàn toàn có cơ sở để cho rằng hình tượng con rồng trong văn hoá Trung Hoa có nguồn gốctừ phương Nam, từ vùng Đông Nam Á, từ Việt Nam và các quốc gia láng giềng ” (2)

Từ chiếc nôi Bách Việt, rồng lan truyền ra xung quanh, tại mỗi địa phương rồng khoác lên sắc tháivăn hóa của riêng địa phương mình Chính vì vậy, rồng đã trở nên đa dạng về chủng loại và hình dáng, tạonên một “Gia tộc họ rồng” cực kỳ đa dạng về hình thức lẫn chức năng

Trang 10

Lấy giới tính làm tiêu chí phân loại thì có hai loại rồng đực đuôi có hạt châu hoặc chỉ có chiếc đuôiđơn thuần và rồng cái đuôi phân nhánh thành hoa văn hoa cỏ.

Thứ hai là tiêu chí nguyên mẫu Rồng hình thành từ sự kết hợp đa loài, dù vậy vẫn cóthể nhận diện loài vật đặc trưng nhất Tiêu biểu có rồng rắn, rồng cá sấu, rồng cá,rồng ngựa, rồng hổ, rồng chó, rồng chim, rồng thuồng luồng (giao long), rồng kỳ đà,rồng cáo…

Rồng cá sấu

Trang 11

Rồng kì nhông Rồng kỳ đà Rồng lợn

Còn nếu dựa vào tứ chi của rồng để phân thì có các loại rồng 5 móng, 4 móng, 3 móng; không chân vàrồng có tứ chi là hoa văn cây cỏ Rồng 5 móng là loại rồng chuẩn, từ đầu Công nguyên trở đi đã trở thànhbiểu tượng của vua chúa, thường xuyên bị hoàng gia lũng đoạn, dân gian bị cấm dùng Quan lại chỉ đượcphép dùng rồng 4 móng, có thời kì bị bắt buộc dùng hình mãng xà (như thời Minh ở Trung Quốc) Rồngkhông chân thường được hiểu là thuồng luồng, xuất hiện nhiều trong truyền thuyết dân gian Rồng có tứchi phát triển thành hoa văn hoa cỏ thường được dùng nhiều trong nghệ thuật trang trí kiến trúc hay hộihọa truyền thống

Bị hí (赑屃 bìxì, tên khác là bá hạ 霸下 ba’xià), bát phúc (八蝮 ba’fu) là con trưởng của rồng (hình

32, 33) Bị hí có nghĩa đen là cố lấy sức [Phan Văn Các, 1993: 67] Bị hí có sực mạnh vượt bậc, hình dáng

giống con rùa, đầu rồng Bị hí chịu được trọng lượng lớn nên thường được chạm khắc trang trí làm bệ đỡ

cho các bệ đá, cột đá, bia đá v.v… Trần Mậu Nhân đời Minh trong cuốn Già Vật Dị Danh Sớ có viết

Trang 12

“Rồng sinh chín con, mỗi con có một sở thích riêng Bát phúc chịu nặng, hiện là con vật dưới chân bia”(Long sinh cửu tử, các hữu kì hiếu Bát phúc, hiếu phụ trọng, kim bi hạ thú 龙生九子,各有所好。八蝮,好负重,今碑下兽) Người Trung Hoa ngoài đời còn gọi bị hí là thạch long quy (石龙龟) Rùa làcon vật sống thọ, do vậy, người Trung Hoa coi linh vật họ rồng này là vật tượng trưng cho sự cát tường,trường thọ.

Hình 32: bị hí Hình 33: bị hí Nguồn [Diệp Ứng Toại 2001:

119]

Li vẫn (螭 吻 chi’wen)còn gọi là si vẫn (蚩 吻 chi’wen), là con thứ hai của rồng (hình

34-36) Hiện các tác giả Trung Hoa chưa thống nhất tên gọi của con vật này Ví dụ DiệpỨng Toại [2001: 120] gọi là li vẫn, nhưng Ninh Nghiệp Cao [1999: 25] lại gọi là sivẫn Li là tên loài động vật trong truyền thuyết, si là đần độn, vẫn là môi, mõm độngvật [Phan Văn Các 1993: 161, 1250] Tuy vậy, trong tiếng Hán, li và si cùng âm Livẫn có đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn Đặc trưng sở thích của li vẫn là ngắm cảnh

và cắn nuốt đồ vật Ngoài ra, tương truyền li vẫn thường giúp dân diệt hỏa hoạn Từnhững đặc trưng này, li vẫn được chạm khắc làm vật trang trí trên nóc các cung điện

cổ, chùa chiền, đền đài… ngụ ý trấn hỏa, bảo vệ bình yên cho công trình

Trang 13

Hình: 1.34 (trên): Xi vẫn 1

Hình 35 (bên phải, trên): Xi vẫn 2

Hình 36 (bên phải, dướii): Xi vẫn 3

Nguồn: [Diệp Ứng Toại 2001: 120]

Bồ lao (蒲牢 púláo) là con thứ ba của rồng (hình 37) Bồ trong tiếng Hán không có nghĩa, lao là vật

tế thần hoặc bền vững [Phan Văn Các 1993: 723] Tương truyền bồ lao thích âm thanh lớn Trong tácphẩm Đông Thành Phú, Ban Cố có viết “Vì thế khi thấy kình ngư, kêu to như chuông” (Vu thị phát kìnhngư, khanh hoa chung “于是发鲸鱼,铿华钟”)[Ninh Nghiệp Cao 1999: 25] Bồ lao thường dạo chơidưới biển Ở biển có loài cá kình hung ác, hễ cá kình uy hiếp thì bồ lao la to, cá kình sợ mà bỏ chạy Dângian khi đúc chuông thường cho khắc hình bồ lao trên quai chuông, mong muốn chuông được đúc có tiếng

to, vang xa như tiếng bồ lao

Hình 37 (trái): Bồ lao Hình 38 (trên): Bệ ngạn

Trang 14

Nguồn [Diệp Ứng Toại 2001: 121-123]

Bệ ngạn [狴犴 bì’àn] (còn gọi là bệ lao 狴牢 bì’láo, hiến chương 宪章 xian’zhang) (hình 38) Theo

Từ điển Trung – Việt của Phan Văn Các [1993: 67] thì bệ ngạn có nghĩa gốc là nhà lao hay ngục thất Bệ ngạn là con thứ tư của rồng Bệ ngạn có hình dáng giống hổ, răng nanh dài và sắc, có sức thị uy lớn Theo

truyền thuyết, bệ ngạn rất thích lý lẽ và có tài cãi lý đòi sự công bằng khi có bất công, nhờ vậy vậy uyphong lẫm liệt Sách Thăng Am Toàn Tập có viết “Tục truyền rồng sinh chín con… con thứ tư là bệ ngạn,hình dáng giống hổ, rất dũng mãnh, được đặt ở cửa nhà ngục” (Tục truyền long sinh cửu tử … tứ viết bệngạn, hình tự hổ, hữu uy lực, cố lập vu ngục môn 俗传龙生九 四曰狴犴,形似虎,有威力,故立于狱门) [Ninh Nghiệp Cao 1999: 26] Người Trung Hoa cho khắc hình bệ ngạn ở cổng nhà ngục hay ở mặttrong cổng pháp đường xét xử các vụ kiện, ngụ ý răn đe người phạm tội và nhắc nhở mọi người nên sốnglương thiện, chí thú làm ăn Công đường vốn là nơi uy nghiêm, sự có mặt của bệ ngạn đã làm tăng thêmsự uy nghiêm của pháp luật, của sự công bằng

Thao thiết (饕餮 tiao’tie) là con thứ năm của rồng (hình 39) Theo Từ điển Trung –

Việt của Phan Văn Các (chủ biên), 1993 thì thao nghĩa là tham ăn, thiết cũng là tham

ăn, do đó thao thiết có nghĩa gốc là tham ăn vô độ Trong truyền thuyết, thao thiếtvốn là con ác thú, tính tham tiền của và tham ăn vô độ Về hình dáng, thao thiết cóđôi mắt to, miệng rộng, trông rất kỳ lạ Khi đúc các vật dụng bằng đồng, nhất là các

đồ dùng trong ăn uống, người ta thường cho chạm khắc hình thao thiết với ngụ ýnhắc nhở người ăn đừng háo ăn như thao thiết

Hình: 1.39 (trên): Thao thiết

Hình 40a-b-c (phải): Công phúc

Nguồn [Diệp Ứng Toại 2001: 121-123]

Công phúc (公 蝮 gong’fu) là con thứ sáu của rồng (hình 40a-b) Công có nghĩa đen là con rết, phúc

trong cụm từ phúc xà là con rắn lao [Phan Văn Các 1993: 417] Công phúc tính vốn thích nước nên đượcngười Trung Hoa cho chạm khắc làm vật trang trí ở các công trình và phương tiện giao thông đường thủynhư cầu cống, rãnh dẫn nước, công trình thủy lợi, bến tàu, thuyền bè, v.v với mong muốn công phúc luônđược tiếp xúc với nước và cai quản, trông coi lượng nước phục vụ muôn dân

Nhai xế (睚 眦 yázi) là con thứ bảy của rồng (hình 41-42) Nhai có nghĩa đen là khoé mắt, xế cũng có nghĩa là khóe mắt, đuôi mắt Nhai xế mang nghĩa đen là trừng mắt [Phan Văn Các 1993: 1370,

Trang 15

1604] Nhai xế tính khí hung hăng, ham sát sinh và thường nổi cơn thịnh nộ NgườiTrung Hoa thường chạm khắc hình nhai xế trên các vũ khí như đao, búa, kiếm, xà,v.v ngụ ý thị uy, làm tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm của các chiến binh nơitrận mạc.

Hình 41 (trên): Nhai xế 1

Hình 42 (giữa): Nhai xế 2

Hình 43 (giữa): Toan nghê

Nguồn [Diệp Ứng Toại 2001: 121-123]

Toan nghê (狻 猊 suan’ní), còn gọi là kim nghê (金 猊 jin’ní), là con thứ tám của rồng (hình 43).

Dân gian Việt Nam gọi là con nghê [Phan Văn Các 1993: 1142] Toan nghê vốn là con vật hoang dã dũngmãnh, người đời rất kinh sợ Toan nghê có mình sư tử, đầu rồng Lúc bình thường, toan nghê thích sự tĩnhlặng và thường ngồi yên ngắm cảnh khói hương tỏa lên nghi ngút Ngày xưa, vua chúa và giới quý tộcphong kiến Trung Hoa thường cho chạm đúc hình toan nghê làm vật trang trí trên các lò đốt trầm hương,ngụ ý mong muốn hương thơm của trầm hương luôn tỏa ngát

Tiêu đồ (椒图 jiao’tú), còn gọi là phô thủ (铺首 pu’shou), là con thứ chín của rồng (hình 44) Tiêu đồ

tính khí lười biếng, thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa của mình NgườiTrung Hoa thường cho chạm khắc hình tiêu đồ trên cửa ra vào, đúng vào vị trí tay cầm khi mở, ngụ ý răn

đe kẻ lạ muốn xâm nhập, bảo vệ sự an toàn cho chủ nhà

Hình 44: Tiêu đồ Nguồn: [Diệp Ứng Toại 2001: 123]

Như đã nói trên, cho đến nay, các nhà sử học và văn hóa học Trung Quốc

đã tìm ra rất nhiều các tài liệu có miêu tả hoặc kể về chín con của rồng Ngoàichín con đã được đại đa số các tác giả Trung Hoa công nhận còn có một số

Trang 16

con vật mà một số tài liệu cho rằng chúng cũng là con của rồng như sau:

Hình 45: tù ngưu Hình 46: trào phong Hình 47: phụ hí

Nguồn: [Diệp Ứng Toại 2001: 124]

Tù ngưu (囚牛 qíu’níu) (hình 45) là tên một loài thú hình rồng trong truyền thuyết Tù ngưu có sở

thích là yêu âm nhạc, thích lời ca tiếng hát của con người Người đời sau thường chạm khắc hình tù ngưutrên các nhạc khí, nhất là trên tay đàn cây đàn nhị với mong muốn cây đàn sẽ cho tiếng đàn hay, ngườiđánh đàn sẽ có một khúc nhạc tuyệt vời Vì vậy, dân gian Trung Hoa thường gọi cây đàn nhị là Đàn đầurồng (Long đầu hồ cầm 龙头胡琴)

