1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phép biện chứng duy vật với sáng tạo trong quản lý doanh nghiệp

16 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phép Biện Chứng Duy Vật Với Sáng Tạo Trong Quản Lý Doanh Nghiệp
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 137 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời nói đầu MỤC LỤC 2MỞ ĐẦU 2I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 21 Tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 21 1 Khái niệm 21 2 Các tính chất của mối liên hệ 31 3 Ý nghĩa, phương pháp luận 32 Tìm hiểu nguyên[.]

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 2

1 Tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Các tính chất của mối liên hệ 2

1.3 Ý nghĩa, phương pháp luận 3

2 Tìm hiểu nguyên lý về sự phát triển 3

2.1.Những khái niệm khác nhau về sự phát triển 3

2.2 Tính chất của sự phát triển 4

2.3 Ý nghĩa phương pháp luận 4

II VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN 4

1 Những ảnh hưởng đến lợi ích doanh nghiệp khi doanh nghiệp yếu kém quản lý 4

2 Lợi ích khi phát triển DN bền vững thông qua quản lý doanh nghiệp sáng tạo 5

3 Đề xuất một số giải pháp sáng tạo trong quản lý: 6

3.1 Về xây dựng chiến lược: 6

3.2 Về tổ chức: 7

3.3 Về nhân sự: 9

3.4 Về thông tin: 9

KẾT LUẬN 10

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế hội nhập ngày này, các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là

các doanh nghiệp Nhà nước phải thay đổi để hòa nhập trong bối cảnh mới Sáng tạo trong quản lý là một trong các yếu tố then chốt sẽ mang lại cho doanh

nghiệp vị thế vững chắc, làm giảm nguy cơ sụp đổ trước tinh hình thị trường đầy biến động ngày nay Tuy nhiên, doanh nghiệp sẽ sáng tạo theo cách nào, trên cơ

sở gì để đạt được lợi ích tối ưu đó Đây là bài toán khó và cần phải có phương pháp luận rõ ràng

Chúng ta nhận thức được rằng: Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu

cơ giữa lý luận và phương pháp Hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù của

nó không chỉ phản ánh đúng hoạt động của thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy, là công cụ sắc bén nhận thức thế giới khách quan của con người, mà còn chỉ ra được những cách thức để định hướng đúng hoạt động cụ thể nhằm mang lại hiệu quả, năng suất cao trong thực tiễn

Khi đề cập tới 2 nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật: đó là nguyên

lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, người ta thường chú

trọng tới 3 nguyên tắc cơ bản: toàn diện, phát triển và lịch sử - cụ thể

Tiểu luận xin được đề cập tới vấn đề: “Phép biện chứng duy vật với sáng tạo trong quản lý doanh nghiệp”

I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

1.1 Khái niệm

Mối liên hệ phổ biến là khái niệm để chỉ sự: Tác động, ràng buộc, qui định, chuyển hóa của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Sự liên hệ biểu

hiện ở 3 mặt:

Trang 3

- Giữa các sự vật khác với nhau

- Giữa các sự vật với môi trường.

1.2 Các tính chất của mối liên hệ

a Tính khách quan:

- Xuất phát từ tính thống nhất vật chất của thế giới

- Mối liên hệ tồn tại bên ngoài ý thức con người

b Tính phổ biến

- Không có sự vật hiện tượng nào không có mối liên hệ bởi vì chúng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất

- Mối liên hệ tồn tại trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy

c Tính đa dạng:

- Xuất phát từ tính đa dạng thế giới vật chất dẫn đến mối liên hệ đa dạng, biểu hiện ở:

* Liên hệ trong không gian (cùng 1 thời điểm diễn ra nhiều sự kiện)

* Liên hệ trong thời gian (là sự liên hệ kế tiếp nhau của các sự kiện)

* Liên hệ bên trong (là mối liên hệ xảy ra bên trong sự vật hiện tượng)

* Liên hệ bên ngoài (là mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác)

* Liên hệ cơ bản

* Liên hệ không cơ bản

- Mỗi kiểu mối liên hệ có vị trí vai trò và đặc điểm riêng của nó

1.3 Ý nghĩa, phương pháp luận

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở xây dựng các nguyên tắc cơ bản: Toàn diện và lịch sử cụ thể.

