Untitled Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university HIẾN PHÁP NƯỚC Ngoài abcd Lý luận Nhà Nước và pháp luật (Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Min.
Trang 1HIẾN PHÁP NƯỚC Ngoài - abcd
Lý luận Nhà Nước và pháp luật (Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh)
HIẾN PHÁP NƯỚC Ngoài - abcd
Lý luận Nhà Nước và pháp luật (Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh)
Trang 2HIẾN PHÁP NƯỚC NGOÀI
Về mặt thuật ngữ CNLH là hệ thống lý thuyết, tư tưởng học thuyết dẫn đến sự
ra đời của HP là nền tảng lý thuyết cơ sở lý luận dẫn đến sự ra đời nêu lên mục đích⇒vai trò của 1 bản HP → khi nói đến chủ nghĩa lập hiến → nghĩ ngay đến nước Pháp đcxem là quê hương của CNLH, là nơi khai sáng với những tác giả, tác phẩm kinh điển
về lập hiến → Pháp mạnh về lý thuyết hàn lâm, học thuật về luật HP, còn phương diệnthực tiễn áp dụng các nhà lập hiến Mỹ đã vận dụng những tư tưởng về HP ở Pháp, đãxây dựng thành công cho Mỹ một bản HP thành văn đầu tiên và đây là mẫu mực kinhđiển cho cả nhân loại làm HP, Mỹ được biết đến là nước vận dụng rất thành công lýthuyết về HP của nước Pháp
Khi nói đến HP, nói đến dân chủ, nói đến nhân quyền Vương quốc Anh có vị tríxếp trước nước Pháp và Mỹ Vì Vương quốc Anh là quê hương của Nghị viện, quêhương của nội các, là đất nước đã sản sinh ra Đại nghị chế mà hiện nay 65 QG đã noitheo Bản HP của Đức năm 1949 được xem là đã khai sinh ra đại nghị chế nhưng cácnhà lập hiến Đức đã nhìn vào đại nghị chế ở nước Anh để viết ra bản HP 1949 VìVương quốc Anh là QG có HP không thành văn chủ yếu là án lệ và tập tục chính trị.Montesquieu và Rousseau, 2 học giả người Pháp khi viết 2 tác phẩm kinh điển là
“Khế ước xã hội” và “Tam quyền phân lập” cũng dựa trên quan sát nước Anh và lấy tổ
chức BMNN Anh làm nguồn cảm hứng viết nên các tác phẩm này Các nhà lập hiếncủa Mỹ lúc xây dựng chế định Tổng thống ở Mỹ cũng nhìn vào nữ hoàng và vươngtriều của Anh và đem những yếu tố về vương triều Anh phiên dịch thành chế địnhTổng thống của Mỹ Nước Anh là nguồn cảm hứng bất tận để các lý thuyết gia viếtnên các tác phẩm kinh điển và để các nhà lập hiến soi vào để viết thành các bản HP,
vd bản HP Mỹ 1947 do Madison viết ra, HP 1947 của Ý, HP Đức 1949 nhìn vào nướcAnh để phiên dịch thành Với những ý nghĩa đó, khi nói đến HP công bằng mà nóinhững tư tưởng, thực tiễn có cội nguồn từ Anh quốc
Quê hương cội nguồn của CNLH là Pháp TK 18, kỷ nguyên khai sáng, tiền đề
tư tưởng cho CMTS ở Pháp và CNLH gắn liền với tên tuổi của 2 nhân vật vĩ đại với 2tác phẩm kinh điển
a) Jean Jacques Rousseau (J.J Rousseau) với Khế ước xã hội: người Pháp TK
Trang 3XVIII - kỷ nguyên khai sáng, là người quan trọng đặt nền tảng cho cách mạng
ở nước Pháp với tác phẩm kinh điển hợp đồng xã hội
Mở đầu tác phẩm này là 1 luận điểm rất nổi tiếng đc coi là kim chỉ nam, linhhồn của tác phẩm: “Con người sinh ra vốn dĩ là tự do nhưng đâu đâu cũng toàn làxiềng xích” → con người khi sinh ra đc đấng tạo hóa trao cho tự do nhưng con ngườiđặt ra quá nhiều ràng buộc như tôn giáo, đạo đức, luật lệ… Vì vậy mục đích củaquyển sách này để tháo gỡ những xiềng xích này trả con người về với tự do vốn có.Công lao lớn nhất của Rousseau trg Khế ước xã hội là đã phá những quan điểm duytâm, thần bí về quyền lực nhà mà chế độ phong kiến đã tạo dựng nên (chế độ phongkiến tạo nên học thuyết thần quyền, thiên mệnh về quyền lực nhà nước) Trong Khếước xã hội Rousseau cho rằng con người sinh ra vốn dĩ là tự và tạo hóa đã ban cho họnhững quyền tự do vốn có → pháp luật tự nhiên hay còn gọi đó là lẽ công bằng chungcủa cuộc sống, luật đời Và để bảo vệ những quyền tự nhiên đó con người lập ra Nhànước, trao quyền lực cho NN, đóng thuế để nuôi các CQNN Vì vậy các CQNN phảinhận thức 1 cách sâu sắc rằng sứ mệnh chủ yếu và quan trọng nhất của họ là phải bảo
vệ nhân dân, phục vụ nhân dân Rousseau cho rằng nếu có 1 NN nào đó ko đủ sứcphục vụ dân chúng thì người dân có quyền đánh đuổi NN đó và lập nên 1 nhà nướcmới Rousseau cho rằng giữa người dân với nhà cầm quyền luôn tồn tại 1 bản khếước, hợp đồng mà đã là hợp đồng bên A là NN bên B là NN thì bằng bản hợp đồngnày người dân trao cho NN những quyền gì nghĩa vụ gì khoảng ko gian cho phép NNđiều hành quản lý; công dân có khoảng không gian là những quyền tự nhiên của conngười NN ko đc xâm phạm những quyền tự nhiên của công dân HP chính là bản hợpđồng của NN với người dân
=> Khởi nguồn của Rousseau từ pháp luật tự nhiên → sinh ra chủ quyền thuộc vềnhân dân → sinh ra Khế ước xã hội → đẻ ra HP
Những tư tưởng của Rousseau trong Khế ước xã hội có sức ảnh hưởng rất lớnlao đối với lịch sử tư tưởng của nhân loại nói chung và đối với vùng Âu châu trongsuốt 1 thời gian dài (từ TK XVII và trở nên cuồng nhiệt trong TK XVIII trở thành vũbão trong TK XIX đến TK XX những tư tưởng này mới dần được thay thế bằngnhững lý thuyết mới) Biểu hiện rõ nét cho sự ảnh hưởng đối với tư tưởng của vùngChâu Âu này là từ Khế ước xã hội mới dẫn đến Nghị viện tối cao có 3 lý do chính để
đề cao Nghị viện: 1) là công cụ trong tay giai cấp tư sản để lật đổ chế độ phong kiến;2) là hình ảnh sống động chứng minh lý thuyết chủ quyền thuộc về nhân dân; 3) Châu
Âu thần tượng Rousseau mà trong Khế ước xã hội công khai dành tình cảm cho Nghịviện Chính vì quá đề cao Nghị viện nên dẫn đến những hệ quả: 1) nước Anh có HP kothành văn (vì người Anh đề cao, sùng bái Nghị viện); 2) cả vùng Châu Âu ko đặt ravấn đề bảo hiến (trước năm 1920 không đặt ra vấn đề bảo hiến vì Nghị viện tối cao);3) cả Châu Âu đều chọn mô hình chính thể Đại nghị chế đề cao Nghị viện khẳng địnhtính trội của Nghị viện so với các nhánh quyền lực khác
Lý thuyết Nghị viện tối cao chỉ thực sự thoái trào chấm dứt thời kỳ hoàng kimcủa Nghị viện ở châu Âu vào nửa đầu TK 20 trên toàn thế giới bởi 2 nhân vật Ngườithứ nhất là Han Kensen, giáo sư luật hiến pháp và chính trị học người Áo là người vậnđộng cả Châu Âu từ bỏ tư tưởng Nghị viện tối cao chuyển sang lý thuyết HP tối cao
Trang 4đặt nền tảng lý luận để dẫn đến sự ra đời của các TA HP với mục đích kiểm duyệt tínhhợp hiến các đạo luật do Nghị viện ban hành Năm 1920 nước Áo bắt đầu thành lập
TA HP Người thứ hai là Charles de Gaulle, Tổng thống đầu tiên trong nền Cộng hòathứ 5 bằng bản HP 1958 đặt dấu chấm hết cho thời kỳ hoàng kim của Nghị viện tốicao ở châu Âu Toàn bộ tư tưởng của tác phẩm “Khế ước xã hội” được Tổng thống thứ
16 của nước Mỹ là Abraham Lincoln khái quát thành 8 chữ “nhà nước của dân, do
dân, vì dân” và cả TG xem đây là của chung, là văn minh nhân loại.
b) C.L Montesquieu với Tinh thần của pháp luật: nội dung của tác phẩm này
Montesquieu đã chỉ ra những tội ác của tập quyền phong kiến đã gây ra Trên cơ sở đóMontesquieu chủ trương phải có sự phân quyền Toàn bộ học thuyết phân chia quyềnlực của Montesquieu có thể khái quát phân chia như sau:
QLNN (quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp) là của dân Dân lập
ra Nghị viện trao quyền lập pháp, lập ra CP trao quyền hành pháp, lập ra Tòa án traoquyền tư pháp Với việc trao 3 loại quyền lực cho 3 cơ quan khác nhau tạo ra trạngthái cân bằng cho các nhánh quyền lực Từ cân bằng giữa các nhánh quyền lựcMontesquieu đã giải quyết được vấn nạn dùng quyền lực kiểm soát quyền lực bằngcác biểu hiện NV kiểm soát CP bằng quyền phê chuẩn nhân sự, phê chuẩn các quyếtsách hành pháp; CP thi hành PL và mọi quyết định hành pháp của CP đều phải được
NV phê chuẩn; ngược lại CP kiểm soát NV bằng quyền phủ quyết luật và giải tán NVtrước hạn quyền biểu hiện sự đối trọng và kiểm soát của CP đối với NV; trong mốiquan hệ giữa NV với TA, NV kiểm soát TA thông qua quyền phê chuẩn nhân sự tưpháp, ngược lại TA kiểm soát ngược trở lại NV bằng quyền vô hiệu hóa 1 đạo luật;mối quan hệ giữa hành pháp và tư pháp được thể hiện bằng Tổng thống được quyền
Trang 5bổ nhiệm các TP ngược lại tư pháp kiểm soát hành pháp bằng TA có quyền vô hiệuhóa các quyết định hành pháp có dấu hiệu vi hiến → Dân lập ra 3 loại cơ quan và trao
3 loại quyền lực cho 3 loại cơ quan này để tránh tình trạng quyền lực tập trung vô hạn,tuyệt đối vào 1 loại cơ quan Bởi vì quyền lực tập trung càng tuyệt đối, càng vô hạnthì nguy cơ tha hóa càng tuyệt đối, tránh tình trạng thao túng quyền lực, việc phântách quyền lực còn nhằm chuyên môn hóa trong việc thực thi quyền lực Mục đích thứ
2 của phân quyền theo Montesquieu là sự phân quyền tạo ra sự cân bằng giữa cácnhánh quyền lực, từ sự cân bằng đó dẫn đến sự kiểm soát chéo, đúng theo tinh thầndùng quyền lực kiểm soát quyền lực
Nói tóm lại với mục đích bảo vệ quyền tự nhiên của con người trước nguy cơtùy tiện lạm quyền nguy cơ tha hóa của nhà cầm quyền mỗi 1 QG dân tộc có 1 bản HP
và trong bản HP phải ghi nhận 2 nội dung cơ bản sau: 1) Ghi nhận các quyền tự nhiêncủa con người để thấy trách nhiệm của NN trong việc bảo vệ các quyền tự nhiên củacon người và đó là ranh giới cấm 1 lãnh địa cấm để các CQNN ko tùy tiện xâm phạmcác quyền đó; 2) Ghi nhận sự phân chia quyền lực để tạo ra sự cân bằng giữa cácnhánh quyền lực hướng đến mục đích kiểm soát quyền lực → quyền lực NN bị kiểmsoát nhân quyền sẽ được bảo đảm, phân quyền suy cho cùng cũng vì mục đích nhânquyền
Với ý nghĩa đó HP chỉ ra đời tồn tại phát triển trong những xã hội dân chủ rađời trong xã hội gắn liền với cách mạng tư sản từ TK 17 trở về sau Nước Anh vànước Pháp đc biết đến như quê hương của chủ nghĩa lập hiến Các nhà lập hiến của
Mỹ đã vận dụng thành công những tư tưởng này xây dựng dựng nên bản HP thành vănđầu tiên của nhân loại HP Mỹ
2 Sự ra đời xu hướng phát triển
a) Sự ra đời của bản HP Hoa Kỳ 1987 - HP thành văn đầu tiên của nhân loại
Nước Mỹ giành được độc lập năm 1776, 13 thuộc địa giành được độc lập khỏitay thuộc địa Anh, 1776 -1787 11 năm đầy khủng hoảng và khó khăn thách thức, 13tiểu bang là 13 NN thu nhỏ không có sự gắn kết, rời rạc; phong trào dân sinh đấutranh nổ ra; nguy cơ nước Anh quay lại xâm lược rất cao → nhu cầu có tính chất sốngcòn đoàn kết hợp thành 1 NN liên bang đủ mạnh được đặt ra 13 tiểu bang bầu ra 55đại biểu, đến bang Philadelphia tiến hành hội nghị Hội nghị tập trung giải quyết 2 vấn
đề 1) thống nhất những điều khoản hợp bang hợp thành 1 NN liên bang; 2) xây dựng 1bản HP cho toàn thể liên bang Hội nghị Philadelphia còn được gọi là hội nghị lậphiến hay hội nghị lập quốc Hội nghị kéo dài hơn 4 tháng 15/5/1787-17/9/1787 → hộinghị này đã chọn Josh Washington chọn làm Một trong những điểm được xem căn cơ
có nguy cơ khiến Hội nghị lập hiến thất bại là dung hòa được lợi ích giữa những banglớn với những bang nhỏ
Để soạn thảo dự thảo HP liên bang HN lập hiến lập ra ban soạn thảo do ôngJames Madison làm trưởng ban → sau 1 thời gian soạn thảo ban soạn thảo cho ra dựthảo đầu tiên của HP Mỹ có tổng cộng 23 điều và bị phản đối toàn bộ Vì vậy HN lậphiến quyết định thành lập ban văn phong để biên tập lại 23 điều này → sau khi được
Trang 6biên tập lại còn 7 điều: Điều 1 quy định quyền lập pháp sẽ trao cho NV, Điều 2 quyđịnh quyền hành pháp được trao cho Tổng thống, Điều 3 quyền tư pháp trao cho Tòa
án, Điều 4 quyền lực của các tiểu bang, Điều 5, 6, 7 quy định quá trình phê chuẩn,hiệu lực và sửa đổi HP Dự thảo HP (7 điều) này đã được 39/42 đại biểu ký tên đồng ývới dự thảo HP → quá trình phê chuẩn HP ở các tiểu bang Do 7 điều đầu tiên của dựthảo HP ko đề cập đến nhân quyền cho nên các tiểu bang cương quyết không chịu phêchuẩn → dưới sức ép của dư luận tiến bộ HP được thông qua tu chính án thứ nhất (lầnsửa đổi bổ sung thứ nhất) ghi nhận 10 khoản liên tiếp về nhân quyền, HP đã đủ sốlượng các tiểu bang phê chuẩn và chính thức có hiệu lực Ngày nay khi nói đến HPgốc HP nguyên thủy của nước Mỹ phải bao gồm 2 văn kiện gồm 7 điều đầu tiên về tổchức BMNN và tu chính án thứ nhất về nhân quyền
