Cuốn sách Nhân chủng học: Phần 2 gồm có các chương sau: Chương 8 Động vật có vú và sự tiến hóa; Chương 9 Sự biến đổi thành người; Chương 10 Con người đứng thẳng và tiên kỳ thời đại đồ đá cũ; Chương 11 Người thông minh thời tiền sử và hậu kỳ thời đồ đá cũ; Chương 12 Buổi ban đầu của thời đại văn minh; Chương 13 Các chủng tộc của nhân loại; Chương 14 Chủng tộc và khả năng văn hóa; Chương 15 Tìm kiếm lương thực. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2Nồi cũng tụ tập bây đàn trang bi va
Những thị thành uò bảo uệ con người,
Bằng luật lệ oà những rào cản ngăn
ngừa xung đột
De doa con người, tài sẳn va ve con
Đó là nỗi sợ hãi sai ldm doi vdi quyén
được sinh ra
hoặc những phác thảo rõ ràng hơn, những
nghiên cứu của các ngành khoa học vật
lý, sinh học và nhân chủng học của thế
kỷ vừa qua đã có những bước tiến rất xa
để đẩy lài những lớp sương mù dày đặc
đã từ lâu bao phủ, che khuất quá khứ
của chúng ta Chúng ta cũng không cần
phải nhờ cậy vào trí tưởng tượng hoặc
huyền thoại để tìm hiểu vài điều nào đó
về cội nguồn của mình Với những phương
tiện khảo cổ họt cùng với các chứng tích
hóa thạch, những kỹ thuật của ngành
(1) "Thơ lrào phủng, Thư từ, và Nghệ thuật Thi ca của
Horace” (The Satires, Epislles, and Art of Poeiry of
Horace) — ban dịch của Conington, lẫn san định thứ
bảy, trang 12
_“@
vững chắc hơn về những thực tại đã xảy
ra trong quá khứ so với những tiền nhân
thế kỷ trước
Vấn để của khoa học ngày nay là bái tạo thành chỉ tiết xác thực và cụ thể hơn những đường nét mà theo dé con người — trong quá trình tiến hóa của mình - đã phát triển từ một cơ thể đơn giản, dơn bào thành một sinh — vật — con - người trong Kỷ nguyên cổ đại hai
tỷ năm trước; cũng như để xáe định những quá trình vận hành đã nhào nặn và tạo nên cách sống của con người
Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét một số yếu tố đáng tin cậy về tiến trình sinh học lên quan đến loài động vật có vú, cụ thể như niên đại của hóa thạch, sự vận hành tiến hóa, và các hóa thạch của những động vật có vú tiền sử
Khoa địa chất học và tính chất
cổ đại của loài động vật có vú
Địa tầng học là bộ môn phân tích những trầm tích trong lòng trái đất theo từng địa tầng riêng biệt Những bối cảnh thời gian liên quan mật thiết đến vị trí tương ứng của địa tầng, những địa tầng xếp nằm bên dưới thường có niên đại lớn hơn những địa tầng nằm trên, ngoại trừ có những xáo trộn nghiêm trọng trong lòng địa cầu Trong hầu hết mọi khu vực địa phương trên địa cầu, những thời đại tương quan của từng địa tầng là rất rõ ràng Nhưng không có địa phương nào
có đủ những địa tắng chính yếu có thể nêu ra toàn bộ những bối cảnh tương ứng cho tất cả mọi địa tảng Chìa khóa của vấn dễ chính là xác lập cho được những bối cảnh thời gian chồng chéø lên nhau Và khi chìa khóa của van dé
đã xác lập, vị trí tương quan của một tảng địa chất riêng biệt cũng có thể xác định bằng cách đối chiếu với địa tầng tương ứng Như váy, dịa tầng học có thể nêu ra những thời kỳ liên quan của đất
Trang 3đá vô tình, của các chứng tích hóa thạch,
và của tất cả những gì có ý nghĩa chứa
đựng trong những hóa thạch đó Và sau
đó tùy theo ý nghĩa thực sự của các chuỗi
sự kiện trong quá trình phát triển tiến
hóa của những hình thái sống - được
sắp xếp lại
Những thời đại và kỷ nguyên địa chất
Thời gian trùng lấp từ khi khởi thủy
vũ trụ cho đến khi địa cầu sinh ra được
gọi là kỹ nguyên vũ trụ, kỷ nguyên địa
chất bắt đầu với những kết tụ của tầng
lớp trâm tích đầu tiên và kéo đài đến
tận ngày nay Kỷ nguyên địa chất gồm
những “lốc” thời gian gọi là thời đại Thời
đại lại đánh dấu bằng một chuyển biến
mạnh mẽ từ những điêu kiện của trái
đất và gọi là Kỷ Năm thời đại địa chất
và những hình thái sống nổi bật được