Quan điểm toàn diện: Đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải

xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ

Trang 4

phận, các yếu tố, giữa các mặt của sự vật và trong sự tác động qua lại giữ sự vật

đó với sự vật khác Trên cơ sở đó có nhận thức và hành động đúng với thực tiễn khách quan

“Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “ quan hệ gián tiếp” của sự vật đó

Quan điểm toàn diện cũng khác với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt vốn không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp được với nhau Thuật nguỵ biện cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu

Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải kết hợp quan điểm toàn diện với quan điểm lịch sử - cụ thể

Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu việc nhận thức các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần xét đến tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tác

động; xác định rõ vị trí vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để đưa ra các biện pháp đúng đắn phù hợp với đặc điểm cụ thể của đối tượng cần tác động nhằm tránh quan điểm phiến diện, siêu hình, máy móc

2 Tìm hiểu nguyên lý về sự phát triển:

2.1.Những khái niệm khác nhau về sự phát triển

Quan niệm siêu hình:

+ Phát triển chỉ là sự tăng lên đơn thuần về lượng, không có sự thay đổi về chất

+ Phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục không có những bước quanh

co thăng trầm phức tạp

Quan niệm biện chứng:

Trang 5

+ Phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao, quá trình đó vừa dần dần, vừa nhảy vọt, cái mới ra đời thay thế cái cũ

+ Phát triển là quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến thay đổi về chất diễn ra theo đường xoáy ốc

+ Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật (mâu thuẫn bên trong)

+ Phát triển không bao hàm mọi sự vận động nói chung, nó chỉ khái quát sự vận động đi lên cái mới thay thế cái cũ

+ Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực

- Giới vô cơ biểu hiện dưới dạng biến đổi các yếu tố làm nảy sinh các hợp chất phức tạp, xuất hiện các hợp chất hữu cơ ban đầu

- Giới hữu cơ thể hiện ở khả năng thích nghi

- Vấn đề xã hội: sự phát triển của tư duy thể hiện khả năng con người làm chủ thế giới

2.2 Tính chất của sự phát triển:

a Tính khách quan:

Phát triển là thuộc tính vốn có của sự vật

b.Tính phổ biến:

Phát triển diễn ra ở cả 3 lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy

c Tính đa dạng:

- Mỗi sự vật hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau

- Quá trình phát triển chịu sự tác động khác nhau có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm

2.3 Ý nghĩa phương pháp luận:

+ Trong nhận thức và hành động thực tiễn phải có quan điểm phát triển khi xem xét đánh giá các hiện tượng phải đặt chúng trong sự vận động, sự biến đổi

Trang 6

+ Phải nhìn thấy cái mới, xu thế tất yếu của sự phát triển có thái độ ủng hộ cái mới tạo điều kiện cho cái mới ra đời

+ Quan điểm phát triển là cơ sở và niềm tin cho thái độ lạc quan khoa học của người cách mạng

+ Cần chống lại quan điểm nóng vội duy ý chí muốn xóa bỏ cái cũ khi chưa có

đủ điều kiện, quan điểm bảo thủ trì trệ gây cản trở cho sự phát triển

II VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN

Tiểu luận đề cập về phương pháp sáng tạo trong quản lý doanh nghiệp bằng

cách: Tối đa hóa lợi ích doanh nghiệp gắn liền với phát triển doanh nghiệp một cách bền vững.