=> Ngay từ khi bản HP đầu tiên ra đời đã chứng minh cho 1 luận điểm rằng ở đâu ko
có nhân quyền ở đâu ko có phân quyền bất thành HP, HP được ví như 1 con chim đạibàng trong bầu trời xanh vì 1 cánh của đại bàng hướng về nhân quyền cánh còn lạihướng về phân quyền; cân bằng phân quyền và suy cho cùng phân quyền để bảo vệnhân quyền
● Vì sao 7 điều đầu tiên ko quy định về nhân quyền?:
1) Các nhà lập hiến Mỹ cho rằng nhân quyền có nguồn gốc tự nhiên, vốn có, sợngộ nhận nhân quyền có được là do HP quy định Bản chất nhân quyền là phạmtrù luôn được, phát triển, mở rộng theo thời gian không thể liệt kê toàn bộ vấn
đề liên quan đến nhân quyền; dùng HP để quy định phạm trù luôn luôn được
mở rộng như nhân quyền thì HP phải thường xuyên thay đổi, đây là điều cácnhà lập hiến ko mong muốn bởi vì HP bị sửa đổi nhiều lần sẽ trở thành món đồchơi trong tay nhà cầm quyền Vì vấn đề nguồn gốc và bản chất của nhânquyền nên các nhà lập hiến cho rằng ko cần quy định trg HP mà chỉ cần một
bản tuyên ngôn tuyên bố “con người sinh ra được sống mưu cầu hạnh phúc”
còn cụ thể như thế nào tùy vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhà nước phải thừanhận Nhưng người dân Mỹ ko đồng ý, phải có giấy trắng mực đen, nhân quyềnphải được liệt kê trg HP, ghi nhận ý chí của dân chúng các nhà lập hiến Mỹphải thông qua tu chính án thứ nhất liệt kê 10 điều khoản liên tiếp về vấn đềnhân quyền Vì phạm trù nhân quyền luôn phát triển và mở rộng dù liệt kê 10khoản liên tiếp về vấn đề nhân quyền nhưng sau này khi viết chương nhânquyền trong bất kỳ bản HP nào luôn có 2 chú thích kèm theo đó là: tên chương
là “Nhân quyền cơ bản” - phải luôn có chữ cơ bản, điều này có nghĩa là những
quyền được quy định trong HP chỉ là một số quyền cơ bản quan trọng của conngười ko liệt kê toàn bộ đầy đủ mọi quyền; kết thúc chương nhân quyền bao
giờ cũng có câu “Việc liệt kê các quyền con người kể trên ko phủ nhận làm hạ
thấp hay làm mất đi những quyền con người khác” bởi vì những quyền được
liệt kê chỉ là tương đối, cơ bản, việc liệt kê không có nghĩa phủ nhận coi nhẹcác quyền khác mà vì giấy trắng mực đen làm đẹp lòng dân chúng
2) Madison và các nhà lập hiến ở Mỹ cho rằng: trong phân quyền đã có nhânquyền, phân quyền suy cho cùng là để bảo vệ nhân quyền → một bản HP đượccoi là mẫu mực, được coi là tốt chỉ cần tập trung vào quy định tổ chức BMNN
Trang 7làm sao phân chia nhiệm vụ quyền hạn giữa các nhánh quyền lực hợp lý, rõràng, quyền lực được phân chia phải cân bằng tránh tình trạng tập trung vô hạnđịnh Một khi phân quyền rõ ràng tạo ra sự cân bằng thì sẽ tiến đến mục đíchcuối cùng là quyền lực sẽ bị kiểm soát thì nhà cầm quyền sẽ ko bao giờ dámhối lộ, tham nhũng, lạm quyền, sai quyền mà nhà cầm quyền chỉ biết chămchăm vào làm hết chức trách của mình phục vụ dân cho tốt và hạn chế tối đanguy cơ lạm quyền, sai quyền, hối lộ, tham nhũng Nhà cầm quyền chỉ chămchăm phục vụ dân, ko dám lạm quyền, sai quyền thì điều đó chứng tỏ nhânquyền đã được bảo đảm
3) Xuất phát từ một nguyên nhân mang tính chính trị: CMTS ở Mỹ là cuộcCMTS ko triệt để do giai cấp tư sản ở các bang miền Bắc liên kết với chủ nô ởcác bang miền Nam làm cách mạng cho nên CM thành công là do liên minhgiữa tư sản với chủ nô lãnh đạo, chế độ nô lệ vẫn còn tồn tại sau CM Công lao
và vai trò của Josh Washington chỉ là giành độc lập cho người Mỹ chưa thủ tiêuđược chế độ nô lệ, xóa bỏ áp bức bóc lột Vì chế độ nô lệ vẫn còn tồn tại nênnhân quyền là một vấn đề rất nhạy cảm đối với chủ nô Thời điểm năm 1776,
mở đầu tuyên ngôn độc lập Washington bắt đầu bằng chữ “men”, từ “men” đcdịch ra là “những người đàn ông da trắng có tài sản sinh ra được nhữngquyền…”, tức là tuyên ngôn nhân quyền trong bối cảnh xã hội hội Mỹ lúc đóchỉ dành cho những người đàn ông da trắng có tài sản còn phụ nữ và nô lệ dađen chưa đc hưởng nhân quyền 10 khoản liên tiếp về nhân quyền trong tuchính án thứ nhất của HP Mỹ chỉ dành cho những người đàn ông da trắng có tàisản, phụ nữ và những người da đen chỉ đc hưởng nhân quyền 95 năm sau (từ
1962 trở đi) Bởi vì trong quá trình phát triển ở NN Mỹ, mâu thuẫn lợi ích kinh
tế giữa giai cấp tư sản miền Bắc với chủ nô ở miền Nam (g/c tư sản miền Bắcmong muốn giải phóng nô lệ tự do bán sức lao động còn chủ nô muốn kéo dàichế độ nô lệ) kéo dài âm ỉ đến 95 năm sau, Abraham Lincoln lên làm Tổngthống thứ 16 của nước Mỹ là người đã châm ngòi cho cuộc nội chiến Nam -Bắc Mỹ, cuộc nội chiến kết thúc với sự thắng lợi của tư sản miền Bắc chế độ
nô lệ bị thủ tiêu, xóa bỏ về mặt pháp lý Khi chế độ nô lệ đã hoàn toàn bị xóa
bỏ Lincoln ngẩng cao đầu nói với TG nc Mỹ kể từ đây 95 năm sau CMTS mớithực sự của dân do dân vì dân Chính vì đặc điểm tình hình chính trị nc Mỹ trggiai đoạn đó, vì chế độ nô lệ vẫn còn tồn tại nên vấn đề nhân quyền được hiểu
và được vận dụng một cách hạn chế phù hợp với bối cảnh chính trị nc Mỹ lúcbấy giờ
Tuy nhiên nếu bỏ qua 1 số chi tiết được coi là ko suôn sẻ vào thời điểm bản HP
Mỹ ra đời Cho đến ngày nay, bản HP Mỹ vẫn được đánh giá là 1 bản HP sống vàđược coi là 1 bản HP vừa cổ xưa vừa mẫu mực, kinh điển Người ta coi HP Mỹ là bản
HP sống, để thấy đây là 1 bản HP sống động trg mọi hoàn cảnh, trg mọi ko gian vàthời gian có thể tiếp cận dưới 2 góc độ sau đây:
- Góc độ thứ nhất đối với dân tộc Mỹ, đối với nc Mỹ Đối với nc Mỹ, bản HP này
sống động ở chỗ 300 năm 1 bản HP, bản HP này đã ra đời song hành phát triển
đã cường thịnh tự do dân chủ cùng với sự phát triển của NN Mỹ → Tóm lạingười Mỹ coi HP như một báu vật vì vậy HP Mỹ đã trở thành trung tâm điểm,
Trang 8nền tảng pháp lý cho mọi cuộc tranh luận Ở Mỹ mọi cuộc tranh luận dù là sựtranh luận giữa ai đi chăng nữa, đó là sự tranh luận giữa Tổng thống với NVhay sự tranh luận giữa 1 CQNN với dân chúng hay sự tranh luận giữa 2 côngdân với nhau thì mọi sự tranh luận đều hướng đến câu chuyện duy nhất cuốicùng là văn bản chuẩn bị đc áp dụng dùng để giải quyết và hành động trg thực
tế đang đc tranh luận có hợp hiến hay ko Yếu tố thứ 2 để HP Mỹ sống động làlời giải thích HP của TA, HP chỉ quy định quyền hành pháp trao cho Tổngthống nhưng nội hàm và phạm trù quyền hành pháp sẽ đc TA giải thích phù hợpvới thời gian và hoàn cảnh Muốn HP sống động thì phải trao quyền giải thíchchính thức cho Tối cao pháp viện Vì HP là 1 VB cô đọng nên những lời giảithích của CQ tư pháp sẽ làm cho bản HP trở nên sống động với thời gian
- Góc độ thứ hai HP Mỹ sống động với các QG còn lại của TG: HP Mỹ luôn
luôn đc coi là mẫu mực kinh điển, là nguồn cảm hứng cho phần còn lại của TGviết HP, các bản HP của các QG còn lại dù muốn hay ko, dù ít hay nhiều thìđều tiếp thu và kế thừa tinh hoa của bản HP Mỹ Những gì các nhà lập hiến Mỹnghĩ cách đây 300 năm đến nay vẫn còn nguyên giá trị và lịch sử lập hiến củanhân loại đã chứng minh rằng bản HP nào càng gần gũi càng tiếp thu, càng kếthừa bản HP Mỹ thì bản HP trở nên nhân văn, sống động và trường tồn Cònbản HP nào càng xa rời, quay lưng với HP Mỹ thì bản HP càng trở nên lạc hậu,thất bại, ko tồn tại đc lâu
b) Các giai đoạn phát triển và xu hướng phát triển của HP trong TG đương đại
● Các giai đoạn phát triển của HP tính từ 1787 cho đến nay thì lịch sử lập hiếncủa nhân loại đã gần 300 năm và có thể chia thành 4 giai đoạn chính:
- Giai đoạn 1 (1787 - 1917): Từ ngày nhân loại có bản HP đầu tiên cho đến CM
tháng 10 Nga thành công, sự phát triển của HP trg gđ này có 2 đặc điểm chính:1) phạm vi những QG có HP rất hạn chế, rất ít, là sản phẩm chỉ riêng có ở 1 sốnc; phạm vi 1 số QG trên TG có HP: ở C.Âu có 1 số nước có CMTS thànhcông, C.Mỹ có 1 nước là Hoa Kỳ, C.Á chỉ có 1 nước Nhật Bản; 2) nội dung cácbản HP có 2 nội dung rất hẹp và có tính chất nguyên thủy của 1 bản HP, đó lànhân quyền đến đâu và phân quyền như thế nào để đảm bảo nhân quyền
- Giai đoạn 2 (1917 - 1945): Từ ngày CM tháng 10 Nga thành công đến kết thúc
chiến tranh TG thứ 2: Với sự thắng lợi của CM tháng 10 Nga, bên cạnh HP tưsản nhân loại biết đến 1 kiểu HP mới là HP XHCN, HP XHCN đầu tiên củanhân loại là HP 1936 của Liên Xô, bản HP này gắn liền với tên tuổi của Salim
và là nguồn cảm hứng để Đông Âu, Cuba, Triều Tiên, Trung Quốc viết nên HP,đặc biệt bản HP này là nguồn cảm hứng để VN viết nên bản HP 1959, HP
1980 So với HP tư sản HP XHCN có 3 điểm khác biệt lớn: 1) mở rộng phạm
vi điều chỉnh đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, XH; 2) dùng phạm trù quyềncông dân thay cho phạm trù quyền con người, HP các nc XHCN thừa nhậnnhững quyền con người nào đc NN thừa nhận, đứng ra bảo vệ thì những quyềncon người này mới chuyển hóa thành quyền công dân, ko thừa nhận phạm trùquyền con người 1 cách chung chung; 3) dùng tập quyền XHCN thay cho phânquyền tư sản, tập quyền XHCN đề cao, suy tôn QH, QH phải là 1 tập thể hànhđộng, các cơ quan khác là phái sinh từ QH cho nên QH có quyền lập ra, giámsát, bãi miễn các CQ khác chứ ko có chiều ngược lại, QH là cao nhất
- Giai đoạn 3 (1945 - 1990): Chứng kiến sự thắng lợi của phong trào giải phóng
Trang 9dân tộc của các nước Á Phi và Mỹ Latinh vào những năm 1960 hàng loạt các
QG độc lập và dân chủ ra đời → các nc lần lượt ban hành các bản HP dân chủ
→ sự phát triển của HP mang tính toàn cầu, hàng loạt HP ra đời, HP ko còn làsản phẩm của riêng một châu lục, của 1 QG nào nữa
- Giai đoạn 4 (1990 đến nay): từ lúc Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đến nay, sự
phát triển của HP có thể nhìn nhận dưới 2 góc độ
+ Góc độ 1: sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ thì các QG vẫn kiên định
theo con đường CNXH như TQ, VN, Cuba, Lào… vẫn tuyên bố mụctiêu ko thay đổi nhưng các bản HP có những sự điều chỉnh thích ứng vớitình hình mới, tức là những bản HP của VN, TQ… từ sau năm 1990 đếnnay ko còn rập khuôn theo HP 1936 của Liên Xô mà có sự giao thoa,trên nền tảng HP XHCN có sự tiếp thu kế thừa tinh hoa trg nền lập hiếncủa nhân loại Cụ thể đem những tinh hoa trg bản HP của Pháp, Mỹ trộnlẫn với những đặc điểm còn phù hợp của HP XHCN để cho ra nhữngbản HP mới, vd: HP 1982 của TQ, HP 1992 và HP 2013 của VN lànhững bản HP tiêu biểu cho thời kỳ đổi mới
+ Góc độ 2 (1920 đến nay): các bản HP đc ban hành từ nửa đầu TK 20 cho
đến nay (trong vòng 100 năm trở lại đây) nhìn chung luôn luôn đượcphát triển theo những xu hướng sau đây: 1) phạm trù nhân quyền luônđược cập nhật, mở rộng tức là từ năm 1920 đến nay các bản HP luônđược sửa đổi theo hướng cập nhật phạm trù nhân quyền luôn cập nhậtnhững vấn đề nhân quyền và những quyền con người trg thế hệ thứ 3các quyền mới phát sinh (quyền của những người đồng tính, quyềnchuyển đổi giới tính, quyền bỏ án tử hình, quyền được chết, quyền đượchiến mô hiến xác, quyền sống trg môi trường trong lành…); 2) có xuhướng tăng cường quyền hành pháp cho CP, các bản HP trg khoản 100năm trở lại đây đều có tư tưởng xây dựng một CP mạnh, một Tổngthống mạnh, một Thủ tướng mạnh đồng nghĩa là thời kỳ hoàng kim của
NV đã chấm dứt, tư tưởng xây dựng một NV mạnh đã trôi vào dĩ vãng;3) đều hướng đến tự quản địa phương (là sự phân quyền triệt để nhấtgiữa giữa trung ương với địa phương); 4) rất chú trọng phải có 1 cơ chếbảo hiến hữu hiệu
Vì sao lấy mốc 1920? Vì đây là thời điểm giáo sư luật HP và chính trị học người Áo Han Kensen vận động cả vùng C.Âu thay đổi tư tưởng từ
NV tối cao sang HP tối cao bắt đầu thành lập TA HP để kiểm soát tính hợp hiến của 1 đạo luật do NV ban hành ở C.Âu và sau đó lan ra toàn TG.