mô tả trong bảng 8.1 Những biến đổi
thứ yếu về tình trạng địa cầu được gọi là
các nhiễu loạn, nằm trong phạm vi các
thời đại tạo nên các thống và gọi là các
giai đoạn hoặc thời kỳ (period & epoch)
Sự tiến hóa của các loài động vật có vú
xây ra trong cuối kỷ thứ ba Thời đại này
chia làm sáu thời kỳ theo thứ tự thời
gian nhu sau: Paleocene, Eocene,
Oligocene, Miocene, Pliocene, va cudi cimg
là Pleistocene Ba Thong sau Miocene,
Pliocene va Pleistocene ja những thời kỳ quan trong then chốt của những t2 tin
gần gũi của loài người, và món dia chat cdc thoi ky thudc Thdng Pleistocene la ea
sở để nghiên cứu vẻ con người, vì đáy 12 thời kỳ mà chủng Họ Người tiến hóa dén giai đoạn cuối cùng
Kệ thứ bơ (Đại Tên Sinh) Miocene
và Pliocene là những kỷ nguyên ấm áp, Miocene ẩm ướt còn Pliocene khô ráo Pleistocene lại không ổn định, luán chuyển giữa lạnh giá và ấm áp vừa phải Suốt những khoảng thời gian cực kỳ
lạnh giá, tuyết rơi ở những vùng cao độ
và những vĩ tuyến cao của Bắc bán cầu
và không tan chảy nổi trong những mua
hè lạnh giá ngắn ngủi Năm này qua năm nọ, chông chất lên nhau nén xuống
vì sức nặng của chính mình, tuyết biến thành băng Mặc dù ở thể rắn, nhưng băng vẫn có độ bám dính, có thể tan chảy xuống các thung lũng giữa những
trái núi và trải rộng ra thành mõm băng
khổng lỗ trên những vùng rộng lớn Trong suốt quá trình đóng băng ở khắp mọi nơi trên địa cẩu, nước bị nhốt kín
trong băng ở độ sâu hàng trăm bộ dưới mực nước biển Trọng lượng khổng lỗ của các băng hà đè vào các lục địa so với trọng lượng đã nhẹ đi của nước trong các đại dương gây sự sụt lún của các châu
Bảng 8.1: Các thời đại địa chất, thời điểm và các hình thái của sự sống
Kỷ nguyên Thời điểm Độ đài Hình thái nổi bật
Thời hiện đại)
Đại vô sinh 4,5 đến 6 tỷ năm 3 đến 4 tỷ năm Không có sự sống, những tế bảo đấu tiên cũng |
Dai nguyén sinh 1,5 đến 2 tý năm 1,6 đến 3 tỷ năm | Đơn bào và đa bào |
Đại cổ sinh 500 triệu năm 300 triệu năm Động vật không xương sống
Đại trung sinh 200 triệu năm 25 triệu năm Thực vật, rong biển, động vật có vũ ká: bở
Sắt, các loài lưỡng cư, cả :
Kỷ Thứ Ba 78 triệu nằm 75 triệu năm Động vật có vú cao cấp, loi người
Trang 4
A_-lục và làm biến đổi những đường nét
của mặt đất Những khu vực khí hậu ôn
hòa và nhiệt đới nằm ngoài những vùng
băng giá di chuyển và biến đổi, gây ra
những sự di trú trên phạm vi và qui mô
toàn cầu và những lễ lối thích nghi mới
trong đời sống thực và động vật Giai
đoạn Pleistocene là thời gian thử thách
và kích thích những khả năng thích nghỉ,
cũng như đẩy nhanh quá trình phát triển
tiến hóa của loài người
Giữa những hỗn độn dài đăng đẳng
còn lại từ những thời kỳ mà các chuyển
động tiến lên của băng giá chấm dứt
(còn gọi là các băng tích), những trầm
tích bên ngoài lớp đất bêi và những thêm
sông - tất cả đêu tương quan với từng
thời kỳ băng giá riêng biệt Những biến
đổi trong quần thể thực vật và quần thể
động vật cũng tương quan với từng giai
đoạn băng hà Như vậy, ngày nay môn
địa thời học về giai đoạn Pleistocene có
thể xác định một cách hoàn toàn chính
xác từng khu vực cục bộ của trái đất
Những chu kỳ khí hậu chính trong giai
đoạn Pleistocene sinh ra bốn chuyển động
tiến lên đầu tiên của những vỉa băng,
được gọi là những lớp băng hà ở châu
Âu, những lớp băng hà này được đặt tên
theo những thung lũng đọc theo rặng
núi Alpes, trong khi ở Bắc Mỹ chúng
được biết đến tùy theo các tình trạng
ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất của
chúng.” Do những mục đích có sẵn, trong
hình 8.1 chúng ta chỉ cần chỉ danh chúng
bằng những con số, số La Mã dành chỉ
những thời ky bang ha va s6 A — Rap
cho những địa tầng băng tương ứng
Niên đại sữa cáo chứng tích tiển sử
Điều quan trọng khi quan tâm đến
những chuỗi tiến trình tiến hóa chính
