1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) phương pháp xây dựng câu hỏi nêu vấn đề và câu hỏi định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong giờ dạy – học môn ngữ văn ở trường THPT

31 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Pháp Xây Dựng Câu Hỏi Nêu Vấn Đề Và Câu Hỏi Định Hướng Phát Triển Năng Lực Cho Học Sinh Trong Giờ Dạy – Học Môn Ngữ Văn Ở Trường THPT
Tác giả Lê Thị Hoa
Trường học Trường THPT Thọ Xuân 5
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 282,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCSỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT THỌ XUÂN 5 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ VÀ CÂU HỎI ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRO

Trang 1

MỤC LỤC

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT THỌ XUÂN 5

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ VÀ CÂU HỎI ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRONG GIỜ DẠY – HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT

Người thực hiện: Lê Thị Hoa Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn

THANH HOÁ, NĂM 2020

Trang 2

MỤC LỤC

1 PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 Lí do chọn đề tài ………….……… …… 1

1.2 Mục đích nghiên cứu ………….……… …… 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu………….……… 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu………….……… 2

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ……… 3

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài ……… 3

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm……. 3

2.2.1 Thuận lợi 3

2.2.2 Khó khăn 3

2.3 Cách thức thực hiện……… 4

2.3.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề 4

2.3.1.1 Câu hỏi tình huống bất ngờ 4

2.3.1.2 Câu hỏi tình huống thuẫn

2.3.1.3 Câu hỏi tình huống lựa chọn

2.3.1.4 Câu hỏi tình huống giả định

2.3.1.5 Câu hỏi tình huống phản bác (tranh luận)

2.3.2 Xây dựng câu hỏi định hướng phát triển năng lực cho học sinh

2.3.2.1 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản

2.3.2.2 Năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ

2.3.2.3 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận nội dung văn bản

2.3.2.4 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực giải quyết các tình huống đặt ra trong văn bản

2.3.2.5 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp ………

2.3.2.6 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng loại thể ………

2.3.2.7 Định hướng xây dựng câu hỏi bài tập đánh giá năng lực học sinh … 2.4.1.1 Kết quả về mặt đổi mới phương pháp

5 6 7 7 8 8 8 9 9 10 11 12 13 13 13 14 14 15 2.4 Hiệu quả áp dụng đề tài ……… ……

2.4.1 Hiệu quả đối với hoạt động giáo dục học sinh …………

Trang 3

15 16

2.4.1.2 Kết quả về chất lượng kiểm tra, đánh giá ………

2.4.2 Hiệu quả đối với bản thân, đồng nghiệp, nhà trường ……

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

3.1 Kết luận………

3.2 Kiến nghị, đề xuất……….

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN ĐÃ ĐƯỢC XẾP LOẠI TỪ C

TRỞ LÊN

PHỤ LỤC

Trang 4

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Đổi mới căn bản, toàn diện là yêu cầu của ngành Giáo dục hiện nay Việc xâydựng, áp dụng những hướng tiếp cận, phương pháp mới trong dạy học bộ môn

để nâng cao hiệu quả dạy và học là yêu cầu phải được giải quyết Đặc biệt, với

xu hướng học lệch, học theo ban, chọn ngành nghề, theo khối hiện nay đã tạo rarất nhiều bất cập trong việc lựa chọn môn học Các môn xã hội có xu hướng bịcoi nhẹ Môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài xu hướng ấy

Vì vậy trong dạy học môn Ngữ văn việc tạo hứng thú, nâng cao năng lực họctập cho học sinh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc “Đổi mới cănbản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo trong đó phải “Tập trung đổi mới phươngpháp dạy học” theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của người học, lấyhọc sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học để phù hợp với xu thế của thờiđại mới Tuy nhiên, đối với đối tượng học sinh của Trường THPT Thọ Xuân 5,chất lượng đầu vào thấp, ý thức học tập của nhiều học sinh còn chưa tốt Việctìm ra một phương pháp dạy học có hiệu quả, chú trọng phát triển năng lựcngười học là một thách thức lớn đối với mỗi thầy cô giáo nói riêng và với ngànhGiáo dục nói chung

Theo phương pháp đổi mới dạy – học thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh

“Đọc – hiểu” tác phẩm văn chương Khái niệm “Đọc – hiểu” ở đây không dừng

ở mức độ hiểu nghĩa thông tin văn bản, “Đọc – hiểu” văn chương là cảm thụ,đánh giá được những giá trị Chân – Thiện – Mĩ của tác phẩm thông qua hệ thống

câu hỏi “Nêu vấn đề”, câu hỏi, bài tập vận dụng theo “định hướng phát triển

năng lực học sinh” [12] Trong giờ đọc văn, muốn xây dựng tình huống “Có vấn đề”, phải biết xây dựng một hệ thống câu hỏi “Nêu vấn đề” và câu hỏi “định hướng phát triển năng lực học sinh” đảm bảo tính nguyên tắc phù hợp với đặc

trưng bộ môn Vấn đề đặt ra là để định hướng năng lực cho học sinh, câu hỏi ápđặt kiến thức bị loại trừ dần, dung lượng câu hỏi cần phù hợp với điều kiệnchuẩn bị ở nhà cũng như năng lực trình độ của đối tượng học sinh củatrường[13]

Để khắc phục thực trạng trên, trong thực tiễn dạy học của bản thân, tôi nhậnthấy, muốn phát huy được tính tích cực của học sinh trong giờ đọc văn thì phảihướng dẫn các em cảm thụ, đánh giá tác phẩm văn chương, chiếm lĩnh được giá

trị nội dung, nghệ thuật [10]của tác phẩm thông qua hệ thống câu hỏi “Nêu vấn

đề” và câu hỏi “định hướng phát triển năng lực học sinh” trong tình huống “Có vấn đề” để học sinh tự mình cảm nhận được cái hay cái đẹp của hình tượng

nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mĩ tác phẩm văn chương cho họcsinh

Từ nhận thức của bản thân kết hợp với quá trình dạy học môn Ngữ văn lớp 12trong những năm học qua, tôi thấy việc đổi mới phương pháp dạy học trong giờ

đọc văn là rất quan trọng Vì vậy tôi chọn đề tài: “Phương pháp xây dựng câu

hỏi nêu vấn đề và câu hỏi định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong giờ dạy – học môn Ngữ Văn ở trường THPT ”.

Trang 5

1.2 Mục đích nghiên cứu

Giúp giáo viên nhận thấy đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đặt câu hỏinêu vấn đề và phát triển năng lực cho học sinh là hợp lý và cần thiết trong giảngdạy môn Ngữ Văn, đặc biệt là các tác phẩm văn chương trong nhà trường

Giúp học sinh đạt hiệu quả trong học Ngữ Văn: Nắm bắt kiến thức đồng thờitác động tích cực trong hình thành nhân cách, lối sống trong sách, lành mạnh;phát triển năng lực học sinh Qua học tập môn Ngữ Văn giúp các em phát triểntoàn diện trở thành công dân tốt cho xã hội

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp xây dựng câu hỏi nếu vấn đề và câu hỏi định hướng phát triểnnăng lực học sinh trong giờ đọc văn” và kinh nghiệm ở một tiết dạy cụ thể, ápdụng cho một đối tượng cụ thể là học sinh lớp 12, Trường THPT Thọ Xuân 5 -Thọ Xuân

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiêncứu sau:

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết : Phương pháp này được tiến hành trên cơ

sở tìm hiểu thu thập nghiên cứu phân tích những thành tựu về lí thuyết đã có đểlàm tiền đề cho giả thuyết khoa học mà mình đặt ra

Phương pháp điều tra khảo sát : Với phương pháp này, chúng tôi chọn đốitượng khảo sát là học sinh lớp 12, Trường THPT Thọ Xuân 5

Phương pháp thực nghiệm : Chúng tôi tiến hành thực nghiệm đối với họcsinh lớp 12A5, 12A7, Trường THPT Thọ Xuân 5

Trang 6

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của đề tài

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình

giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗquan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụngđược cái gì qua việc học[10] Vì vậy, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phươngpháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triểnnăng lực người học