Hiện nay, thực tế cho thấy rằng: nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi hoạt động, thường chỉ tập trung vào công việc kinh doanh mà chưa xem xét hoặc không chú trọng vào phát triển tổ chức, quản lý doanh nghiệp Khâu rất quan trọng mà các doanh nghiệp Việt nam đang lúng túng đó là quản lý doanh nghiệp hợp lý, sáng tạo Có thể nói, việc sáng tạo trong quản lý sẽ có ảnh hưởng đáng

kể đến sự thành công của một doanh nghiệp trên con đường tồn tại và phát triển

1 Những ảnh hưởng đến lợi ích doanh nghiệp khi doanh nghiệp yếu kém quản

Thứ nhất, doanh nghiệp phải tốn thêm chi phí "đổ rác" Doanh nghiệp Việt

Nam hay có thói quen làm việc tới đâu, xả rác tới đó Khi doanh nghiệp phát triển lên một qui mô nhất định nào đó, chính những “đống rác" này kìm hãm sự phát triển Doanh nghiệp Có một số doanh nghiệp Việt Nam đã xây dựng định hướng phát triển đúng, nhưng kế hoạch thực hiện chưa rõ ràng, thiếu sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ và chưa có sự hỗ trợ tích cực giữa các bộ phận, nhất là chỉ tập trung xây dựng quy trình kiểm soát mà chưa tập trung vào hệ thống kiểm soát và cơ cấu trách nhiệm

Trang 7

Thứ hai, cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp vẫn còn nặng "thưa", "bẩm",

"báo", "trình", tập trung vào chức vụ, quyền hạn nhiều hơn là trách nhiệm, chưa thật sự dựa trên giá trị gia tăng mang đến cho thị trường và khách hàng Điều này hạn chế sự năng động, sáng tạo, khả năng nắm bắt và thỏa mãn nhu cầu của thị trường Bản mô tả công việc của mỗi nhân viên trong Công ty không rõ ràng, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn chồng chéo lên nhau

Thứ ba, phần lớn doanh nghiệp chọn cách lãnh đạo theo mô hình "đầu tàu”,

chỉ dựa vào khả năng của một số ít người Theo mô hình này, một khi người chủ doanh nghiệp đi công tác xa, hay có việc gì bất ngờ thì mọi hoạt động bị đình trệ Chức năng của lãnh đạo rất quan trọng không phải vì bản thân người lãnh đạo quan trọng mà chính là vì người lãnh đạo ấy biết nâng tầm quan trọng về vị thế của mỗi người trong doanh nghiệp để đóng góp của họ càng ngày càng nhiều hơn

Thứ tư, phần lớn doanh nghiệp đều xem con người là tài sản, luôn tìm cách

thu hút và giữ chân người giỏi, nhưng lại chưa đánh giá chính xác năng lực của người giỏi (việc đánh giá chưa dựa trên giá trị gia tăng mang đến cho thị trường, khách hàng, đồng nghiệp và cấp dưới) Hơn nữa, doanh nghiệp chưa tạo ra "chất keo" kết nối nhân viên thành một khối đoàn kết, hiệp lực, cùng khát vọng vươn đến mục tiêu chung của toàn doanh nghiêp

Tất cả các biểu hiện trên đều bắt nguồn từ việc chưa xem xét công việc quản

lý doanh nghiệp một cách khách quan, toàn diện Việc vận dụng các mô hình quản lý còn mang tính bề nổi, chưa có chiều sâu và chưa phù hợp với điều kiện

và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của doanh nghiệp

Các biểu hiện trên là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp làm suy giảm những lợi ích của doanh nghiệp, thậm chí nó có thể đưa doanh nghiệp đến khủng hoảng, phá sản

2 Lợi ích khi phát triển DN bền vững thông qua quản lý doanh nghiệp sáng tạo.

Trang 8

- Quản lý doanh nghiệp sáng tạo sẽ giúp cho công ty nâng cao khả năng tiếp cận vốn và hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn

Quản lý tốt sẽ mang lại hiệu quả cao cho nhà đầu tư, nhiều lợi ích hơn cho các thành viên khác trong công ty Kết quả là các nhà đầu tư sẽ sẵn sàng trả giá cao hơn cho cổ phiếu của những công ty quản lý tốt Các ngân hàng cũng sẵn sàng cho vay, thậm chí với lãi suất thấp hơn, vì quản lý tốt sẽ làm giảm khả năng các khoản vay sẽ được sử dụng không đúng mục đích và tăng khả năng công ty

sẽ trả các khoản vay đầy đủ và đúng hạn Ngược lại, quản lý không tốt thường dẫn đến những hậu quả xấu, thậm chí phá sản công ty Sự sụp đổ của một số công ty lớn trên thế giới (như Enron, Tyco International, Daewoo, WorldCom) hay những vụ bê bối ở các Tổng công ty nhà nước lớn của Việt Nam như PetroVietnam, VNPT, SEAPRODEX đều có nguyên nhân sâu sa từ việc thực hiện quản lý doanh nghiệp không tốt

Trang 9

- Quản lý doanh nghiệp sáng tạo sẽ tạo ra môi trường lao động ổn định

và phát triển.

Quản lý sáng tạo sẽ tạo môi trường lao động chuyên nghiệp Doanh nghiệp xây dựng định hướng phát triển, kế hoạch thực hiện rõ ràng, phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ và giữa các bộ phận

- Quản lý doanh nghiệp sáng tạo sẽ phát huy sức sáng tạo của người lao động trong doanh nghiệp.

Người lao động sẽ có điều kiện để phát huy sức sáng tạo trong lao động Những cống hiến của người lao động cho doanh nghiệp được đánh giá khách quan hơn Lợi ích người lao động được đảm bảo Và vì thế người lao động coi trọng và muốn cống hiến nhiều hơn cho doanh nghiệp

3 Đề xuất một số giải pháp sáng tạo trong quản lý:

3.1 Về xây dựng chiến lược:

Bắt đầu xây dựng các chiến lược dài hạn (7 - 10 năm) trong đó sáng tạo trở thành trung tâm của chiến lược quản lý

Trong hoàn cảnh môi trường đơn giản và ổn định, doanh nghiệp có thể hoạch định tương lai bằng các chiến lược phức tạp rồi cứ theo đó mà làm Ngược lại, trong bối cảnh mọi thứ luôn thay đổi nhanh chóng và phức tạp như hiện nay, doanh nghiệp cần có những chiến lược đôi khi thật đơn giản

Chiến lược quá chi tiết, phức tạp thường khiến người thực hiện gặp khó khăn, lúng túng khi gặp thực tế không đúng như đã định, muốn “xoay xở” lại sợ

vi phạm vào những điều đã được đề ra, rồi phải chấp nhận cho chậm lại để chờ xin ý kiến cấp trên Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp trên thế giới là nên có chiến lược kinh doanh và phát triển dưới dạng những tiêu chí đơn giản nhưng rõ ràng

Tiêu chí chiến lược cần đưa ra những hướng đi chung để dẫn đến mục tiêu chứ không phải là những lộ trình cụ thể, phải đi qua những con đường nào Tiêu chí chiến lược cho phép người thực hiện chọn đường để đi và khi cần có thể kịp

Trang 10

thời đổi ngay đường khác, miễn là vẫn tôn trọng hướng đi chung Tiêu chí chiến lược có nhiều dạng và nhiều cách để lập ra Ta hãy xem thử một vài gợi ý từ thực tế dưới đây

Dạng phổ biến nhất của tiêu chí chiến lược là những nguyên tắc chung để hành động Chẳng hạn như Yahoo! có nguyên tắc chung là tất cả các dịch vụ cơ bản phải miễn phí và giao diện các trang web phải luôn có thiết kế đặc thù Nhân viên thực hiện có thể tự do phát triển các sản phẩm và quan hệ đối tác miễn là bảo đảm những tiêu chí đó Kết quả là Yahoo! thường xuyên có những sản phẩm mới, đa dạng và đáp ứng nhanh nhu cầu luôn thay đổi của hàng tỉ người truy cập khắp nơi trên thế giới

Tỉ phú chứng khoán Warren Buffet cũng cho biết ông không có chiến lược gì phức tạp mà chỉ theo một tiêu chí đơn giản là luôn tìm cách cân bằng một giao dịch nhiều rủi ro với một giao dịch khác chắc ăn hơn và gần như hàng ngày ông đều tổng kết lời lỗ Nguyên tắc “không bỏ hết trứng vào một giỏ” đã định hướng mọi hoạt động đầu tư và giúp ông thành công