- - Trào phong (嘲风 cháo’feng) (hình 46), theo truyền thuyết là con vật thích mạo hiểm và thường

vươn tầm mắt nhìn ra xa Sách Tiềm Xác Loại Thư có viết “Trào phong thích mạo hiểm, thường nhìn thấytrên góc cung điện” (Trào phong hiếu hiểm, hình điện giác thượng 嘲风好险,形殿角上) Vào đời Minh,Thanh giai cấp quý tộc thường cho chạm khắc hình trào phong lên nóc các cung điện Sắc thái thần bí và

uy nghiêm của trào phong có thể thị uy những kẻ toan quấy rối hoặc không chấp hành mệnh lệnh của vuachúa Ở điểm này, có tác giả cho rằng trào phong chính là li vẫn (đã kể trên), như Hou Ruixia [2001: 75-77], song cũng có một số tác giả khác cho rằng trào phong và li vẫn vốn khác nhau, ví dụ Ninh NghiệpCao [1999: 26]; Vương Duy Đề [2000: 11-19] Xét về hình dáng, trào phong giống thú hơn là giống rồng,trong khi li vẫn hình rồng thân ngắn hơn, do vậy, chúng tôi cho rằng trào phong và li vẫn là hai con vậtkhác nhau xuất hiện trong truyền thuyết

Hình 48: Vọng thiên khổng Hình 49 (trái): đấu ngưu Hình 50 (phải): hải trãi

Nguồn: [Diệp Ứng Toại 2001: 126, 127]

Phụ hí (负屃 fùxì) (hình 47): Người ta thường gặp phụ hí theo từng đôi được chạm khắc ở quanh các

ngôi mộ đá Tương truyền, phụ hí rất thích các bia đá, vì vậy người ta khắc hình phụ hí lên các bia đá với

mong muốn bảo vệ sự yên tĩnh, sự bình lặng cho mộ

Trang 17

Ngoài ra còn có li hổ ( 螭 虎 lihu) và điêu đa ( 叼 多 diaoduo), vọng thiên khổng ( 望 天 孔 wàngtiankong) (còn gọi là Thần trụ đạo 神柱道) (hình 48), đấu ngưu (斗牛 dòuníu) (hình 49), hải trãi (獬

xièzhì) (hình 50), tỳ hưu v.v chúng đều là các con vật trong truyền thuyết nhưng các tài liệu không ghi chép cũng như mô tả nhiều về chúng Người ta chỉ biết rằng li hổ là một con rồng không sừng, mình hổ, còn điêu đa là con rồng nhỏ thích mạo hiểm Vọng thiên khổng có hình dáng vừa giống rồng vừa giống

thú, thân ngắn hơn rồng, đầu mọc hai sừng, thường được chạm đúc trên đầu trụ đá trước cung điện hoặc

dinh phủ Hải trãi là con vật trong truyền thuyết, đầu vừa giống sư tử, vừa giống rồng, trên đầu có một

sừng Hải trãi trung thực, biết phân biệt phải trái, khi thấy người tốt và người xấu đánh nhau, hải trãi dùngsừng húc chết người xấu, do đó nó là hóa thân của tính cách chính trực Các quan đại thần đời Minh,Thanh thường mặc trang phục có hình hải trãi Tuy nhiên, nếu xét về ngoại hình, ta thấy cả đấu ngưu vàhải trãi giống thú hơn là rồng, vì thế, chúng ta chỉ nên coi chúng là những con vật gần giống rồng mà thôi

Tỳ hưu là linh vật mang ý nghĩa ban phát tài lộc xuất hiện muộn nhất Tỳ hưu mang hình dáng tổng hợp

của nhiều loài vật khác nhau, trong đó đầu rồng, cánh phụng, thân ngựa, sừng kỳ lân, móng vuốt sư tử Tỳhưu được cho là không có hậu môn, món ăn chính của nó là vàng bạc, châu báu, và

do vậy nó được cho là biểu tượng của sự tích tụ tài lộc, phú quý Tỳ Hưu hiện là biểutượng mang ý nghĩa may mắn của thành phố Nam Kinh tỉnh Giang Tô

Hình 51 Tỳ hưu trong văn hóa Trung Hoa

3 Rồng qua các thời kỳ

Con rồng đã từng là một tô tem trong tín ngưỡng sơ khai của người Việt Nam Dân Việt cổ có tục xăm

mình, phổ biến trong số ấy là họa tiết rồng (giao long) Theo ghi chép trong Hoài Nam Tử và Sơn Hải Kinh, rồng được người Việt xưa xăm lên đùi để khi xuống nước “tránh bị giao long

làm hại” Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm mình Rồng

là hình tượng của mưa thuận gió hòa, là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứlinh “long, lân, quy, phụng” Hình tượng rồng thời đại Hùng Vương là một linh vậtthân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng, đặc biệt là trên trống đồng

Trang 18

Hoa văn rồng trên trống Đông Sơn

Qua thời kỳ Bắc thuộc, con rồng Việt Nam dần xuất hiện rõ nét dưới thời Lý Thủ đô Thăng Longđược đặt tên theo thế “rồng bay” Rồng thời Lý là con vật mình dài như rắn, thường thân trơn, lưng cóvây, thân uống cong nhiều vòng uyển chuyển theo hình sin mềm mại và thoải nhỏ dần về phía đuôi, tạocảm giác dòng văn hóa dân gian mượt mà dài vô tận Rồng có bốn chân, mỗi chân có ba móng cong nhọn.Đầu rồng ngẩng cao, há miệng rộng với hai hàm răng nhỏ đang vờn đớp viên ngọc quý Từ mũi thoát ramào lửa Trên trán rồng có một hoa văn giống hình chữ "S", tượng trưng cho sấm sét, mây mưa(3) Trênđại thể, rồng thời Lý là rồng văn, rồng Phật giáo

Rồng thời Lý (rồng văn, rồng Phật giáo)

Rồng thời Trần

(rồng võ)

Rồng thời Lê (rồng Nho giáo)

Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý Đây là thời kì người Việt Nam ba lần đánh bại quân thiện chiến Nguyên Mông, do vậy triều Trần được cho là triều đại trọng võ Dấu ấn ấy có thể nhìn thấy rất rõ qua hình tượng rồng Đầu rồng xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay, chiếc mào lửa ngắn hơn Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng

3 Xem Viện Nghệ thuật: Mỹ thuật thời Lý, NXB Văn hóa 1973

Trang 19

hình yên ngựa Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc Các vảy cũng đa dạng, có khi là những nửa hình nụ hoa tròn, có khi chỉ là những nét cong thanh thoát( 4 )

Rồng thời Lê (thế kỷ XV) hoàn toàn khác biệt với rồng thời Lý-Trần Thân rồng có xu hướng ngắn lại,

tư thế đa dạng phong phú Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếcmũi to Thân rồng lượn hai khúc lớn, chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn Rồng thời Lê tượngtrưng cho quyền uy phong kiến(5)

Rồng thời Lê Trung hưng nhìn chung ít thay đổi so với thời Lê Sơ, điểm nổi bật làhình tượng rồng dần dà đi vào đời sống thường dân, đặc biệt là các mô típ bầy rồngcon quây quần bên rồng mẹ, rồng đuổi bắt mồi, rồng vui cảnh lứa đôi v.v

Rồng thời Nguyễn

Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi vương quyền Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mìnhtrong đám mây, hoặc rồng hàm thọ, lưỡng long triều nhật, lưỡng long chầu hoa cúc, lưỡng long chầu chữthọ v.v Thân rồng không dài ngoằn, uốn lượn với độ cong lớn Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu cónhánh phụ cùng chĩa ngược ra sau Mắt rồng lộ to, mũi giống mũi lân hoặc sư tử, miệng há to để lộ hàmrăng răng nanh chắc khỏe Vây trên lưng rồng có tia, thân cuộn hoa văn lửa hoặc mây, phân bố dài ngắnđều đặn Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên Hình tượng rồng dùng cho vua chân cónăm móng mạnh mẽ, còn quan và tầng lớp quý tộc chỉ được pháp dùng rồng bốn hoặc ba móng, đuôikhông có bờm lông, các chi tiết hoa văn lờ mờ hơn rồng cung đình Rồng trên mái đình chùa miếu mạothường cũng chỉ có bốn móng(6)

Kể từ khi triều Nguyễn kết thúc, tính phân tầng xã hội trong quy cách sử dụng mô típ rồng không cònnữa, chính vì vậy người ta có thể chạm khắc rồng với muôn hình vạn trạng, từ vân long, đoàn long, quỳlong, ứng long, li long, giao long, rồng 5 ngón, 5 ngón, 3 ngón v.v Hình tượng con rồng cũng không còntính chất thiêng liêng, tối thượng như xưa, thay vào đó dân gian vẫn đưa vào trang trí cho các công trìnhkiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật với những ý nghĩa dân gian, bình dị

4 Rồng trong tâm thức người Việt

Như vậy, tổ tiên Bách Việt đã từng có tô tem rồng Sau quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa vớiTrung Hoa, người Việt Nam tiếp nhận trở lại hình ảnh và ý nghĩa của mẫu rồng Á Đông đã hoàn thiện hóatừ người Trung Hoa Từ đó trở đi, rồng ngự trị trong tâm thức người Việt như một linh vật đặc biệt, là

“vạn vật chi đế”, là biểu tượng cộng gộp tất cả các ước vọng tốt đẹp nhất của cuộc sống nhân sinh

Trước nhất, rồng là linh vật tổng hợp từ nhiều loại vật có thật trong tự nhiên, do vậy rồng mang trongmình hết thảy các ưu thế vượt trội của các loài, trong đó sức mạnh và quyền năng thiên biến vạn hóa là haiđặc tính quan trọng Rồng được cho là biểu trưng của sự mạnh mẽ, hùng tráng, là uy lực bất bại trước kẻ

4 Xem Viện Nghệ thuật: Mỹ thuật thời Trần, NXB Văn hóa 1977.

5 Xem Viện Nghệ thuật: Mỹ thuật thời Lê Sơ, NXB Văn hóa 1978

6 Xem B.A.V.H 1915: Những người bạn cố đô Huế (tập 2), Đặng Như Tùng dịch, NXB Thuận Hóa.

Trang 20

thù

Từ đặc tính tạo thành từ giới tự nhiên, rồng được người Việt Nam và Đông Á nói chung vay mượn đểthực hành hoặc chuyển tải các thông điệp tâm lý – xã hội Với tính năng siêu việt, rồng được tin là linh vậtmang lại điềm lành, sự may mắn, thịnh vượng, sự thông thái; đồng thời còn là sứ giả để gửi gắm nhữngước vọng trong đời: cầu mưa, cầu phồn thực Chính từ đó, trong dân gian xuất hiện các mô-típ rồng hútnước biển Đông để tưới vào đất liền, cá chép vượt vũ môn hóa rồng, rồng trừng trị kẻ ác để bảo vệ chúngdân; thế đất rồng trong phong thủy mang đến cuộc sống phồn vinh (long mạch, long hổ hội, Dinh Độc Lập

= phủ đầu rồng); hiện tượng rồng “cù dậy” (cù lao); rồng là một trong 12 con vật đại diện trong dãy Thậpnhị Địa chi; mượn tên gọi Long, Rồng để đặt tên đất (Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long, Long Hải, HàmRồng v.v.), tên người, tên các loài động thực vật hay dụng cụ khác giống rồng (địa long = giun đất, cá mắtrồng; long nhãn, rau long tu, cây long huyết, cỏ long đảm; đầu rồng = vòi nước v.v.); múa lân-sư-rồngv.v

Tương tự, rồng được khắc, họa trong nhiều công trình kiến trúc quan trọng từ kinh đô đến nhà dân, từđình chùa miếu mạo đến các cơ quan công quyền (truyền thống) như một thể hiện sống động của rồngtrong tâm thức người Việt Lấy hoa văn trang trí trên đình chùa miếu mạo làm ví dụ, người Việt Nam có

xu hướng quy tụ vào nhóm Tứ linh (long-lân-quy-phụng) hơn là xu hướng đa dạng hóa các mô típ trang trícủa người Trung Hoa (rồng-phụng, bát vật, bát bảo, bát tiên quá hải, các nhân vật truyền thuyết-thần thoại,các linh vật họ rồng v.v – có thể xem ở miếu Thiên Hậu Tuệ Thành số 710 đường Nguyễn Trãi, Quận 5,

Tp Hồ Chí Minh) Các mô típ thường thấy nhất là “lưỡng long tranh châu”, “lưỡng long triều nhật”, “tứlinh hội tụ”, “dây lá hóa long” v.v Ở đất Nam Bộ, rồng còn gắn liền với cá chép, cả hai đều là loài vậtthích nước, đều là vật biểu trưng của vùng đất phương Nam đầy sông nước, như ở Tổ đình chùa Giác Lâm(Tp Hồ Chí Minh) chẳng hạn

Trong ca dao tục ngữ, phần đông rồng được dùng để chuyển tải ý nghĩa cao quý, thánh thiện, nhấnmạnh chức năng tâm lý:

- Một ngày dựa mạn thuyền rồng

Còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài

- Bao giờ cá chép hoá long

Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.