Xuất phát từ đòi hỏi của xã hội với sản phẩm của ngành giáo dục là phải đào

tạo ra những con người có năng lực, có khả năng tìm tòi sáng tạo nên việc dạyvăn, học văn trong nhà trường thực sự cần đổi mới một cách sâu sắc Trong mộtgiờ đọc văn theo phương pháp dạy học mới, đặc biệt là dạy học vận dụng câu

hỏi “Nêu vấn đề” và câu hỏi, bài tập vận dụng theo “định hướng phát triển

năng lực học sinh” đã phát huy được tính tích cực của học sinh trong giờ đọc

văn – lôi cuốn học sinh vào công việc học tập nghiên cứu, làm cho giờ học trởnên sôi nổi hiệu quả

Theo “Lý luận dạy học đại cương” dựa vào đặc trưng của môn Ngữ văn tathấy nổi bật lên 4 phương pháp dạy học: Đọc sáng tạo, gợi tìm vấn đề, nghiêncứu và tái tạo Lý luận văn học hiện đại cũng đã chỉ ra cấu trúc đa tầng của tácphẩm văn chương[11] Vì vậy, việc mở rộng hiểu biết về tác phẩm văn chươngkhông hi vọng một tiết “Đọc văn” có thể khai thác cạn kiệt cái hay, cái đẹp màphải kích thích thế nào để hình tượng nghệ thuật được phát triển và âm vangtrong tâm hồn người đọc Về phương diện lý luận trong việc dạy học tác phẩmvăn chương cần có một lý thuyết câu hỏi xuất phát từ đặc trưng bộ môn

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thuận lợi

Nhà trường có cơ sở vật chất đảm bảo yêu cầu phục vụ giảng dạy như:phòng bộ môn, phòng tin học có nối mạng Internet, thư viện có nhiều đầu sáchtham khảo…

Giáo viên trong tổ nhiệt tình giảng dạy, một số đồng chí có năng lực chuyênmôn đạt thành tích tốt trong các kì hội giảng Đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình,ham học hỏi

2.2.2 Khó khăn

Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn và vận dụng câu hỏi “nêuvấn đề” đồng thời định hướng phát triển năng lực học sinh trong giờ đọc văntrong dạy tác phẩm văn chương ở Trường THPT Thọ Xuân 5 cũng gặp phảinhững khó khăn sau:

Nội dung kiến thức ở tác phẩm văn chương nói chung có thể nói là khó đốivới học sinh Khó là bởi vì có những nội dung kiến thức mang tính trừu tượng,lịch sử, triết lí xã hội; bối cảnh xã hội của tác phẩm khác xa với bối cảnh xã hộihiện tại

Trang 7

Với học sinh Trường THPT Thọ Xuân 5, bên cạnh mặt tích cực nêu trên các

em cũng còn những hạn chế như: còn lười học, mải chơi, tâm lí còn ỷ nại, trôngchờ chưa chủ động tiếp cận kiến thức Đồng thời, nhận thức của học sinh cònhạn chế, chậm tiến so với mặt bằng chung học sinh cả nước; một bộ phận họcsinh có suy thoái về đạo đức gây khó khăn, cản trở việc đổi mới phương pháptrong giảng dạy Ngữ văn Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáodục bộ môn Vì vậy, việc tạo hứng thú cho các em trong các bài học là vấn đề rấtquan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy và học

Về phía giáo viên, tuy nhận thức sâu sắc đổi mới phương pháp trong giảngdạy, song trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc, hạn chế: Giáo lúngtúng, chưa linh hoạt, khiên cưỡng; kĩ năng lựa chọn các đơn vị kiến thức cònhạn chế, đổi mới gò ép, gượng gạo; chủ quan, tùy hứng, thiếu sự chuẩn bị, thiếu

kế hoạch; chưa hiểu rõ quy trình chuẩn bị để thực hiện đổi mới phương phápdạy học làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục của môn Ngữ Văn

Từ những nhận thức trên và từ kinh nghiệm của bản thân tôi nhận thấy, tronggiảng dạy môn Ngữ văn nếu giáo viên biết thực hiện, vận dụng hiệu quả phươngpháp dạy học nêu vấn đề và định hướng phát triển năng lực cho học sinh; kếthợp nhiều phương pháp dạy học, nhiều nguồn thông tin và kết hợp với các ví dụthực tiễn trong bài giảng để gây hứng thú cho học sinh là điều rất quan trọng,quyết định lớn đến chất lượng dạy và học của bộ môn Đặc biệt là những tácphẩm văn chương vốn là những câu chuyện đời sống sẽ được học sinh vận dụnghình thành năng lực cho bản thân, giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộcsống[12]

