Khi xem xét sự vật, hiện tượng phép biện chứng đặt nó vào trạng thái vận động, biến đổi, phát triển và trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng khác.. Trên cơ sở khái quát các mối liên h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Sinh viên thực hiện
Đào Thùy Linh
Lớp tín chỉ TRI114K61.9 Giảng viên hướng dẫn TS Đào Thị Minh Thảo
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Sinh viên thực hiện
: Đào Thùy Linh
Lớp tín chỉ : TRI114K61.9 Giảng viên hướng dẫn : TS Đào Thị Minh Thảo
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 4
3.2 Quan điểm lịch sử - toàn diện 9
PHẦN 2 MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG
2 Những tiêu chí để đánh giá công bằng xã hội 12
Trang 4III MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 13
1 Sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến công bằng xã hội 13
2 Sự tác động của công bằng xã hội đến tăng trưởng kinh tế 14
3 Giải pháp nhằm đảm bảo công bằng trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt
Trang 5Lời mở đầu Phát triển kinh tế là một mục tiêu phấn đấu của toàn xã hội, của tất cả các nước trên thế giới Việt Nam hiện nay đang tiến tới xây dựng một đất nước mà con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, làm theo năng lực, hướng theo lao động, người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Để thực hiện được mục tiêu dân giàu nước mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), đưa nước ta đạt đến trình độ phát triển kinh tế nhất định, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã góp phần giải phóng và phát huy năng lực sản xuất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhưng bên cạnh đó, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã bộc lộ nhiều hạn chế: tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, sự suy thoái về đạo đức, văn hóa truyền thống, Nó đã đặt ra hàng loạt vấn đề về công bằng xã hội, về việc phát triển kinh tế đảm bảo công bằng xã hội như thế nào và việc giải quyết những vấn đề trên như thế nào Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và và công bằng xã hội được xã hội quan tâm rất nhiều, các nhà nghiên cứu tìm hiểu lý giải các mối quan hệ này dựa trên sự đối lập giữa hai phạm trù này hoặc dựa trên sự thống nhất tương hỗ căn bản giữa chúng Nhìn chung, đã số họ đều thiên về tìm đến sự thống nhất giữa tăng trưởng và công bằng Tuy nhiên, trong quá trình luận giải, có không ít nhầm lẫn giữa các phạm trù và chưa vạch ra được cơ chế đảm bảo sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng Để có được sự nhận thức đúng về tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và giải quyết hợp lý những vấn đề do đã đặt ra thì chúng ta nhất thiết phải đứng trên lập trường của thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Marx – Lenin mà cơ sở nền tảng cảu nó là phép biện chứng duy vật đặc biệt là nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến.
Nhận thức được tầm quan trọng của mối liên hệ phổ biến trong quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng trong phát triển kinh tế mà đặc biệt là ở nước ta đang trong quá trình quá độ lên CNXH phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Đảng ta khẳng định: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng trưởng vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”.
Trang 6Vậy vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội được Triết học nhìn nhận trên nguyên lý về mối liên hệ phổ biến như thế nào?
Trang 8PHẦN 1 PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
I KHÁI QUÁT VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG
1 Khái niệm
Phép biện chứng là phương pháp nhận thức đối tượng ở trong các mối liên
hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau Và nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi về chất và sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi
ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng Phép biện chứng thuộc biện chứng chủ quan, tức phản ánh biện chứng của thế giới vật chất vào trong đời sống ý thức của con người Khi xem xét sự vật, hiện tượng phép biện chứng đặt nó vào trạng thái vận động, biến đổi, phát triển và trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng khác.
Như vậy, phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là hoặc là” còn có cả “vừa là vừa là” nữa, thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó, thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ, vừa gắn bó với nhau.
Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.
Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử
của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy
Trang 9vô cùng tận Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.