- Thế gian được vợ hỏng chồng

Có đâu như rồng mà được cả đôi.

- Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng

Trăm khôn nghìn khéo không chồng cũng hư

- Trứng rồng lại nở ra rồng

Liu điu lại nở ra dòng liu điu

Đôi khi còn dùng rồng để chuyển tại thông điệp tình yêu:

- Nhớ chàng như vợ nhớ chồng

Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây

- Tình cờ anh gặp mình đây

Như cá gặp nước, như mây gặp rồng

- Trăm năm ghi tạc chữ đồng

Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai

- Có chồng thì phải theo chồng

Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo

Hay kinh nghiệm sống:

- Rồng đen lấy nước thì nắng; Rồng trắng lấy nước thì mưa

Trang 21

- Rồng đen lấy nước được mùa; Rồng trắng lấy nước thì vua đi cày

Dùng làm câu đố:

Đầu rồng đuôi phụng le te,

Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con

(Cây cau – xem Phan Thuận An: cuasomoi.com)

Hoặc dùng rồng như một thứ để giễu cợt, mỉa mai, trách móc:

- Rồng nằm bể bắc phơi râu,

Đến khi nước cạn hở đầu hở đuôi

- Ăn rồng cuốn, nói rồng leo, làm mèo mửa v.v (Phùng Thành Chủng: newvietart.com)

Với thuyết Hồng Bàng thị, người Việt Nam còn coi rồng là một biểu trưng của nguồn cội, của ý thứcgiống nòi và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc Ý thức “Con rồng cháu tiên” sớm ngấm ngầm vào da thịttừng người con đất Việt từ thuở lọt lòng mẹ

Cũng ở chức năng này, rồng sớm bị các bậc đế vương phong kiến lũng đoạn, bắt đầu từ nhà Hán ởTrung Hoa(7), sau ảnh hưởng đến Việt Nam và các quốc gia Đông Á khác Từ đó rồng được phân loạimạnh mẽ: rồng 5 móng là rồng chuẩn mực, là biểu tượng của vua chúa, hoàng gia nên dần dà trở thành vật

sở hữu của họ(8) Dân gian từ thời Lê trở về sau bị hạn chế dùng rồng trong trang trí,nhất là rồng 5 móng Trong tâm thức dân gian Nam Bộ, rồng là biểu hiện của vănhóa cung đình, do vậy ca dao có câu “Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai ” Tạicác đình chùa miếu mạo do dân gian xây dựng, mô típ rồng thường thấy là rồng 4móng hoặc 3 móng, tức chưa là rồng chuẩn Như một sự phản kháng, dân chúng đãtạo ra các kiểu rồng không mọc chân mà thay vào đó là các kiểu hoa văn hoa cỏsinh động để thể hiện ước vọng thăng hoa của nội tâm, đặc biệt là chạm khắc trêncác công trình kiến trúc (quỳ long, li long, cù long v.v )

Tiên cưỡi rồng trong kiến trúc truyền thống Bắc Bộ (Trần Ngọc Thêm 2004: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)

Ở chức năng tâm linh, rồng được hiểu là thần thánh, phần nhiều là thiện thần Hai trong những nguyên

do biến rồng thành thần gồm (1) linh vật tổng hợp từ sự vượt trội của nhiều loài; (2) rồng có thể thiên biếnvạn hóa và thông thiên kết nối nhân gian và thế giới thần tiên Chính vì vậy, người Việt sớm nhận thức

7 Hán Cao Tổ Lưu Bang sinh thời da vẻ sần sùi, tự xưng là giống rồng và ngụy tạo chuyện rồng cha truyền giống để lý giải quyền Thiên tử của mình Tương truyền, mẹ là Lưu Ôn trong lần ra vườn Thượng uyển thấy bàn chân to trên đá, bá ướm thử, bỗng giông tố nổi lên, bà ngất xỉu Trong lúc hôn mê, bà thấy một con rồng xanh từ trên trời bay xuống thụ tinh cho bà, bà có mang, sau sinh ra Lưu Bang.

8 Ở Trung Hoa, thời Minh Gia Khánh rồng bị lũng đoạn nghiêm trọng, chỉ có vua mới được dùng rồng, hoàng tử, quan lại chỉ dùng mãng xà, dân chỉ dùng rắn Hoàng hậu đương triều trong một lần nhớ chồng mân mê chiếc long bào có hình rồng lập tức

bị xử tội (xem Rồng Trung Hoa, luận văn thạc sỹ, 2003).

Trang 22

rằng rồng là hiện thân của thần linh để trị ác cứu dân, là vật cưỡi của thần tiên (như mô típ tiên cưỡi rồngtrong kiến trúc đình Bắc Bộ) hay chư Phật (trong kiến trúc chùa), là linh vật chầu phục Đức Thái ThượngLão Quân trong Đạo giáo Sự ngự trị tối cao của rồng so với các loài vật khác còn có thể thấy trong quầnthể tòa thánh Cao Đài ở Nam Bộ (trần mái Cửu Trùng Đài, cột rồng v.v.) Ở chùa An Phước (Quận 8, Tp.Hồ Chí Minh), người ta đúc thuyền hình rồng trên có năm thầy trò Đường Tăng đầu quay về Thiên Trúcvới ý nghĩa rồng hộ tống, đưa Phật tử và chúng sinh thánh thiện về đất Phật

Tuy nhiên, chức năng tâm linh này của rồng thường được hiểu là gắn liền với chức năng ổn định tâm

lý và giáo dục con người (tu tâm dưỡng tính, gửi gắm niềm mong mỏi một cuộc sống tốt đẹp hơn v.v.) làchính Trong xã hội đương đại vẫn còn dấu vết của hiện tượng mê tín hóa biểu tượng rồng, chẳng hạnchuyện chọn năm Thìn để sinh con, hoặc chọn ngày giờ phù hợp sinh con để được quẻ Thuần Rồng (trong

Tử vi); chuyện dùng nước “giếng rồng” để chữa bệnh; quan niệm ăn thịt rồng (thực chất là thịt rắn), trứngrồng (trứng đà điểu) để trường sinh bất lão; chuyện cúng tế “cù long” (rồng cù dậy) trong những ngôi nhànền đất mặt sần sùi giống vảy rồng do đi lại lâu ngày tạo nên v.v

Vậy đó, tổ tiên đã tạo ra biểu tượng rồng như là một biểu hiện của khát vọng vươn lên chinh phục tựnhiên và chinh phục chính mình Cùng với thời gian, con người đã “thiên biến vạn hóa” biểu tượng rồng

và sử dụng chúng theo những mục đích khác nhau, song chính những giá trị tốt đẹp của rồng trong tâmthức con người đã đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nó

2 VỀ VẤN ĐỀ NGUYÊN MẪU CỦA RỒNG TRUNG HOA

Theo chúng tôi, nguyên mẫu của rồng là chủ thể khởi thủy, là nguồn gốc tạo ra rồng Nguyên mẫu củarồng phải là dạng sinh vật gốc có đóng góp nhiều nhất về hình dáng lẫn đặc tính trong việc tạo nên hìnhtượng rồng, do vậy, mặc dù rồng được hình thành trên cơ sở kết hợp nhiều yếu tố hình dáng và đặc tínhcủa nhiều chủng loại khác nhau tồn tại trong tự nhiên, nguyên mẫu của rồng phải là loài động hay thực vật

có đóng góp nhiều nhất trong số ấy Tuy vậy, một vật được sáng tạo ra có thể có nhiều hơn một nguyênmẫu Ví dụ, hình nhân mã trong dãy hoàng đạo phương Tây (zodiac), tượng nhân sư, nhân điểu… trongvăn hóa truyền thống của các dân tộc trên thế giới v.v… Dù vậy, đa số các trường hợp đều có một dạngnguyên mẫu duy nhất

2 Rồng trong lịch sử văn hóa Trung Hoa xuất hiện cách đây hơn 8000 năm(10) Nó là con vật thiêng dongười nguyên thủy sáng tạo ra, qua thời gian hình tượng của nó không ngừng thay đổi Các di chỉ khảo cổ

có từ thời kì đồ đá cũ và mới được tìm thấy ở khắp lãnh thổ Trung Hoa đã cho thấy hình tượng rồng trongvăn hóa nguyên thủy Trung Hoa đã thể hiện tính đa nguyên ở từng địa phương khác nhau Lịch sử tồn tạinhiều bộ lạc nguyên thủy trên lãnh thổ Trung Hoa đã sáng tạo ra nhiều chủng loại rồng nguyên thủy khácnhau về hình dáng lẫn con vật gốc Trong lịch sử nghiên cứu rồng Trung Hoa, nhiều học giả thuộc cáctrường phái khác nhau đưa ra những vật khác nhau làm nguyên mẫu cho rồng Thời kì xã hội phong kiến,dân gian Trung Hoa rất quen thuộc với khái niệm “tam đình cửu tự” khi nói về hình dáng và nguồn gốccủa rồng “Tam đình” bao gồm: phần đầu, phần thân, phần đuôi “Cửu tự” có nhiều cách giải thích khácnhau La Nguyện đời Tống là người đề xuất giải mã khái niệm “cửu tự” sớm nhất, gồm: sừng giống nai,đầu gống đà, mắt giống thỏ, thân giống rắn, bụng giống trai, vảy giống cá, ngón chân giống chim, chân

giống hổ, tai giống bò [xem 2] Lý Thời Trân đời Minh trong tác phẩm Bản Thảo Cương Mục bổ sung yếu

9 () T.S – Giảng viên Khoa Văn hóa học, Trường Đại học KHXH&NV.

10 () Theo kết quả nghiên cứu của các học giả Vương Duy Đề (Long phụng văn hóa, 2000), Diệp Ứng Toại (Trung Hoa cát tường đồ, 2001) và Website: http://www.tacocity.com.tw/fish2020/0313.html …

Trang 23

tố vảy giống loài cá chép, trên thân có tổng cổng 81 vảy (= 9x9), miệng có râu… Bắt đầu từ quan niệmnày, các học giả nghiên cứu về rồng ở Trung Hoa đi sâu phân tính các yếu tố hình dáng, đặc tính của rồng

để truy tìm nguồn gốc, và để trả lời câu hỏi nguyên mẫu của rồng là gì Dưới đây là một số xu hướngchính tại Trung Hoa được tổng hợp qua các tác phẩm của các tác giả Vương Duy Đề [2000]; Hạo Xuân[1999]; Ngụy Á Nam [1986]:

- Thứ nhất là xu hướng cho rằng nguyên mẫu của rồng

là rắn (hình 1) Người đứng đầu là học giả Văn Nhất Đa –

một chuyên gia nghiên cứu về rồng rất nổi tiếng ở Trung

Hoa Về thuyết “tam đình cửu tự”, Văn Nhất Đa nói “không

cần chú trọng từng bộ phận của rồng giống gì, giống ngựa

cũng được, giống chó cũng được,… nhưng thân chính và

hình thái của rồng là rắn” Tiếp theo Văn Nhất Đa là các học

giả Tôn Tác Vân, Lưu Quách Nguyên, Vương Xương Chính,

Hà Tinh Lượng, Vương Duy Đề, Trần Thụ Tường, Ngụy Á

Nam v.v…(11) dựa vào các kết quả nghiên cứu của khảo cổ

học và sử học đưa ra lập luận riêng của mình để chứng minh

nguyên mẫu của rồng là rắn Tôn Tác Vân cho rằng rồng là

sự thần thánh hóa hình ảnh con rắn trong tự nhiên, theo đó,

thời cổ đại ở Trung Hoa có nhiều thị tộc sùng bái các vật tổ

khác nhau, song thị tộc Thái Hạo thị sùng bái rồng là mạnh

nhất Vương Xương Chính cho rằng rồng có tính thần bí lớn, do phương bắc gần gũi với ngựa nên sángtạo cho rồng các đặc tính của ngựa, còn ở phương nam sông nước lại thêm vảy, thêm râu cho rồng, songthân chính của rồng vẫn là rắn” Theo thống kê của một số học giả như Vương Duy Đề, Lưu QuáchNguyên thì tổng số các tác giả có nghiên cứu về nguồn gốc của rồng cho nguyên mẫu của rồng là rắnchiếm tỷ lệ hơn 50% trên tổng số

- Xu hướng cơ bản thứ hai là coi nguyên mẫu của rồng là cá sấu Các học giảtheo trường phái này coi rồng là sản phẩm sáng tạo của người phương nam sôngnước, do cá sấu chỉ sinh sống ở vùng sông nước mà thôi Học giả Chu Bản Hùng chorằng cá sấu sông Dương Tử chính là nguyên mẫu của rồng bằng cách so sánh cácyếu tố da sần sùi, miệng to, răng nhọn, thân dài, thích nước của rồng và cá sấu (xemhình 2) Học giả Vương Đại Hữu thì cho rằng rồng có nguyên mẫu là loài cá sấu loanngạc (cá sấu sống ở đầm) Học giả Hứa Tiến Hùng cũng có quan niệm tương tự

11 () Các học giả này nghiên cứu về rồng trong khoảng nửa sau thế kỉ XX ở Trung Quốc

12 () Trong tiếng Hán, cá lăng đọc là /líng yú/, đồng âm với loài cá linh thiêng /líng yú/ nên được tôn sùng.

