SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÍCH HỢP CÁC CÂU HỎI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TIỄN ĐỜI SỐNG NHẰM TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÍCH HỢP CÁC CÂU HỎI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TIỄN ĐỜI SỐNG NHẰM TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC PHẦN “SINH HỌC VI SINH VẬT” SINH HỌC 10
Người thực hiện: Trịnh Bá Hưng Chức vụ: Giáo viên
SKKN môn: Sinh học
THANH HOÁ NĂM 2013
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Phạm vi đề tài 2
5 Nội dung đề tài 2
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: 2
1.Cơ sở lí luận của đề tài 2
1.1 Vì sao cần tích hợp các câu hỏi liên quan đến thực tiễn đời sống trong giờ dạy bài học về “Vi sinh vật”- sinh học 10 2
1.1.1: Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp: 3
1.1 2: Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn đời sống 4
1.1.3: Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả định bằng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống 4
2 Thực trạng sử dụng các câu hỏi liên quan thực tiễn đời sống 4
3 Nội dung vấn đề: 7
3.1 Một số hình thức áp dụng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống trong tiết dạy: 7
3.1.1 Đặt tình huống vào bài mới 7
3.1.2 Lồng ghép tích hợp kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống về môi trường vào bài dạy 7
3.1.3 Liên hệ kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống trong bài dạy 7
3.2 Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng phần “ Sinh học- vi sinh vật”- Sinh học 10 8
3.2.1 Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng thuộc Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật 8
3.2.2 Hệ thống bộ câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng thuộc Chương II: Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật 11
3.2.3 Hệ thống bộ câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng thuộc Chương III: Virut và bệnh truyền nhiễm 13
4 Kết quả cụ thể: 15
5.Tự đánh giá: 16
C KẾT LUẬN: 17
1 Kết quả nghiên cứu: 17
2 Đề xuất: 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3TÍCH HỢP CÁC CÂU HỎI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TIỄN ĐỜI SỐNG NHẰM TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC PHẦN “ SINH HỌC VI SINH VẬT” SINH HỌC 10
Với bộ môn sinh học mà tính thực nghiệm được gắn liền với các bài giảng hàngngày thì việc định hướng đổi mới phương pháp dạy học cũng phải có sự khác biệtnhiều so với các môn học khác Ngoài các phương pháp dạy học tích cực được sửdụng thường xuyên như: Thảo luận nhóm, Nêu vấn đề Nhằm nâng cao khả năngtiếp thu, tính chủ động, sáng tạo trong học tập bộ môn Sinh học của học sinh thìviệc gắn các kiến thức, ứng dụng thực tế bộ môn vào các bài giảng hàng ngày tronggiảng dạy Sinh học ở các trường THPT hiện nay ít được chú trọng, nếu không nói
là bỏ quên Đối với môn Sinh học : các khái niệm, quy luật, các hiệntượng… nhiều khi rất trìu tượng, khó hiểu, khô cứng làm học sinh khó tiếp thu, dễnhàm chán, đặc biệt với các học sinh có tư duy không tốt sẽ có xu hướng dẫn đến
sợ bộ môn Sinh học
Xuất phát từ những thực tế đó và với kinh nghiệm trong giảng dạy bộ môn sinhhọc, tôi nhận thấy để nâng cao hứng thú học bộ môn Sinh học của học sinh, từ đó dầnnâng cao chất lượng bộ môn Sinh học ở trường phổ thông hiện nay , người giáo viênngoài phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm các hiệntượng, ứng dụng thực tiễn trong đời sống đưa vào bài giảng bằng nhiều hình thức khácnhau nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo niềm tin, niềm vui, hứng
thú trong học tập bộ môn Từ những lí do đó tôi chọn đề tài: “Tích hợp các câu hỏi có
liên quan đến thực tiễn đời sống nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học sinh học phần: Sinh học vi sinh vật- sinh học 10”.
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống một số câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống thuộckiến thức bộ môn sinh học cho các bài giảng thuộc phần “Vi sinh vật”- Sinh học 10trong chương trình THPT Vận dụng hệ thống các hiện tượng, ứng dụng thực tếtrong cuộc sống đã xây dựng để dạy học Sinh học nhằm giáo dục ý thức và tănghứng thú học tập bộ môn cho học sinh
3 Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu tài liệu.
