Cóthể coi đó là sự sáng tạo về ngôn từ của mỗi học sinh trong bài tập làm văn.Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói và viết đúng là hết sức cần thiết... Quan trọng là vậy, song có khô
Trang 1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – tự do – hạnh phúc ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi:
- Hội đồng sáng kiến Trường Tiểu học Thuận Phú;
- Hội đồng sáng kiến huyện Đồng Phú;
Tôi ghi tên dưới đây:
Nơi côngtác
Chứcdanh
Trình độchuyênmôn
Tỷ lệ (%) đónggóp vào việc tạo
3 Ngày sáng kiến áp dụng lần đầu: 15/9/2018
4 Mô tả bản chất của sáng kiến.
Người xưa có câu: “Văn hay chữ tốt”
Quả thật như vậy, trong cuộc sống thường ngày, mọi lĩnh vực đều cần đến
giao tiếp theo hai dạng cơ bản đó là nói và viết Mà phân môn Tập làm văn hình
thành và rèn cho học sinh những kĩ năng giao tiếp cả ở dạng nói lẫn dạng viết.Bài tập làm văn là sản phẩm riêng biệt của từng học sinh, là nơi các em thể hiện
rõ nhất cái riêng, cái độc đáo trong suy nghĩ, trong cách cảm nhận của mình vềhiện thực, không theo sách vở, không lặp lại lời thầy cô một cách máy móc Cóthể coi đó là sự sáng tạo về ngôn từ của mỗi học sinh trong bài tập làm văn.Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói và viết đúng là hết sức cần thiết
Trang 2Quan trọng là vậy, song có không ít học sinh bây giờ không thích học văn,thậm chí một số em còn rất sợ học phân môn này, trong giờ học các em còn ngại
phát biểu, viết bài qua loa cho xong chuyện.… Phải chăng môn Tập làm văn quá khó? hay giờ dạy Tập làm văn còn nhàm chán, đơn điệu không đủ sức hút
với các em…Vẫn biết không có phương pháp dạy học nào là vạn năng Song nếunhư giáo viên biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổchức dạy học phù hợp với khả năng sử dụng ngôn ngữ, tâm lí lứa tuổi học sinh
và sự nỗ lực của mỗi người thầy, người cô chúng ta sẽ tìm ra đáp số cho bài toánkhó ấy Và để giúp giáo viên vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp,đồng thời truyền cảm hứng đến với học sinh để các em thấy hứng thú, tự tin khilàm văn để có những đoạn văn sinh động giàu cảm xúc và chân thực, tạo điểmtựa tốt nhất cho những bài văn sau này?
Từ những lý do trên bản thân tôi đã thấy được vai trò quan trọng trongviệc hỗ trợ học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp Ba
4.1 Thực trạng:
a Về phía học sinh
- Học sinh lớp 3 vốn ngôn ngữ của các em chưa nhiều: các em còn mãichơi nhiều hơn học Việc tiếp thu bài còn thụ động theo cách truyền tải của giáoviên nên nó ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em
- Môn Tập làm văn là một môn khó, nhiều em còn ngại học văn, lười suynghĩ
nên ở các giờ học các em còn ngại phát biểu, viết bài qua loa cho xong chuyện.Cách dùng từ đặt câu chưa đúng, bài làm của các em còn cụt ngủn, rời rạc thiếu
sự liên kết câu, ý văn nghèo nàn, ít sáng tạo …dẫn tới tình trạng một số em sợhọc văn, nên kết quả bài làm của các em chưa cao
b Về phía Giáo viên
- Cách tổ chức các hoạt động trong giờ tập làm văn còn lúng túng Giáoviên chưa biết nội dung trọng tâm cần truyền tải đến học sinh mà chỉ biết dựa vàosách giáo viên và thậm chí đi theo sự hướng dẫn trong sách giáo viên để dạy bàinào cũng giống bài nào Giáo viên chưa thực sự đầu tư vào chất lượng bài soạn,
Trang 3thiếu sự đầu tư nên phương pháp sử dụng chưa thích đáng, mới chỉ dừng lại ởmức độ hoàn thành tiết dạy.