là phải Biết hình thái nào của sự sống
xảy ra cùng và sau những chuỗi tiến
trình đó Đối với mục tiêu này, thì niên
đại tương đối của vật chất (tìm thấy
của giai đoạn/thời kỳ đó) cũng đủ đáp
A
ứng Tuy nhiên, thông thường không
thể liên kết một cách trực tiếp một trầm
tích của nơi này trên thế giới với bất
cứ nơi nào khác để kết luận về niên đại của trầm tích Và điều này cũng gây nhiều trở ngại cho việc thiết lập các chuỗi tiến trình tiến hóa, nếu hai chứng tích hóa thạch hay hai trầm tích văn hóa then chốt cùng liên quan Trong
những trường hợp này, niên đại tương
đối tỏ ra rất hữu ích Trong niên đại tuyệt đối, có thể thiết lập những thời
kỳ chính xác hoặc gần chính xác, và từ
đó những thời kỳ tương đối cũng đễ dàng xác định Việc xác định những thời điểm tuyệt đối luôn luôn là một yêu cầu, nhưng không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được việc này
Xác định niên đại bằng hóa lý Đầu thế ký này, Ngài Rutherford và
những cộng sự tại Đại học Cambridge
nước Anh đã chứng minh rằng những
nguyên tố uranium và thorium cũng dần
phân hủy để trở thành chất chỉ không phóng xạ Tý lệ phân hủy được thiết lập và điễn tả bằng số năm của bán chu kỳ phân hủy Bán chu kỳ phân hủy
là khoảng thời gian cần thiết để 50% khối lượng phân tử uranium hay thorium phân hủy thành dạng chì Bảng 8.2 biểu thị những bán chu kỳ phân hủy của các phẩm vật dôi dư của năm loại khoáng chất diễn ra trong một vài loại đá Năm
1907, ý tưởng dùng tỉ lệ chì còn lại
trong những thành phần phóng xạ để
xác định niên đại hình thành của một
vài loại đá tiêu biểu đã ra đời Chẳng
hạn như, số lượng nguyên tử uranium
238 trong một hòn đá cân bằng với số lượng nguyên tử chì 206, có nghĩa là một nửa khối lượng uranium 238 đã chuyển hóa thành chì 206; như vậy, một
(2) Tên các địa tang bang {4 Giinz, Mindel, Riss va Wirm @ chau Au va Kansan, Nebraskan, lilinoisan va Wisconsonian ở lục địa Bắc Mỹ
Trang 5Bảng 8.2: Các nguyên tố phóng xạ và những sẵn phẩm phân hãy tương ứng Dùng để xác dịnh niên
Uranium 238 Chi 206, helium 4.500
Potassium 40 Galcium 40, Argon 40 1.310
bán chu kỳ phân hủy eda uranium 238
đã trôi qua và tuổi của hòn đá là 4,5 tỷ
năm (với điều kiện không có sự ô nhiễm
hoặc các yếu tế ngoại lai tác động)
Những truy nguyên gần đây nhất cho
thấy rằng có thể tuổi trái đất là 4,ð tỷ
năm và của vũ trụ là từ 4,9 đến 6 tỷ
năm, Trong ngành khảo cổ học, nguyên
tố kali 40-argon (đọc là 40 K-A) rất quan
trọng, vì đưới những điểu kiện tối wu,
loại nguyên tế này có thể xác định
những niên đại chỉ xê dịch từ một trăm
ngàn nãm hoặc hai triệu năm bởi tính
tương đối ngắn của bán chu kỳ phân
hủy của nguyên tố potassium 40.8)
PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NIÊN ĐẠI BẰNG
CARBON 14 Ngay sau Thế chiến thứ hai,
một khả năng mới để xác định niên
đại những vật liệu khảo cổ đã dược
nhà vật lý hạt nhân W.E Libby thiết
lập Phương pháp này đặt nến tảng
trên nguyên tắc phân hủy phóng xe
của các nguyên tố, nhưng thay vì chỉ
với các loại đá, phương pháp này có
thể áp dụng với các loại vật chất hữu
cơ khác như gỗ, xương, hạt giống, và
tất cả những hình thái sống của thực
vật Ngoài ra, phương phấp này còn
xử lý được với cả than (khai quật được
từ những biên trường lứa trại ngoài
trời thời tiền sử), những gì còn sót lại
trong các bữa ăn (xương thú vật và các
loại hạt trái cây), và cũng như chính xương của con người, miễn là tất cả những loại mẫu vật này không bị hóa thạch ở mức độ quá đáng
Carbon 14 (C1) hình thành trong tầng bình lưu khi những hạt neutron phóng ra từ các tia vũ trụ đội xuống lớp nitrogen của khí quyển Lúc đó, nitrogen chuyén hóa thành chất phóng