- Qua các tiết thực nghiệm trên lớp
- Điều tra hiệu quả của phương pháp qua phiếu điều tra, qua chất lượng học tập củahọc sinh
4 Phạm vi đề tài
Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng kiến thức gắn với thực tế bộ môn để dạyhọc Sinh học theo hướng dạy học tích cực trong phạm vi dạy học các bài dạy về
“Sinh học vi sinh vật” sinh học 10 ở trường THPT
5 Nội dung đề tài
Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng thí nghiệm một cách tích cực khi dạy cácbài học về “Sinh học vi sinh vật” sinh học 10 ở trường THPT trên các mặt:
Lý luận về phương pháp
Hệ thống bộ câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống được khai thác nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.Cơ sở lí luận của đề tài
1.1 Vì sao cần tích hợp các câu hỏi liên quan đến thực tiễn đời sống trong giờ dạy bài học về “Vi sinh vật”- sinh học 10.
Để đáp ứng được phương pháp “Dạy học sinh học gắn với thực tế bộ môn” theohướng dạy học tích cực” thì phải nói đến vị trí, vai trò của các ứng dụng sinh họctrong thực tiễn cuộc sống hàng ngày Nếu các kiến thức thực tiễn được sử dụngtheo đúng mục đích sẽ là nguồn HS khai thác, tìm tòi phát hiện kiến thức, giúp pháthuy tính tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy năng lực nhận thức và tư duy khoahọc sinh học
Trang 5Ứng dụng sinh học vào thực tế cuộc sống là một yếu tố đặc trưng trong hoạtđộng dạy học, giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học sinhhọc ở trường phổ thông.
Đối với học sinh THPT các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệp cho tươnglai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ thích môn nào mình học cókết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó Người giáo viên dạysinh học phải biết nắm tâm lý và đặc điểm lứa tuổi của học sinh, trong đó phươngpháp dạy học bằng cách khai thác các hiện tượng, ứng dụng sinh học thực tiễntrong tự nhiên và trong đời sống hàng ngày để các em thấy môn sinh học rất gầngũi với các em Giáo viên phải tổ chức được các hoạt động tự lực học tập cho họcsinh theo những cơ sở lí luận sau:
1.1.1: Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp:
Với sự bùng nổ của các thành tựu khoa học trong các lĩnh vực: Vật lí, Sinhhọc, Hóa học…nên chương trình đào tạo cũng được phân chia thành các mảng kiếnthức tương đối tách rời, cô lập với những khái niệm chi tiết khó nhớ Xu hướnghiện nay trong dạy học sinh học nói riêng và trong các lĩnh vực khoa học nóichung, người ta cố gắng trình bày cho học sinh thấy mối quan hệ hữu cơ của cáclĩnh vực không những của sinh học với nhau mà còn giữa các ngành khoa học khácnhau như: sinh học, toán học, vật lí,…Khi dạy kiến thức sinh học bất kể từ lĩnh vựcnào: Sinh học tế bào, sinh học vi sinh vật, di truyền học …đều liên quan đến kiếnthức vật lí, hóa học hay nhiều hiện tượng thiên nhiên, hoặc kiến thức thành phầnhóa học của tế bào: gluxit, lipit, protein,…đều liên quan đến kiến thức hóa học, nênkhi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp sẽ làm cho học sinh chủđộng tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được sự liên hệ giữa các môn học với nhau
Ví dụ: khi học hóa học ta giải thích hiện tượng: Tại sao nước một số sông hồ
có màu den đó là do H 2 S trong nước ao kết hợp với Fe để tạo thành FeS kết tủa, Thì với sinh học các em sẽ hiểu rõ hơn trong các môi trường kị khí như bùn trong các ao, sông, hồ một số vi sinh vật phân giải chất hữu cơ bắt nguồn từ xác thực vật, vận chuyển Ion và electron đến chất nhận electron cuối cùng là SO 42- được gọi
là hô hấp sunphat Quá trình hô hấp này tạo ra khí H 2 S, khí này kết hợp với Fe có trong ao tạo ra Fes làm nước ao có màu đen.
Tuy nhiên để dạy theo cách tích hợp như trên, người giáo viên phải biết chọnnhững vấn đề quan trọng, mấu chót nhất của chương trình để giảng dạy còn phầnkiến thức dễ hiểu nên hướng dẫn học sinh về nhà đọc SGK hoặc các tài liệu thamkhảo Ngoài ra giáo viên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễn phù hợp với nộidung bài mới tăng hứng thú, say mê học tập, tìm hiểu bộ môn
Trang 6Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng các hiệntượng, ứng dụng thực tiễn, ngoài giúp học sinh chủ động, tích cực say mê học tậpcòn lồng ghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường, chăm sóc vàbảo vệ sức khỏe con người thông qua các kiến thức thực tiễn đó Đây cũng làhướng đi mà ngành giáo dục nước ta đang đẩy mạnh trong các năm gần đây.