Trang 102.2 Phép biện chứng duy tâm
Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong Triết học Cổ điển Đức, người khởi đầu là Kant và người hoàn thiện là Hegel Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phép biện chứng Song, theo họ, biện chứng ở đây bắt đầu ở tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.
2.3 Phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật đã phát triển qua ba giai đoạn với ba hình thức cơ bản, trong đó giai đoạn phát triển cao nhất trong lịch sử triết học là sáng tạo nên phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Marx – Lenin Phép biện chứng duy vật được xem là khoa học nhất, là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị, sâu sắc nhất và không phiến diện.
Trên cơ sở khái quát các mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, những quy luật phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật cung cấp những nguyên tắc, phương pháp luận chung nhất cho quá trình nhận thức và cải tạo thế giới Fr Engles đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khao học về sự liên hệ phổ biến.” để nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
II NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
Nguyên lý: là những điều căn bản nhất của một học thuyết Phép biện chứng duy vật có hai nguyên lý cơ bản là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý
về sự phát triển Trong đó, ở bất kỳ giai đoạn nào của phép biện chứng, nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến được xem là nguyên lý có ý nghĩa khái quát nhất.
Khái niệm mối liên hệ phổ biến
Trang 11Triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc, quy định với nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng và giữa các sự vật, hiện tượng.
Ta hiểu khái niệm trên như thế nào?
Thứ nhất, liên hệ là một phạm trù triết học Như vậy chúng ta phải hiểu liên
hệ một cách khái quát nhất bao gồm tất cả các mối liên hệ cả trong tự nhiên, xã hội và trong tư duy.
Thứ hai, liên hệ dùng để chỉ sự tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc, quy
định với nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật hiện tượng Một sự vật, hiện tượng luôn bao gồm các mặt, các bộ phận, chúng vừa khác nhau, độc lập với nhau; lại vừa thống nhất, vừa ràng buộc, quy định nhau để cùng tạo nên một chỉnh thể sự vật, hiện tượng.
Ví dụ, xét một chỉnh thể sự vật là một cơ thể người Cấu tạo cơ thể con người
bao gồm 8 hệ cơ bản: hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ cơ, hệ xương và hệ sinh dục Mỗi hệ có một chức năng hoàn toàn khác nhau, như hệ tuần hoàn giúp lưu thông máu, đưa máu đến các cơ quan thông qua
đó thực hiện quá trình trao đổi chất và trao đổi khí qua các mao mạch; hệ bài tiết giữ vai trò bài tiết trong cơ thể - đào thải các chất cặn bã đưa ra ngoài cơ thể Tuy nhiên, giữa chúng cũng có những mối liên hệ thống nhất với nhau nhằm giúp cho cơ thể con người phát triển một các khỏe mạnh; hệ thần kinh trong đó bộ não điều hành chung sự hoạt động của tất cả các cơ quan
còn lại; hệ tiêu hóa thực hiện trao đổi chất trực tiếp từ bên ngoài vào cơ thể, đồng thời biến đổi các chất từ dạng phức tạp thành các dạng đơn giản giúp cơ thể dễ dàng hấp thụ, nhờ đó cung cấp các chất dinh dưỡng nuôi cơ quan khác trong đó
có hệ thần kinh Như vậy, một cơ thể khỏe mạnh là một cơ thể bao gồm tất cả các
hệ, các cơ quan đều phát triển một cách khỏe mạnh, không thể thiếu đi một trong các bộ phận đó được.
Thứ ba, liên hệ còn dùng để chỉ sự tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc, quy
định với nhau giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Thật vậy, một con người phát triển khỏe mạnhk là nhờ sự tác động qua lại lẫn nhau của các hệ, các cơ quan
Trang 12trong cơ thể, nhưng một con người không thể tồn tại một mình trên thế giới này
mà không có những mối liên hệ nào với tự nhiên, với những cá thể khác.