Trang 10- Cách 1: Trưng cầu dân ý hiến pháp
- Cách 2: QG ko có điều kiện thực hiện trưng cầu dân ý thông qua HP thì thông
qua HP bằng con đường QH lập hiến và QH lập hiến tách bạch với QH lậppháp Trên TG người ta tối kỵ 1 QH vừa lập hiến vừa lập pháp Nếu QG kotrưng cầu dân ý mà chọn cách thứ 2 thì ko nên để cho QH vừa lập hiến vừa lậppháp vì nếu để QH vừa lập hiến vừa lập pháp thì đã đặt QH, đặt NN cao hơn
HP và đặt thường luật ở 1 hệ cấp tương đương với HP → HP ko còn tối cao →
ko thể nói đến dân chủ và pháp quyền
d) Thủ tục sửa đổi bổ sung HP
Kinh nghiệm của các nước trên TG chỉ ra rằng thủ tục sửa đổi HP càng khó, càngnhiêu khê, phức tạp càng tốt Để tránh những nhà cầm quyền lợi dụng HP để thamvọng quyền lực → trên TG hiện nay có 4 cách sửa HP được xếp theo độ khó tăng dần:
- Cách 1: Giao cho cơ quan lập pháp thông thường vừa sửa HP vừa sửa thườngluật, vd: VN, Trung Quốc, Ấn độ giao cho cơ quan lập pháp thông thường sửađổi HP → bị xem là cách sửa đổi dễ dãi, hời hợt
- Cách 2: Bầu cử xen kẽ bỏ phiếu 2 dòng, tiêu biểu ở Bỉ, Argentina CQ lập phápđương nhiệm muốn sửa đổi HP thì chỉ lập ra 1 UB dự thảo, có dự thảo rồi thì
nó phải bị giải tán; sau đó người ta bầu ra 1 NV mới và dự thảo sẽ đc bỏ phiếuthông qua với ít nhất ⅔ thành viên của mỗi viện (Thượng viện và Hạ viện)đồng ý nghĩa là CQ có ý định sửa đổi HP với CQ bỏ phiếu quyết định HP là 2
CQ khác nhau
- Cách 3: Thực hiện trg 1 quy trình rất phức tạp tại 1 NV có thể trưng cầu dân ý,tiêu biểu Pháp, Chile HP của Pháp 1958 quy định muốn sửa đổi HP phải đc ítnhất thành viên Hạ viện đồng ý, ít nhất thành viên Thượng viện đồng ý⅗ ⅗nếu ko đạt đc tỷ lệ này phải đem ra trưng cầu dân ý toàn thể nhân dân Pháp NcPháp đa đảng ko có đảng nổi trội tìm đc tỷ lệ là ko tưởng, ở Pháp muốn sửa⅗
HP hầu như đều phải trưng cầu dân ý
- Cách 4: Trưng cầu dân ý, vd: Nhật Bản, Australia, Canada, Đan Mạch, Thụy
Sỹ, Thụy Điển muốn sửa 1 câu, 1 chữ 1 từ, 1 dấu chấm, 1 dấu phẩy nào trong
HP đều phải đem ra trưng cầu dân ý hoặc như Mỹ ko trưng cầu dân ý nhưng có
độ khó tương đương Trưng cầu dân ý trình độ dân trí không đồng đều các nhàcầm quyền có thể dùng các phương thức để thuyết phục
2) Tính tối cao của HP trg ĐSXH: Tất cả các chủ thể trg ĐSXH dù chủ thể đó là
ai, quyền lực tới đâu đều phải phục tùng và nghiêm chỉnh chấp hành HP Đã là
1 XH dân chủ, 1 NN pháp quyền ko thể chấp nhận có một chủ thể nào đc đặtcao hơn, đc đặt ngang hàng hay đặt ngoài sự kiểm soát của HP → HP phải tối
Trang 11Vì sao HP có hiệu lực cao hơn pháp luật hình sự (thường luật)? Thứ nhất, HP ghi
nhận quyền con người vì ghi nhận quyền con người được coi là 1 loại luật của tựnhiên còn thường luật là ý chí của NN do NN ban hành → luật của tự nhiên phải được
tôn trọng và đặt cao hơn thường luật do con người tạo ra Thứ hai, HP là 1 VB ấn định
quyền lực nên không thể đặt ngang hàng với thường luật → nếu đặt ngang hàng thìnhà cầm quyền biến HP như thường luật, thành 1 công cụ để quản lý dân như thườngluật
f) Phân loại HP
- Căn cứ vào nội dung của các bản HP: HP cổ điển và HP hiện đại
- Căn cứ vào chế độ chính trị: HP XHCN và HP tư bản
- Căn cứ vào hình thức cấu trúc: HP liên bang và HP tiểu bang
- Căn cứ vào hình thức thể hiện: HP thành văn và HP ko thành văn, tiêu biểu cho
HP ko thành văn là Anh quốc vì có rất nhiều tập tục mang tính chính trị
Vì sao nước Anh có HP ko thành văn:
- Tôn sùng lý thuyết Nghị viện tối cao nên ko cần có HP, NV có thể làm tất cả mọi thứ ngoại trừ việc biến đàn ông thành đàn bà.
- Kinh nghiệm của các nc trên TG chỉ ra rằng muốn có 1 bản HP thành văn thì lịch sử QG đó phải có những sự kiện lớn lao, dữ dội, chấn động còn lịch sử Anh quốc êm ái, nhẹ nhàng, ko có nhiều biến động Lịch sử phát triển nền dân chủ của nước Anh đã có mầm mống từ TK XIII, nó đã phát triển êm dịu từ đó đến nay trải qua 800 năm Trg suốt 800 năm đó công bằng mà nói vào năm
1653 (tức TK XVII) nước Anh đã 1 có sự kiện khá chấn động là CMTS Anh nổ
ra Cromwell đã lãnh đạo đội quân của NV lật đổ chế độ pk ở Anh quốc (đem vua Charles lên đoạn đầu đài) Sau CMTS Anh, Cromwell thiết lập nền Cộng hòa và dự định viết bản HP thành văn đầu tiên cho nc Anh Nhưng người dân Anh bảo thủ, nhung nhớ vương triều và g/c tư sản nhận ra mình ko có kinh nghiệm và chưa đủ sức quản lý đất nc nên g/c tư sản thỏa hiệp với g/c pk dựng nên 1 vương triều bên cạnh NV, nền quân chủ đc thiết lập lại → kết thúc CMTS nền quân chủ đc thiết lập lại Đến TK XVIII-XIX khi g/c tư sản mạnh lên, NV tước bỏ dần dần quyền lực, đến TK XX vương triều chỉ còn lại vẻ bên ngoài, sự chuyển giao quyền lực diễn ra một cách từ từ, êm dịu.
- Tâm lý, văn hóa của người dân: bảo thủ và hoài cổ → cơ sở cho các tập tục chính trị hình thành Các tập tục chính trị là một phần của HP ko thành văn của nước Anh.
- Vị trí địa lý: là hòn đảo 4 bề tiếp giáp đại dương.
II Cơ chế bảo hiến: Xem lại GSHP
ĐƯƠNG ĐẠI
I Đảng chính trị
Trang 121 Đặc điểm của Đảng chính trị
- Nguồn gốc:
+ Về mặt chính trị, đảng chính trị theo nghĩa hiện đại chỉ có trong xã hộidân chủ bởi vì trong xã hội dân chủ mới có tự do biểu đạt, tự do lập hội,
tự do biểu tình, → có những tự do này thì mới có đảng chính trị
+ Mỗi một đảng chính trị bao giờ cũng có một tuyên ngôn, cương lĩnh vàmột đường hướng chính trị rất riêng, rõ ràng, công khai Đường hướngchính trị của mỗi đảng được thể hiện rất rõ nét thể hiện ở chỗ: 1) Trongtuyên ngôn, điều lệ, cương lĩnh của đảng; 2) Trong chương trình vậnđộng tranh cử của đảng
+ Cơ cấu tổ chức rất chặt chẽ và kỷ luật đảng rất được đề cao: trung thànhvới đường lối chủ trương đó
+ Đảng chính trị muốn tồn tại được thì cần phải nhận được sự ủng hộ củanhân dân bởi vì chính lá phiếu của người dân mới quyết định được vị thếcầm quyền hay không, đảng nắm được NN thì mới thực hiện đượcđường lối nghị quyết lý tưởng của đảng
+ Mỗi đảng chính trị luôn có những tập đoàn tư bản đứng đằng sau tài trợduy trì hoạt động của đảng
+ Mỗi đảng chính trị đều phải có mục đích chính quyền: đưa người củađảng tham gia vào việc giành giữ sử dụng quyền lực NN → Đặc điểmquan trọng nhất Thông thường đa số các nước trên TG đều đặt tên tổchức chính trị được thành lập đó là “Đảng” nhưng vẫn có những ngoại
lệ sau đây:
● Có những tổ chức được lập ra ko đc gọi là đảng nhưng nếu cómục đích chính quyền thì tổ chức chính trị đó vẫn là đảng chínhtrị, vd: Nga 1993 (Liên Xô Đông Âu sụp đổ) thành lập tổ chứcquả táo
● Có những tổ chức gọi là đảng nhưng nếu không có mục đíchchính quyền thì tổ chức đó được xem là tổ chức xã hội, vd: Italia
1970 thành lập đảng tình dục được lập ra chia sẻ
2 Mối quan hệ giữa đảng chính trị với HP và pháp luật
- Trước chiến tranh TG lần thứ 2 đa số các nước trên TG đều có quan niệm rằngđảng chính trị là câu chuyện nội bộ bên trong của một tổ chức cho nên chỉ cầnnghị quyết điều lệ của đảng điều chỉnh là đủ mà ko cần dùng đến HP và luật.Nhân loại chỉ thật sự quan tâm đến việc dùng HP và luật để tác động, điềuchỉnh đảng chính trị từ sau chiến tranh TG thứ 2 vì 2 lý do:
+ Rút kinh nghiệm từ sự độc tài phát xít của Đảng Hitler
+ Từ sau chiến tranh TG thứ 2 đến nay các tư tưởng tự do ngôn luận, tự dobiểu đạt, tự do tư tưởng tự do lập hội tự, do báo chí … được phát triểnrất mạnh mẽ trên toàn cầu → rất nhiều đảng chính trị ra đời → vì nhiềuđảng ra đời cho nên TG nhận thấy rằng cần phải dùng HP và luật để điềuchỉnh
- Kinh nghiệm các nước trên TG hiện nay: vấn đề đảng chính trị phải được điềuchỉnh bởi cả 2 thứ
1) Điều lệ đảng: điều chỉnh cơ cấu tổ chức nội bộ bên trong đảng đó
2) HP và luật điều chỉnh hoạt động của đảng, mối quan hệ của đảng với
Trang 13những thiết chế khác trong xã hội.