- Khi hướng dẫn, giáo viên thường hướng theo một đề cụ thể nên học sinhthường dựa vào đó để làm mà không cần suy nghĩ nhiều
- Khi nhận xét bài giáo viên thường nhận xét chung chung, thiếu cụ thểnên học sinh không biết mình sai ở chỗ nào để sửa chữa, dẫn tới lỗi cứ tiếp diễnnhiều lần mà không có hướng khắc phục
- Khi dạy các phân môn như Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện …,giáo viên chỉ chú ý tới mục tiêu của bài đó mà chưa thật sự chú trọng việc bổ trợ
về vốn từ, cách viết câu cho phân môn Tập làm văn, chưa có sự dẫn dắt và kĩ năngtổng hợp mối liên kết giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt để bổ trợ cho tiếthọc tập làm văn
- Khi dạy cho học sinh “Kể hay nói, viết về một chủ đề” giáo viên chỉ cónêu nội dung mấy câu hỏi ở SGK cho học sinh trả lời bằng miệng sau đó yêu cầuhọc sinh viết về chủ đề đó Do vậy mà hiệu quả giờ dạy chưa cao, học sinh thựchành viết bài chưa được, đặc biệt là những học sinh cần nhiều hỗ trợ trong họctập
- Một số giáo viên còn chưa mạnh dạn tìm tòi, tham khảo tài liệu sáchbáo, chưa mạnh dạn vận dụng các phương pháp mới vào giảng dạy còn bám vàokiến thức ở SGK một cách máy móc thụ động, dẫn đến việc giảng dạy Tập làmvăn của giáo viên còn theo một quy trình áp đặt, rập khuôn
4.3 Tính mới của sáng kiến:
Trang 4Bản thân tôi đã xác định được vai trò của người giáo viên trong việc dạyhọc các môn học cho học sinh, đặc biệt là phân môn Tập làm văn Cụ thể nhưsau:
* Dạng bài “Nghe - Kể lại chuyện”
Bản thân tôi sử dụng hình thức đoán nội dung câu chuyện
- Giáo viên kể một phần đầu của câu chuyện sau đó đặt câu hỏi đề nghị họcsinh đoán sự kiện gì có thể xảy ra tiếp theo Giáo viên ghi một vài ý học sinhđoán lên bảng
- Học sinh nghe giáo viên kể tiếp rồi trao đổi đối chiếu điều được nghe vớiđiều đã đoán để điều chỉnh phần được ghi trên bảng
- Giáo viên kể lại chuyện 2 lần đề nghị học sinh nêu thêm một số tình tiết nửaphần đầu của truyện
- Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị trong chuyện
- Học sinh kể lại chuyện theo cặp
- Đại diện vài nhóm học sinh kể lại chuyện trước lớp
- Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung và nhận xét chung
Ví dụ minh hoạ: Nghe kể lại chuyện: Không nỡ nhìn (BT1 TV3 Tập 1
-Tr.61)
Nội dung câu chuyện trong sách giáo viên như sau:
“Trên một chuyến xe buýt đông người, có anh thanh niên đang ngồi cứ lấy hai tay ôm mặt Một bà cụ ngồi bên thấy thế bèn hỏi:
- Cháu nhức đầu à? Có cần dầu xoa không?
Anh thanh niên nói nhỏ:
- Không ạ Cháu không nỡ nhìn các cụ già và phụ nữ phải đứng.”
Chuẩn bị : Tranh vẽ ở SGK phóng to
Cách tiến hành:
- Giáo viên treo tranh vẽ lên bảng
Giáo viên kể phần đầu của chuyện kết hợp chỉ tranh: “Trên một chuyến xe buýt đông người, có anh thanh niên đang ngồi cứ lấy hai tay ôm mặt - Giáo viên
hỏi: Các em thử đoán xem anh thanh niên bị sao?