xạ C1, Các chuyển động của khí quyển hòa trộn cân bằng C⁄ với không khí của trái đất Cây cối và các loài thực vật hấp thu C1 trong không khí, các loài động vật lại hấp thu C từ những thức ăn thực vật Khi thực vật hay một động vật chết, tiến trình hấp thu Ơ1“ ngưng lại và tiến trình phân hủy phóng xạ bắt đầu Hiện nay, bán chu
kỳ phân hủy phóng xạ của nguyên tố C“ được ước tính vào khoảng 5.730 năm với sai số + 40 năm.“ Lượng phóng xạ mỗi phút được đo bằng một
(3) H Brown, Tuổi của Thái Dương Hệ (The Age of the Solar System), Chuyén san Scientific American, s& thang 4, 1957, trang 102; A, Knopf, Phuong pháp tính toán thời gian trong dja chat hoe (Measuring Geologic Tima}, Nguyét san The Scientitic Monthly, sé thang
11/1957, trang 226-236; và đặc biệt nên đọc chương
10 của cuốn “Mội dẫn nhập và Khoa khảo cổ thời tiền
sử “(An iniroductlon to Prehlstorie Archaeology} của
F Hole va ALF Heizer
(4) Số ước tính nguyên thủy của Libby là 5.568 năm
A
Trang 7KHOA NGHIEN cUU TUéi THO CUA GÂY
Thoa nghiên cứu tuổi thọ của cây (Tiếng
Hy Lạp: đendron = cây + logy = nghiên
cứu) hay xác định tuổi cây qua đường
kính (hoặc chu vì) thân cây, sử dụng
một kiến thức thực tế là: nếu rễ cây
không bị ngập nước, các loại cây tăng
trưởng nhanh hơn trong những năm mưa
nhiều so với những năm hạn hán Điều
này lại biểu thị độ tăng trưởng đường
kính thân hàng năm của một số loại
cây, đặc biệt là cây thông Kỹ thuật cơ
bản được dùng ở đây cũng giống như kỹ
thuật dùng để xác lập một khóa chủ
chốt trong địa tầng học, vấn để khác
nhau ở chỗ - một bên chú trọng đến
những đải vĩa các loại đất đá khác nhau,
một bên là sự tăng trưởng đường kính
thân được đem so sánh với bể đày của
các loại cây trong cùng khu vực tương
quan Phương pháp này tuy rất giản dị
và chính xác nhưng chỉ áp dụng được
trong một số môi trường hạn chế Bởi
vậy, những thành tựu quan trọng nhất
đo phương pháp này chỉ đạt mức 1.500
năm ở vùng Tây Nam Mỹ và 4.000 năm
ở bang Nevada Đã có những nỗ lực để
áp dụng phương pháp này tại Thổ Nhĩ
Kỳ và các địa phương bán khô hạn khác,
Môn có sINh vật Học Môn cổ sinh vật
học (Tiếng Hy Lạp: pơioios = cổ, xưa +
onta = sự vật đang tến tại) là khoa
nghiên cứu về sự sống trong các thời
quá khứ xa xưa qua các chứng tích hóa
thạch Kết hợp những quần thể thực vật
và quản thể động vật cùng với những
phân tích có tính biên niên - thứ tự
thời gian về kích — cỡ Những con ma-
mút đây lông lá là những động vật có
vú Kỷ nguyên băng hà di nhiên không
xuất hiện trong những trầm tích của thời
hậu trung sinh hoặc thuộc về Kỷ thứ ba
Trong nhiêu trường hợp thuận lợi và may mắn, tổng tập hợp các hóa thạch khá rõ
ràng của các loài thực vật hay đóng vật (của một hiện trường) có thể cho biết
chúng là trầm tích của thời ky tién, trung
hay hậu của thống Pleistocene
Dù đứng riêng biệt hay kết hợp với nhau, những kỹ thuật nói trên đều giúp
dự đoán những niên đại của thời tiền
sử Bổ sung thêm hoặc bằng kính nghiệm, hoặc bằng phương pháp hoá lý
có thể giúp đạt đến sự chính xác hơn
và đáng tin cậy hơn, vì sự sùy luận đã
được thay thế bằng những thực tế trực tiếp và cụ thể Khi đã xác định được tính chất trong thang biểu thời gian thì nhiệm vụ kế tiếp của chúng ta là nhìn lại một số cơ chế vận hành mà với ý nghĩa của chúng, quá trình tiến
hóa điễn ra
Di truyền học và sự tiến hóa
Làm thế nào các chủng loài tiến hóa thành con người qua một quá trình tuần
tự tiến hóa suốt bao thế hệ thời gian? Chỉ khi nào hiểu được điểu này chúng ta mới có thể trả lời được những câu bồi riêng biệt quay quanh nguồn gốc của loài người: “Loài động vật có vú cao cấp đã phát triển như thế nào từ những động
vật có vú giản đơn?”; “Những hóa thạch
của con người thuộc nhiều chủng loài khác với hóa thạch của loài có vú cao cấp như
thế nào?”; “Các hóa thạch và những loài
có vú đang tổn tại - kể cả con người - liên quan với nhau như thế nào?”