Ví dụ:
1) Nước Đức: HP CHLB Đức quy định tất cả đảng chính trị phải hoạt động trongkhuôn khổ của HP và pháp luật; phải công khai, minh bạch nguồn gốc tài sản.Bất kỳ đảng chính trị nào đi có tư tưởng đi ngược lại mục đích của NN liênbang thì sẽ bị cơ quan bảo hiến
2) HP và PL Mỹ quy định: các đảng chính trị ko bao giờ được nhận tiền ủng hộ tàitrợ có nguồn gốc từ nước ngoài và kê khai, minh bạch tài sản
- Dạng 1: Đa đảng có đảng nổi trội nghĩa là QG đó luôn có 1 đảng chiếm được
ưu thế (chiếm được quá nửa số ghế trong NV và tự mình đứng ra thành lậpChính phủ, Chủ tịch đảng đó trở thành Thủ tướng và tất cả Bộ trưởng đều làngười cùng đảng) Vd: Nhật Bản đảng ưu thế là đảng LDP (Đảng dân chủ tựdo) và Singapore → rất may mắn, vinh dự cho Thủ tướng
- Dạng 2: Đa đảng ko có đảng nổi trội nghĩa là QG đó ko có Đảng nào chiếm ưu
thế (ko chiếm đc quá nửa số ghế trg nghị trường) cho nên Đảng chiếm đc sốghế cao nhất đc quyền đứng ra tìm kiếm liên minh → Chính phủ được thànhlập dựa trên liên minh giữa các đảng chính trị → đặc điểm Thủ tướng là ngườicủa 1 đảng, Phó Thủ tướng là người của đảng khác, các Bộ trưởng trong Chínhphủ là người của đảng khác → bất hạnh cho Thủ tướng vì Thủ tướng nhìn vềmột hướng, Phó thủ tướng nhìn một hướng khác, các Bộ trưởng có ý thức hệkhác (các đảng có ý thức hệ khác nhau) → tạo ra một hiện tượng là “sốngchung chính trị, đồng sàng dị mộng, liên minh bấp bênh dễ vỡ” Vd: Đức,Pháp, Ấn Độ, Áo, Hungary
b) Hệ thống lưỡng đảng
Ở QG đó việc thực hiện QLNN luôn luôn được thực hiện luân phiên bởi 2đảng Một khi đảng này chiếm được đa số phiếu (ghế) ở vị thế đảng cầm quyền, đảngthiểu số sẽ ở vị thế đối lập, cho đến những nhiệm kỳ sau thì tình thế có thể ngược lại
→ việc thực hiện QLNN chỉ được thực hiện bởi 1 trong 2 đảng đó Vd: Mỹ có 2 đảngluân phiên là Đảng Cộng hòa và Đảng dân chủ; Anh QLNN được thực hiện bởi Côngđảng hoặc đảng Bảo thủ Lưu ý: ở những QG theo cơ chế lưỡng đảng vẫn có cơ hội,khả năng cho sự tồn tại của đảng thứ 3 nhưng ko ảnh hưởng đến việc 2 đảng luânphiên thực hiện QLNN
Trang 14c) Hệ thống một đảng
Việc thực hiện QLNN chỉ được thực hiện bởi 1 đảng do lịch sử, tương quanchính trị chỉ có 1 đảng chính trị đủ mạnh được đặt dưới sự quản lý của 1 đảng Vd:Trung Quốc, Việt Nam, Cuba
ta luôn có sự phân biệt 2 thuật ngữ bầu cử và bầu tín nhiệm Bầu là số ứng cửviên luôn nhiều hơn số người cần bầu Bầu tín nhiệm là bầu cho 1 chức danh đãđược giới thiệu, ấn định trước Nhìn chung trong TG đương đại ngày nay cónhững chức danh, cơ quan sau đây được hình thành theo cách dân bầu trực tiếp:
- Nghị viện (Quốc hội): Ở những QG tổ chức theo mô hình đơn viện thìNghị viện sẽ do dân trực tiếp bầu Còn ở QG nào tổ chức theo mô hìnhlưỡng viện thì 100% hạ viện do dân trực tiếp bầu, còn thượng viện có 6cách thành lập khác nhau nhưng trong 6 cách chỉ có 3 cách thượng viện
do dân trực tiếp bầu: 1) Thượng viện của Mỹ; 2) Thượng viện Nhật Bản;3) Thượng viện Ba Lan (trong 3 thượng viện dân trực tiếp bầu thì chỉ cóThượng viện Mỹ và Nhật Bản mới có thực quyền)
- Nguyên thủ QG do dân trựực tiếp bầu → nguyên thủ QG của 42
QG theo chính thể Cộng hòa Tổng thống và 54 QG theo chínhthể Cộng hòa hỗn hợựp do dân trựực tiếp bầu
- Hội đồng tự quản địa phương ở các nước do dân trực tiếp bầu, tỉnhtrưởng, thị trưởng (người đứng đầu địa phương)
b) Ý nghĩa của bầu cử:
- Đối với các CQNN: bầu cử được xem là cách thức văn minh nhất đểthành lập nên các CQNN → dễ được TG công nhận
- Đối với công dân: Một quyền chính trị quan trọng nhất của mỗi côngdân trong XH dân chủ và phản ánh rất rõ QLNN thuộc về nhân dân
2 Cần phân biệt bầu cử với trưng cầu dân ý
Đều là những cách thức thực hiện quyền lực trực tiếp của người dân nhưngnhìn chung 2 hiện này có 3 điểm giống và 4 điểm khác cần phân biệt:
Trang 15● Điểm giống:
- Đều là dân chủ trực tiếp
- Đều được tiến hành bằng bỏ phiếu kín
- Chủ thể nào có quyền đi bầu cử thì sẽ đủ điều kiện đi bỏ phiếu trưng cầu dân ý
- Bầu cử có nhiều cách tính kết quả bầu cử còn trưng cầu dân ý duy nhất là quábán
3 Phương pháp xác định kết quả bầu cử trong TG đương đại
Trong TG đương đại ngày nay nhìn chung để tính kết quả bầu cử có 2 phương pháp:a) Phương pháp đa số: thường dùng để xác định kết quả bầu cử trong những cuộcbầu cử mà đã có những ứng cử viên cụ thể thường được dùng trong những cuộcbầu cử Tổng thống, Thống đốc của bang Về phần mình thì phương pháp đa sốđược chia thành 2 dạng nhỏ:
● Dạng 1 đa số tương đối: người trúng cử chỉ cần thu được nhiều phiếuhơn các ứng cử viên khác mà không đòi hỏi phải được quá nửa số phiếuhợp lệ Hiện nay được áp dụng trong các cuộc bầu cử của các QG châu
Mỹ Ưu điểm kết quả bầu cử luôn được xác định ngay không cần bầuvòng 2 Nhược điểm người trúng cử không đại diện cho quá nửa dânchúng → chiến thắng không thuyết phục → không có tự tin
● Dạng 2 đa số tuyệt đối: người trúng cử phải được quá nửa số phiếu hợp
lệ và nhiều phiếu hơn các ứng cử viên khác Hầu như được áp dụng ởcác nước châu Âu, châu Á QG Ưu điểm người trúng cử luôn đại diệncho số đông nên rất tự tin Nhược điểm kết quả bầu cử không phải lúcnào cũng xác định được ngay nên phải bầu vòng 2, mất thời gian và tốnkém Tuy nhiên khi bầu vòng 2 có nguy cơ vỡ trận Vì vậy để có thể tậptrung phiếu và kết quả xác định được ở vòng 2 thì các QG trên TG đềuquy định chỉ có 2 ứng cử viên được cao phiếu nhất ở vòng 1 mới đượctiếp tục chạy đua ở vòng 2 (bầu cử Tổng thống ở Nga) hoặc các ứng cửviên phải đạt được tỷ lệ phiếu ở vòng 1 thì mới được tiếp tục chạy đua ởvòng 2 (bầu cử Hạ viện Pháp, các Đảng đưa các ứng cử viên ra tranh cửthoải mái, chỉ ứng cử viên đạt được 12,5% trở lên thì mới được chạy đuavòng 2)
● Ví dụ ứng cử viên A 45% phiếu, B 30% phiếu, C 25% phiếu
b) Đại diện tỷ lệ: phương pháp này dùng để chia ghế trong Nghị viện và thườngđược áp dụng trong trường hợp cử tri không bỏ phiếu cho 1 ứng cử viên cụ thể
mà chỉ bỏ phiếu cho Đảng cử tri ủng hộ
● Ví dụ: Tại 1 đơn vị bầu cử bầu 8 ghế nghị sĩ và có 5 Đảng chính trị ra ứng cử
và kết quả kiểm phiếu như sau: Đảng A thu đc 126k phiếu hợp lệ, Đảng B thu
Trang 16được 94k phiếu hợp lệ, Đảng C được 88k phiếu hợp lệ, Đảng D 65k phiếu hợp
lệ, Đảng E thu được 27k phiếu hợp lệ, giả định 1 lá phiếu của cử tri được coi làhợp lệ khi bỏ cho 1 Đảng duy nhất họ ủng hộ
● Trên TG hiện nay có 3 cách chia khác nhau:
- Cách 1: luật sư người Anh Thomas Hare đưa ra vào năm 1885, hiện nay đang
đc áp dụng ở 1 số nước châu Âu (Áo, Hungary, Bungary, Cộng hòa Séc…)+ Phương pháp chia: Bước 1 phải xác định định mức bầu cử, được xácđịnh như sau lấy tổng tất cả phiếu hợp lệ các Đảng thu được chia cho sốghế ở đơn vị bầu cử Bước 2 lấy số phiếu hợp lệ mỗi Đảng thu được chiacho định mức bầu cử (chỉ chia đến phần nguyên số dư để qua 1 bên).Bước 3 số ghế còn lại chưa chia sẽ được ấn định theo bảng số dư từ lớnđến nhỏ
=> Áp dụng chia:
Bước 1: Xác định định mức bầu cử: 126k + 94k + 88k + 65k + 27k =400k/8 ghế = 50k
Bước 2: Đảng A được 126k phiếu/50k = phần nguyên 2 phần dư 26k;Đảng B được 94k/50k = 1 dư 44k; Đảng C được 88k phiếu/50k = 1 dư38k; Đảng D được 65k phiếu/50k = 1 dư 15k, Đảng E được 27kphiếu/50k = 0 dư 27k Đảng A 2 ghế, Đảng B 1 ghế, Đảng C, 1 ghế,Đảng D 1, Đảng E 0 ghế → phần nguyên cho thấy đã chia được 5 ghế.Bước 3: Như vậy còn 3 ghế chưa chia, nhìn vào bảng số dư lấy 3 số dưlớn nhất từ lớn đến nhỏ (44k thuộc Đảng B, 38k thuộc Đảng C, 27kthuộc Đảng E) Kết luận Đảng A 2 ghế, Đảng B 2 ghế, Đảng C 2 ghế,Đảng D 1 ghế, Đảng E 1 ghế
- Cách 2: Giáo sư người Bỉ tên Victor D’ Hondt đưa ra vào năm 1882 cách này
hiện nay áp dụng khá phổ biến châu Âu, châu Á, châu Mỹ
+ Phương pháp chia: chủ trương lập bảng chia và lấy số phiếu hợp lệ mỗiĐảng thu được lập 1 bảng chia theo đó lấy số phiếu hợp lệ lần lượt chiacho các số tự nhiên 1, 2, 3, 4, 5, 6… Số ghế mỗi Đảng thu được tươngứng với các thương số trong bảng chia từ lớn đến nhỏ
=> Áp dụng chia: Đơn vị này được chia cho 8 ghế nên lấy 8 thương sốlớn nhất trong bảng chia
Chia cho Đảng A 126k Đảng B 94k Đảng C 88k Đảng D 65k Đảng E 27k
Trang 174 31,5k 18,8k 22k 16,25k 6,75k
Kết luận Đảng A 3 ghế, Đảng B 2 ghế, Đảng C 2 ghế, Đảng D 1 ghế, Đảng E 0 ghế.[Chia cho bao nhiêu là đủ? Chia cho tới khi nào thương số có được bằng hoặc nhỏ hơn
số phiếu Đảng chiếm được số ghế ít nhất chia cho 1]
- Cách 3: thực chất là sự tổng hợp từ 2 cách trên
+ Phương pháp chia: Bước 1 xác định định mức bầu cử, Bước 2 lấy sốphiếu hợp lệ mỗi Đảng thu được chia cho định mức bầu cử chia tới phầnnguyên, Bước 3 số ghế còn lại chưa chia sẽ được chia như sau:
Giả sử ghế đó Đảng nào cũng nhận được sau đó lấy số phiếu hợp lệ mỗiĐảng thu được chia cho tổng số ghế mà Đảng đó được chia → thương
số lớn nhất thuộc về Đảng nào thì ghế đó sẽ thuộc về Đảng đó Các ghếcòn lại cũng được chia tương tư cho đến hết
=> Bước 1: định mức bầu cử = 50k, Bước 2: Đảng A 126k/50k = 2 → Đảng A được 2 ghế, Đảng B 94k/50k
= 1 → Đảng B được 1 ghế, Đảng C 88k/50k = 1 → Đảng C được 1 ghế,Đảng D 65k/50k = 1 → Đảng D được 1 ghế, Đảng E 27k/50k = 0 →chưa được ghế nào
Tới đây đã chia được 5 ghế (A, B, C, D 1 ghế), còn 3 ghế sẽ được chiatheo Bước 3:
* Chia ghế thứ 6: Giả sử Đảng nào cũng được ghế thứ 6 này vì vậy:Đảng A được 126k phiếu/(2 ghế + 1 ghế giả định) = 42k