Trang 5- Giáo viên ghi một vài ý học sinh đoán lên bảng:
Ví dụ:
+ Anh thanh niên bị thương ở mặt
+ Anh thanh niên bị đau mắt
+ Anh thanh niên bị nhức đầu
+ Anh thanh niên bị chóng mặt
- Giáo viên kể tiếp câu chuyện và cho học sinh đối chiếu điều được nghe vớiđiều đã đoán để điều chỉnh phần ghi ở bảng
- Giáo viên kể chuyện lần 2, đề nghị học sinh nêu lên một số tình tiết nửa phầnđầu của chuyện
Giáo viên có thể đưa lên một số thẻ từ ghi một số tình tiết của chuyện
Ví dụ:
+ Cháu nhức đầu à?
+ Có cần dầu xoa không ?
+ Không ạ Cháu không nỡ nhìn các cụ già và phụ nữ phải đứng
- Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị của chuyện
- Học sinh kể lại chuyện theo nhóm, kết hợp câu hỏi gợi ý ở SGK
- Đại diện vài nhóm học sinh kể trước lớp
- Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung
* Dạng bài: Kể hay nói, viết về một chủ đề.
* Lập mạng ý nghĩa : Tiến trình thực hiện phương pháp mạng ý nghĩa:
Bước 1: Yêu cầu học sinh tìm hiểu đề, định hình cụ thể đối tượng nói hay viết
trong trí nhớ đồng thời nhớ lại đối tượng đó là ai? Là gì? ở đâu? Lúc nào? theo
chủ đề Để thực hiện hoạt động này giáo viên có thể sử dụng một trong các bướcsau:
- Tạo tình huống để hướng suy nghĩ của học sinh tập trung chú ý vào đề tài cầnhướng đến
- GV đặt một số câu hỏi nhỏ để khéo léo dẫn dắt HS liên tưởng về đối tượng
- Sử dụng đồ dùng trực quan như tranh, ảnh, vật thật
- Kể một mẩu chuyện nhỏ kết hợp đặt câu hỏi hướng học sinh đến đề tài
Trang 6Bước 2: Tìm ý: Học sinh tập trung nghĩ về đối tượng đã xác định trong khung
chủ đề và viết ra bất kì những từ ngữ nào liên quan đến đối tượng ấy
- GV sử dụng hệ thống câu hỏi để kích thích và định hướng cho học sinh phát
triển ý Cần lưu ý câu hỏi phải có tính chất mở.Ví dụ : Em thấy gì? Em nghe gì?
Em nghĩ gì? Em cảm thấy gì?
- Học sinh nêu các ý dưới dạng từ hay cụm từ xung quanh chủ đề Giáo viênghi những ý lên bảng xoay quanh các từ ngữ trong chủ đề ấy trong giai đoạnlàm mẫu Nhưng khi học sinh làm việc cá nhân trong phiếu học tập thì trên bảngchỉ còn lại khung mạng trống
Bước 3: Lập dàn ý: Sắp xếp ý đã có trong mạng
- Hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý tìm được, lưu ý trình tự chung của thể loạivăn đang làm và hướng dẫn có tính chất mở (đoạn văn miêu tả thì lưu ý nhữngchi tiết nào có ý nghĩa giới thiệu chung thì nói trước, ý nào miêu tả chi tiết, cụthể thì nói sau)
- Mỗi học sinh xem lại các ý trong mạng
- Gọi vài học sinh lên thể hiện mạng ý nghĩa của mình đã làm trước lớp để cả lớptheo dõi việc làm mẫu của một số học sinh Sau khi HS đã tìm ý và hình thànhmạng ý nghĩa trong phiếu bài tập, giáo viên cho một số em lên thể hiện lại ý củamình vào các khung mạng trên bảng
Bước 4: HS diễn đạt các ý trong mạng ý nghĩa thành bài dưới dạng nói hay viết
- Dạng bài tập nói: giáo viên hướng dẫn học sinh nhìn mạng ý nghĩa của mìnhdiễn đạt thành câu, thành bài trước lớp hay theo nhóm, cặp, theo nhóm đôi
- Dạng bài viết: giáo viên hướng dẫn học sinh diễn đạt mỗi từ ngữ xoay quanhmạng ít nhất một câu
- Tập cho học sinh có thói quen quan tâm đến các trường hợp sử dụng từ haytrong khi đọc, kể chuyện hay luyện từ và câu