1.1 2: Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn đời sống.
Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và họcgiáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa vớithực tiễn đời sống hàng ngày Rất nhiều kiến thức sinh học có thể liên hệ được vớicác hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta
Ví dụ: Tại sao dưa cà muối lại bảo quản được lâu?
Giải thích:Khi muối dưa cà, axitlactic do vi khuẩn lactic tiết ra cùng với nồng độ
muối cao kìm hãm sinh trưởng của các vi sinh vật khác, đặc biệt là vi sinh vật gây thối rau quả.
1.1.3: Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả định bằng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống.
Trong quá trình dạy học nếu ta chỉ áp dụng một kiểu dạy thì học sinh sẽ nhàmchán Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vào nhau,trong đó hình thức giảng dạy bằng cách đưa ra các tình huống giả định kèm vào cácphương pháp dạy để học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo củahọc sinh vừa tạo được môi trường thoải mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinhthêm yêu thích môn học hơn
Ví dụ: Khi học bài: Ảnh hưởng của các yếu tố hóa học đến sinh trưởng của vi
sinh vật- sinh học 10 nâng cao, GV có thể đưa ra tình huống: Vì sao muốn bảo quản thịt cá người ta có thể bảo quản bằng cách ướp muối? HS sẽ nhanh chóng trả lời đó là do muối đã ức chế sự phát triển của vi sinh vật trong thịt, cá Tuy nhiên nếu hỏi vì sao muối lại có khả năng ức chế vi sinh vật thì học sinh không dễ giải thích được: Muối làm tăng cao áp suất thẩm thấu, rút nước trong tế bào vi khuẩn là tác nhân gây hỏng thực phẩm và làm tế bào đó chết.
Tình huống mang tính thách đố như vậy sẽ kích thích học sinh học tập và thi đua nhau tìm câu trả lời Các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn
2 Thực trạng sử dụng kiến thức gắn với thực tiễn đời sống trong bài dạy về
“Vi sinh vật” ở trường THPT
Chương trình Sinh học trung học phổ thông ở nước ta hiện nay (thể hiện thông qua nội dung sách giáo khoa của các lớp 10, 11 và 12) bao gồm nhiều phần khác nhau
Trang 7như: Di truyền học, tế bào học, sinh học vi sinh vật … Mỗi phần được thể hiệnbằng nhiều đơn vị kiến thức khác nhau, tương ứng với các cách tiếp cận kiến thứckhác nhau Những tưởng rằng, với một khối lượng kiến thức đồ sộ như vậy, thực tếcuộc sống của các em sẽ vô cùng phong phú, các em hoàn toàn có khả năng làmchủ được kiến thức của mình, việc vận dụng kiến thức của các em trong đời sốngthức tế ở chính gia đình của mình, việc giải thích những hiện tượng xảy ra hàngngày xung quanh các em chỉ là “vấn đề đơn giản” Nhưng điều đó đã không diễn
ra trên thực tế như những gì chúng ta mong đợi
Sau khi học xong chương trình sinh học 10, nhiều học sinh còn ngỡ ngàng khi
ăn sữa chua, các em không biết quy trình làm thế nào, thậm chí nhiều em còn chưabiết cả thành phần và tác dụng của nó
Với kiến thức về sinh học phân tử, sinh học tế bào, sinh học vi sinh vật, ở trênlớp các em có thể mô tả một cách đầy đủ và chính xác về Cấu trúc axit nucleotit,cấu trúc protein, cấu trúc virut, nêu đúng những định nghĩa, khái niệm về sinhtrưởng của vi sinh vật, cấu trúc các loại virut, bệnh truyền nhiễm Thế nhưng, vớinhững câu hỏi đại loại như: “Lấy thêm một số thí dụ ứng dụng trong thực tế vềphân giải vi sinh vật, bệnh do virut ”, cũng thực sự làm cho các em lúng túng.Nhiều học sinh còn không thể giải thích được những hiện tượng rần gần gũi với đờisống: Tại sao khi muối dưa, cà nếu không để ráo nước trước khi muối thì dưa dễ bịnổi váng? hay tại sao virut HIV chỉ lây từ người này sang người khác mà không lâysang vật nuôi?