Đảng B được 94k phiếu/(1 ghế + 1 ghế giả định) = 47kĐảng C được 88k phiếu/(1 ghế + 1 ghế giả định) = 44kĐảng D được 65k phiếu/(1 ghế + 1 ghế giả định) = 32,5kĐảng E được 27k phiếu/(0 ghế + 1 ghế giả định) = 27k
→ Thưươưng sốố lớưn nhấốt là 47k Đảng B được ghế thứ 6
* Chia ghế thứ 7: Giả sử Đảng nào cũng được ghế thứ 7 kết quả nhưsau:
Đảng A được 126k phiếu/(2 ghế + 1 ghế giả định) = 42kĐảng B được 94k phiếu/(2 ghế + 1 ghế giả định) = 31.3kĐảng C được 88k phiếu/(1 ghế + 1 ghế giả định) = 44k
Trang 18Đảng D được 65k phiếu/(1 ghế + 1 ghế giả định) = 32.5kĐảng E được 27k phiếu/(0 ghế + 1 ghế giả định) = 27k
→ Thưươưng sốố lớưn nhấốt là 44k Đảng C được ghế thứ 7
* Chia ghế thứ 8: Giả sử Đảng nào cũng được ghế thứ 7 kết quả nhưsau:
Đảng A được 126k phiếu/(2 ghế + 1 ghế giả định) = 42kĐảng B được 94k phiếu/(2 ghế + 1 ghế giả định) = 31.3kĐảng C được 88k phiếu/(2 ghế + 1 ghế giả định) = 29.3Đảng D được 65k phiếu/(1 ghế + 1 ghế giả định) = 32,5kĐảng E được 27k phiếu/(0 ghế + 1 ghế giả định) = 27k
→ Thưươưng sốố lớưn nhấốt là 42k Đảng A được ghế thứ 8
=> Với kết quả này, chung cuộc Đảng A 3 ghế, Đảng B 2 ghế, Đảng C 2ghế, Đảng D 1 ghế, Đảng E 0 ghế
III Chế độ bầu cử Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
1 Nhìn chung 1 cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ trải qua 3 giai đoạn chính:
a) Giai đoạn 1: ở Mỹ theo cơ chế lưỡng Đảng (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa)
lựa chọn ứng cử viên đại diện đứng ra tranh cử → cuộc đấu tranh mang tính
nội bộ của Đảng Nhìn chung 1 ứng cử viên muốn ra tranh cử phải đáp ứng cáctiêu chuẩn sau: 1) phải có quốc tịch Mỹ, quốc tịch Mỹ có quốc tịch gốc, quốctịch tự nhiên → đảm bảo an ninh QG, đòi hỏi người ứng cử Tổng thống có mức
độ gắn bó, trung thành; 2) đạt độ tuổi từ 35 tuổi trở lên; 3) định cư ở nước Mỹliên tục ít nhất 14 năm; 4) khi được chọn đại diện cho Đảng của mình ra tranh
cử Tổng thống Mỹ thì phải chọn luôn Phó Tổng thống Mỹ là ai → liên minhtranh cử nhưng lưu ý ứng cử viên Phó Tổng thống Mỹ phải là công dân của tiểubang khác với ứng cử viên Tổng thống
Nhìn chung giai đoạn này là câu chuyện nội bộ của 1 Đảng và được điều chỉnh
bởi điều lệ của Đảng Hiện nay ở Mỹ có 2 Đảng chính trị lớn Thứ nhất, Đảng
Cộng hòa, nổi tiếng có các ứng cử viên có quan điểm chính trị cứng rắn, cựcđoạn “nước Mỹ là trên hết”, tự tôn đề cao dân tộc Đảng Cộng hòa được hậu
thuẫn bởi là những tập đoàn tư bản năng lượng khí đốt, dầu mỏ Thứ hai, Đảng
dân chủ, có tư tưởng ôn hòa hơn, tư tưởng đại đồng cùng phát triển với nhữngdân tộc tiến bộ Trong lịch sử có những lựa chọn chính sách tương đối cởi mở;
ví dụ: từng chọn Obama người da đen ra ứng cử Tổng thống, chọn phụ nữ raứng cử viên Tổng thống, Joe Biden ứng cử viên Tổng thống dù đã lớn tuổi Tậpđoàn hậu thuẫn cho Đảng dân chủ là những tập đoàn tư bản có liên quan đếnbất động sản và sản xuất vũ khí
Trang 19Nhìn chung để có thể trở thành ứng cử viên đại diện cho Đảng của mình ratranh cử Tổng thống Mỹ ứng cử viên đó phải đi về từng tiểu bang để thuyếtphục Đảng viên của Đảng mình ủng hộ tranh cử → sau đó cuộc bầu cử Tổngthống Mỹ nhìn chung diễn ra 4 năm 1 lần và sẽ diễn ra vào những năm theolịch phương Đông là Thân, Tý, Thìn → cuộc bầu cử Tổng thống chính thức vàonhững tháng 11 dương lịch của những năm đó Trước đó 4 tháng (chậm nhất làtháng 7 dương lịch) phải tổ chức đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Kết thúcđại hội Đảng ứng cử viên nào thu được nhiều phiếu ủng hộ của Đảng mình thìứng cử viên đó trở thành ứng cử viên chính thức ra tranh cử Tổng thống ĐảngCộng hòa có truyền thống Đại hội đại biểu toàn quốc lần đầu tiên sẽ được tổchức ở tiểu bang Miami Nếu ứng cử viên trúng cử Tổng thống đại hội đảng lầntiếp theo sẽ tổ chức ở Miami nhưng nếu không trúng cử thì đại hội tiếp theo sẽ
tổ chức ở tiểu bang khác
b) Giai đoạn 2: các cử tri đi bỏ phiếu bầu đại cử tri (bản chất của cuộc bầu cử Mỹ
là cuộc bầu cử gián tiếp) thường diễn ra vào tháng 1 của năm đó Số lượng đại
cử tri của Mỹ bằng số thượng nghĩ cộng số Hạ nghị sĩ cộng với 3 đại cử tri đặcbiệt đại diện cho Washington DC (100 + 435 + 3 = 538 đại cử tri) Và theo quyđịnh ứng cử viên nào nhận được 270 phiếu của đại cử tri trở lên chính thức trởthành Tổng thống Mỹ Nhìn chung số lượng đại cử tri của từng tiểu bang khácnhau tùy vào diện tích và dân số ở từng tiểu bang khác nhau → các ứng cử viêncủa Tổng thống Mỹ phải có chiến thuật tranh cử cực kỳ chính xác, khoa học.Những bang chiến địa ở Mỹ là bang California (55 đại cử tri), Texas (34 đại cửtri), New York (31 đại cử tri), Florida (27 đại cử tri), Ohio (21 đại cử tri),Illinois Texas là tiểu bang trung thành của Đảng Cộng hòa, New York là tiểubang trung thành của Đảng Dân chủ, số lần California bỏ phiếu nghiêng vềĐảng Cộng hòa hơn, Florida tiểu bang chiến địa trong khoảng 100 năm trở lạiđây ứng cử viên nào chiếm số phiếu cao ở tiểu bang này thì khả năng trúng cửTổng thống rất lớn
Bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra ở từng tiểu bang và áp dụng theo luật củatừng tiểu bang cho nên mọi khiếu nại, tranh chấp thì kiện tại TA tiểu bang →nếu không phục thì kiện lên TA liên bang Có 1 nghịch lý đã từng tồn tại trongcác cuộc bầu cử Tổng thống trong suốt 300 năm qua (theo luật chơi được ăn cảngã và không), diễn giải: ứng cử viên Tổng thống nào giành được nhiều phiếucủa cử tri hơn ở tiểu bang đó thì toàn bộ đại cử tri ở tiểu bang đó sẽ thuộc vềứng cử viên đó → luật chơi này nghiệt ngã ở chỗ làm cho người trúng cử Tổngthống Mỹ chắc chắn nhận được sự ủng hộ của đa số đại cử tri nhưng chưa chắcnhận được sự ủng hộ của số đông nhân dân Mỹ (hiện tượng này trong bầu cử ở
Mỹ gọi là thắng số phiếu cử tri thua số phiếu đại cử tri) Đối với nước Mỹ chỉ
có thắng có được tất cả nếu thua không được gì cả Ví dụ: có 2 ứng cử viên X
và Y ra tranh cử ở 3 tiểu bang, tiểu bang A có 20000 cử tri được phân bổ 4phiếu đại cử tri, 18000 phiếu hợp lệ bỏ cho X 2000 phiếu cho Y kết quả 4 đại
cử tri được về Đảng của ông X; tiểu bang B có 15000 được phân bổ 3 đại cửtri, 14000 bỏ cho X 1000 bỏ cho Y kết quả ông X tiếp tục thắng ở bang B 3 đại
cử tri thuộc về ông X; tiểu bang C 40000 dân được phân 8 đại cử tri 22000phiếu bỏ cho Y 18000 bỏ cho X kết quả Y đã thắng ở tiểu bang này 8 đại cử tri
Trang 20ở bang này thuộc về Y => người đắc cử Tổng thống Mỹ theo luật chơi của Mỹ
là ông Y Nhưng nếu xét về số phiếu cử tri thì số phiếu bỏ cho ông X nhiều hơn
Y (48000 phiếu bỏ cho X trong khi đó số phiếu ủng hộ Y chỉ có 25000 phiếu)
=> cuộc bầu cử Mỹ kịch tính đến phút cuối cùng, không nên đoán bừa
Lịch sử bầu cử Tổng thống Mỹ ghi nhận có 3 trường hợp Tổng thống
Mỹ trúng cử nhưng không được sử ủng hộ của số đông nhân dân Mỹ (thắng cửtri thua đại cử tri) Trường hợp 1: năm 2000 cuộc chạy đua giữa George W.Bush và Al gore, Al Gore có lợi thế là Phó Tổng thống 8 năm dưới thời Tổngthống Bill Clinton; Al Gore 264 phiếu đại cử tri, George W Bush được 246phiếu đại cử tri; tiểu bang chiến địa Florida Trường hợp 2: năm 1888 Trườnghợp 3: năm 2016 cuộc chạy đua giữa Donald Trump và Hillary Clinton Trong
3 lần thắng theo luật chơi người thắng đều là ứng cử viên đại diện Đảng Cộnghòa nhưng lịch sử bầu cử tạo ra cho Đảng Dân chủ 1 lợi thế hơn Đảng Cộnghòa hầy như Tổng thống đương nhiệm ra tranh cử nhiệm kỳ tiếp theo có lợi thếđều trúng cử nhiệm kỳ tiếp theo
c) Giai đoạn 3: các đại cử tri về thủ đô của tiểu bang bỏ phiếu bầu Tổng thống
(nhìn chung giai đoạn này là hình thức ở chỗ chỉ cần kết thúc giai đoạn 2 đãbiết mỗi Đảng có bao nhiêu đại cử tri → biết ai trúng cử Tổng thống) Sau đókết quả bỏ phiếu này được niêm phong và chuyển về Thượng viện Mỹ, Thượngviện Mỹ kiểm phiếu xong sẽ công bố ai trúng cử Tổng thống Mỹ HP Mỹ quyđịnh nếu như không có ứng cử viên nào được 270 phiếu đại cử tri trở lên thìtrong trường hợp này thì Hạ viện Mỹ sẽ bỏ phiếu bầu Tổng thống Mỹ và bầu 1trong 2 ứng cử viên có số phiếu cao nhất Người nào thu được nhiều phiếu thìtrở thành Tổng thống người còn lại sẽ trở thành Phó Tổng thống Tuy nhiêntrong 300 năm qua chưa xảy ra trường hợp này Quy định này được đặt ra vìMadison không dự liệu được nước Mỹ sẽ theo chế độ lưỡng Đảng (Madisonnghĩ rằng cuộc bầu cử Mỹ số phiếu bầu cho các ứng cử viên bị loãng), dự trùcho trường hợp một số đảng viên không bỏ phiếu cho ứng cử viên Đảng mình
- Kết luận:
+ Cuộc bầu cử Mỹ là cuộc bầu cử gián tiếp nhưng nước Mỹ ngày nay với
cơ chế lưỡng Đảng với cơ chế kỷ luật Đảng rất chặt chẽ, người củaĐảng nào phải luôn luôn ủng hộ Đảng mình thì chỉ cần kết thúc giaiđoạn 2 thì đã biết ai trúng cử Tổng thống Mỹ, nói khác đi vấn đề cơ chế
2 Đảng và vấn đề kỷ luật Đảng đã làm cuộc bầu cử Mỹ sang bầu cử trựctiếp Cách đây 300 năm các nhà lập hiến không cho nhân dân Mỹ trựctiếp bầu Tổng thống Lý giải vấn đề này các nhà lập hiến Mỹ cho rằngnếu để cho dân Mỹ trực tiếp bầu cử Tổng thống thì Tổng thống sẽ dotoàn thể nhân dân tấn phong, mang sự tự tin thái quá và tự hào quá lớn
→ Tổng thống Mỹ sẽ lấn át Nghị viện → bất lợi cho sự cân bằng quyềnlực đây là điều các nhà lập hiến không mong muốn Các nhà lập hiếnmuốn để đại cử tri bầu Tổng thống Mỹ để kiềm chế quyền lực của Tổngthống
+ Với luật chơi được ăn cả ngã về không thì người trúng cử Tổng thống