- Nếu là bài nói, cho vài nhóm học sinh thể hiện lại trước lớp rồi tổ chức trao đổi nhận xét và rút kinh nghiệm về cách nói phù hợp với yêu cầu của nội dung vàthể loại của đề bài
Trang 7Học sinh cùng kể về gia đình mình cho nhau nghe
- Nếu là bài viết: Tổ chức cho học sinh đọc sửa chữa bản nháp của mình theohình thức nhóm/cặp (đổi vở cho nhau sửa chữa)
Bước 6: Dựa vào bản nháp đã được sửa, học sinh viết lại bài hoàn chỉnh
* Ví dụ : Khi dạy bài: “Kể về gia đình cho bạn mới quen biết” giáo viên thực
hiện các bước như sau:
- Cho học sinh đọc yêu cầu bài tập, giáo viên giúp học sinh tìm hiểu yêu cầu củabài tập:
- Học sinh tập trung động não nghĩ về gia đình mình và viết ra bất kỳ những từngữ nào liên quan đến gia đình mình
Trang 8- GV treo bảng phụ vẽ mạng ý nghĩa Giới thiệu cho học sinh biết một số từ
HS nhìn mạng của mình và nói: Cho hai em nói mẫu trước lớp
Ví dụ:
Gia đình mình có sáu người: Ông bà nội này, Bố mẹ mình, chị gái và mình.
Bố mình là công nhân, còn mẹ mình là giáo viên Chị gái mình học rất giỏi và chăm học Mẹ mình nấu ăn rất ngon, còn bà nội thường hay kể chuyện cổ tích cho mình nghe Gia đình mình luôn vui vẻ và hạnh phúc
- Cả lớp nhận xét, GV bổ sung
Ví dụ khi dạy đề bài: Nói về quê hương em
Qua sơ đồ này, học sinh sẽ dựa vào các dữ liệu( các từ ngữ phục vụ cho đề bài)
để hoàn thành bài nói về quê hương dễ dàng hơn
chị
Vui
Công nhân Giáo
Hiền hậu
Trang 9Sau khi áp dụng sơ đồ mạng cho dạng bài nói viết về một chủ đề, tôi thấy học
sinh hứng thú hơn với giờ học Dựa vào sơ đồ mạng học sinh nói viết đầy đủ ý
và diễn đạt hay hơn
Bên cạnh việc sử dụng sơ đồ mạng giáo viên cần áp dụng đầy đủ các bướcsau:
- Xác định rõ yêu cầu các bài tập:
Ở mỗi đề tài của loại bài Tập làm văn nói – viết, giáo viên cần cho họcsinh tự xác định rõ yêu cầu các bài tập Giúp học sinh tự xác định đúng yêu cầubài tập để khi thực hành các em sẽ không chệch hướng, đảm bảo đúng nội dung
đề tài cần luyện tập
- Nắm vững hệ thống câu hỏi gợi ý:
Sách giáo khoa lớp 3, bài Tập làm văn Nói – Viết thường có câu hỏi gợi ý,các câu hỏi này sắp xếp hợp lí như một dàn bài của một bài Tập làm văn; họcsinh dựa vào gợi ý để luyện nói, sau đó viết thành một đoạn văn ngắn Giáo viêncần cho học sinh đọc toàn bộ các câu gợi ý để hiểu rõ và nắm vững nội dungtừng câu; từ đó giúp các em trình bày đoạn văn rõ ràng, mạch lạc đủ ý, đúng từ,đúng ngữ pháp Giúp học sinh nắm vững nội dung từng câu hỏi gợi ý sẽ hạn chếđược việc trình bày ý trùng lặp, chồng chéo, không có sự liên kết giữa các ý vớinhau trong đoạn văn
- Tìm hiểu các câu gợi ý:
Cánh đồng,
đàn trâu, đàn cò
Giếng nước,
mái đình, đường làng
Dòng sông, bến nước, con đò
Cây đa, lũy tre, rơm rạ
Công viên, Rạp chiếu phim, khu vui chơi
Trang 10Trước khi học sinh thực hành bài tập luyện nói, giáo viên cần giúp các emhiểu nghĩa của các từ ngữ có trong câu hỏi để học sinh hiểu và trình bày đúngyêu cầu, các từ ngữ này có thể là các từ khó hoặc từ địa phương Nếu là từ địaphương, giáo viên có thể cho học sinh sử dụng từ địa phương mình để học sinhlàm bài dễ dàng hơn
- Chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ:
Trong các câu gợi ý có một số câu dài hoặc ngắn gọn khiến học sinh lúngtúng khi diễn đạt ý, do đó ý không trọn vẹn, bài văn thiếu sinh động sáng tạo.Giáo viên cần chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ để giúp các em có những ý tưởngphong phú, hồn nhiên Việc chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ sẽ có nhiều học sinhđược rèn kĩ năng nói, giúp các em thêm tự tin và giáo viên dễ dàng sửa chữa saisót cho học sinh
Trang 11Học sinh tự tin bày tỏ ý kiến
Như vậy qua hệ thống câu hỏi, giúp học sinh bày tỏ được thái độ, tìnhcảm, ý kiến nhận xét đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học Songsong với quá trình đó giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh về câu trảlời của bạn để học sinh rút ra được những câu trả lời đúng cách ứng xử hay Từ
đó giúp học sinh mở rộng vốn từ, rèn lối diễn đạt mạch lạc, lôgíc, câu văn có
Trang 12hình ảnh có cảm xúc Trên cơ sở đó bài luyện nói của các em sẽ trôi chảy, sinhđộng, giàu cảm xúc đồng thời hình thành cho các em cách ứng xử linh hoạt trong
cuộc sống
- Hướng dẫn tìm ý:
Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi nên đa số bài văn của học sinh lớp 3 có ýtưởng chưa phong phú, sáng tạo, các em thường trình bày hạn hẹp trong khuônkhổ nhất định Giáo viên cần giúp các em tìm ý để thực hành một bài văn nói –viết hoàn chỉnh về nội dung với những ý tuởng trong sáng giàu hình ảnh và ngâythơ chân thật Để thực hiện được điều đó, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh mộtcách chặt chẽ từ sự liên tưởng về các sự vật, các hoạt động Từ đó học sinh dễ
dàng tìm ý và diễn đạt bài văn rõ ràng, mạch lạc hơn Trong một tiết Tập làm văn
với một đề tài nào đó, học sinh có thể quên một số hình ảnh, sự việc…mà các em
đã quan sát hoặc tìm hiểu qua thực tế Giáo viên khơi gợi cho học sinh nhớ lạibằng những câu hỏi nhỏ có liên quan đến yêu cầu bài tập, phù hợp thực tế vàtrình độ học sinh để các em dễ dàng diễn đạt Nếu trong một bài Tập làm văn,học sinh chỉ biết diễn đạt nội dung bằng những gì đã quan sát; hoặc thực hànhmột cách chính xác theo các gợi ý; bài làm như thế tuy đủ ý nhưng không có sứchấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe Vì vậy, với từng đề bài giáo viên nên
có những câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh liên tưởng, tưởng tượng thêmnhững chi tiết một cách tự nhiên, chân thật và hợp lí qua việc sử dụng các biệnpháp so sánh, nhân hoá, để từ đó học sinh biết trình bày bài văn giàu hình ảnh,sinh động, sáng tạo
- Hướng dẫn diễn đạt:
Như đã nói, do tâm lí lứa tuổi và đặc điểm học sinh của trường cónhiều học sinh do hoàn cảnh kinh tế gia đình còn khó khăn các em chưa đượctham quan , giao lưu rộng rãi nên bài văn thực hành của học sinh lớp 3 tuy có ýtưởng, nhưng vẫn còn nhiều sai sót về diễn đạt như: dùng từ chưa chính xác, ýtrùng lắp, các ý trong đoạn văn chưa liên kết nhau nên trình bày chưa rõ ràngmạch lạc Vì vậy, khi học sinh trình bày, giáo viên phải hết sức chú ý lắng nghe,ghi nhận những ý tưởng hay, ý có sáng tạo của học sinh để khen ngợi; đồng thời