Chúng ta sẽ tìm được những câu trả lời trong thuyết di truyền của Mendel,
trong những nguyên tắc về sự sàng lọc
và thích nghi môi trường trong thiên nhiên, và những nghiên cứu về sự tái
tạo của tế bào Xét về tính chất phức
tạp của môn hóa phân tử và của quả trình sinh sản lưỡng bôi (cell chemistry and biparental reproduction), qua that
A
Trang 8không thể làm gì hơn ngoài việc để cập
đến những nguyên tắc di truyén hoc co
bản liên quan đến những quan tâm về
nhân chủng của chúng ta Những người
muốn biết tường tận hơn, có thể phải đi
tìm những chí tiết bổ sung trong những
nguôn kiến thức chuyên môn của khoa di
truyền học
Sự sinh sản tế hàø
Chỉ cho đến tận cách đây 100 năm,
quan điểm cho rằng sự sống là sự tự -
đồng - thời - phát - sinh, như hình ánh
của loài giòi chẳng hạn, mới trở nên
phổ biến ở châu Âu và châu Mỹ Tuy
nhiên, vào giữa thế kỷ mười chín, việc
nghiên cứu bằng kính hiển vi những cơ
thể sống đã chứng minh rằng, tất cả cơ
thể là tập hợp của những tế bào và mỗi
tế bào là con đẻ của những tế bào có
trước Khuôn mẫu đi truyền của các sinh
vật sinh sản đơn bôi và sinh sản lưỡng
bôi là khác biệt nhau Vì loài động vật
có vú cao cấp thuộc loại sinh sản lưỡng
bôi, cho nên ở đây chúng ta chỉ cần xem
xét đến loại khuôn mẫu thứ hai - sinh
sản lưỡng bôi
Sự phân bao Cơ thể trưởng thành
của con người được tạo nên bởi hàng tỷ
tỷ tế bào, và được sắp xếp như một hệ
thống hợp nhất Mỗi một trong hàng tỷ
tỷ tế bào này là một phó bản tái sinh
của một cặp tế bào đực và cái (các giao
tử) Sự hợp nhất của một giao tử đực -
còn gọi là tỉnh trùng, với một giao tử cái
- còn gọi là trứng sinh ra một hợp tử hay
một trứng thụ tỉnh Tại thời điểm đầu
tiên trong lịch sử cuộc sống của một cơ
thể, hợp tử tiếp nhận những chất đi truyền
cơ bản và định hình phần lớn tính chất
cấu trúc phân tử của tất cả những phát
triển tế bào tiếp theo sau Cơ thể tự tăng
trưởng bằng cách nhân lên các tế bào bổ
sung, bằng cách phân hóa hay sinh sản
nhân đôi của các tế bào Trong những cơ
thể đa bào, tất cả tế bào đều có nhân,
mỗi nhân lại mang những chất di truyền
A
trong một dung dịch gọi là chất nhiễm sắc Hình thức phân hóa tế bào đặc biệt
xảy ra trong những sinh vật đa bào được
gọi là sự phân bào của tế bào sợi (Tiếng
Hy Lạp: mifos = sợi, tơ), bởi vì loại phân hóa này tiêu biểu cho một giai đoạn hình thành những tế bào sợi từ chất nhiễm sắc Các sợi này lại đến lượt tách ra thành những vật thể có hình dạng riêng biệt
và có thể quan sát bằng kính hiển vi, được gọi là các nhiễm sắc thể (vật thể có màu sắc) Tế bào của con người sản xuất được bốn mươi sáu nhiễm sắc thể và sắp xếp thành hai mươi ba cặp Trong sự phân bào sợi, các nhiễm sắc thể lại tách ra theo chiều đọc thành hai phân nửa riêng biệt, hai nửa này di chuyến đến hai cực đối nghịch của tế bào, sau đó tế bào lại
tự tách thành hai tế bào con mang day
đỗ tính chất của hai mươi ba cặp nhiễm sắc thế Bằng sự phân bào, mỗi nhiễm sắc thể - ngoại trừ các tế bào giới tính -
tự sản sinh những bản sao của chính
mình, hàng tỷ tỷ tế bào đều lặp đi lặp lại quá trình này để hình thành một cơ thể trưởng thành và hoàn thiện Việc những giao tử thực hiện xuyên suốt quá
trình tự sinh sản được gọi là sự phân bào
giảm nhiễm (Tiếng Hy-lạp: meiowm = làm
cho nhồ hơn)
Sự phản bào giảm nhiễm Tình trạng lưỡng bôi xảy ra khi có một bể - thể - nhiễm - sắc bình thường của cặp nhiễm sắc thể tuy mang đặc tính của