Mỹ chưa chắc đã đại diện số đông người dân Mỹ Lý do người Mỹ thíchluật chơi này:
Trang 21● Luật chơi này phù hợp với tâm lý dân tộc Mỹ sòng phẳng rạch ròi(1 là thắng 2 là thua không chia chát, tỷ lệ)
● Chia ảnh hưởng từ tâm lý dân tộc Anh mà người Anh có tâm lýrất mê bóng đá, tâm lý này ảnh hưởng đến chính trị Anh, ở Anhtheo cơ chế lưỡng Đảng, hình ảnh 2 Đảng là 2 đội bóng trên sân,trong bóng đá chỉ có thắng hoặc thua không kể đến thắng baonhiêu → làm cho cuộc bầu cử Tổng thống kịch tính, hấp dẫn đếnphút chót, rất khó để dự đoán
● Luật chơi này đã được áp dụng 300 năm nhưng nghịch lý chỉ xảy
ra 3 lần vẫn có thể chấp nhận được, chỉ thêm phần đặc sắc màkhông làm mất đi tính dân chủ → người Mỹ vẫn sẽ tiếp tục luậtchơi và chưa có ý định đổi sang luật chơi khác
Bài 3: NHỮNG ĐẠI CHÍNH THỂ TRONG THẾ GIỚI ĐƯƠNG
ĐẠI
Đặt vấn đề: Trong khoa học pháp lý ngày nay, nếu như chúng ta coi mỗi 1 một Nhà
nước là một sự vật hiện tượng đang tồn tại thì khi nghiên cứu về NN đó thì người ta sẽnghiên cứu ở 2 góc độ sau đây:
- Góc độ 1, hình thức NN cụ thể khi nghiên cứu hình thức NN người ta sẽ
nghiên cứu 3 yếu tố
+ Yếu tố 1 là hình thức chính thể (gương mặt đại diện của NN) Hình thức
chính thể chính là cách thành lập và mối quan hệ giữa các cơ quan ởtrung ương với nhau đặc biệt khi nghiên cứu về hình thức chính thểngười ta tập trung nghiên cứu nguyên thủ QG
+ Yếu tố 2 là hình thức cấu trúc nghiên mối quan hệ giữa trung ương và
địa phương → tùy vào mối quan hệ này chia ra thành NN có cấu trúcđơn nhất
+ Yếu tố 3 là chế độ chính trị nghiên cứu phương thức cai trị xã hội của
NN đó, chia thành chế độ chính trị dân chủ và phản dân chủ
- Góc độ 2, bản chất bên trong của NN (ai lập nên và phục vụ ai)
=> Trong phạm vi bài học này chúng ta chỉ đề cập đến hình thức chính thể (gương mặtđại diện) của NN Như đã trình bày ở trên hình thức chính thể chính là cách thành lập
và mối quan hệ giữa các cơ quan ở trung ương với nhau và khi nghiên cứu về hìnhthức chính thể thì có 2 đặc điểm rất quan trọng nhất có ý nghĩa phân biệt các hình thứcchính thể
- Đặc điểm 1, tập trung vào tên gọi, cách thành lập, vị trí vai trò của nguyên thủ
QG: nếu 1 NN nguyên thủ QG là những vị hoàng đế (tên gọi chung vua hoặc
nữ hoàng) hình thành bằng cách cha truyền con nối, gọi bằng cách chính xácnhất là nguyên tắc huyết thống thì NN nước đó có hình thức chính thể quânchủ Về phần mình nếu vị hoàng đế nắm toàn bộ QLNN trong tay ko có phânchia quyền lực, kiểm soát quyền lực thì chính thể đó gọi là quân chủ tuyệt đối.Còn nếu hoàng đế là người đứng đầu NN chung chung, tượng trưng, danhnghĩa, hình thức thì NN đó có chính thể quân chủ đại nghị Còn nếu nguyên thủ
Trang 22QG nào đó là Tổng thống Chủ tịch nước, cá biệt Thụy Sĩ gọi nguyên thủ QG làChủ tịch Hội đồng liên bang được thành lập bằng cách bầu cử có nhiệm kỳ thì
QG đó có chính thể Cộng hòa
- Đặc điểm 2: nghiên cứu mối quan hệ giữa CQ lập pháp và CQ hành pháp nói
khác đi là mối quan hệ giữa Nghị viện với CP (ko lôi TA vào đây bởi lẽ đa sốcác nước trên TG thiết lập TA độc lập, khách quan, vô tư, công bằng) → trả lờicho câu hỏi Cộng hòa gì, cụ thể như sau
+ Nếu áp dụng phân quyền một cách cứng rắn triệt (gọi là phân quyềncứng để tạo ra Cộng hòa tổng thống, tại sao áp dụng mối quan hệ giữalập pháp và hành pháp hoàn toàn độc lập, không thành lập trên cơ sở củanhau, không liên quan gì nhau → tạo ra sự cân bằng, dễ dẫn đến sự kiểmsoát chéo có hiệu quả
+ Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp được xây dựng trên cơ sở ápdụng học thuyết phân quyền ôn hòa gọi là phân quyền mềm tạo nên hìnhthức chính thể đại nghị: NV đc thành lập ra CP, dung túng CP, chở checho CP hoạt động → mối quan hệ khăng khít Tuy nhiên đến 1 lúc nào
đó niềm tin không còn → NV có quyền ra quyết định bất tín nhiệm CPgiải tán CP, nhưng HP của các nước theo chính thể đại nghị cho phépThủ tướng có quyền ra quyết định giải tán NV
+ Nếu mối quan hệ hành pháp và lập pháp trên cơ sở vừa cứng vừa mềmtạo ra Cộng hòa hỗn hợp
QG trong TG đương đại vẫn giữ gương mặt này.
QG đầu tiên kể đến còn giữ gương mặt này là Oman, Kata, Ả rập Xê út, Brunei, Xoa đơ len, Vatican Đây là những
QG (trừ Vatican) rất giàu tài nguyên thiên nhiên (vị trí có mỏ dầu) kinh tế giàu có sung túc, mâu thuẫn xã hội ko gay gắt, người dân → ko cần thay đổi chế độ khác Vatican
là 1 QG đặc biệt, Giáo hoàng được xem là một
vị vua Thủ tục bầu Giáo
- Trg khoa học pháp lý hiện nay giữa QC đại nghị và CH đại nghị có rất nhiều điểm giống nhau (các chuyên gia cho rằng 2 gương mặt này có hơn 95% giống nhau), cụ thể 2 chính thể này chỉ khác nhau ở 1 điểm duy nhất là nguyên thủ
QG trg QC đại nghị là những vị hoàng
đế đc hình thành bằng cách thừa kế dòng máu còn nguyên thủ QG trg CH đại nghị
là những vị Tổng thống, Chủ tịch nước
đc hình thành bằng cách bầu cử có nhiệm kỳ; tất cả những yếu tố còn lại như vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của nguyên thủ QG, mối quan hệ giữa hành pháp và lập pháp và tất cả các yếu khác đều giống nhau) → Vì quá giống nhau nên người ta mới gọi chính thể đại nghị để chỉ chung cho chính thể QC đại nghị và CH đại nghị.
- QG đc coi là đặt những nền tảng căn
- Người sáng tạo ra CH Tổng thống là James Madison cha để của HP
Mỹ, người đã vẽ nên những yếu tố đầy đủ của CH Tổng thống
- Phạm vi áp dụng: có
42 nước mang gương mặt CH Tổng thống:
Mỹ, hầu hết những QG Châu Mỹ trừ Canada và Cuba, ở Châu Á:
Philippin và Indonesia;
Châu Phi: Congo, Xu – đăng
- Tên gọi khác: chỉ có một tên khác là Tổng thống chế
- Người sáng tạo ra CH hỗn hợp là Charles De Gaulle trg bản HP 1958 của Pháp.
- Phạm vi áp dụng đc 54 nước trên TG áp dụng: Pháp HP 58, Nga HP
93, Ba Lan, Thổ Nhĩ
Kỳ, Ucraina; Châu Á: Hàn Quốc; Châu Phi: Nam Phi, Tuynidi, Zimbabwe
- Lưu ý:
+ Thứ nhất hầu hết
những QG nằm trong khối XHCN trc đây năm
1990 Liên Xô tan rã hình thành nên những
Trang 23hoàng dân chủ nhất trên
TG Đặc điểm của QC tuyệt đối toàn bộ quyền lực tập trung tuyệt đối vào 1 cá nhân vương triều dòng họ không thừa nhận sự phân quyền → không có sự kiểm soát quyền luật đặc biệt không có kiểm soát quyền lực của nhà vua →
bộ máy quan lại được lập
ra để cai trị, được quan niệm là công cụ trong tay nhà vua quản lý NN.
bản, tiêu biểu điển hình cho QC đại nghị trên TG hiện nay là Vương quốc Anh.
Chính thể QC mặc dù đc khai sinh ở nc Anh nhưng vì có HP ko thành văn nên chính thể này ko đc minh họa đầy đủ trong bản HP Hiện nay có 33 nc theo chính thể QC đại nghị Anh Tây Ban Nha, Lúc xăm bua, Đan MẠch, Hà Lan, thụy Điển…; ở Châu Á: Nhật Bản, Lào, Thái Lan…
- Về CH đại nghị: bản HP 1947 của, HP
1949 của Đức 2 bản HP này miêu tả lại những đặc điểm cơ bản của chính thể đại nghị ở Vương quốc Anh (chỉ sửa một chút sửa nữ hoàng Anh thành Tổng thống Đức, Tổng thống Ý) Ngày nay HP
49 là HP tiêu biểu có 32 nc theo CH đại nghị: Đức Ý CH Séc, Hungary, Rumani;
Mông Cổ Singapore, Ấn Độ…
- Tên gọi khác (có nhiều tên gọi vì chính thể có từ lâu đời): chính thể đại nghị, đại nghị chế, Cộng hòa Nghị viện, Cộng hòa Thủ tướng, Thủ tướng chế Nội các chế, quân chủ lập hiến (hay gọi thời điểm CMTS, lúc mới ra đời), 2 tên gọi thường dùng: đại nghị chế, Thủ tướng chế, Nội các chế.
QG độc lập, khi những
QG này độc lập thì đều chọn chế độ CH hỗn hợp;
+ Thứ hai những QG
từng là thuộc địa của Pháp và đặc biệt HP
1946 của VN chọn CH hỗn hợp làm gương mặt đại diện.
- Tên gọi khác: có nhiều tên gọi: CH hỗn hợp,
CH lưỡng tính, Bán Tổng thống chế, Lưỡng đầu chế, CP lưỡng đầu,
HP 2 đầu, Chế độ Tổng thống được tăng cường, Siêu Tổng thống (Tổng thống Putin ở nước Nga) Tên gọi khai sinh
và thường dùng nhất là
CH hỗn hợp hay CH lưỡng tính, còn tên phổ biến là Bán Tổng thống chế.
- Như đã phân tích giữa QC đại nghị và
CH đại nghị chỉ khác nhau ở 1 điểm duy nhất là QC đại nghị nguyên thủ QG là hoàng đế thành lập bằng cách truyền ngôi, thừa kế dòng máu Hiện nay trên
TG có 6 cách truyền ngôi Còn nguyên thủ QG trong CH đại nghị là Tổng thống, Chủ tịch nc đc thành lập bằng bầu
cử có nhiệm kỳ, hiện nay trg CH đại nghị có 2 cách bầu nguyên thủ QG:
+ Cách 1: nguyên thủ QG trg CH đại
nghị do NV bầu;
+ Cách 2: do 1 hội đồng có sự tham gia
của NV để bầu nguyên thủ QG (chỉ có Nghị sỹ bầu nguyên thủ QG) Nhiệm kỳ của Tổng thống: CH đại nghị ở Châu Âu, Châu Á thường quy định nhiệm kỳ của nguyên thủ QG là 5 năm; Châu Mỹ thường 4 năm; trên TG hiện nay nhiệm
kỳ dài nhất của nguyên thủ QG là 6 năm (Tổng thống Nga và Philippin).
- Vị trí vai trò của nguyên thủ QG (bao gồm cả QC lẫn CH đại nghị):
- Nhiệm kỳ của Tổng thống trg CH Tổng thống dao động từ 4 đến 6 năm Các nc C.Mỹ nhiệm kỳ thường
4 năm; các QG C.Phi
và C.Á như Indonesia thường là nhiệm kỳ 5 năm trừ Philippin nhiệm kỳ Tổng thống 6 năm.
- Nguyên thủ QG trg
CH Tổng thống là những vị Tổng thống đc thành lập bằng cách bầu cử có nhiệm kỳ.
Trg 42 QG theo CH Tổng thống có 2 cách bầu Tổng thống:
+ Cách 1: do dân gián
tiếp bầu thông qua đại
cử tri, tiêu biểu là nc
Mỹ (nhờ cơ chế lưỡng Đảng cũng như vấn đề
kỷ luật Đảng nên bầu
- Nguyên thủ QG trg
CH hỗn hợp cũng là Tổng thống do dân trực tiếp bầu Nhiệm kỳ Tổng thống trg CH hỗn hợp nhìn chung từ 5 đến
6 năm, đa số là 5 năm ngoại lệ 6 năm.