Tiêu chí chiến lược cũng có thể ở dưới dạng các giới hạn chung để hành động Giới hạn này có thể liên quan đến khách hàng, phạm vi địa lý hay công nghệ Ví dụ Cisco đã gặt hái nhiều thành công nhờ chiến lược mua lại các công

ty nhỏ trong lĩnh vực công nghệ mạng với tiêu chí chung là chỉ mua những công

ty có tối đa 75 nhân viên và có ít nhất 75% nhân lực là kỹ sư Tiêu chí đơn giản này giúp Cisco phát hiện dễ dàng và chính xác được đối tượng cần thâu tóm, đồng thời có thể quyết định nhanh trong các thương vụ

Hay Công ty Lego đưa ra định hướng là phát triển sản phẩm trên mọi lĩnh vực, từ đồ chơi đến đồ dùng và quần áo cho trẻ em Ở đâu có cơ hội là Lego nhảy vào ngay nhưng luôn trong giới hạn là sản phẩm phải kích thích tính sáng tạo của trẻ em, không phát triển những vật dụng thông thường Tiêu chí giới hạn

đó giúp các nhà thiết kế và kinh doanh sản phẩm biết được mình phải làm gì và giúp Lego trở thành thương hiệu biểu tượng cho sự sáng tạo hàng đầu thế giới

Trang 11

Trong nhiều trường hợp khác, chiến lược có thể đơn giản ở dưới dạng tiêu chí rút lui Nhiều công ty sản xuất phần mềm trò chơi giao cho nhân viên gần như toàn quyền sáng tạo và kinh doanh sản phẩm nhưng phải tuân thủ nguyên tắc nếu không đạt doanh số tối thiểu nào đó trong vòng hai năm thì phải ngưng lại để phát triển sản phẩm khác Tiêu chí rút lui có thể rất thích hợp với những thị trường có nhiều yếu tố mới lạ và bất ổn

Ngoài ra, tiêu chí chiến lược còn có thể là những nguyên tắc theo thời gian

Ví dụ Intel luôn theo tiêu chí tăng gấp đôi tốc độ sản phẩm trong vòng 18 tháng,

cà phê Starbucks thì muốn mỗi năm mở thêm 300 cửa tiệm mới trên toàn thế giới

Đương nhiên doanh nghiệp có thể sử dụng kết hợp nhiều loại tiêu chí chiến lược nêu trên Chiến lược cần đơn giản nhưng không nên mơ hồ theo kiểu

“chúng ta cần hướng đến sự năng động và sáng tạo”, “hướng đến chất lượng”

3.2 Về tổ chức:

Tái thiết kế tổ chức doanh nghiệp theo hướng mạng dựa trên việc trao đổi ý kiến giữa các bộ phận và cấp độ tổ chức khác nhau nhằm tối ưu hoá các cơ hội

có được Sử dụng mô hình quản lý theo kiểu “con cua” Từ bỏ gánh nặng quản

lý theo mô hình "đầu tàu"   

Quan sát sự di chuyển của con cua sẽ thấy, chúng di chuyển theo chiều ngang, phối hợp tất cả 8 cẳng và 2 càng cùng lúc rất nhịp nhàng và đồng bộ Nếu không may mất đi 1 - 2 càng hoặc chân, sự di chuyển của chúng vẫn không

bị ảnh hưởng nhiều

Nếu  xem doanh nghiệp như một con cua, lãnh đạo là 2 cái càng, các phòng ban và nhân viên là các chân thì hoạt động của doanh nghiệp chắc chắn sẽ rất nhịp nhàng, đồng bộ và chắc chắn sẽ tạo hiệu quả cao Vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để vận dụng những ưu điểm của con cua vào quản lý doanh nghiệp nhằm phát huy tối đa khả năng đóng góp của từng cá nhân, của các phòng, ban vào sự phát triển chung của doanh nghiệp?

Ngày đăng: 15/01/2023, 15:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w