Hình 1

Trang 24

Hình 3 Hình 4

- Thứ tư là quan điểm cho rằng nguyên mẫu của rồng là lợn Đại diện cho trường phái này là các họcgiả Tôn Thủ Đạo, Quách Đại Thuận Các tác giả này cho rằng nguồn gốc xuất phát rồng là từ nền văn hóaHồng Sơn vùng đông bắc Trung Hoa, có niên đại vào khoảng trung kì hay mạt kì của thời đại văn hóaNgưỡng Thiều Tại khu vực này nhiều di chỉ khảo cổ có liên quan đến rồng đã được phát hiện, trong đónhiều nhất là các con ngọc long hình rồng đầu lợn (xem hình 4(13)) Tuy vậy, các học giả Vương Duy Đề,Ngụy Á Nam… cho rằng chủ nhân của nền văn hóa Hồng Sơn nói trên là hậu duệ của những bộ lạcChuyên Húc, Cộng Công di cư từ vùng thượng nguồn sông Hoàng Hà đến Theo các ông, chính các di dânnày đã mang theo con rồng nguyên thủy từ vùng Trung nguyên đến đó, rồi kết hợp với lợn để tạo ra hìnhngọc long đầu lợn Nhìn chung, tuy nguồn gốc thực của các con ngọc long đầu lợn chưa được xác định cụthể nhưng giới học giả hiện nay coi chúng chỉ là một biến thể địa phương của rồng Trung Hoa mà thôi

- Quan niệm thứ năm là xu hướng cho nguyên mẫu của rồng là trâu Đại biểu cho xu hướng này làhai học giả Chung Đào, Dương Xương Quốc Các học giả này đã đi sâu nghiên cứu rồng của ngườiMiêu(14) và mối tương quan sâu sắc giữa rồng và trâu trong văn hóa người Miêu Bắt đầu từ các phát hiện

ở di chỉ Hoàng Mai ở Hồ Bắc, các học giả này đã cho rằng người Miêu có quan hệ nguồn gốc với tộc Cửu

Lê – một thị tộc bị bại trận trong cuộc tranh giành địa vực sinh sống với thị tộc Hoàng Đế ở vùng thượngnguồn sông Hoàng Hà [xem Vương Duy Đề, 2000] Tuy nhiên, khi xu hướng này được đề xuất, nó đã lậptức bị giới khoa học bác bỏ vì thiếu những căn cứ thuyết phục cơ bản, vì theo họ những đóng góp của trâuvào rồng Trung Hoa ngày nay ít, các tư liệu tìm thấy không nhiều và chưa có tính thuyết phục để khẳngđịnh Mặt khác, theo chúng tôi, dân tộc Miêu vốn được coi như một trong nhóm Bách Việt phương Namnên giả thuyết cho rằng người Miêu là hậu duệ của thị tộc Cửu Lê ở phương bắc là không hợp lệ

- Thứ sáu là xu hướng cho rằng nguyên mẫu của rồng là ngựa Các nhà khoahọc thuộc xu hướng này đã đưa ra rất nhiều những tư liệu sử học và các câu chuyệndân gian để chứng minh lập trường của mình Theo các học giả này, câu truyệntruyền thuyết vua Phục Hy nhìn thấy con Long mã trên sông mà làm ra Hà đồ, cáchình vẽ Phục Hy – Nữ Oa cùng với con ngựa có cánh, chiếc móc treo chuông hìnhrồng đầu ngựa (xem hình 5), các hình vẽ rồng dáng ngựa (xem hình 6)… đã tạo cơ

sở cho giả thuyết nguyên mẫu của rồng là ngựa Tuy nhiên, theo nhiều học giả khác,

đó cũng chỉ là xu hướng nhỏ trong tổng quan các quan điểm về nguyên mẫu củarồng Trung Hoa mà thôi

13 () Tác giả Vương Duy Đề xếp hình này vào loại trư long (rồng lợn)

14 () Người Miêu là một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt phương nam, sinh sống chủ yếu ở Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây…

Trang 25

Hình 5 Hình 6

- Xu hướng thứ bảy là xu hướng cho nguyên mẫu của rồng là hổ Thời cổ đại,người nguyên thủy tôn sùng hổ vì hổ là vua của muôn thú, có sức mạnh thần kì.Cùng với các thế lực thiên nhiên khác, hổ tác động đến sự sinh tồn và phát triển củaloài người, khiến cho con người dần dà hình thành tục lệ sùng bái vật tổ Hổ trởthành vật tổ, trở thành biểu tượng của một số thị tộc Qua thời gian tồn tại và pháttriển, hổ đã được gắn thêm vào một số các yếu tố siêu nhiên, đồng thời vay mượnthêm yếu tố cấu tạo hình dáng của các loại vật khác mà tạo thành rồng (xem hình7) Các học giả thuộc xu hướng này giải thích rằng tính hung hãn, sức mạnh và sự uylinh của rồng hiện nay chính là phần đóng góp cơ bản của hổ Tuy nhiên, khi giảthuyết này được đề xuất, các học giả nghiên cứu cùng vấn đề đã đưa ra rất nhiềutranh cãi, cuối cùng thống nhất rằng hổ chỉ là một trong những loài vật có đóng gópvào quá trình hình thành rồng mà thôi

- Thứ tám là xu hướng cho rằng nguyên mẫu của rồng là chó Đây là kết luận của một nhóm các nhànghiên cứu khảo cổ học và dân tộc học sau khi nghiên cứu văn hóa nguyên thủy của các dân tộc Dao,Xá(15) ở phương nam Các học giả này phát hiện rằng các dân tộc Xá, Dao phương nam là các dân tộcsùng bái chó, qua quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên, họ đã tạo ra rồng từ hình ảnh ban đầu của mộtcon chó (xem hình 8) Tuy vậy, theo Vương Duy Đề thì dân tộc Xá thời nguyên thủy chính là Cao Tân thị,coi tổ tiên là Bàn Hồ thần (chó thần), trong lịch sử đã di chuyển từ khu vực núi Thái Sơn (tỉnh Sơn Đôngngày nay) xuống phía nam, đã mang theo hình ảnh rồng nguyên thủy phương bắc xuống phương nam tạo

15 () Các dân tộc này sinh sống chủ yếu ở Vân Nam, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Quý Châu.

Trang 26

ra rồng chó(16) Cho đến nay, xu hương này vẫn chỉ là một khuynh hướng nhỏ ít được các nhà khoa họcchú ý bởi tính thuyết phục kém của nó.

- Thứ chín là xu hướng coi rồng có nguyên mẫu là từ tia chớp của sấm sét và cầu vồng(17) Đại diệncho trường phái này là học giả Chu Thiên Thuận, Hồ Xương Kiện Theo Chu Thiên Thuận, khi sấm sét nổilên, các tia chớp biến hóa vô cùng, song khi quan sát sẽ dễ dàng nhận ra hình dáng uốn khúc quanh co, kìbí của nó Từ đó người nguyên thủy thần thánh hóa các tia chớp và sáng tạo ra vật linh cai quản các hiệntượng tự nhiên này, đó chính là rồng Ở một phương diện khác, Hồ Xương Kiện lại cho rằng hình dángcong cong của cầu vồng xuất hiện trên trời chính là hình ảnh rồng đang hút nước và ban phát cho nhânloại Trên thực tế, do cầu vồng xuất hiện trong lúc có mây đen hoặc đang mưa nên người nguyên thủy coicầu vồng là hóa thân của rồng, từ đó sáng tạo ra rồng trên cơ sở vay mượn các yếu tố hình dáng của cácloài vật và hiện tượng trong tự nhiên khác Theo các tác giả, do vì rồng được sáng tạo ra từ sấm sét và cầuvồng nên rồng luôn gắn liền với nước, với mưa, và vì thế người nông nghiệp tế rồng cầu mưa Tuy vậy,đại đa số các nhà nghiên cứu về rồng không đồng ý với quan điểm này

- Xu hướng thứ mười là xu hướng cho rằng nguyên mẫu của rồng là cây tùng Đại biểu là học giảVinh Phương Theo ông, trong giới thực vật, cây tùng là vua của muôn loài cây cối, có sức dẻo dai khi tồntại trong tự nhiên (chịu lạnh), có dáng vẻ huyền bí Dân gian coi tùng, trúc và mai là ba người bạn mùađông (tuế hàn tam hữu) Từ các đặc điểm đặc biệt về hình dáng và tính năng của cây tùng, học giả VinhPhương cho rằng có lẽ nguyên mẫu của rồng là cây tùng

- Cuối cùng là xu hướng cho nguyên mẫu của rồng là sinh thực khí nam Đại biểu cho xu hướng này

là Tấn Học Vương Ông cho rằng quẻ càn trong Chu Dịch là quẻ rồng, vốn tượng trưng cho sinh thực khínam Hơn nữa, hình ảnh rồng hiện nay cũng có tính dương (so với phụng), nếu xét riêng từng đặc tính củarồng như bay giỏi, chạy nhanh, giỏi biến hóa, thông thiên… thì có thể nói rồng là một tập hợp của nhiềuđặc tính dương tạo thành Từ đó, học giả này cho rằng người nguyên thủy kết hợp các yếu tố hình dángcủa nhiều loài vật hiện tượng lại để tạo ra hình ảnh cho tập hợp nhiều tính dương này Đó chính là conrồng ngày nay

Nói tóm lại, cho đến hiện nay vấn đề nguyên mẫu của rồng đã gây sự chú ý của nhiều nhà nghiêncứu Qua quá trình truy tìm nguồn gốc của rồng, giới học giả Trung Hoa đã đưa ra nhiều giả thuyết khácnhau Trong số các giả thuyết ấy, xu hướng cho nguyên mẫu của rồng là rắn là phổ biến nhất

3 Ngoài hình ảnh ban đầu được tìm thấy ở các tư liệu khảo cổ, hầu như không có hoặc có rất ít tài liệughi chép về nguồn gốc của rồng để chứng minh các ý kiến trên, nhưng qua quan sát và ghi nhận của khảo

cổ học, lịch sử học, chúng tôi nhận thấy giả thuyết coi nguyên mẫu của rồng là rắn là có tính phổ biến hơn

cả Dưới đây là một số luận điểm được tổng hợp từ các lĩnh vực khảo cổ học, lịch sử học và ngôn ngữ học.Thứ nhất, cho đến nay, qua các văn vật khảo cổ từ hình vẽ trên vách đá, hình vẽtrên các dụng cụ lao động, hình khắc trên vỏ trai, đá cuội, sành sứ, hình đúc rồng…đều cho thấy hình tượng chung của rồng là rắn Ví dụ, từ di chỉ Trà Hải huyện PhúcTân tỉnh Liêu Ninh người ta phát hiện các vật dụng có hình rồng, qua đinh vị thờigian cho thấy di chỉ này có niên đại cách đây khoảng 8000 năm và thuộc nền vănhóa “Tiền Hồng Sơn” ở đông bắc Trung Quốc (xem hình 9) Tại Nội Mông Cổ, ThiểmTây người ta cũng phát hiện ra các món đồ đất nung in hình rồng nguyên thủy vớihình tượng chung là một con rắn thần có niên đại cách đây từ 7000 đến 8000 năm.Tại chùa Đào tỉnh Sơn Tây, người ta phát hiện hình một con rồng trong tư thế cuộntròn trên đĩa có niên đại cách đây 4500 năm (xem hình 10) Ở các mảnh sứ vỡ tìmthấy ở Nhị Lý Đầu có niên đại cách đây trên 4000 năm có in hình rồng một đầu haithân dáng con rắn (xem hình 11) Tất cả các phát hiện trên đây đều có niên đại từ

16 () Đây cũng là một quan niệm gây nhiều tranh cãi vì giới khoa học xếp dân tộc Xá vào nhóm Bách Việt, có nguồn gốc từ phương Nam.