cả hai nhưng lại là tế bào giới tính Sự thụ tỉnh kết hợp hai giao tử lại với nhau, trong đó, nếu những tế bào giới
tính nhân đôi lên thì số nhiễm sắc thể
cũng tăng lên gấp đôi cho mỗi đợt phân bào Để ngăn ngừa việc này xảy ra, những tế bào giới tính có một quá trình
tự sinh sản đặc biệt - mỗi giao tử chỉ nhận một trong hai nhiễm sắc thể tách
ra từ một cặp (nhiễm sắc thể) Những giao tử của loài người chỉ có hai mươi
ba nhiễm sắc thể Dù là đực hay cái mỗi giao tử đều kết hợp bất kỳ giao tử
Trang 10những quy luật về những đặc điểm di
truyền, những quy luật có giá trị đối với
tất cả mọi loài sinh vật Mendel đã nhận
thấy rằng khi hai dòng thuần chủng của
các loài đậu khác nhau (ví dụ như loại
vỏ trơn và loại vỏ nhăn) được lai giếng
với nhau, thì tất cả giống đậu lai đều có
vỏ trơn láng Nhưng khi loại giống này
được đem ủi lai giống một lần nữa với
một đậu khác thì một giống lai mới lại
có những đặc điểm vỏ vừa trơn láng vừa
nhãn theo tỉ lệ xác định là 3 trên 1 Xa
hơn nữa, trong những đời lai giống kế
tục sau, những đặc tính vỏ trơn hoặc
nhăn lại đi truyền một cách không lệ
thuộc và kết hợp với nhau theo đủ các
kiểu cách Mendel cũng đã chứng mỉnh
nhiễu loại đặc điểm khác cũng xảy ra
theo kiểu cách như vậy, như màu sắc
chẳng hạn
CÁC QUY LUẬT TRONG THUYẾT DI TRUYỂN
MENDEL Khi giải thích những quan sát
của mình, Mendel đã lý giải rằng tỉnh
trùng và trứng chứa đựng “những yếu
tế” kiểm soát những đặc điểm của sự
phát triển Những yếu tố này chính là
các gien mới nhất Đi sâu hơn, Mendel
cho rằng mỗi thực vật phải có ít nhất
một yếu tố từ cây bố mẹ Vì vậy, phải
có hai yếu tế cho mỗi đặc điểm của
loài giống con Nhưng khi giống con
lai tạp thì một trong bai yếu tố bị bỏ
qua, và như vậy đối với tỉnh trùng hay
trứng chỉ còn một trong hai yếu tế Sự
việc xảy ra như thế nào, Mendel không
biết nhưng ông đoán rằng sự phân bào
giảm nhiễm chính là quá trình này
Ông còn giải thích rằng sự tái phân
bố những yếu tố trong tế bào con là
hoàn toàn ngẫu nhiên và những tác
động khác nhau của các yếu tố ảnh
hưởng đến những đặc điểm riêng biệt
Chẳng hạn như, yếu tế vỏ láng (của
các hạt đậu) có ưu thế hơn so với yếu
tố vẻ nhăn khi hai hình thái của yếu
tố này được kết hợp trong tế bào của
con giống con Bởi vì những yếu tố kế
_Á
thừa truyển giao suốt quá trình sinh sản tế bào là những đơn vị riêng biệt
và được đi truyền như quy luật đầu tiên
về kế thừa của Mendel, được gọi là quy luật chia tách Diễn đạt theo ngôn từ mới, “gien” chính là đồng nghĩa của “yếu tố”, nghĩa là, gien không thể lai tạp,
gien vận hành như những đơn vị độc
lập Chứng đi từ thế hệ này qua thế hệ khác mà vẫn nguyên vẹn và không biến đổi, tùy những đặc tính nổi trội của mình chúng có thể hoặc không thể sản sinh những đặc điểm nổi trội Gien chia tách một cách ngẫu nhiên, cho nên tỷ
lệ những đặc điểm trong các con giống
là có thể dự đoán được.®
Quy luật thứ hai của Mendel điễn tá
sự việc một cặp gien kế thừa về một đặc điểm nào đó, không bị ảnh hướng bởi tính kế thừa của bất kỳ các gien cụ thể nào khác ở trên những nhiễm sắc
thể khác Các kiểm soát di truyền của
các đặc điểm được sắp xếp một cách độc lập giữa các tế bào con và biểu thị một cách độc lập những đặc điểm về vị trí với các gien của những nhiễm sắc
thể khác Đây chính là quy luật về sự