- Tổng thống trg CH hỗn hợp có 2 vai trò: 1) đứng đầu NN nói chung
và thay mặt NN về đối nội và đối ngoại; 2) Tổng thống trg CH hỗn hợp cũng đứng đầu CP, nắm quyền hành pháp, điều hành quản lý đất
nc Tuy nhiên trg CH hỗn hợp quyền hành pháp chia sẻ 1 nửa cho Thủ tướng, cụ thể CP trg CH hỗn hợp có 2 người đứng đầu: + Người thứ nhất là Tổng thống – Tổng
Trang 24+ Chỉ có 1 vị trí duy nhất trong BMNN
đc xác định là 1 người đứng đầu NN nc
nói chung và thay mặt NN về toàn bộ đối
nội, đối ngoại Nguyên thủ QG ko nằm
trọng và thi hành trên thực tế khi có chữ
ký kèm theo của vị Thủ tướng hoặc Bộ
trưởng quản lý lĩnh vực đó; 2) Nguyên
tắc “vô trách nhiệm của nguyên thủ QG”
– giải thích trg chính thể này nguyên thủ
QG ko bao giờ làm sai nên ko bao giờ
phải chịu trách nhiệm (ko trả lời chất
vấn, ko phải báo cáo) → nói đúng hơn
trg chính thể đại nghị nguyên thủ QG ko
phải làm gì cả → nữ hoàng nước Anh trị
vì nhưng ko cai trị.
+ Vì tính hình thức nhạt nhòa của
nguyên thủ QG nên trg chính thể này
người ta còn gọi là chính thể “ko Tổng
thống, ko nguyên thủ” → “ko Tổng
thống ko nguyên thủ” phải đc hiểu là có
cũng như ko Có Tổng thống, có hoàng
đế, có người đứng đầu hoàng đế nhưng
cũng như ko, quyền lực nằm trg tay Thủ
tướng.
cử Tổng thống Mỹ từ bầu cử gián tiếp chuyển sang trực tiếp);
+ Cách 2: còn 41 QG
còn lại theo chính thể
CH Tổng thống do dân trực tiếp bầu.
- Vì đc dân trực tiếp bầu và tấn phong trao quyền lực nên Tổng thống trong CH Tổng thống đc xác định có 2
vị trí trg BMNN:
+ Vị trí 1: người đứng
đầu NN nói chung thay mặt toàn bộ NN về đối nội và đối ngoại;
+ Vị trí 2: người đứng
đầu CP, nắm quyền hành pháp và trực tiếp quản lý điều hành NN (CH Tổng thống ko có chức danh Thủ tướng).
Bên cạnh đó Tổng thống trg CH Tổng thống có 1 vai trò rất lớn, rất thực quyền và
đc xđ là trung tâm trg BMNN của QG đó, là 1 người đứng đầu NN 1 nhạc trưởng theo đúng nghĩa vì nắm đầy đủ 3 quyền năng của 1 người đứng đầu: 1) thay mặt
NN về đối nội đối, ngoại, trg ban giao quốc tế; 2) nắm quyền hành pháp; 3) Tổng chỉ huy quân đội nếu QG
có vũ khí hạt nhân thì Tổng thống là người duy nhất nắm mật mã
sử dụng Ko những thế trg CH Tổng thống còn
đc trang bị những vũ khí lợi hại để kiềm chế đối trọng nhóm quyền lập pháp đó là phủ quyết luật và kiềm chế đối trọng nhóm quyền
tư pháp, bổ nhiệm thẩm phán.
thống trực tiếp nắm 3 bộ
có tính chất an ninh là
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ ngoại giao; bên cạnh đó Tổng thống còn là người kiến tạo, hoạch định, ban hành chính sách hành pháp và điều hành quản lý hành chính sự vụ.
+ Người thứ 2 là Thủ tướng và Nội các (hay Thủ tướng các Bộ trưởng còn lại, trừ 3 bộ trưởng còn lại) đóng vai trò thực thi chính sách hành pháp do Tổng thống hoạch định, Thủ tướng tập trung vào mảng kinh tế, văn hóa, giáo dục, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của nhân dân → vì vậy mới gọi là CP lưỡng đầu, Bán Tổng thống chế Nhìn chung Tổng thống trg CH hỗn hợp cũng có vai trò rất lớn trg BMNN cũng là 1 người đứng đầu theo đúng nghĩa Về mặt lý thuyết vì trg CH hỗn hợp Tổng thống chỉ nắm
1 nửa quyền hành pháp
và phải chia sẻ quyền hành pháp còn lại với Thủ tướng cho nên người ta mới gọi là Bán Tổng thống chế Tuy nhiên trên thực tế, ý định ban đầu của Degaulle khi tạo ra CH hỗn hợp chỉ muốn tăng
1 nửa quyền hành pháp cho Tổng thống Nhưng trên thực tế Degaulle vô tình tạo ra 1 siêu Tổng thống, bởi lẽ Tổng thống trg CH hỗn hợp còn đc trang bị 1 vũ khí lợi hại, pháp luật trao cho quyền đc ký sắc lệnh giải tán NV trc hạn còn Tổng thống trg CH Tổng thống ko có quyền này.
Trang 25mô hình đơn viện thì NV sẽ thành lập, bầu ra CP; QG nào tổ chức theo mô hình lưỡng viện thì Hạ viện sẽ là nơi thành lập ra CP; trên TG duy nhất chỉ có Thủ tướng và các Bộ trưởng của Nhật Bản phải được cả Hạ viện và Thượng viện bầu) thì mới biết được ai làm Thủ tướng, Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng là người của Đảng nào Cụ thể như sau:
+ Đối vs những QG theo hệ thống đa đảng có Đảng nổi trội như Nhật Bản Singapo hoặc các QG theo cơ chế lưỡng Đảng như Anh quốc Đảng nào chiếm đc
đa số ghế trg NV (Hạ viện) thì thủ lĩnh của Đảng đó trở thành Thủ tướng.
+ Ở những QG đa Đảng và ko có Đảng nổi trội (vd: Đức, Ý, Ấn Độ…) Đảng chiếm đc nhiều ghế giành đc quyền đi tìm kiếm các Đảng phái liên minh để thành lập CP dẫn đến tình trạng đồng sàng dị mộng, liên minh bấp bênh dễ tan
vỡ → bất hạnh cho Thủ tướng vì ko cùng chung chí hướng.
- Vì CP đc thành lập trên cơ sở NV cho nên niềm tin của NV là cơ sở để dung túng cho CP hoạt động CP phải báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trc NV (Hạ viện), NV (Hạ viện) có quyền chất vấn điều trần, có quyền bỏ phiếu tín nhiệm lật đổ CP khi niềm tin đã ko còn Thủ tướng và toàn bộ các Bộ trưởng phải nộp đơn xin từ chức lên nguyên thủ QG Tuy nhiên trg chính thể này người ta cũng lo
sợ sự độc tài của NV, độc tài của số đông Trg chính thể này cũng cho phép Thủ tướng CP quyền đề xuất nguyên thủ
QG ký sắc lệnh giải tán NV trc hạn, để tiến hành tổng tuyển cử bầu ra NV mới
có thành phần chính trị ôn hòa, dễ làm việc.
=> Như vậy đặc trưng riêng có của chính thể đại nghị là có nguyên thủ cũng như
ko, nguyên thủ QG nhạt nhòa; Thủ tướng là trung tâm quyền lực của NN đó nắm toàn bộ quyền hành pháp; NV có quyền lập ra CP có quyền bất tín nhiệm lật đổ CP và CP có quyền giải tán NV trc hạn.
- 2 nhánh quyền lực hành pháp và lập pháp hoàn toàn độc lập ko thành lập trên cơ sở của nhau: dân đi bỏ phiếu bầu ra NV trg 1 cuộc bầu cử riêng và bầu Tổng thống trg 1 cuộc bầu cử riêng biệt, nhiệm kỳ của 2 CQ này khác nhau Vì ko thành lập trên cơ sở của nhau nên 2 CQ này độc lập với nhau theo đúng nghĩa “nhà ai nấy ở việc ai nấy làm” và 2 nhánh quyền lực ko có
sự khắng khít, ko hề có
sự mặc cả, thỏa hiệp →
NV ko có quyền chất vấn xét báo cáo công tác, ko có quyền phê bình Tổng thống và các
Bộ trưởng và đặc biệt
NV trg CH Tổng thống
ko đc quyền bất tín nhiệm, lật đổ Tổng thống.
- Ngc lại Tổng thống và các Bộ trưởng ko phải chịu sự chất vấn phê bình của NV và ko có quyền bất tín nhiệm, lật
đổ, giải tán NV PL của những nc này cấm Tổng thống và các Bộ trưởng đồng thời là nghị sĩ và những người này ko có quyền sáng kiến luật.
- Từ sự cân bằng và độc lập giữa 2 nhánh quyền lực dẫn tới sự kiểm soát chéo các nhánh quyền lực có hiệu quả: theo đó
NV làm luật có sai có vấn đề gì thì Tổng thống có quyền phủ quyết, bắt làm lại còn Tổng thống hành pháp các quyết sách hành pháp của Tổng thống phải thuyết phục được
Như đã phân tích CP trg
CH hỗn hợp là CP lưỡng đầu, hành pháp có
2 người đứng đầu Phần thứ nhất phần Tổng thống, thành lập độc lập với NV đều do dân bầu, ko báo cáo công tác ko chịu trách nhiệm trc nhau, Tổng thống đc xem là phần cứng sao chép từ chính thể CH Tổng thống Phần thứ hai, Thủ tướng
và các Bộ trưởng đc thành lập trên cơ sở NV (Hạ viện) Thủ tướng sẽ
do Tổng thống giới thiệu cho NV bầu Nội các đc Thủ tướng giới thiệu cho NV phê chuẩn Phần Thủ tướng
và nội các phải báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trc Hạ viện và NV: NV có quyền xét báo cáo công tác phê bình và đặc biệt NV có quyền bất tín nhiệm lật
đổ Thủ tướng và nội các Để lấy độc trị độc, giảm bớt sự độc tài thái quá của NV trg chính thể cho phép Thủ tướng
đc quyền đề nghị Tổng thống giải tán NV trc hạn để tiến hành tổng tuyển cử bầu ra NV mới
→ phần mềm, hạt nhân của chính thể đại nghị Degaulle giữ lại Cần lưu ý nếu trg chính thể đại nghị người quyết định có nên ký sắc lệnh giải tán NV là Thủ tướng còn Tổng thống nguyên thủ QG chỉ làm theo yêu cầu của Thủ tướng trg khi đó trg CH hỗn hợp có giải tán NV hay ko do Tổng thống quyết Nói chung quyền
Trang 26NV Mỹ.
=> Đặc điểm riêng có:
1 Tổng thống rất thực quyền, trung tâm của BMNN; Tổng thống nắm trọn quyền hành pháp, ko có chức danh Thủ tướng trg BMNN;
lập pháp và hành pháp nhà ai nấy ở việc ai nấy làm ko bất tín nhiệm,
ko giải tán, ko lật đổ nhau,
giải tán NV trg CH hỗn hợp thuộc về Tổng thống, Thủ tướng chỉ có quyền đề nghị Chính vì điều này người ta cho rằng ý định ban đầu của Degaulle khi tạo ra CH hỗn hợp chỉ muốn tăng cường 1 nửa quyền hành pháp cho Tổng thống để tạo ra nửa Tổng thống, vô tình Degaulle tạo ra 1 siêu Tổng thống bởi vì Tổng thống trg CH hôn hợp còn có đc những quyền Tổng thống trg CH Tổng thống ko có, đó chính là quyền giải tán
NV Hạ viện trc hạn; HP Pháp 1958 còn cho phép đem 1 dự luật ra trưng cầu dân ý chấm dứt quyền thông qua luật của NV.
Đặc điểm riêng có CP lưỡng đầu Tổng thống
và Thủ tướng chia nhau quyền hành pháp.
3 Cơ sở
hình thành Đc hình thành trên nền tảng 3 cơ sởchính sau đây:
- Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa g/c tư sản với g/c quý tộc pk làm CMTS
ở chỗ: chừng nào và ở đâu mà khi làm CMTS mà g/c tư sản chưa hoàn toàn đủ mạnh, chưa hoàn toàn thắng thế ko nhận
đc sự hậu thuẫn từ phía bên ngoài và đặc biệt g/c tư sản còn non, chưa đủ kinh nghiệm điều hành quản lý đất nc… thì CMTS sẽ kết thúc bằng sự thỏa hiệp giữa g/c tư sản với quý tộc pk (vẫn dựng nên 1 vương triều giữ quyền hành pháp còn g/c tư sản nắm lập pháp và bắt vương triều thực thi luật → tạo ra quân chủ lập hiến hay quân chủ NV Theo thời gian g/c tư sản dần lớn mạnh tước bỏ dần dần quyền lực của nhà vua và đến ngày nay vương triều chỉ còn lại vẻ bề ngoài, con số ko, bình bông → tiêu biểu
là nc Anh Chừng nào vào ở đâu khi làm CMTS g/c tư sản hoàn toàn đủ mạnh ở chỗ đc sự hậu thuẫn từ phía bên ngoài,
đủ sức điều hành quản lý đất nc… thì sẽ lật đổ hoàn toàn chế độ pk và sẵn sàng
Đc hình thành trên nền tảng 3 cơ sở chính sau đây:
- Về lịch sử có thể nói
nc Mỹ là 1 vùng đất mới chưa bao giờ trải qua chế độ pk hàng ngàn năm tồn tại nên chắc chắn người Mỹ sẽ
ko có tâm lý nhung nhớ, tiếc nuối, ám ảnh vương triều Hơn nữa
đa phần nguồn gốc dân
cư Mỹ là di cư từ những QG, những vùng đất khác nhau tạo nên
sự đa sắc tộc đa tôn giáo… với sự khác biệt
đó các nhà lập hiến Mỹ cho rằng nc Mỹ cần có
1 Tổng thống mạnh để Tổng thống trở thành điểm quy tụ, 1 nhạc trưởng, cả dân tộc nhìn
về 1 hướng đưa cả dân
CH hỗn hợp đc coi như
1 sự sáng tạo của De Gaulle vào năm 1958 và với sự sáng tạo này thì
De Gaulle đc coi như là người đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ hoàng kim của NV ở C.Âu nhưng đồng thời cũng là người đã hiện thực hóa những ý tưởng của Rousseau và Montesquieu ngay trên đất Pháp Với sự sáng tạo này thì De Gaulle đã tạo ra cho Pháp với một hình hài, gương mặt mới và nc Pháp đã xứng đáng hơn lấy lại vị thế
là 1 QG khai sáng và đặc biệt góp phần ổn định tình hình chính trị của nc Pháp:
- Tình hình chính trị nc Pháp từ CMTS 1787
Trang 27thiết lập nền CH → việc thiết lập nền
CH phụ thuộc rất lớn vào tương quan lực
lượng của g/c tư sản khi làm cách mạng
vd: Pháp, Đức, Ý).