17 () Một trong các tiêu chí của nguyên mẫu của rồng là loài vật sống trong tự nhiên, tia sáng của sấm sét và cầu vồng tuy có thể nhìn thấy như không tồn tại hiện hữu, do vậy một số học giả không đồng ý với xu hướng này.

Trang 27

4000 đến 2000 trước công nguyên, tất cả đều cho thấy hình tượng chung ban đầucủa rồng là con rắn, hoặc do kết hợp giữa rắn và các con vật khác mà tạo thành.

(Nguồn: Thái Dị An, Long phụng đồ diển, 2001)Thứ hai, về mặt ngôn ngữ, chúng ta cũng có thể tìm thấy những bằng chính đáng tin cậy cho quan hệrắn – rồng Trên giáp cốt văn, chữ long được vẽ với hình tượng cơ bản của một con rắn, miệng to, có sừng(xem hình 12) Ở kim văn, như trên chuông Thiệu, chuông Vương Tôn… theo Vương Duy Đề, cũng chothấy chữ long về cơ bản cũng có hình dáng là một con rắn Mặt khác, trong ngôn ngữ Hán, từ “long xà”được hiểu như rồng, nhưng hiếm khi nghe các từ “long ngạc”, “long lộc”, “long quy”… với ý nghĩa tươngtự Thôi Dung trong quyển Giá phá Thổ Phồn biểu đã dùng cụm từ “long xà chi trận” để nói lên sức mạnh

của quân nhà Đường Giới Tử Thôi đời Tần Văn Công đã dùng bài hát “long xà chi ca” để thuyết phục

vua ban tước cho mình… Ở một phương diện khác, qua nghiên cứu các ngôn ngữ của một số dân tộc Bách

Việt, sự tương quan giữa rắn và rồng cũng có thể được tìm thấy Trong tiếng Bố Y, chữ long và chữ xà có cách đọc giống nhau, chỉ có điều chữ long đọc kéo dài ra [rắn /ka/, rồng /ka:/] Người Ba – theo truyền

thuyết là truyền nhân của rồng, người A Xương cũng có cách phát âm tương tự Người Nạp Tây (Naxi)dùng từ long xà để chỉ rắn thần Theo các câu chuyện thần thoại của người Nạp Tây, rồng khi bị trừng phạtbiến thành rắn (xem hình 3) Ở ngôn ngữ người Di, người Ngoã cũng có những điểm tương đồng tương tự.Thứ ba, nhiều tác phẩm lịch sử được ghi chép trong suốt thời kì phong kiến đềucho thấy vật chủ thể của rồng là rắn Các thư tịch cổ đại đã để lại nhiều tư liệu chothấy nguồn gốc của rồng là rắn thần hóa Sách Sơ Học Ký quyển 30 có dẫn Bão PhácTử: “Có rồng tự nhiên, có con nhộng rắn biến thành” [Vương Duy Đề 1990] SáchHậu Hán Thư chương Trương Hoành Liệt Truyện có viết “rắn được gắn vào thần tính,

có thể đằng vân, cưỡi gió giống như rồng Theo học giả Thanh Dụ Giao, người vùngTriều Châu (Quảng Đông) coi rắn màu xanh là thanh long, tôn thờ như thần SáchThuật Dị Ký mục truyền thuyết dân gian có ghi “thủy hủy (rắn độc) 500 năm biếnthành con giao, giao 1000 năm biến thành rồng, rồng 500 năm biến thành giác long(rồng có sừng), giác long 1000 năm sau biến thành ứng long (rồng có cánh, biếtbay)” (xem hình 3) Vương Xung trong quyển Luận Hoành có viết “Long hoặc thời tự

xà, xà hoặc thời tự long” (rồng có khi là rắn, rắn có khi là rồng), lại nói “long, lân hữuvăn, vu xà vi thần, phụng vũ ngũ sắc, vu điểu vi quân” (Rồng, có vảy, là con rắnthần Chim phụng, có lông ngũ sắc, là vua các loài chim)…

Trang 28

Hình 12

4 Tóm lại, qua các tư liệu liên ngành có liên quan, chúng tôi đã tổng hợp giới thiệu 11 xu hướng khácnhau trong việc nghiên cứu về nguyên mẫu của rồng Trung Hoa, trong đó, xu hướng cho nguyên mẫu củarồng là rắn là phổ biến nhất Tuy vậy, việc truy tìm nguyên mẫu đích thực của rồng rất phức tạp, đòi hỏingười nghiên cứu phải đi sâu hơn nữa mới có thể đưa ra các quan điểm thuyết phục

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Diệp Ứng Toại, 2001, Trung Hoa cát tường đồ, NXH Văn hóa Bắc Kinh.

2 Hạo Xuân - Cao Chiếm Tường, 1999, Long phụng thành tường, NXB Giáo dục Sơn Đông.

3 Ngụy Á Nam, 1986, Long phụng đích lai nguyên, Bắc Kinh.

4 Thái Dị An, 1998, Long phụng đồ điển, NXB Mỹ thuật Hà Nam.

5 Tiêu Hồng, 1984, Long dữ viễn cổ đồ đằng, Học báo Đại học Hà Nam.

6 Vương Duy Đề, 1990, Long đích tông tích, NXB Đại Liên.

7 Vương Duy Đề, 2000, Long phụng văn hóa, NXB Cổ tịch Thượng Hải.

8 Vương Đại Hữu, 1988, Long phụng văn hóa nguyên lưu, NXB Mỹ thuật Công nghệ Bắc Kinh

9 Vương Đại Hữu,1988, Thuyết long – long đích truyền bá, Báo Văn hóa Trung quốc.

10 Website: http://www.tacocity.com.tw/fish2020/0313.html

3 Bí ẩn đôi rồng đá mất đầu ở Thành nhà Hồ

- Một cách lý giải lưu truyền trong dân gian là do làng Xuân Giai thường xuyên bị cháy nhà, người dân cho rằng do rồng quay đầu về làng, đêm đêm phun lửa gây ra nên đã chặt đầu rồng trừ hậu họa

3 tháng xây xong kinh thành đá độc nhất vô nhị

Trang 29

Thành nhà Hồ là một công trình kiến trúc bằng đá độc đáo có một không hai tạiViệt Nam, một di sản biểu tượng tiêu biểu của những công trình thành cổ Được HồQuý Ly cho xây dựng vào năm 1397, thành này còn được gọi là Tây Đô (hay Tây Giai)

để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long- Hà Nội)

Đôi rồng đá bị cụt đầu hiện nay vẫn được đặt ở trung tâmtòa thành Hai con rồng nằm song song hai bên đường đixuyên qua thành nối từ cổng Nam lên cổng Bắc

Sử cũ chép, vào năm 1397, trước nguy cơ đất nước đứng trước mưu đồ xâm lược của nhà Minh, Hồ Quý

Ly đã chọn đất An Tôn (nay thộc xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc) để xây dựng kinh thành

Vùng đất được chọn có địa thế rất hiểm yếu, có đường đi từ Bắc vào Nam và sang Lào, xung quanh được

án ngữ bởi nhiều ngọn núi cao, hai mặt Nam, Bắc có Sông Mã và sông Bưởi chảy qua

Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành Trong đó, công trình đồ sộ nhất

và còn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay là Hoàng thành

Toàn bộ mặt ngoài tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá vôi màu xanh,được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau Các bức tường thành được ghép từ nhữngkhối đá lớn, có phiến dài tới hơn 6m, trọng lượng ước nặng hơn 20 tấn Tổng khối lượng đá được sử dụngxây thành khoảng 20.000m3 và gần 100.000m3 đất được đào đắp công phu

Các nhà nghiên cứu lịch sử đánh giá, kiến trúc của Thành nhà Hồ là rất khoa học, với các phiến đáđược đục đẽo vuông vức, công phu xếp đan xen theo hình múi bưởi để tránh động đất

Điều đặc biệt là giữa các phiến đá xây thành không có bất kỳ chất kết dính nào nhưng toà thành vẫnđứng vững hơn 600 năm qua dù chịu rất nhiều tác động của địa chấn và chiến tranh bom đạn tàn phá.Một điều đáng ngạc nhiên nữa là một công trình kiến trúc đồ sộ, vững chắc nhưvậy mà quá trình xây dựng chỉ vỏn vẹn trong vòng ba tháng (từ tháng 1/1397 đếntháng 3/1397)

Trang 30

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu điêu khắc, đôi rồng đá nàythuộc loại tượng rồng lớn nhất và đẹp nhất còn lại ở Việt Nam.

Thời ấy chưa có công nghệ ghép đá gắn xi măng, vậy làm sao để những bức tường thành vẫn được xếpvuông vắn, thẳng đứng và tồn tại đến ngày nay? Điều gì đã giúp những người thợ thuở xưa với công cụthô sơ lại có thể vận chuyển và xây nên những bức tường thành bằng những phiến đá khổng lồ?

Câu trả lời được hé lộ phần nào khi người ta tìm thấy hàng trăm viên bi đá lớn (bằng quả bóng đá),nhỏ (bằng quả bóng tennis) trong nhiều lần khai quật khảo cổ

Việc tìm thấy những viên bi đá này giúp củng cố giả thiết rằng, người thợ khi xưa đã dùng chúng nhưnhững con lăn để tời đá từ vùng khai thác (cách vị trí xây thành hàng chục km) Kết hợp với tời, đắp đấtngười ta đã đưa những phiến đá này lên cao để xây thành.Đây là tòa thành duy nhất của Việt Nam xây bằng đá và giữ kỷ lục là công trình được người Việt Namthiết kế xây dựng nhanh nhất Di sản này còn gắn với tên tuổi Hồ Quý Ly - nhà cải cách và canh tân hàngđầu của Việt Nam thế kỷ 15 với việc đề ra nhiều chính sách táo bạo như việc mở mang trường học, đề cao

Trang 31

Ai đã chặt đầu rồng? Đó là câu hỏi chưa có lời giải đáp thoả đáng.

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu điêu khắc, đôi rồng này là loại rồng chạm khắc trên thềmbậc của các cung điện như hiện thấy ở điện Kính Thiên (Hoàng thành Thăng Long), chính điện Lam Kinh(Thanh Hóa)

\Ai đã chặt đầu rồng? Cho đến nay có khá nhiều lý giải về việc này Người thì cho rằng, sau khi xâmlược được nước ta, quân Minh đã chặt đầu rồng, biểu tượng quyền lực của nhà Hồ để thể hiện sự diệt vongcủa vương triều này

Lại có người cho rằng việc này là do những người bất đồng chính kiến với nhà Hồ gây ra Một ý kiếnkhác nhận định, thời kỳ mới chiếm đóng nước ta, người Pháp bắt dân trong vùng hàng tháng, hàng nămphải trải chiếu hoa trên con đường dẫn tới đôi rồng đá

Người dân bức xúc mà chặt đầu rồng? Còn có một cách lý giải lưu truyền trong dân gian khá thú vị.Một cụ ông cao niên trong làng kể rằng, có một thời kỳ làng Xuân Giai (nằm ở cổng Nam, thuộc xã VĩnhTiến) thường xuyên bị cháy nhà, người dân cho rằng do rồng quay đầu về làng mình phun lửa gây ra cháynhà nên đã chặt đầu rồng!?