sắp xếp độc lập Quy luật này giải thích mỗi cá nhân — ngoại trừ những cặp song sinh giống hệt nhau, có thể tiếp nhận một tổng hợp duy nhất những đặc tỉnh đi truyền Số lượng sự kết hợp tiêm
năng của các gien trong hai mươi ba
đặc điểm giả định ổ con người được kiểm soát bởi các loại gien trong các cặp
nhiễm sắc thể khác nhau, là vào khoảng
2? hoặc hơn tám triệu kết hợp khác nhau của các giao tử
Trong sự thụ tỉnh, sự kết hợp của các giao tử như vậy cũng tạo ra một số lượng
kết hợp gien là 8.000.000 x 8.000.000
hoặc 64 tỷ tỷ lần Vì số lượng các đặc điểm được kiểm soát bởi các gien định
vị trên những cặp nhiễm sắc thể khác
là nhiễu hơn con số hai mươi ba, nên tổng số lần những kết hợp là quá lớn -
Trang 11không thể tính hoặc đếm được Và đây
chính là khởi điểm quan trọng thứ hai
của thuyết Mendel về sự biến đổi
Quy luật thứ ba của thuyết di truyền
Mendel lai khéng do Mendel ma do T.H
Morgan (1866 - 1945), nha di truyén hoc
đầu tiên trong số những nhà di truyền
hoc xuất sắc của Đại học Columbia, phat
hiện vào đầu thế ky này (T.K 20 - NÐ)
Đó là quy luật thứ tự trực hệ của gien
Các gien về những đặc điểm cụ thể nào
đó được định vị trong những chuỗi đều
đặn dọc theo một nhiễm sắc thể và nối
kết với nhau do những phản ứng hóa
học, và do đó tất cả thường kế thừa
thành một nhóm sắc thể Khi những
nhóm sắc thể này bắt gặp các hợp tử,
chúng thường xếp đặt thành hai sợi song
song Tuy nhiên, đôi khi chúng xoắn vào
nhau và một đoạn nhiễm sắc thể tách
ra từ điểm xoắn Mỗi đoạn tách rời lại
“nối” với cực đối nghịch, và như vậy sự
đột biến của các đoạn nhiễm sắc đã hoàn
thành Mã di truyền của mỗi nhiễm sắc
thể trong một cặp luôn biến đổi Mặc đù
gien được kết hợp một cách độc lập về
mặt di truyền, nhưng vị trí tương đối
của chúng trên các nhiễm sắc thể là rất
quan trọng, bởi vì gien dẫn đến sự phát
triển các đặc điểm Sự lai giống, bằng
cách biến đổi trạng thái kế cận của gien
có thể chuyển đổi các tác động kết hợp
và chỉnh sửa cấu trúc với hình thức tế
bào của chúng, như vậy một nguồn biến
đổi khác lại được sắn sinh
CÁO KIỂU VÀ HÌNH THÚC DI TRUYỀN Mỗi
cá thể nhận hai loại gen, loại này từ người cha còn loại kia từ người mẹ Các gien riêng biệt kết hợp với nhau thành từng cặp tại các vị trí nhiễm sắc thể
và được gọi là các gien đẳng vị (Tiếng Hy-lap: adielon = ln nhau) Toàn bộ bổ thể của các gien truyền đến mệt hợp tử tạo thành các kiểu đi truyển genotype
(Tiếng Hy-lạp: gen = sinh sdn + typos
= cú, đòn) hoặc còn gọi là cấu tạo di
truyền của cơ thể Khi một cặp gien đẳng vị của một đặc điểm nào trong cơ thể giống nhau (nghĩa là cả hai đều là gien trội hay đều là gien lặn, tình trạng này được gọi là đẳng hợp -komozygous
(Tiếng Hy-lạp: homos = giống nhau +
Zygofos = vợ chồng) Khi cặp gien đẳng
vị không giống nhau (một gien trội và một gien lặn), tình trạng này là đị hợp
- heterozygous (Tiéng Hy-lap: heteros =
khac nhau + zygotos = vg chéng) Hinh
đáng bên ngoài của cơ thể là tổng hợp những đặc điểm của cơ thể, và được gọi
là kiểu hình - phenofype (Tiếng Hy-lạp: phainen = biểu lộ + typos = kiểu, loại)
Các gien lặn được che giấu trong các
kiểu đị hgp heterozygous, su hién diện
của các gien này không biểu lộ một cách
trực tiếp trong kiểu hình đi truyền, và
chỉ được xác định bởi chính sự vận hanh của chúng giữa các gien gốc và các gien
có trước của một cơ thể riêng biệt Đây