Trang 13Ví dụ, xét một phần trong mối liên hệ giữa con người và tự nhiên Nhu cầu
thiết yếu nhất của con người đó là thức ăn, mà thức ăn lại do tự nhiên cung cấp, nhưng không phải tự nhiên sẽ cung cấp cho con người thức ăn mãi mãi, cũng như phục vụ đúng những nhu cầu ngày càng cao của con người Mà muốn vậy, con người cần phải tác động vào tự nhiên để tạo ra những sản phẩm phục vụ chính những mong muốn của mình cả về chất và lượng Tuy nhiên, khi con người tác động vào tự nhiên cũng có những tác động tốt giúp cải tạo tự nhiên, có những tác động làm tổn hại đến tự nhiên và khi đó chính con người lại chịu mọi thành quả cũng như hậu quả do mình làm ra.
Như vậy, ta có thể hiểu được phần nào nội dung cơ bản của nguyên lý mối liên hệ phổ biến: giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng và giữa các sự vật, hiện tượng với nhau luôn tồn tại mối liên hệ độc lập mà thống nhất – đó là mối liên hệ phổ biến.
1 Nội dung của nguyên lý
Các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ thì cái gì quy định mối liên hệ đó? Trong lịch sử triết học, đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau để trả lời cho câu hỏi trên Những người theo quan điểm biện chứng cho rằng, các sự vật, hiện tượng các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau Chẳng hạn, bão từ diễn ra trên mặt trời sẽ tác động đến từ trường của trái đất và do đó, tác động đến mọi sự vật, trong đó có cả con người; hiện nay trong xu thế toàn cầu hoá sự khủng hoảng kinh tế của một nước không chỉ làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước ấy mà còn làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của các nước xung quanh, thậm chí là nền kinh tế của toàn thế giới… Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất- thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách
Trang 14rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định.
Chính trên
cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, mối liên hệ phổ biến là một
Trang 15phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng với các sự vật hiện tượng khác Chúng ta cũng chỉ có thể đánh giá sự tồn tại cũng như bản chất của một con người cụ thể thông qua mối liên hệ sự tác động qua lại của con người đó với người khác, đối với xã hội, tự nhiên, thông qua những hoạt động của người đó Ngay tri thức của con người cũng chỉ có giá trị khi chúng được con người vận dụng vào hoạt động cải biển tự nhiên, cải biển xã hội và chính con người.
2 Các tính chất của mối liên hệ
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ phổ biến có
ba tính chất cơ bản: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.
Tính khách quan của mối liên hệ được thể hiện ở sự quy định lẫn nhau, các
mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, nó không phụ thuộc vào ý thức của con người.
Tính phổ biến được biểu hiện: bất kỳ một sự vật hiện tượng nào, ở bất kỳ
không gian, thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác Ngay trong cùng một sự vậy, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu
tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác
Tính đa dạng phong phú của mối liên hệ: sự vật hiện tượng khác nhau, không
gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau Có thể chia các mối liên hệ thành nhiều loại: mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu, Các mối liên hệ này có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật hiện tượng.
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính chất tương đối, vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính sự vật.
Trang 16Tuy sự phân chia thành các loại mối liên hệ chỉ mang tính chất tương đối nhưng sự phân chia đó là rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hẹ có vị trí và cai trò xác định
trong sự vận động và phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng mối liên
hệ để
Trang 17có cách tác động phù hợp nhằm đưa ra hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình.
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, ta rút ra được tính toàn diện trong việc xem xét sự vật, hiện tượng, cụ thể.
3.1 Quan điểm toàn diện
Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hóa, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh xem xét phiến diện.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật hiện tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó đối với những sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng sự vật.
Đồng thời quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phân biệt từng mối liên
hệ phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên và lưu ý đến sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên
hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân.
Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với sự vật khác Đồng thời, chúng
ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.
3.2 Quan điểm lịch sử - toàn diện
Vì các mối liện có tính đa dạng, phong phú sự vật hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ được biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiến con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụ thể.