Các kiến thức sinh học về vi sinh vật lẽ ra phải là một trong các cơ sở tốt nhất đểcác em vận dụng vào thực tiễn, nhưng điều đó dường như vẫn còn “xa vời” đối vớicác em Quan sát bao bì một loại bột giặt thấy trong thành phần có chứa enzim,chắc hẳn vẫn còn là một “điều lạ” đối với một bộ phận học sinh hiện nay! Tương tựnhư thế, chắc hẳn kiến thức về các quy luật, các khái niệm đối với học sinh phổthông hiện nay có lẽ vẫn chỉ là nội dung các khái niệm, cách giải các bài tập, chúng còn “nằm yên” một cách khiêm tốn trên những trang vở, chúng tôi có cảmgiác vẫn còn thiếu một cái gì đó để có thể “đánh thức” chúng dậy, làm cho chúngtrở thành một trong những hành trang tốt trong cuộc sống của mỗi học sinh
Tôi cũng đã trao đổi vấn đề này với nhiều đồng nghiệp ở một số địa phươngkhác nhau, hầu như họ cũng có nhận định như vậy, thậm chí nhiều giáo viên giảngdạy ở khu vực nông thôn, miền núi khó khăn hơn cho biết thực trạng trên còn cóthể xấu hơn
Trăn trở với thực trạng đáng buồn trên, tôi đã thử đi tìm đâu là những nguyênnhân cơ bản của vấn đề và những nguyên nhân ấy bộc lộ dưới những hình thứcnào?
Theo tôi, nguyên nhân cơ bản và là nguyên nhân khách quan đầu tiên phải kểđến, là sự quá tải của chương trình Nội dung kiến thức trong phần lớn các bài học
là quá nhiều, không thích ứng với thời gian quy định của mỗi tiết học Thực tế
Trang 8giảng dạy cho thấy, với thời gian 45 phút của một tiết học, nếu chỉ sử dụng mộtcách “tiết kiệm” nhất: 2 phút để ổn định lớp, 5 phút để kiểm tra bài cũ (chủ yếu làkiểm tra những kiến thức rất cơ bản), 3 phút để củng cố bài (thực chất chỉ đủ đểnhắc lại những kiến thức chính vào cuối tiết học) thì thời gian còn lại chỉ là 35 phútdành cho thầy và trò tiến hành các hoạt động nhận thức của bài học Trong khoảngthời gian này, với nội dung kiến thức tương đối nhiều, việc làm cho học sinh hiểuđược kiến thức bài học thôi cũng đã là khó khăn, giáo viên không còn đủ thời gian
để liên hệ kiến thức mà học sinh vừa lĩnh hội được với thực tế đời sống, hoặc nếu
có liên hệ được thì cũng chỉ dưới hình thức liệt kê tên gọi của các sự vật, hiệntượng mà thôi
Nguyên nhân thứ hai là việc giảng dạy kiến thức cho học sinh nói chung vàkiến thức sinh học nói riêng ở nhiều trường vẫn còn tiến hành theo lối “thông báo -tái hiện” Do những khó khăn nhất định về kinh phí, cơ sở vật chất, thiết bị mànhiều trường trung học phổ thông đã chưa khuyến khích được giáo viên đổi mớiphương pháp dạy học, không tạo được cho họ những điều kiện tốt để có thể sửdụng các hình thức dạy học tiên tiến (sử dụng các phương tiện dạy học như tranhảnh tự làm, tự sưu tầm, máy tính, thực hiện các tiết học bằng bài giảng điện tử, dãngoại ) và do đó lối “dạy chay” vẫn là cách dạy học ngự trị ở nhiều trường trunghọc phổ thông hiện nay
Nguyên nhân thứ ba thuộc về chủ quan của mỗi giáo viên đứng lớp, nhiều giáoviên chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng, giáo án còn thiên về cung cấp kiếnthức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi trọng việc soạn và sử dụng bài giảngtheo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, điều này làm cho họcsinh khá thụ động trong việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức Cũng phải thừa nhậnrằng, nhiều địa phương hiện nay còn thiếu các tài liệu liên quan đến câu hỏi thực tế,thiếu các phương tiện nghe nhìn, thiếu các thông tin dưới dạng băng đĩa hình, thiếucác tài liệu lí luận về đổi mới phương pháp dạy học, nhất là các trường ở vùng nôngthôn và miền núi Điều đó gây không ít khó khăn cho giáo viên khi xây dựng bàigiảng theo ý muốn của mình
Nguyên nhân thứ tư không thể không nhắc tới là cách kiểm tra đánh giá hiệnnay Nội dung các bài thi và kiểm tra ở nhiều trường phổ thông chủ yếu tập trungvào nội dung kiến thức mà chưa có những câu hỏi mang tính vận dụng kiến thứcvào thực tiễn, đây chính là một “khe hở” khá rộng, một nguyên nhân khá rõ để giảithích cho thực trạng nêu trên Mặt khác học sinh THPT hiện nay học tập mang tínhthực dụng, tức là các em chỉ tập trung học các môn phục vụ cho khối thi Đại học-cao đẳng Do xu thế xã hội về khả năng cơ hội việc làm nên ở những vùng thuầnnông như trường THPT Yên Định 3 chúng tôi số lượng học sinh theo khối B rất ít,chủ yếu các em học môn sinh để thi được hai khối
Giải quyết thực trạng trên như thế nào? đó là một vấn đề khó Như đã nêu trên,Tôi chỉ xin đưa ra một số giải pháp mang tính đơn lẻ, mong rằng những giải pháp
Trang 9này có thể giúp ích cho chúng ta cải thiện được ít nhiều thực trạng trên, nhằm giúphọc sinh hứng thú học tập thông qua thực tế bộ môn.