- Xuất phát từ lịch sử của vùng đất C.Âu:
ở C.Âu hầu như QG nào cũng phải trải
qua chế độ pk hàng ngàn năm tồn tại đã
làm cho người C.Âu có 1 trg 2 trạng thái
tâm lý:
+ Tâm lý sùng bái vương vấn nhung nhớ
vương triều hay nói cách khác vương
triều để lại những dấu ấn sâu đậm trg
lòng dân chúng nhất là những dân tộc có
tâm lý hoài cổ bảo thủ như dân tộc Anh
→ nền quân chủ đại nghị đc thiết lập
nhưng chia sẻ quyền lực với tư sản.
+ Người dân C.Âu ám ảnh với sự độc
tài, tàn bạo của vua chúa, người dân
Pháp, Đức Ý ám ảnh với sự độc tài tàn
bạo của vua chúa → thủ tiêu hoàn toàn
chế độ pk thiết lập 1 nền CH Khi thiết
lập nền CH thì ở những QG này vẫn ám
ảnh sự độc tài của nguyên thủ QG vì vậy
họ bầu ra Tổng thống với 1 nhiệm kỳ
nhất định nhưng ko trao quyền cho Tổng
thống làm cho Tổng thống nhạt nhòa, hư
quyền, hình thức vì họ sợ trao quyền cho
Tổng thống nhiều quá như một ông vua
sẽ tạo ra độc quyền cá nhân, sẵn với tâm
lý sùng bái NV tối cao nên họ mới trao
hầu hết quyền lực cho NV đề cao NV
khẳng định tính trội của NV so với các
nhánh quyền lực khác.
- Xuất phát từ văn hóa, tâm lý, tính cách
của người C.âu, nhìn chung người C.Âu
đc đánh giá là khá ôn hòa, mềm dẻo,
bình thản họ đã có cách áp dụng học
thuyết phân quyền của Montesquieu
mềm dẻo như chính tính cách của họ: Để
cho 2 nhánh quyền lực thành lập trên cơ
sở của nhau, gắn bó, khăng khít nhau
dựa trên niềm tin; có quyền chất vấn,
góp ý, phê bình nhau, phối hợp với nhau
trg công việc.
tộc đi lên.
- Công bằng mà nói khi James Madison đặt bút viết nên HP Mỹ CH Tổng thống thì Madison có sự tham khảo, nhìn vào, sao chép hình ảnh hoàng đế
nc Anh sau CMTS nói cách khác Tổng thống
là sản sao của hoàng đế sau CMTS: sau CMTS Anh, hoàng đế Anh nắm hành pháp và g/c
tư sản nắm quyền lập pháp; hoàng đế Anh vừa đại diện thay mặt đất nc vừa nắm quyền hành pháp tương tự vậy Tổng thống Mỹ có 2 vị trí vừa đứng đầu thay mặt NN Mỹ vừa đứng đầu CP nắm quyền hành pháp; hoàng đế Anh được quyền phủ quyết luật do NV ban hành tương tự vậy Tổng thống Mỹ cũng được trao quyền phủ quyết luật do NV ban hành;
giống hoàng đế Anh, Tổng thống Mỹ được quyền miễn trừ ko phải báo cáo, ko chịu trách nhiệm trc NV; hoàng đế Anh truyền ngôi dựa trên nguyên tắc huyết thống ko phụ thuộc vào
NV tương tự vậy Tổng thống Mỹ do dân bầu
có nhiệm kỳ ko phụ thuộc vào NV → chính
vì vậy nhiều học giả cho rằng Tổng thống là một ông vua ko có ngai vàng.
- Xuất phát từ văn hóa tâm lý người Mỹ, có tâm lý rạch ròi, sòng phẳng, triệt để cho nên
họ đã có cách áp dụng học thuyết tâm quyền phân lập một cách sòng phẳng, rạch ròi đúng với tính cách của họ vì vậy họ mới để 2 nhánh
đến 1958: nc Pháp trải qua 169 năm bất ổn triền miên với tình hình chính trị vô cùng rối ren, phức tạp bởi vì nc Pháp ở C.Âu rất tôn sùng Rousseau và trung thành với đại nghị chế,
đề cao NV Cần lưu ý rằng nc Anh ở C.Âu cũng tôn thờ NV cũng theo đại nghị chế nhưng Anh quốc áp dụng đại nghị chế rất thành công bởi lẽ nc Anh là nc theo
cơ chế lưỡng Đảng → luôn luôn có 1 Đảng chiếm đc đa số ghế trg
NV và Hạ viện, thủ lĩnh của Đảng đó trở thành Thủ tướng Anh cùng với các Bộ trưởng Anh quốc với khối đa số trg Hạ viện luôn luôn là người của cùng 1 Đảng cùng 1 phe → rất may mắn cho Thủ tướng Trg khi đó
nc Pháp là 1 QG đa Đảng nhưng ko có Đảng nổi trội → ko có Đảng nào chiếm đc đa số ghế trg Hạ viện → CP liên minh giữa các Đảng phái → CP liên minh là
1 chính phủ sống chung chính trị, đồng sàng dị mộng → do chính thể đại nghị quá đề cao NV
và trao quá nhiều quyền lực cho NV dễ dẫn đến tình trạng NV lạm quyền, độc tài của số đông → NV sẵn sàng bỏ phiếu bất tín nhiệm lật
đổ CP → chính trường của Pháp chính vì thế vô cùng bấp bênh, bất ổn Chứng minh: trg 169 năm nc Pháp thay đổi
16 bản HP, và trải qua 5 nên CH khác nhau, chỉ tính riêng trg nên CH thứ 4 kéo dài 1946-1958 đúng 12 năm ghi nhận đến 24 đời Thủ tướng với 24 đời CP → làm cho nc Pháp suy yếu và bất ổn → chỉ tính riêng
Trang 28quyền lực đó độc lập hoàn toàn nhau, ko lập trên cơ sở của nhau, ko chịu trách nhiệm ko báo cáo công tác, ko bất tín nhiệm, ko lật đổ nhau từ đó mới có sự khách quan trg việc kiểm soát quyền lực.
Nhìn chung chế định Tổng thống của nc Mỹ Anh quốc là trùm, sản sinh ra của chính thể đại nghị và góp phần hình thành chính thể
CH Tổng thống, hình thành CH hỗn hợp sau này cơ sở hình thành mọi định chế dân chủ.
trg năm 1954 do NV và
CP lục đục bất ổn cho nên người Pháp nhận đc
2 sự kiện đc ví như 2 cú tát thẳng vào mặt, báo hiệu cho sự cáo chung của lý thuyết NV tối cao của chính thể đại nghị,
đó là sự thành công của
CM giải phóng dân tộc của Angery và chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
- Trc bối cảnh đó 1958, nền CH thứ 5 đc thiết lập và De Gaulle lên làm Tổng thống De Gaulle ko chấp nhận nhạt nhòa bên cạnh NV nên De Gaulle quyết tâm đoạn tuyệt với CH đại nghị truyền thống →
De Gaulle đã mang hình ảnh Tổng thống Mỹ bên kia bờ đại dương vào nc Pháp và pha trộn với 1 vài yếu tố phù hợp của chính thể đại nghị để từ
đó tạo ra chính thể CH hỗn hợp Như vậy bằng
sự sáng tạo của De Gaulle bang bản HP
1958 thì nc Pháp đc coi như đã có 1 hình hài, 1 gương mặt mới và nc Pháp đã lấy lại vị thế là người khai sáng hiện nay có tới 54 nc chọn
CH hỗn hợp làm gương mặt đại diện (đã có những QG từng chọn
CH Tổng thống và CH đại nghị nhưng đã từ bỏ
để chọn CH hỗn hợp cho đến ngày nay) Từ năm 1958 đến nay chính trường của nc Pháp đã dần ổn định hơn và nền
CH thứ 5 vẫn phát huy những ưu điểm và bền vững cho đến ngày nay.
Để nói 1 cách đầy đủ và chính xác về CH hỗn hợp giới phê bình, lý luận nhận định như sau: nếu QG nào đó lo ngại
về sự độc tài của Tổng
Trang 29thống thì hãy chọn chính thể đại nghị; còn
QG nào lo ngại về sự độc tài của số đông NV thì hãy chọn CH Tổng thống; còn nếu QG nào
lo ngại về sự độc tài của
có nguy cơ lạm quyền, sai quyền, tham nhũng, hối lộ rất lớn cho nên để kiểm soát hành pháp chính thể đại nghị trói buộc CP vào NV, dùng NV để áp chế, kiểm soát CP, để NV lập ra CP, chất vấn,
bỏ phiếu tín nhiệm CP Tuy nhiên yếu tố Đảng chính trị đã làm biến dạng chính thể đại nghị theo 1 trg 2 hướng sau:
- Hướng thứ nhất: đối với những QG
lưỡng đảng như Anh quốc hay theo cơ chế đa đảng có đảng nổi trội như Nhật Bản, Singapore thì ở nhwunxg QG này luôn luôn có 1 Đảng chiếm đc đa số ghế trg NV (Hạ viện) và thủ lĩnh của Đảng
đó trở thành Thủ tướng → Thủ tướng rất may mắn, rất thực quyền bởi vì kiểm soát đc CP ko những thế kiểm soát luôn
NV (Hạ viện) vì Thủ tướng còn là Chủ tịch của Đảng chiếm đa số ghế → Thủ tướng muốn gì đc đó Sự kiểm soát, phê bình của NV đối với CP chỉ mang tính hình thức, cho có, góp ý mang tính xây dựng NV ko bao giờ quyết liệt làm đến cùng vì suy cho cùng việc việc phê bình, làm đến cùng chẳng khác nào vạch áo cho người xem lưng, vạch mặt Đảng cầm quyền → NV (Hạ viện) ko bao giờ bất tín nhiệm và lật đổ CP (chẳng khác nào dọn đường cho Đảng đối lập lên cầm quyền) Nhưng ở chiều ngược lại Thủ tướng vẫn có thể sử dụng quyền giải tán
NV trc hạn để bầu cử sớm nhưng cần lưu
ý Thủ tướng nếu có giải tán Hạ viện trc hạn thì cũng ko phải vì giữa Thủ tướng
và Hạ viện mâu thuẫn nhau mà chẳng qua vì những mưu toan chính trị của Thủ tướng ở chỗ Thủ tướng giải tán Hạ viện với đk việc giải tán này phải có lợi cho Đảng của ông ta (Thủ tướng tin rằng nếu
có giải tán Hạ viện trc hạn thì dân sẽ bầu
Mục đích của James Madison sáng tạo ra
CH Tổng thống là James Madison muốn 2 nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp
“nhà ai nấy ở việc ai nấy làm” và ko cho 2 nhánh quyền lực này đc bàn bạc, thỏa thuận, bắt tay, mặc cả có như vậy việc giám sát chéo mới hiệu quả Tuy nhiên yếu
tố Đảng chính trị đã làm biến dạng mục đích ban đầu của chính thể
CH Tổng thống theo 1 trg 2 hướng sau đây
+ Hướng thứ nhất: Nếu
giữa Tổng thống với
NV Mỹ là người cùng 1 Đảng 1 phe với nhau (khả năng này rất hiếm xảy ra đv nc Mỹ bởi vì người Mỹ rất là tỉnh và
họ có tâm lý là họ thường bầu Tổng thống
là người của Đảng này thì họ bầu cho khối đa
số trg Thượng viện và
Hạ viện Mỹ là người của Đảng đa số khác)
→ họ muốn như vậy để
có sự kiểm soát nhau mới khách quan Do nhiệm kỳ của Tổng thống và Thượng viện,
Hạ viện Mỹ lệch nhau (nhiệm kỳ của Tổng thống 4 năm, Thượng viện 6 năm, Hạ viện 2 năm) cho nên sẽ có những lúc Tổng thống với NV Mỹ cùng 1 Đảng 1 phe nhưng đây
Như đã phân tích CH hỗn hợp là sự sáng tạo của Degaulle nhưng Đảng chính trị làm biến dạng CH hỗn hợp làm cho CH hỗn hợp nhiều nguy cơ bất trách → Đảng chính trị cũng làm biến dạng CH hỗn hợp 1 trg 2 hướng sau:
+ Hướng thứ nhất: nếu
Tổng thống với khối đa
số trg NV (Hạ viện) là người cùng 1 Đảng, 1 phe với nhau, vd trường hợp Tổng thống Putin hiện nay, Putin là người cùng phe khối đa số trg
NV → Tổng thống sẽ lựa chọn Thủ tướng là người cùng phe vs mình
và dễ dàng đc Hạ viện thông qua → tất cả các
Bộ trường trg CP đều cùng Đảng cùng phe với Tổng thống, Thủ tướng
→ 1 điều rất may mắn, rất vinh dự cho Tổng thống → Tổng thống ko chỉ kiểm soát đc NV mà còn kiểm soát luôn cả
CP, lúc bấy giờ Thủ tướng trg CH hỗn hợp chẳng khác nào người giúp việc cho Tổng thống, Thủ tướng lúc bấy giờ chẳng khác nào Tổng thống ở nước Mỹ, lúc này Tổng thống nắm hoàn toàn quyền hành pháp → trong trường hợp này đã bị biến dạng thành CH Tổng thống Thậm chí Tổng thống trg CH hỗn hợp còn 2