2.3 Cách thức thực hiện

2.3.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề

Khi xây dựng câu hỏi “Nêu vấn đề” thì khâu chuẩn bị bài của giáo viên rấtquan trọng Giáo viên phải đọc kĩ cảm nhận một cách thấu đáo tác phẩm và thaotác đầu tiên là phát hiện vấn đề, lựa chọn, xác định những vấn đề hay tiêu biểu

về nội dung về nghệ thuật Trên cơ sở đó xây dựng thành tình huống “Có vấnđề”

Vấn đề là yếu tố tiềm ẩn trong tác phẩm văn học, khi nó được phát hiện thì

đã có sự lao động của người giáo viên Khi giáo viên lựa chọn việc dạy học

“Nêu vấn đề” thì phải dùng mọi biên pháp biến vấn đề thành tình huống “Có vấn đề” Đây là khâu khó đối với giáo viên vì phải giúp học sinh nhận ra mẫu

thuẫn giữa những cái cần tìm với dữ kiện đã cho Khi học sinh nhận ra mâuthuẫn giữa những cái cần tìm với vốn hiểu biết của mình là lúc mâu thuẫnkhách quan được các em ý thức và chuyển thành mâu thuẫn chủ quan

Tuỳ theo từng tác phẩm văn chương, giáo viên có thể đưa ra một số tìnhhuống cụ thể như sau:

2.3.1.1 Câu hỏi tình huống bất ngờ

Tình huống này được tạo ra bằng các sự kiện bất ngờ, bất bình thường

Ví dụ: Khi dạy văn bản “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân, giáo viên có thể nêu câu hỏi:

Trang 8

Câu hỏi 1[2]:

Hỏi: Cảnh cho chữ xưa nay thường được diễn ra ở giữa trung đường, nhữngnơi trang trọng Nhưng ở đây, cảnh cho chữ lại được diễn ra ở đâu? Vào thời gian nào?

Trả lời: Cảnh cho chữ diễn ra vào đêm trước khi ra pháp trường, ở trong tù,một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt

Câu hỏi 2:

Hỏi: Nghệ thuật thư pháp thường chỉ dành cho những ai?

Trả lời: Cho những tao nhân mặc khách, ung dung nhàn tản, coi trọng cái đẹp

Câu hỏi 3:

Hỏi:Nhưng ở đây, người cho chữ lại là ai? Người nhận chữ là ai?

Trả lời: Người cho chữ- tử tù, người nhận chữ - cai ngục

Câu hỏi 4[2]:

Hỏi: Bình thường, tử tù và cai ngục, ai là người được coi trọng, ở vị thế xãhội cao hơn? (Cai ngục)- nhưng trong cảnh cho chữ này, tư thế, thái độ củangười tử tù và cai ngục lại được miêu tả như thế nào?

Trả lời:Người cho chữ là một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng,đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh Người nhận chữ là một viên quảnngục, khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ

Câu hỏi 5:

Hỏi:Em có nhận xét gì về tình huống này? Tác dụng của tình huống đó? Trả lời: Một tình huống độc đáo, rất Nguyễn Tuân Tình huống này làm nổibật nhân cách trong sáng, cao cả của Huấn Cao- nhân vật lý tưởng hóa

2.3.1.2 Câu hỏi tình huống mâu thuẫn

Đây chính là tình huống không phù hợp với khả năng cá nhân với tri thứcvăn học không phù hợp giữa hình thức và nội dung, giữa nội dung này với nộidung khác hoặc giữa hình thức này với hình thức khác trong một chỉnh thể vănhọc

Ví dụ 1: Dạy văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” - Vũ Trọng Phụng, giáo viên có thể nêu câu hỏi:

- Cảnh đưa tiễn như một đám rước, đông vui như ngày hội

- Mọi người: Vẻ ngoài buồn rầu, nghiêm chỉnh nhưng trong lòng người thìsung sướng, hả hê, kẻ tán tỉnh, ghen tuông, họ hẹn hò nhau… tất cả đều hạnhphúc

Trang 9

Câu hỏi 3:

Hỏi:Tác giả dùng thủ pháp nghệ thuật gì ? Tác dụng của biện pháp nghệ thuậtấy?