3 Nội dung vấn đề:
3.1 Một số hình thức áp dụng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống trong tiết dạy:
3.1.1 Đặt tình huống vào bài mới.
Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không nhờ vào người hướng dẫn(giáo viên) rất nhiều Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết đặt ramột tình huống thực,tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùng tìmhiểu, giải thích qua bài học sẽ cuống hút được sự chú ý của học sinh trong tiết dạy
3.1.2 Lồng ghép tích hợp kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống về môi trường vào bài dạy.
Vấn đề môi trường: nước, không khí, đất, đang được con người nhắc đến rấtnhiều Trong cuộc sống hằng ngày các hiện tượng thường xuyên bất gặp như: nướcthải của một ao cá, chuồng heo, chuồng vịt ; khói bụi của các nhà máy xay lúa,các lò gạch, các cánh đồng sau thu hoạch, có liên quan gì đến những diễn biến bấtthường của thời tiết hiện nay không Giáo viên dạy học bộ môn sinh có thể lồngghép các hiện tượng đó vào phần sản xuất các sản phẩm sinh học , hay ứng dụngcủa một số vi sinh vật Ngoài việc gây sự chú ý của học sinh trong tiết dạy còngiáo dục ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường cho từng học sinh Tùy vào thựctrạng của từng địa phương mà ta lấy các hiện tượng cho cụ thể và gần gủi với cácem
3.1.3 Liên hệ kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống trong bài dạy.
Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộc sống thìcác em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ hơn Do đó mỗibài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ýcủa học sinh Giáo viên cũng cần chú ý khi sử dụng các hiện tượng sinh học thựctiễn nên khéo léo trong giải thích vấn đề, vì cấp độ bộ môn sinh ở THPT nhiều khichưa tìm hiểu sâu quá trình diễn biến của sự việc hay hiện tượng Do đó giáo viênphải biết lựa chọn cách giải thích cho phù hợp, nếu học sinh tỏ ra tìm tòi hơn chúng
ta có thể khích lệ, mở ra hướng giáo dục vai trò quan trọng của bộ môn mà các em
sẽ được tìm hiểu ở các cấp cao hơn
Trang 103.2 Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng phần “ Sinh học- vi sinh vật”- Sinh học 10.
3.2.1 Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng thuộc Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật Câu 1: Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta ngửi thấy
mùi khai ?
Giải thích : Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu đạm như
nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ… thì lượng urê trong các chất hữu cơ nàysinh ra nhiều Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, urê bị phân hủytiếp thành CO2 và amoniac NH3 theo phản ứng:
(NH2)2CO + H2O CO2 + 2NH3NH3 sinh ra hòa tan trong nước sông, hồ dưới dạng một cân bằng động Nhưvậy khi trời nắng (nhiệt độ cao), NH3 sinh ra do các phản ứng phân hủy urê chứatrong nước sẽ không hòa tan vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làm chokhông khí xung quanh sông, hồ có mùi khai khó chịu
Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp quanh hồ, ao, nhất là vào mùa khô, nắng
nóng Giáo viên có thể nêu vấn đề để chuyển sang mục “Hô hấp và lên men” bài33- sinh học 10 nâng cao
Câu 2: Vì sao không nên bón Phân đạm cùng với phân chuồng trên những ruộng
lúangậpnước?
