TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Sinh viên thực hiện : Nguyễn Mai Ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
……….o0o……….
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Mai Chi Mã sinh viên 2215210024
Lớp tín chỉ : TRI114.4 Giáo viên hướng dẫn: TS Đào Thị Trang
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
2.1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến 4
II MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ
1.2 Các hoạt động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 6
2.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sinh thái 7
3 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ mối trường sinh thái
3.1 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ mối trường sinh thái 7
3.3 Giải pháp cho vấn đề cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới bao la rộng lớn, mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiên tương đều có mối tương quan, liên kết, liên hệ chặt chẽ với nhau Mọi thứ như được kết nối bằng một mạng lưới rộng lớn, chúng bổ trợ nhau cũng ảnh hưởng lẫn nhau, không một sự vật sự việc hay hiện tương nào có thể tồn tại một cách độc lập, cách biệt và hiển nhiên sự sống của chúng ta cũng luôn tồn tại và phát triển cùng với sự hỗ trợ của môi trường và ngược lại
Hiện nay cùng với tốc độ tăng trưởng của kinh tế và đời sống của con
người ngày càng được cải thiện thì những điều đó cũng đã và đang gây ảnh hưởng không nhỏ về mặt sinh thái môi trường Việt Nam là một quốc gia đang trên đà phát triển kinh tế, điều này cải thiện rất nhiều về mặt vật chất cũng như cuộc sống của con người nhưng bên cạnh đó nó cũng đang đè áp lực rất lớn đến vấn đề bảo vệ môi trường, để trả cái giá cho việc phát triển kinh tế thì đồng nghĩa là sẽ mất đi nguồn tài nguyên thiên nhiên khi bị khai thác trầm trọng Những điều đó đã gây tiêu cực về các mối liên hệ phổ biến Chính vì vậy
tôi đã quyết định chọn đề tài “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái” nhằm mục đích làm rõ hơn về tình hình tổng quan về mối
liên hệ giữa kinh tế và môi trường, tìm ra các biện pháp để cải thiện đồng thời hai mặt, để chúng có thể bổ trợ lẫn nhau chứ không phải tác động tiêu cực
Đồng thời tuyên truyền về môi trường có tính quan trọng đến thế nào để mọi người thấy và hiểu rõ, cùng nhau chúng tay bảo vệ môi trường sinh thái hiện nay
Đây là một đề tài mang tính khái quát cao, mặc dù rất cố gắng, song, bài tiểu luận không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót về nội dung cũng như hình thức Kính mong thầy cô xem xét và góp ý để bài tiểu luận này được hoàn thiện hơn
Trang 4NỘI DUNG
I PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1 Khái quát về phép biện chứng
1.1 Khái niệm biện chứng, phép biện chứng
Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên xã hội và tư duy
Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống con người
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới
thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tác phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn Với nghĩa như vậy, phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan, đồng thời nó cũng đối lập với phép siêu hình – phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập và bất biến
1.2 Phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng đã phát triển qua ba giai đoạn, ba hình thức cơ bản, trong
đó giai đoạn phát triển cao nhất trong lịch sử triết học là phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin
Trên cơ sở khái quát các mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, những quy luật phổ biến của các quá trình vận động phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật cung cấp những
nguyên tắc, phương pháp luận chung nhất cho quá trình nhận thức và cải tạo thế giới Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
Trang 52 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2.1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự
tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên
hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên
hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng Đó là các mối liên hệ giữa các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, v.v Như vậy, giữa các sự vật hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định Đồng thời, cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định Toàn bộ những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy
2.2 Tính chất của các mối liên hệ
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản của các mối liên hệ
Tính khách quan: Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của
các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
Trang 6Tính phổ biến: Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện
tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
Tính đa dạng, phong phú: Quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác –
Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biển của các mối liên hệ
mà còn nhận mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của
sự vật hiện tượng thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật, hiện tượng nhất định trong những điều kiện xác định
Đó là các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ bản chất và hiện
tượng, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu, mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phỏ biến ở các mối liên hệ dặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tương, mỗi quá trình cụ thể tròn những điều kiện không gian và thời gian cụ thể
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực
tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng tròn mối quan hệ biện chứng qua lại
Trang 7giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt chính của sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử
lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn V.I Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được các sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”
Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời
cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể.Quan điểm này thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình hống phải giải quyết khác nhau tròn thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện
II MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
1 Tăng trưởng kinh tế
1.1 Tăng trưởng kinh tế là gì?
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc
tổng thu nhập quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh
tế còn được định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian Nó thể hiện sự thay đổi về số lượng, chất lượng, quy mô của một nền kinh tế theo chiều hướng đi lên Chính vì vậy, tăng trưởng kinh tế đang được xem là nhiệm vụ cấp thiết quan trọng ở hầu hết các quốc gia
1.2 Các hoạt động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 8Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, kể từ năm 1986 Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước Để đất nước có thể hội nhập với thế giới, chính phủ đã và đang đẩy mạnh các chính sách như khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, đầu tư phát triển khoa học công nghệ, chính sách thương mại thự do, Từ đó thu được những thành quả không nhỏ cho công cuộc phát triển kinh tế
2 Môi trường sinh thái
2.1 Khái niệm
Sinh thái đượcc hiểu là nhà ở, nơi cư trú, sinh sống Trong khi môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống
nào đó Qua đó có thể hiểu môi trường sinh thái là “bao gồm tất cả những điều
kiện xung quanh có liên quan đến sự sống” Đối với con người, môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ, có mối liên
hệ tới sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội
2.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sinh thái
Môi trường cung cấp cho con người không gian để sống, nguồn tài nguyên
để sản xuất và cũng chính là nơi chứa đứng rác thải Vì vậy, bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ sự sống của chúng ta Bảo vệ môi trường sinh thái là giữ cho môi trường luôn trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, cải thiện môi trường, đồng thời ngăn chặn, khắc phục hậu quả xấu do con người và thiên nhiên tạo ra, khai thác và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên Đây chính là nhiệm
vụ trọng yếu, cấp bách của mỗi quốc gia, là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của bất kì tổ chức cá nhân nào
3 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh
thái thông qua phép biện chứng
3.1 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường
sinh thái
Trang 9Giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, đó chính là mối liên hệ biện chứng bao gồm hai mặt thống nhất và mâu thuẫn
Tăng trưởng kinh tế được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên nó là cái tồn tại chủ quan Trong khi đó, môi trường sống sinh ra và tồn tại trong tự nhiên, tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức của con người Tuy nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái lại phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, con người trực tiếp tác động làm môi trường tốt lên hay xấu đi Môi trường chịu tác động của con người, tăng trưởng kinh tế cũng phụ thuộc vào con người, do đó có thể nói môi trường chịu tác động của tăng trưởng kinh tế và ngược lại Hai yếu tố này thống nhất với nhau về mục đích trong quá trình phát triển một chỉnh thể là tự nhiên – xã hội Điều đó được thể hiện qua một số khía cạnh như sau:
- Về tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên: nước giàu và nghèo có một
số sự chênh lệch về việc nhìn nhận mức độ tiêu dùng nguồn tài nguyên Cụ thể, đối với nước giàu thì sự phát triển kinh tế bền vững phải gắn với cắt giảm đáng
kể mức độ tiêu dùng lãng phí về năng lượng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khi nước nghèo chỉ chú tâm vào việc khai thác để xuất thô một cách cạn kiệt Phát triển kinh tế giúp nâng cao đời sống con người, đồng thời nâng cao nhận thức con người, ý thức về bảo vệ mội trường cũng tăng lên
- Về bầu khí quyển: Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho con người tạo nên những máy móc, công cụ sản xuất ít gây ảnh hưởng đến môi trường Các khu công nghiệp đang dần cố gắng giảm thiểu lượng khí thải bay vào bầu khí quyển
-Về môi trường nước: Kinh tế càng phát triển, hệ thống xử lí nước sạch càng hiện đại, máy móc xử lí rác thải giúp giảm lượng rác đổ ra biển, hồ, sông,
Như vậy, xét về một khía cạnh nào đó thì phát triển kinh tế đã tác động tích cực đến bảo vệ môi trường Ngược lại, môi trường sinh thái trong lành, ổn định cũng là điều kiện, cơ sở và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế vì:
Trang 10- Môi trường sinh thái trong lành giúp con người cảm thấy thoải mái, hưng phấn trong cuộc sống, đảm bảo sức khỏe tốt cũng là cách để tăng hiệu quả làm việc
- Bảo vệ môi trường sinh thái tạo nên môi trường sống ổn định, phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là phát triển nền kinh tế lâu dài
Từ đó, có thể thấy sự phát triển kinh tế một cách tiến bộ là khi có sự kết hợp hài hòa giữa hai mục tiêu: phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái Mặc dù vậy, thực trạng đang dần chứng tỏ mặt mâu thuẫn trong mối liên hệ của hai vấn đề trên Trên thế giới, nền kinh tế đang phát triển chóng mặt, chính điều đó kéo theo nhiều hệ lụy xấu và mối hiểm họa đến môi trường Tài nguyên
là có hạn, nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không cải tạo môi trường thì sẽ đến lúc tăng trưởng kinh tế phải dừng lại do sự suy thoái của môi trường Đó cũng là lúc con người phải gánh chịu hậu quả do chính họ gây ra Ngược lại, nếu tăng
trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường thì không những đời sống con người ngày càng tốt lên mà chính môi trường cũng được cải thiện do khi nền kinh tế phát triển, ngân sách cho những dự án bảo vệ sinh thái tăng lên, nguồn tài
nguyên thiên nhiên sẽ dần được thay thế bằng những nguồn tài nguyên mới do con người tự tạo ra
3.2 Thực trạng
Hiện nay, môi trường đang là vấn đề nóng của toàn nhân loại Con người đã tác động quá nhiều đến môi trường sinh thái Những số liệu càng chứng minh tính thuận chiều của tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường:
Trong công nghiệp, tăng trưởng công nghiệp từ xuất phát điểm chỉ có 0,6% năm 1980 tăng lên đến 6,07% năm 1990 và giai đoạn 1991-2000 tăng lên trung bình 12,9%/năm, trong thời kỳ 1991-1995 có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 17%/năm Tỷ trọng công nghiệp đã có sự dịch chuyển đáng kể theo hướng công nghiệp hóa, từ mức 22,7% GDP năm 1991 tăng lên 36,6% năm 2000 Đi đôi sự tăng trưởng kinh tế là sự suy thoái môi trường:
Chất thải rắn của nền công nghiệp là một mối đe dọa lớn đối với môi trường Trong quá trình sản xuất và chế biến, các kim loại nặng như chì, asen, crom,