Trả lời: Hình ảnh tương phản: sự vui vẻ hạnh phúc >< một đám tang

Ví dụ 2: Khi dạy văn bản: “Chí Phèo” của Nam Cao, giáo viên có thể đưa

Câu hỏi 2:

Hỏi: Tại sao không ai chửi nhau với Chí? Có phải họ sợ Chí?

Trả lời: Người dân làng Vũ Đại không ai thèm dây với hắn, tránh xa hắn Và sâu

xa hơn- mọi người không thừa nhận Chí là một con người

2.3.1.3 Câu hỏi tình huống lựa chọn

Tình huống này xuất hiện trong một số vấn đề cần lựa chọn cách giải quyếthợp lí nhất, tối ưu nhất Người phát hiện vấn đề và tạo ra tình huống có vấn đềbao giờ cũng phải gợi ra một số khả năng có thể xảy ra, khi chưa tìm ra ít nhất 2khả năng thì chưa hoàn thành tình huống lựa chọn

Ví dụ 1: Khi dạy văn bản: “Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu, giáo viên đưa ra câu hỏi:

Trả lời: Chị không phải chỉ là người đàn bà giản đơn, nhút nhát mà thực sự

là một người phụ nữ từng trải, sâu sắc

Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Chí Phèo” của Nam Cao, giáo viên đưa ra câu hỏi lựa chọn:

Trang 10

Hỏi: Tại sao sau khi bị Thị Nở từ chối, Chí Phèo không xách dao đến nhà Thị

Nở để“ giết chết con khọm già nhà nó” mà lại đến nhà Bá Kiến? [2]

Trả lời: Có thể do quen chân, do những thằng say thì không nhớ mình địnhlàm gì lúc ra đi Nhưng sâu xa hơn, do Chí Phèo say nhưng thực chất lại đangrất tỉnh táo, nhận thức được kẻ thù của mình chính là Bá Kiến

2.3.1.4 Câu hỏi tình huống giả định

Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân, giáo viên đưa câu hỏi:

- Nếu Huấn Cao không hề chấp nhận, thì câu chuyện sẽ không còn làmột thiên truyện hấp dẫn nữa, sẽ không có cảnh cho chữ có một không hai, cũngkhông còn một Huấn Cao lý tưởng, đẹp bởi cả cái Tài và cái Tâm siêu phàm

2.3.1.5 Câu hỏi tình huống phản bác (tranh luận)

Tình huống này nảy sinh khi phải tranh luận, đấu tranh với những đánh giá,những nhận định hoặc quan điểm sai lệch

Ví dụ: Khi dạy văn bản “Tây Tiến”(Quang Dũng), giáo viên có thể đưa ra câu hỏi:

Trang 11

Câu hỏi 1:

Hỏi:? Có người cho rằng, với “Tây Tiến” dường như Quang Dũng đã làmxấu đi hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ khi miêu tả người lính mà ốm yếu, da xanhmàu lá đầu“ không mọc tóc”? Ý kiến của em?

Trả lời: Đó chỉ là cách cho thấy Quang Dũng đã không từ chối hiện thực, ônggiám nhìn thẳng vào sự thật, vào những gian khổ, mất mát mà người lính phải chịuđựng Qua đó khắc họa vẻ đẹp của ý chí, nghị lực phi thường của người lính

Câu hỏi 2[9]:

Hỏi:Nói đến anh lính là nói đến tinh thần chiến đấu, quyết tâm tiêu diệt giặc,nhưng Quang Dũng lại nhấn mạnh những“ mộng rớt, buồn rơi” của chiến sĩ TâyTiến với hình ảnh“ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Em có đồng ý với ý kiếnnày không? Tại sao?