Giải thích: Vi khuẩn phản nitrat hóa có khả năng dùng nitrat chủ yếu làm chất
nhận điện tử Tùy theo loài vi khuẩn mà sản phẩm của khử nitrat dị hóa là N2, N2Ohay NO, đây đều là những chất mà cây trồng không hấp thụ được Quá trình phảnnitrat hóa xảy ra mạnh khi đất bị kị khí như khi dùng phân đạm (nitrat) cùng vớiphân chuồng trên những ruộng lúa ngập nước, phân nitrat dùng bón cho lúa bịnhóm vi khuẩn này sử dụng rất nhanh, nitrat có thể mất hết rất nhanh mà cây trồngkhông kịp sử dụng
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài ở Bài 22:
Dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật- sinh học 10 nângcao
Câu 3: Chữ “sinh học” trong bột giặt sinh học là gì và tác dụng của nó?
Giải thích: Chữ “Sinh học trong bột giặt sinh học có nghĩa là bột giặt chứa một
hoặc nhiều loại enzim để tẩy sạch một số vết bẩn Các enzim đó là các enzim ngoạibào của vi sinh vật, có thể được sử dụng rộng rãi, ví dụ amilaza để loại bỏ tinh bột,proteaza loại bỏ protein, lipaza loại bỏ mỡ
Áp dụng: Ngày nay người ta Sản xuất các chất xúc tác sinh học là các enzim ngoại
Trang 11bào của vi sinh vật được sử dụng phổ biến trong đời sống con người và trong nền kinh tế quốc dân trong đó có bột giặt và nhiều ứng dụng khác như:
- Amilaza (thuỷ phân tinh bột) được dùng khi làm tương, rượu nếp, trong công nghiệp sản xuất bánh kẹo, công nghiệp dệt, sản xuất xirô
- Prôtêaza (thuỷ phân prôtêin) được dùng khi làm tương, chế biến thịt, trong công nghiệp thuộc da, công nghiệp bột giặt
- Xenlulaza (thuỷ phân xenlulôzơ) được dùng trong chế biến rác thải và xử lí các bãthải dùng làm thức ăn cho chăn nuôi và sản xuất bột giặt
- Lipaza (thuỷ phân lipit) dùng trong công nghiệp bột giặt và chất tẩy rửa…
Giáo viên có thể sử dung câu hỏi này để dẫn dắt vào phần ứng dụng quá trình tổng hợp các chất ở vi sinh vật- sinh học 10
Câu 4: Tại sao trâu bò lại đồng hóa được rơm, rạ, cỏ giàu chất xơ?
Giải thích: Trong dạ cỏ của trâu, bò chứa các vi sinh vật, trong các vi sinh vật đó
chứa các enzim có khả năng phân giải xenlulozo, heemixenlulozo và pectin trongrơm rạ thành các chất dơn giản mà cơ thể hấp thụ được
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng đặc điểm quá trình
phân giải và ứng dụng các chất ở vi sinh vật
Câu 5: Tại sao khi nướng bánh mì lại trở lên xốp?
Giải thích: Khi làm bánh mì, ngoài bột mì ra thì một thành phần không thể thiếu là
nấm men, đây là những vi sinh vật sinh sản nhanh và biến đường, ôxi có trong bột
mì thành khí cacbonic, sinh khối và vitamin Khí cacbonic trong bột sẽ giãn nở vàtăng thể tích khi nướng nên làm bánh mì nở, rỗng ruột và trở nên xốp hơn
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho bài 35: Quá trình phân giải các chất
ở vi sinh vật và ứng dụng nhằm giúp học sinh hiểu được lợi ích của vi sinh vật trong thực tiễn
Câu 6: Trong làm tương và làm nước mắm có sử dụng cùng một loại vi sinh vật
không?
Giải thích: Không, vì làm tương nhờ nấm vàng hoc cau là chủ yếu, loại nấm này
tiết ra proteaza để phân giải protein trong đậu tương Làm nước mắm nhờ vi khuẩn
kị khí trong ruột cá là chủ yếu, chúng sinh ra proteaza để phân giải protein của cá
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng ứng dụng quá trình
phân giải protein
Câu 7: Người ta đã áp dụng hình thức lên men nào trong muối dưa, cà? Làm thế
nào để muối được dưa, cà ngon?
Giải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn lactic.
Muốn muối dưa, cà ngon phải tạo điều kiện ngay từ đầu vi khuẩn lactic lấn át được