Người dân xứ Thanh còn truyền tai nhau câu chuyện, tương truyền trong mắt rồng ở cung cấm thường

có yểm rất nhiều vàng ngọc châu báu

Một đêm, lợi dụng lúc trời sầm sập đổ mưa, trong thành hoang vắng không bóng người qua lại, hàngchục tên đạo tặc bịt mặt với đao trên tay đã chặt đầu đôi rồng mang đi xa rồi đập nát để tìm ngọc quý.Cũng chẳng ai nhớ nổi đó là năm nào?

Tiến sỹ Phạm Văn Đấu (Hội sử học Thanh Hoá) cho biết, đôi rồng đá ở thành Tây Đô thuộc loại tượngrồng lớn nhất và đẹp nhất hiện còn lại ở Việt Nam

Trang 32

“Sử cũ không ghi chép cũng không ai biết đôi rồng đá bị mất đầu từ bao giờ, nhưng giả thiết cho rằng,sau khi xâm lược được nước ta, quân Minh đã cho chặt đầu rồng mang về báo công được nhiều ngườichấp nhận”.

Thanh Lê – Duy Tuấn

nha-Ho/7771255.epi

http://www.baomoi.com/Home/KhongGianSong/vietnamnet.vn/Bi-an-doi-rong-da-mat-dau-o-Thanh-4 Dựng biểu tượng rồng Việt

05/02/2012 3:57

Trong buổi tọa đàm về biểu tượng rồng Việt do Trung tâm truyền thông di sản văn hóa Việt tổ chức, các nhà nghiên cứu, chuyên gia đã cùng thảo luận có nên dựng biểu tượng rồng trong thời kỳ hiện đại, và nếu có, biểu tượng cần như thế nào.

Đặc trưng rồng Việt

Qua các triều đại, thời kỳ, hình tượng rồng được sáng tạo, mang hình dáng khác nhau Một câu hỏiđược đặt ra: có nên xây dựng biểu tượng rồng Việt cho thời đại mới?

Rồng thời Lý - Ảnh: T.LHình ảnh con rồng xuất hiện ở nhiều quốc gia phương Đông Tuy nhiên, hình tượng rồng được ngườiViệt sáng tạo, tưởng tượng mang dáng dấp đặc trưng riêng, gắn liền với việc thể hiện sự tốt lành, uyquyền Thời Hùng Vương, rồng được tưởng tượng giống với hình ảnh con cá sấu Từ thế kỷ 1-10, rồng cóthân bò sát, mềm mại, lượn sóng, có khi có thân thú như hổ, sói… Rồng thời Lý mình trơn, thân uốn congnhiều vòng, uyển chuyển, nhỏ dần về phía đuôi Thời Trần, rồng có hình dáng uy nghi, đường bệ, xuấthiện cặp sừng và đôi tay Tới thời Lê, thân rồng lượn hai khúc lớn, chân có năm móng sắc nhọn quắp lại

dữ tợn thể hiện cho quyền uy

Đa số nhà nghiên cứu, chuyên gia trong buổi tọa đàm đã tán đồng với việc xây dựng biểu tượng rồngmới Theo thượng tọa Thích Kiến Nguyệt (trụ trì thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên), biểu tượng rồng cầnmạnh, khỏe, mang tính văn hóa dân tộc của thời đại, dựa trên những hình tượng sẵn có Đồng quan điểm,PGS-TS Đặng Văn Bài bày tỏ: Biểu tượng rồng cần sáng tạo, nhưng vẫn tiếp nối, dựa trên nền tảng vănhóa truyền thống của tiền nhân, cho thấy những nguyện vọng của con người ngày nay Theo họa sĩ TrầnHậu Yên Thế, dựng biểu tượng thế nào cũng không được quên đặc điểm của rồng Việt là gắn bó với haiyếu tố: nước và dân

Phục hưng hình tượng rồng

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng hình tượng rồng thường xuất hiện trong các công trình vănhóa xưa, ít được hình tượng hóa trong ngày nay Theo ông, cần phục hưng hình tượng rồng Ông đề xuất:

“Nên chăng chúng ta thay tượng sư tử đang tràn lan hiện nay bằng tượng rồng” Hiện tượng tượng sư tử

“lạ” xuất hiện khắp mọi nơi đã được cảnh báo “Gần đây nhiều công trình kiến trúc tôn giáo, thương mại,tượng sư tử mang phong cách Trung Hoa xuất hiện quá nhiều Đây là hiện tượng đáng phải suy nghĩ”, ông

Trang 33

Dương Trung Quốc nói PGS-TS Đặng Văn Bài cho biết từng lên tiếng trên báo chí về việc đặt tượng sư

tử tại chùa Một Cột, nhưng ông ngạc nhiên không hiểu vì sao đến giờ những con sư tử “lạ” vẫn đứng yêntại đó Họa sĩ Trần Hậu Yên Thế bức xúc cảnh báo hiện nay tại nghĩa trang Mai Dịch có đầy tượng sư tửmang phong cách Trung Hoa

Đầu rồng khai quật được tại Hoàng thành ThăngLong

Nhà sử học Dương Trung Quốc bày tỏ: “Phải chăng những người đặt tượng sư tử

để cầu lợi ích gì chăng? Với xu thế hội nhập hiện nay, du nhập cái mới vào là điềukhó tránh Lỗi của chúng ta là không tự sáng tạo, thỏa mãn nhu cầu của đời sống.Tôi không có ý bài bác văn hóa nước ngoài, nhưng tại sao chúng ta không trở lại với

di sản mà ông cha đã sáng tạo ra?”

Rồng trên đỉnh Tam Đảo

Trung tâm truyền thông di sản Việt sẽ tiếp tục lấy ý kiến của các nhànghiên cứu, công chúng về biểu tượng rồng Việt mới: có nên dựng và dựngnhư thế nào?

Hiện tại, đang có ý tưởng đặt tượng rồng trên đỉnh Tam Đảo, nằm trongkhuôn viên tịnh viện Vân Sơn (Vĩnh Phúc) Biểu tượng rồng mới (nếu đượcxây dựng) sẽ được đặt đầu tiên tại đây PGS-TS Đặng Văn Bài cho rằng cầnxác định tượng rồng đặt trong khuôn viên tịnh viện với mục đích trang trí,cần tổng hòa với tổng thể kiến trúc, không nên quá lớn, hoành tráng

Ông lấy ví dụ, tại chùa Dạm, cột đá chạm rồng không lớn nhưng lạikhông hề làm mất tính thiêng liêng, hài hòa với cảnh vật, thể hiện sự khônngoan trong cách ứng xử của cha ông Ông nhấn mạnh: Điều cốt yếu khôngphải là sự phô trương mà chính là tôn vinh Phật giáo, di sản văn hóa dân tộc

Minh Ngọc

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120204/dung-bieu-tuong-rong-viet.aspx

Trang 34

5 VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC CON RỒNG TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ

Trần Ngọc Thêm- Nguyễn Ngọc Thơ

Qua các tư liệu liên ngành thu thập được, bài viết phác thảo một bức tranh tổng thề về nguồn gốc Bách Việt của con Rồng và hành trình của Rồng đi vào các nền văn hoá trên thế giới

Dẫn nhâ ̣p

Rồng là mô ̣t biểu tượng văn hóa có đô ̣ phổ biến vào loại cao nhất trên thế giới Tên gọi “Rồng” dùng

để chỉ cả các con vâ ̣t tưởng tượng lẫn con vâ ̣t có thâ ̣t, cả Rồng và không phải Rồng Và cũng vì vâ ̣y, biểutượng Rồng chứa nhiều điều phức tạp và rắc rối nhất Trong đó, khó khăn hơn cả là vấn đề nguồn gốc củaRồng

Từ cuối thế kỷ XIX, hình tượng con Rồng bắt đầu được nghiên cứu ở phương Tây Lúc này, sau khiphát hiện ở các nước lân cận Trung Hoa như Việt Nam, Korea, Nhật Bản, Đông Nam Á cũng có hìnhtượng con Rồng, người ta đã vội kết luận rằng đó là sự sao chép từ con Rồng Trung Hoa

Trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (1995) và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1996), trên cơ sở tổng

hợp mô ̣t số tư liê ̣u, Trần Ngọc Thêm từng đã khẳng định rằng Rồng có nguồn gốc từ vùng văn hóa BáchViê ̣t và là sự kết hợp của hai con vâ ̣t nguyên mẫu rất phổ biến ở vùng sinh thái này là rắn và cá sấu Song,

để cho luận điểm này có sức thuyết phục thì cần có những lập luận và chứng minh toàn diện hơn Nghiêncứu mô ̣t vấn đề phức tạp như văn hóa Rồng, rất cần phải có sự tiếp câ ̣n từ góc đô ̣ của nhiều khoa học khácnhau để tìm ra những bằng chứng hỗ trợ và soi sáng cho nhau

Cách đây không lâu, từ góc đô ̣ ngôn ngữ học, GS Nguyễn Tài Cẩn đã có bài “ Về tên gọi con Rồng của người Viê ̣t” đăng trên tạp chí Diễn đàn số 94 (Paris, tháng 3-2000), và sau đó có thêm hai bài bổ sung

và giải thích rõ hơn mô ̣t số chi tiết (x cả ba bài trong [Nguyễn Tài Cẩn 2001]) Các bài viết quan trọngnày làm sáng tỏ nhiều điều liên quan đến tên gọi Rồng trong tiếng Viê ̣t và mô ̣t số ngôn ngữ Đông Nam Á,

mà nô ̣i dung cụ thể có thể quy về ba điểm chính như sau: (1) Ở thời tiền sử, tên gọi Rồng đã có mă ̣t trongnhiều ngôn ngữ thuô ̣c tiểu chi Proto Viê ̣t-Chứt mà dấu vết có thể tìm thấy trong các ngôn ngữ bà con xa

gần với nhóm Viê ̣t-Mường; (2) Thìn, cũng như tên 12 chi, là tên gọi do người Hán vay mượn từ mô ̣t ngôn

ngữ nào đó ở vùng Hoa Nam; (3) Vào thời Bắc thuô ̣c, tiếng Viê ̣t đã vay mượn thêm ba từ, đều xuất phát từ

cách đọc của chữ long chỉ con Rồng trong tiếng Hán: Rồng là tên xưa nhất, vay vào thời Hán; (thuồng) luồng là tên gọi mượn vào khoảng từ sơ đến trung Đường; long là tên gọi vay muô ̣n nhất, vào khoảng cuối Đường [Nguyễn Tài Cẩn 2001: 20-41] Nhưng nếu rồng, luồng, long đều bắt nguồn từ /long/ tiếng Hán,

vâ ̣y thì long của tiếng Hán bắt nguồn từ đâu?