Trả lời: Đó là nét lãng mạn, hào hoa - vẻ đẹp tâm hồn rất đáng quý của anhlính Hà Thành Đây là nỗi nhớ đẹp chứ không phải là nỗi nhớ bi lụy Nhớ đểcàng quyết tâm đánh giặc chứ không phải để ngã lòng trước hiện thực nghiệtngã

2.3.2 Xây dựng câu hỏi định hướng phát triển năng lực cho học sinh

2.3.2.1 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản

Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản kích thích tính tích cực

và lôi cuốn học sinh vào công việc học tập

Ví dụ: Khi dạy tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, giáo viên nêu câu hỏi thu thập thông tin về con sông Hương:

Hỏi: Em biết gì về cái tên sông Hương? Có huyền thoại nào kể về con sông ấy? Trả lời: Học sinh có thêm thông tin huyền thoại về sông Hương: người làngThành Trung (Huế) có nghề trồng rau thơm Ở đây có một huyền thoại kể rằng,

vì yêu quý con sông xinh đẹp, nhân dân 2 bờ sông Hương đã nấu nước của trămloài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi

2.3.2.2 Năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ

Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việcnhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sốngthông qua những cảm nhận rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biếthướng suy nghĩ của mình theo cái đẹp cái thiện

Ví dụ: Khi dạy tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, giáo viên đưa câu hỏi định hướng năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh:

Câu hỏi 1:

Hỏi: Câu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, em ấn tượng với những từngữ nào? Tại sao?

Trả lời: - Từ “mướt” thể hiện sự tươi non, nõn nà, mơn mởn(“mướt” khác

“mượt”; “mượt” gợi sự mịn màng- “mướt” như có láng nước)

- “xanh như ngọc”: Màu xanh có ánh – cả khu vườn Vĩ Dạ giốngnhư một viên ngọc lớn

Câu hỏi 2:

? Qua những từ ngữ đó, em cảm nhận gì về vẻ đẹp khu vườn Vĩ Dạ?

Trang 12

Trả lời:- Một vẻ đẹp trù phú, tinh khôi và cao sang của vườn cây thôn Vĩ.

2.3.2.3 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận nội dung văn bản

Hợp tác là hình thức học sinh cùng nhau làm việc trong nhóm nhỏ để hoànthành công việc chung Các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc, giúp

đỡ lẫn nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhóm Để hình thành nănglực này, giáo viên cần dùng phương pháp trao đổi, thảo luận nhóm tùy theo mức

độ từ dễ đến khó, tùy đối tượng học sinh có thể vận dụng những câu hỏi cho phùhợp

Ví dụ: Khi dạy đối tượng học sinh đại trà- trong tiết 2 bài dạy “Ai đã đặt

tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

- Giáo viên có thể chia lớp thành 3 nhóm để thảo luận 3 vấn đề tương ứng:

+ Nhóm 1: tìm hiểu dòng chảy của sông Hương trong lịch sử

+ Nhóm 2: tìm hiểu dòng chảy của sông Hương trong cuộc đời

+ Nhóm 3: tìm hiểu dòng chảy của sông Hương trong thi ca

Đây không phải là câu hỏi thảo luận nhóm khó, học sinh có thể tìm chitiết, nhận xét trên cơ sở bàn bạc và đưa ra ý kiến thống nhất

Nếu với những lớp chọn, học sinh khá hơn có thể đưa thêm những câu hỏikhó hơn cho học sinh thảo luận chung, cùng trao đổi, thảo luận nhóm và cử đạidiện phát biểu, giáo viên nhận xét và chốt lại

- Giáo viên có thể đưa câu hỏi thảo luận ở phần tìm hiểu nghệ thuật

Hỏi: Cảm nhận của em về nhân vật “tôi”- người trần thuật trong tácphẩm?

Như vậy, thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thể hiện nhữngsuy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vẫn đề đặt ra đồng thời lắng nghenhững ý kiến trao đổi, thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình Đây

là những yếu tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người học sinhtrong bối cảnh mới

2.3.2.4 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực giải quyết các tình huống đặt ra trong văn bản

Năng lực giải quyết vấn đề, giải quyết các tình huống đặt ra trong văn bản làmột năng lực chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong việc nhận thức, khám

phá được những tình huống “Có vấn đề” trong học tập và cuộc sống, tìm ra giải

pháp giải quyết các vấn đề đặt ra trong các tình huống đó, thể hiện khả năng tưduy hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định các giải pháp tối ưu

Để hình thành năng lực này, giáo viên có thể vận dụng phương pháp dạy học

“Nêu vấn đề” Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên

môn cũng có thể là tình huống gắn với thực tiễn

Ví dụ 1: Trong tiết 2, bài dạy “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng

Phủ Ngọc Tường, khi giáo viên hướng học sinh tìm hiểu vẻ đẹp dòng sông

“mềm hẳn đi, như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”, giáo viên đưa câu hỏi tình huống liên quan đến thực tiễn:

Trang 13

Câu hỏi 1:

Hỏi: Tiếng “ vâng” ở đây phải được hiểu là tiếng của ai?