Ở Trung Hoa, trong hơn 20 năm trở lại đây, việc nghiên cứu hình tượng con Rồng cũng rất phát triển:

Cố Phương Tùng [1984] với Long phụng đồ án nghiên cứu; Dư Tử Lưu [1985] với Long đích căn; Vương Thành Trứ [1985] với Long phụng văn hóa; Từ Hoa Dương [1988] với Trung Hoa đích long; Phế Tần [1988] với Long đích tập tục; Hạo Xuân & Cao Chiếm Tường [1999] với Long phụng thành tường; Vương Duy Đề [1990, 2000] với Long đích tông tích và Long phụng văn hóa, Hà Tân [2004] với Đàm long thuyết phụng, Dương Thanh [2004] với Văn hóa rồng ở vùng hồ Động Đình Ở phương Tây có Graeme Base với Discovery of Dragons (Khám phá Rồng); Michael Hague với The book of dragons (Sách

về Rồng) Các tác giả đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau (khảo cổ học, sử học, ngôn ngữ - văn tự,văn hóa dân gian ) tập trung lý giải một phần nguồn gốc thần thoại của con Rồng

Trên cơ sở những kết quả thu lượm được, bài viết này phác thảo một bức tranh tổng thề về nguồn gốccon Rồng và con đường đi của Rồng

Từ thế giới đến Đông Á

Rồng có mă ̣t ở hầu khắp mọi khu vực trên thế giới, từ châu Á đến châu Âu, châu Phi, châu Mỹ vàchâu Đại Dương Xét về hình dáng, có thể phân thành Rồng-bò sát (rắn, cá sấu, thằn lằn), Rồng-chim,

Trang 35

Rồng-thú hoă ̣c kết hợp của các loại này Xét về tính cách, có thể phân thành Rồng ác, Rồng thiện, Rồngtrung tính

Rồng châu Mỹ

Hình 1: Rồng Chac Hình 2: Rồng Quetzacoatl

Rồng ở châu Mỹ đa số là Rồng thiện, là các vị thần của các cư dân địa phương, xuất hiện cách naykhoảng 2 đến 3000 năm, tức là trong thiên niên kỷ thứ nhất trCN Nếu biết rằng thổ dân Mỹ là do cư dânĐông Á (chủng Mongoloid) di cư tới Mỹ vào khoảng 1 vạn năm trước thì rồng ở châu Mỹ được biết tớikhoảng 7-8 nghìn năm sau khi cư dân Đông Á tới Mỹ

Rồng Chac là của người Maya thân giống người, tai hươu, đầu quỷ (hoă ̣c cá sấu) (hình 1) Rồng có tiếng kêu to và dài, tạo sấm và ban mưa Rồng Quetzacoatl của nhiều tô ̣c người Trung và Nam Mỹ1 cócánh nhưng không có chân, thân có lông vũ nhiều màu (hình 2) Rồng Quetzacoatl là biểu tượng của thầnsáng tạo, thần tạo mưa, tạo lửa, thần bảo hộ nghệ thuật, v.v Sau khi chống lại thần chiến tranh bất thành,Rồng Quetzacoatl bỏ đi trên một bè gỗ do rắn thần kéo về phía mă ̣t trời mọc [elfwood.lysator.liu.se] Chi tiết Rồng Quetzacoatl “bỏ về phía mă ̣t trời mọc” này gợi nhắc đến nguồn gốc phương Đông của

cư dân bản địa Mỹ châu (thuô ̣c chủng Mongoloid) Từ đó có thể giả định rằng Rồng châu Mỹ cónguồn gốc trực tiếp từ Đông Á Một minh chứng quan trọng khẳng định tính đúngcủa giả thuyết này là bức vẽ hình tổ tiên thân người đuôi Rồng ở châu Mỹ do HạoXuân [1999: 205-208] phát hiện được: nó hoàn toàn tương đồng với bức vẽ hìnhPhục Hy và Nữ Oa thuộc giai đoạn Hạ-Thương-Chu (hình 3)

Hình 3: Hình tổ tiên thân người đuôi Rồng ở châu Mỹ (trái) và ở Trung Hoa thời Hạ-Thương-Chu (phải)

Rồng châu Âu, Ai Cập, và Lưỡng Hà

Rồng châu Âu khá phong phú, chúng thường có hình dáng của các loại Rồngthú bốn chân (như ngựa, cừu, sói, gấu , rồng rắn cũng có nhưng không nhiều), có

Trang 36

cánh, thân ngắn, miệng phun lửa Về tính cách, đa số Rồng châu Âu là Rồng ác, là kẻcanh giữ kho báu, bắt cóc gia súc, gái đẹp, và kết quả thường bị một anh hùng giếtchết Rồng thiện cũng có, nhưng rất ít, chúng thường là thần giữ cửa hay thần manglại các sản phẩm vật chất như ngô, sữa, tiền cho dân Rồng Puk ở vùng Baltic thì ăncắp vặt cho chủ

Rồng thú châu Âu Rồng thú châu Âu

Xét về quá trình giao lưu và lan toả văn hóa, Rồng châu Âu có nhiều khả năng có nguồn gốc từ Ai

Cập và Lưỡng Hà Trong các tiếng phương Tây, từ dragon là Rồng đều có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp drakōn có nghĩa là ‘rắn’ Mà văn hoá Hy Lạp có nguồn gốc từ văn hoá Ai Cập và Lưỡng Hà, và Rồng Ai

Cập thì về hình thức, đa số chính là Rồng rắn

Về tính cách thì châu Âu có cả Rồng thiện và Rồng ác Rồng thiê ̣n như Rồng rắn Akhekhu (đã đượcngười phương Tây mang đến châu Âu [elfwood.lysator.liu.se]); Rồng rắn Nehebkau thân dài, có bốn chân,mang lương thực cho mọi người, canh giữ sự an lành cho các Pharaoh ở thế giới bên kia; Rồng Wadjet cócánh, có sức mạnh vạn năng, biểu tượng cho vương quyền Rồng ác như Rồng thú đầu cá sấu Ammutluôn tìm bắt linh hồn những người phạm tội; Rồng rắn Apep biểu trưng cho sự tha hóa, từ thiê ̣n trở thànhác; Rồng rắn Denwen đe dọa các thần nên bị người đời nguyền rủa

Ở Lưỡng Hà có một số Rồng như Rồng sư tử Humbaba, mình có vảy, đầu có haisừng, đuôi rắn, chân chim ưng, đe doạ sự sống còn của người dân; Rồng Zu thôngminh và xảo quyệt; Rồng Gandareva to lớn, giết người ăn thịt; Rồng Kur chọc giậnthần linh; Rồng cái Tiamat (thần nước mặn) và chồng là Rồng Apsu (thần nước ngọt),sáng tạo ra các thần Các Rồng ở Lưỡng Hà thường đều bị dũng sĩ hoặc các thầngiết chết

Tráng sĩ giết rồng trong văn hóa

Ba Tư [Mehdo F 1999: 171]

Trang 37

Rồng Ai Câ ̣p và Lưỡng Hà có nhiều khả năng có nguồn gốc từ Trung Hoa Vì lan toả theo conđường từ đông sang tây, cho nên bản đồ phân bố Rồng chỉ lan tới đông bắc châu Phi (vùng Ai Câ ̣p) rồiquă ̣t lên châu Âu

Phần còn lại của châu Phi hầu như không có Rồng Khu vực Nam Á (như Ấn Đô ̣) cũng hầu nhưkhông có Rồng Đây là địa bàn của văn hóa Rắn (điển hình là rắn thần Naga) Mô ̣t số con vật thần thoại ởẤn Đô ̣ và châu Phi (như thuỷ quái Makara, Anata, Anataboga, Vritra ở Ấn Đô ̣; Basilisk, Cynoprosopi,

Emela-ntouka ở châu Phi) tuy có chịu ảnh hưởng của Rồng nhưng ảnh hưởng này là rất ít

Rồng Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương

Khu vực miền tây và nam của Đông Nam Á phần lớn cũng thuô ̣c vùng văn hóa Rắn, vì vâ ̣y Rồng ởđây rất hiếm Ở Indonesia có loại Rồng thân rắn, cánh rộng, biết bay (hình 6), nó giúp xua đuổi tà ma, bảo

vệ giấc ngủ yên lành của trẻ em Loại Rồng này có nhiều khả năng là sản phẩm kết hợp của chim thầnGaruda với rắn thần Naga trong thần thoại Ấn Độ [dragonsempire.com]

Ở khu vực Nam Thái Bình Dương (Australia và New Zealand) có mô ̣t số loài Rồng, đa số có nguyênmẫu thuộc họ thằn lằn, về tính cách có cả Rồng thiện và Rồng ác Rồng thiê ̣n thường là Rồng-rắn nhưRồng Julunggul là nữ thần sinh sôi; Rồng Galeru là nữ thần duy trì sự sống; Rồng Warramunga là thầnsáng tạo; Rồng Yurlunggur là thần tạo mưa; Rồng Eingana là Mẹ của muôn loài Rồng ác như Rồng

Hotu-puku, Rồng Peke-hauna, Rồng Kataore, Rồng Aranda, đều thuộc họ thằn lằn, thường ăn thịt dân

làng, bắt cóc người, đều bị các dũng sĩ dùng sức mạnh và mưu trí giết chết

Khu vực New Zealand và Australia vốn là nơi cư trú của người Malayo-Polynesian Do vậy, các conRồng ở đây có nhiều khả năng đều từ Đông Nam Á lục địa truyền tới qua con đường Indonesia

Rồng cá sấu trên trống đồng Đông Sơn [Trần

Ngọc Thêm 2001: 136]

Rồng Indonesia [natashascafe.com…]

Rồng Đông Bắc Á

Người Korea và Nhật Bản đều cho rằng tổ tiên họ là chủ nhân sáng tạo ra Rồng Rồng Korea có hìnhdáng về cơ bản giống Rồng Trung Hoa, chân thường có bốn ngón (hình 7) Người Hàn cho rằng Rồngphát sinh ở bán đảo Korea có bốn ngón, đi sang phía đông đến Nhật Bản thì mất một ngón, còn đi sangphía tây thì mọc thêm một ngón, trở thành Rồng Trung Hoa [dragonsinn.info] Rồng ở Korea gọi là yong /

Trang 38

용 (= long), được chia làm ba loại chính: Yong /용 là loại Rồng có quyền lực nhất, quản lý bầu trời Yo /요

là loại Rồng không sừng, sống ở đại dương Gyo /교 cư trú ở vùng núi, bảo vệ sự bình yên của mặt đất.

Rồng Nhật Bản [website: dragonsinn.info…] Rồng Korea [Yun Youn Soo 1999: 23]

Rồng Nhật Bản cũng có hình dáng gần giống Rồng Trung Hoa nhưng thân dài, giống rắn hơn, chânthường có ba ngón (hình 8) Người Nhật Bản cho rằng Rồng phát sinh ở Nhật Bản ban đầu chỉ có ba ngón,khi được truyền sang phía Tây thì mọc thêm ngón: đến Korea có bốn ngón, đến Trung Hoa có năm ngón[dragonsinn.info] Loại phổ biến nhất ở Nhật Bản là Rồng Ryo, xuất hiện khá sớm trong Thần đạo, là Long vương trú ngụ dưới biển sâu Loại Rồng thứ hai là Sei Ryu (thanh long), là thần trấn giữ phương Đông Loại Rồng thứ ba là Ryu, cai quản mây mưa, thuô ̣c nhóm tứ linh, xuất hiện ở Nhật Bản cùng với

Phật giáo

Hoa Hạ và Bách Viê ̣t

Có hai dân tộc thực sự có liên quan nhiều đến Rồng là người Hán và Bách Viê ̣t

Đất nước Trung Hoa rộng lớn, văn hoá Trung Hoa hình thành qua quá trình tiếp biến văn hoá củanhiều tộc người, vì vậy mà văn hoá Rồng và việc nghiên cứu văn hoá Rồng ở Trung Hoa cực kỳ phongphú [Nguyễn Ngọc Thơ 2003]

Qua các tư liệu liên ngành, Nguyễn Ngọc Thơ xác định được rằng trong giới nghiên cứu Trung Quốc

có tới 11 quan niệm khác nhau về nguyên mẫu của Rồng, đó là các xu hướng coi nguyên mẫu của Rồng là

rắn, cá sấu, cá, lợn, trâu, ngựa, hổ, chó, tia chớp, cây tùng, sinh thực khí nam (x bài “Về vấn đề nguyên mẫu của Rồng Trung Hoa” trong sách này) Ấy là chưa kể đến những thuyết đơn giản và thiếu sức thuyết phục như thuyết tượng thanh cho rằng người Trung Hoa nguyên thủy, với lối tư duy mơ hồ (模糊思维), do

không giải thích nổi các hiện tượng tự nhiên quanh mình nên cho rằng có một con vật thần nào đó liênquan đến cả nước và không trung, có sức mạnh vô tận đã chi phối mọi hiện tượng tự nhiên kì bí; khi họ

nghe nước mưa rơi xuống, sấm chớp nổi lên, thấy các âm thanh đều gần với âm “long long” (隆隆) tiếng

Hán, bèn dùng chữ này để chỉ con vật thần mà họ tưởng tượng ra [Ninh Nghiệp Cao 1999: 23; tacocity]

Người Hán tự xưng mình là con cháu của Rồng (long đích truyền nhân 龍 的传人) và xây dựng nên

cả mô ̣t phổ hê ̣ Rồng với 9 con (vùng Hoa Bắc có câu: “ Rồng sinh chín con không thành Rồng, mỗi con đều có sở thích riêng” – Long sinh cửu tử bất thành long, các hữu sở hiếu 龍生九子不成龍,各有所好), rồi cả mô ̣t thuyết “tam đình cửu tự” 三停九似 để nói về hình dáng và nguồn gốc của Rồng (“tam đình” là

ba khúc, bao gồm: đầu, thân, và đuôi; “cửu tự” là chín nét giống, gồm: sừng giống nai, đầu giống đà, mắt

Trang 39

giống thỏ, thân giống rắn, bụng giống trai, vảy giống cá, ngón chân giống chim, chân giống hổ, tai giốngbò) [Hạo Xuân, 1999: 5-6].