Trả lời: Đây là tiếng “ vâng” của người con gái Huế- dịu dàng, e ấp sau vànhnón trắng với những tà áo dài tím kín đáo, thướt tha…

Câu hỏi 2:

Hỏi:Từ đó, em cảm nhận gì về vẻ đẹp của sông Hương?

Trả lời: Sông Hương về đến Huế và cũng mang được linh hồn của mảnh đất

và con người nơi đây Nó cũng duyên dáng, kín đáo và dịu dàng xiết bao

Ví dụ 2: Khi dạy văn bản: “ Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài, giáo viên đưa ra câu hỏi:

2.3.2.5 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp

Năng lực phân tích là khả năng chia nhỏ đối tượng ra thành nhiều yếu tố đểxem xét, đánh giá Khi học một tiết đọc văn, học sinh có thể hình thành năng lựcphân tích

Ví dụ : Khi dạy bài ca dao “Khăn thương nhớ ai” trong chùm ca dao yêu thương tình nghĩa của văn học lớp 10, Giáo viên có thể chia tách thành những hình ảnh khác nhau, có hệ thống câu hỏi thảo luận, chia lớp thành 4 nhóm như sau: [8]

+ Nhóm 1: ? Hình ảnh “khăn” được miêu tả như thế nào? Nghệ thuật?

Thể hiện tâm trạng gì của cô cô gái?

+ Nhóm 2: ? Hình ảnh “đèn” được miêu tả như thế nào? Nghệ thuật?

Trạng thái, tâm trạng của cô gái ra sao?

+ Nhóm 3: ? Hình ảnh “mắt” được miêu tả như thế nào? Nghệ thuật?

Diễn tả điều gì?

+ Nhóm 4: ? Em cảm nhận thế nào về tâm trạng cô gái qua 2 câu thơ cuối?

- Sau mỗi phần phân tích, giáo viên nêu câu hỏi tương ứng, chia tách ra đểphân tích sau đó tổng hợp lại (phần tiểu kết) Cuối bài học là phần tổng hợp vềnội dung và nghệ thuật của tác phẩm

Trang 14

Đặc biệt với đặc trưng của bộ môn Ngữ văn, cần chú trọng hình thành nănglực so sánh cho học sinh: so sánh tác giả này với tác giả khác, so sánh hìnhtượng nhân vật của tác phẩm này với tác phẩm khác…

Ví dụ : Khi dạy văn bản: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, giáo viên có thể đặt câu hỏi so sánh:

Câu hỏi 1:

Hỏi:Em hãy tìm điểm khác biệt giữa hình ảnh con sông Hương và hình ảnhcon sông Đà?

Trả lời:

- Sông Đà: vẻ đẹp dữ dội, hùng tráng trữ tình và thơ mộng

- Sông Hương: dòng sông dịu dàng, duyên dáng và tình tứ như những cô gáiHuế

Câu hỏi 2[4]:

Hỏi: So sánh văn phong của Hoàng Phủ Ngọc Tường và văn phong của

Nguyễn Tuân qua 2 tác phẩm: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” và “ Người lái

đò sông Đà”?

Trả lời:

- Nguyễn Tuân:

+ Sắc sảo, góc cạnh trong ngòi bút và cách nhìn

+ Đến với sông Đà bằng tình cảm đằm đằm âm ấm như gặp lại cố nhân

- Hoàng Phủ Ngọc Tường:

+ Hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa

+ Đến với sông Hương như một người tình đến với một người tình

→ Như vậy các thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp là các thao tác màtrong giờ đọc văn giáo viên phải thường xuyên sử dụng để có được một tiết họchay, hấp dẫn với học sinh đồng thời hình thành phát triển năng lực phân tích, sosánh, tổng hợp cho học sinh