Người Bách Viê ̣t, mà cụ thể là Lạc Viê ̣t, với truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, tự xem mình là

“con Rồng cháu Tiên”

Từ Đông Á đến phương Nam

Trên cơ sở tư liê ̣u phong phú do nhiều nguồn cung cấp, chúng tôi đề xuất mô ̣t cách tiếp câ ̣n tổng hợp,

mà theo đó thì nguồn gốc phương Nam Bách Viê ̣t của con Rồng sẽ trở nên rất rõ ràng

1) Từ nguyên mẫu rắn của Rồng

Cho dù con Rồng có được gắn với rất nhiều loài vâ ̣t khác nhau (thâ ̣m chí được khuôn mẫu hoá thành

“tam đình cửu tự”), thì trên thực tế, mô ̣t con vâ ̣t tưởng tượng bao giờ cũng phải bắt đầu từ mô ̣t-hai nguyênmẫu rồi sau đó mới bổ sung dần Trong số các nguyên mẫu của Rồng thì phổ biến nhất, rõ nét nhất là hainguyên mẫu rắn và cá sấu

Về nguyên mẫu rắn thì, thứ nhất, cho đến nay, qua các hình vẽ trên vách đá, trên các dụng cụ lao

động, trên đồ sành sứ, đồ đồng ở khắp các vùng mà nay là Trung Hoa đều cho thấy hình tượng phổ biếncủa Rồng là rắn, hoặc kết hợp giữa rắn và các con vật khác mà thành [x Nguyễn Ngọc Thơ 2003]

Thứ hai, về mặt văn tự, trên giáp cốt văn, chữ long được vẽ với hình của một con rắn, miệng to, có sừng; trên Kim văn, cũng thấy chữ long về cơ bản cũng có hình một con rắn (hình 9) Trong tiếng Hán, từ

“long xà” ( 龍蛇) được hiểu như Rồng, và được sử dụng khá phổ biến Thôi Dung trong Giá Phá Thổ Phồn Biểu dùng cụm từ “long xà chi trận” (龍蛇之阵) để nói lên sức mạnh của quân Đường Giới Tử

Thôi đời Tần đã dùng bài hát “long xà chi ca” (龍蛇之歌) để thuyết phục vua ban tước cho mình Sách

Hán Thư có nói “Người quân tử lúc gặp thời thì tung hoành, lúc không gặp thời thì ở ẩn như long xà” Tô

Đông Pha dùng cụm từ “Rồng rắn bay lượn” (long xà phi động 龍蛇飞动) để miêu tả một bức tranh đẹp

Thứ ba, nhiều thư tịch cổ đại đã cung cấp nhiều tư liệu cho thấy Rồng là rắn được thần thánh hóa Sách Hậu Hán Thư (chương Trương Hoành Liệt Truyện) viết: “rắn được gán cho thần tính, có thể đằng vân, cưỡi gió giống như Rồng” Sách Thuật Dị Ký (mục truyền thuyết dân gian) ghi: “thủy hủy 水虺 (rắn độc) 500 năm biến thành con giao 蛟, giao 1000 năm biến thành Rồng, Rồng 500 năm biến thành giác long 角龍 (Rồng có sừng), giác long 1000 năm sau biến thành ứng long 应龍 (Rồng có cánh)” Vương Xung trong quyển Luận Hoành có viết: “Rồng có khi là rắn, rắn có khi là Rồng” [Vương Duy Đề 2000:

3]

Rắn tuy có mă ̣t trên khắp thế giới, nhưng vùng nhiê ̣t đới gió mùa với mạng lưới sông ngòi chằng chịt

như Đông Nam Á là môi trường sống lý tưởng cho các loài rắn Mô ̣t thống kê của Tổ chức y tế thế giới

năm 1994 cho biết hàng năm châu Á có khoảng 2,5 đến 3,5 vạn người bị rắn cắn, trong đó tâ ̣p trung nhiềunhất tại vùng từ Ấn Đô ̣ qua Myanma đến Thái Lan là nơi có nhiều loại rắn đô ̣c sinh sống [Võ Văn Chi -Nguyễn Đức Minh 1993: 2]

Từ chỗ gă ̣p nhiều rắn và sợ rắn mà sinh ra sùng bái rắn Một số nhà Nho Trung Hoa như Hứa Thận

trong Thuyết Văn Giải Tự cũng thừa nhận rằng các bộ tộc Mân Việt, Bách Việt phía nam sông Trường

Giang là những bộ tộc sùng bái rắn thần Ông viết: “người Mân Việt, người Bách Việt vùng đông namthuộc dòng dõi của rắn” (“Mân, xà chủng” 闽,蛇种 hoặc “Mân, Đông Nam Việt, xà chủng” 闽,东南越,蛇种) [Vương Duy Đề 2000: 9]

Không phải ngẫu nhiên mà không chỉ Nguyễn Tài Cẩn đã tìm thấy những mối liên hê ̣ giữa Rồng vàrắn ở các ngôn ngữ thuô ̣c nhóm Proto Viê ̣t-Chứt; mà nhà nghiên cứu Trung Quốc Nguỵ Á Nam cũng điđến kết luâ ̣n rằng trong ngôn ngữ của một số dân tộc Bách Việt, sự tương quan giữa rắn và Rồng khá rõ:

Trong tiếng Bố Y 布依, chữ rắn và chữ Rồng có cách đọc giống nhau: rắn /ka/, Rồng /ka:/ Trong ngôn

ngữ của người Ba 巴 và người A Xương cũng có cách phát âm tương tự Người Nạp Tây 纳西dùng từ

long xà để chỉ rắn thần; trong thần thoại của người Nạp Tây, Rồng khi bị trừng phạt sẽ biến thành rắn Ở

Trang 40

ngôn ngữ của người Di 彝, người Ngõa 佤 cũng có những điểm tương tự [Nguỵ Á Nam 1986: 15] NgườiViê ̣t có trò chơi “Rồng rắn lên mây”, có câu tục ngữ “Nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng”; Rồng trênkhắp các bức hoạ thời Lý-Trần là Rồng-rắn [Trần Ngọc Thêm 1996/2004: 244-246, 327-329]

2) Từ nguyên mẫu cá sấu của Rồng

Nếu rắn đã là con vâ ̣t điển hình của phương Nam nóng ẩm và sông nước thì cá sấu còn là con vâ ̣tđiển hình hơn Từ xa xưa, cá sấu đã thường xâm hại các cư dân Bách Việt Người Việt cổ phải xăm hình

cá sấu lên mình để khỏi bị nó làm hại Chương Nguyên Đạo Huấn trong sách Hoài Nam Tử viết: “Phía

Nam Cửu Nghi, việc trên bờ thì ít, việc dưới nước thì nhiều, thế nên ở đấy người dân xõa tóc, xăm mìnhcho giống con cá sấu”2 Cao Dụ nói: “xăm mình tức là thích hình vẽ lên thịt rồi chấm (tô màu) cho giốngcon giao long để xuống nước không bị giao long làm hại”3 Chữ “văn” 文 trong tiếng Hán chính là bắtnguồn từ tục xăm hình cá sấu – Rồng lên mình của người Viê ̣t Trang Tử viết: “Viê ̣t nhân đoạn phát vănthân” 越人断发文身 (= ‘người Viê ̣t cắt tóc văn [xăm] mình’) (hình 9, [Lý Lạc Nghị & Waters J 1997:850]) Đây là mô ̣t minh chứng hùng hồn cho nguồn gốc phương Nam của con Rồng

Hình cá sấu - Rồng là môtíp trang trí khá phổ biến trong các đồ đồng Đông Sơn như trống đồng, thạpđồng, qua đồng, v.v

Từ chức năng bảo vệ này mà Rồng ở vùng người Viê ̣t luôn gần gũi với nhân dân và luôn là hiện thâncủa cái thiện, cái may mắn, là thần bảo hộ cho con người: truyện Đinh Bô ̣ Lĩnh được Rồng đưa qua sông

và bảo vệ, truyện vua Lê Hoàn khi ngủ được Rồng sưởi ấm, truyện Rồng bảo vệ cư dân Dao, Xá khỏi hạnhán, v.v Các vua Trần đều vẽ Rồng vào đùi Thượng hoàng Trần Nhân Tông nói: “Nhà ta vốn là người ởvùng hạ lưu, đời đời ưa chuộng dũng cảm, thường xăm hình Rồng vào đùi Nếp nhà theo nghề võ, nênxăm Rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc” [Đại Việt sử ký 2003: 115] Để phân biệt với các loại quânkhác, lính Túc vệ hay Cấm quân nhà Trần được thích Rồng ở bụng, ở lưng và ở hai đùi, gọi là vẽ Rồng.Lính Cấm quân lấy việc được xăm mình làm điều hãnh diện Tục xăm Rồng lên đùi lên lưng của vua và

quân sĩ tồn tại đến đời Trần Anh Tông thì mới bỏ hẳn Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Về sau vua nối

ngôi không phải thích Rồng lên đùi nữa, là bắt đầu từ Anh Tông” [2003: 76] Đến thời Mạc, ở các đìnhlàng rất phổ biến các bức chạm khắc hình Rồng và những phụ nữ cưỡi Rồng (đình làng Đình Bảng đượcchạm khắc tới trên 500 hình Rồng)

Theo nhà nghiên cứu người Trung Hoa Từ Kiệt Thuấn, sở dĩ tộc Hán tự xưng là “long đích truyềnnhân” là vì có mối quan hệ sâu xa với người Việt cổ sùng bái Rồng Thời xa xưa, toàn bô ̣ vùng duyên hảiđông nam hạ du sông Trường Giang và vùng Lĩnh Nam là nơi cư trú của các tô ̣c người Miêu Man và

Bách Việt Theo Thuyết Uyển và Hán thư – địa lý chí hạ thì người Việt vẽ hoa văn lên thân mình giống

hình con Rồng và do vâ ̣y chính người Việt là tô ̣c sùng bái vật tổ Rồng Sau khi người Hoa Hạ đã hợp nhấtcác bô ̣ lạc Viêm-Hoàng với Đông Di thì liền bành trướng xuống phía nam để tiếp tục dung hợp với các bô ̣lạc Miêu Man và Bách Việt Chính vì vâ ̣y mà Hán tô ̣c vừa là “con cháu của Viêm-Hoàng”, lại vừa là “longđích truyền nhân” [Từ Kiệt Thuấn 1999: 26]

Chính vì ở Trung Hoa không có cá sấu nên khi tới đất Việt, người Hán lần đầu tiên nhìn thấy con cá

sấu hung dữ, hình dung nó như một loại rồng đã biết qua tưởng tượng, bèn gọi nó là con Giao long (蛟龍

= Rồng của xứ Giao Chỉ), gọi tắt là con giao Sách Tiền Hán thư của Nhan Sư Cổ nói: “con giao hình như con rắn mà có bốn chân <…> có thể nuốt người được”; sách Hoài Nam tử của Cao Dụ tả: “da nó có từng

hột (vảy dày)” [x Đào Duy Anh 1955: 26] Châu Đạt Quan lần đầu tiên nhìn thấy cá sấu khi đi sứ tới

Chân Lạp qua vùng Nam Bộ đã miêu tả trong Chân Lạp phong thổ kí bằng cách so sánh nó với loài vật

không có thực là Rồng: “Có những con cá sấu lớn như chiếc thuyền có bốn chân và rất giống con Rồngchỉ trừ nó không có sừng” [Châu Đạt Quan 1973: 93]

3) Từ tính cách thích nước của Rồng

Cả rắn lẫn cá sấu đều là những con vật cư trú phổ biến ở vùng sông nước nhiệt đới - hiện thực nàytạo nên tính cách thích nước của Rồng Dù Rồng trên thế giới có đa dạng đến đâu thì nó vẫn có mô ̣t đặctính chung nổi bâ ̣t là gắn liền với NƯỚC Trên thế giới chỉ có mô ̣t khu vực có nhiều sông nước nhất, với

Ngày đăng: 20/12/2022, 07:37