2.3.2.6 Câu hỏi định hướng phát triển năng lực đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng loại thể

Trước hết, khi giảng dạy bất cứ một tác phẩm nào, chúng ta luôn cần phảichú ý thể loại của nó Bởi vì đến với đặc trưng thể loại là ta đang tìm đến nềnmóng cốt yếu, thứ phông màn mà từ đó tác giả mới dùng những nét bút củamình sáng tạo nên các đường nét, hình khối

Ví dụ 1: Khi giảng dạy một tác phẩm truyện ngắn, cần lưu ý đến tình huống

truyện - cái tình thế xảy ra truyện, dồn nén độc đáo biểu hiện và những ý đồ màngười viết gửi gắm

Ví dụ 2: Khi giảng dạy một bài ca dao, cần đặt nó trong một hệ thống những

bài ca dao mà nó ở trong một kiểu biểu đạt ví như: một mô típ mở đầu, một kiểu

tư tưởng- ca dao than thân hay ca dao yêu thương tình nghĩa…

Ví dụ 3: Khi giảng dạy một tác phẩm bút ký, giáo viên cần nghiên cứu về đặc

trưng của nó Có thể cung cấp thêm thông tin về về thể bút ký: là một thể ký (ghichép sự việc, câu chuyện có thật) và có đặc điểm riêng: Trình bày tự do, phóngkhoáng, nghiêng về trữ tình, cảm xúc, suy nghĩ…và không có cốt truyện

Trang 15

Khi đã hiểu được thế nào là thể bút ký, bài giảng của giáo viên cần phảibám vào đặc điểm của thể loại, nêu bật lên sự độc đáo của tác giả trong cáchdùng thể ký.

2.3.2.7 Định hướng xây dựng câu hỏi bài tập đánh giá năng lực học sinh

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đòi hỏi việc thay đổi

mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá, trong đó việc thay đổiquan niệm, cách xây dựng các nhiệm vụ học tập, câu hỏi và bài tập có vai tròquan trọng Dựa trên các bậc nhận thức và chú ý đến đặc điểm của học tập địnhhướng năng lực, có thể xây dựng bài tập theo các dạng:

* Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sử dụng và tái hiện tri thức – bài tập

tái hiện không phải là trọng tâm của bài tập định hướng năng lực

Ví dụ: Nét đặc sắc trong lối hành văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường là gì?

A Hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa

B Hành văn phong phú, trí tuệ, sâu sắc

C Hành văn ngắn gọn, tỉnh táo, sắc lạnh

D Hành văn mượt mà, ngọt ngào, tinh tế

 Đáp án đúng: A

* Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong những

tình huống không thay đổi Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyệnnhững kĩ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sự sáng tạo hoặc chỉ là một vài suy luận đơngiản

Ví dụ: Dạy văn bản “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, giáo viên đưa câu hỏi: Cách nói năng của chị Tí, bác phở Siêu (giọng thấp như hòa lẫn tiếng thở

dài) thể hiện điều gì?

A Con người phố huyện không ưa nói to hay nói nhanh

B Nhịp sống đơn điệu, tẻ nhạt nơi phố huyện

C Người phố huyện không thật sự quan tâm đến nhau

→ Đáp án đúng: đáp án B

* Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng

hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống không thay đổi để giảiquyết vấn đề Dạng bài tập này đòi hỏi sự sáng tạo của người đọc

Ví dụ: Khi dạy văn bản: “Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài, khi dạy đến cuộc gặp gỡ giữa Mị và A Phủ Giáo viên có thể đưa câu hỏi:

Câu hỏi 1:

Hỏi: Tại sao A Phủ khóc?

Trả lời: Đây là giọt nước mắt tuyệt vọng, giọt nước mắt giã từ kiếp người củamột chàng trai can trường, quả cảm

Câu hỏi 2:

Hỏi: Dòng nước mắt của A Phủ đã khiến Mị suy nghĩ những gì?

Trả lời: Mị nhớ lại năm trước thương mình, căm thù cha con nhà Thống Lý,thương đến A Phủ

Câu hỏi 3:

Hỏi:Ý nghĩa của dòng nước mắt ấy với Mị?

Ngày đăng: 10/07/2022, 06:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

&amp; 2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC - (SKKN mới NHẤT) phương pháp xây dựng câu hỏi nêu vấn đề và câu hỏi định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong giờ dạy – học môn ngữ văn ở trường THPT
amp ; 2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w