là chuỗi quá trình tiến hóa quan trọng
được giải thích rõ hơn từ trang 163 đến
trang 164 (bản địch này)
Các đật biến Như đã thảo luận ở
phần trên, theo thuyết di truyền của
Mendel, những biến đổi di truyền xảy
ra trong (mỗi co thể) cá nhân là sự truyền giao những đặc điểm từ thế hệ
này qua thế hệ khác và vận hành như
một sự kết hợp giới tính của các gien Những biến đổi bổ trợ cũng xảy ra như
là kết quả của những thay đổi nội tại cấu trúc phân tử của gien Đây chính là
sự chỉnh sửa theo mã DNA, thay đổi
A_
Trang 12tác dụng kiểm soát gien về mặt tăng
trưởng Khi những biến đổi như trên đã
đủ ổn định để tạo nên một lớp gien kế
thừa trong con giống thì chúng được gọi
là các đột biến
“TÂN Số ĐộT BIẾN Tân số đột biến trung
bình được ước lượng vào khoảng 1 trong
100.000 gien Nhưng một giao tử đơn
của cơn người có thể chứa nhiều lần cái
số 100.000 gien này và một đột biến tự
phát từ số lượng này luôn là một sự
tiém tang Sự đột biến gien là loại vũ
khí có thể gây ra cái chết sớm của cơ
thể, như trường hợp sự đột biến sinh ra
chứng loãng-không đông máu Lúc bấy
giờ, cơ thể không còn cơ hội để tái sinh
và gien đột biến không thừa hưởng
những đặc điểm đi truyền Những đột
biến như vậy không mang ý nghĩa của
chuỗi quá trình tiến hóa, trừ phi chúng
nối kết với các gien khác và vì vậy các
loại gien này cũng biến mất cùng loại
đột biến chết người này
Nếu gien đột biến là gien lặn, trong
thế hệ mà sự đột biến đang xảy ra-
hậu quả tác động trên các đặc điểm
không nhìn nhận thấy được Những hậu
quả này sẽ biểu lộ trong những kiểu di
truyền đẳng hợp ñomozygous sau này
và tần số rất thấp Mặt khác, nếu sự
đột biến là nổi trội và không nguy
hiểm, nó sẽ thiết lập được những tác
động rõ ràng và ngay tức khắc Những
tác động này sẽ được kế thừa trong
phần lớn cơ thể con giống Những đột
biến dù có xảy ra một cách hoàn toàn
ngẫu nhiên, sau đó cũng sẽ xây ra đều
đặn và lặp đi lặp lại, trong những điều
kiện có sấn, dưới những hình thức
không nguy hiểm chết người, và trở
thành bền vững lâu dài theo như ¿huyết
phân bố quân cư của Mendel
Thuyết phân bố qudn cu va de
trữ gien Một quần thể theo quan điểm
của Mendel là một nhóm địa phương
gồm nhiều thành viên của một chủng
Ae
loài hầu như chỉ giao phối với nhau và
chi thỉnh thoảng với các thành viên
của những quần thể tương cận (cùng một loài) Tất cả gien do các thành
viên của quần thể sở hữu tạo thành đự
trữ gien Vì vậy dự trữ gien là nguồn cung cấp chất liệu đi truyền của quần thể trong việc thừa kế di truyén của thế hệ tiếp theo Bởi trong quá trình
sinh sản của sự phân bào cũng như sự
phân bào giảm nhiễm, khuynh hướng của cơ thể là chuyển giao một cách tương đối toàn vẹn (không biến đổi) những đặc điểm cho thế hệ kế tiếp",
Sự ổn định này lại làm cho chủng loài
và cơ chế vận hành bị hạn chế về mặt tiến hóa Như là kết quả của sự tiến hóa, những biến đổi về kiểu - hình di truyễn xảy ra từ thế hệ này qua thế
hệ khác, và hình dạng cơ thể cũng nhu đặc điểm trong quá trình sống của quần thể do vậy cũng biến cải theo Nhưng những gì giúp sức và thúc đẩy cho chiều hướng đổi thay này?
Sự biến đổi, sàng lọc tự nhiên và sự
thích nghỉ Những yếu tố làm đảo lộn trạng thái cân bằng di truyền là (1) sự đột biến,
(2) sự sàng lọc tự nhiên, (3) sư Jai tap
quân thể, (4) sự lệch lạc về đi truyền Trong những yếu tố này, hai yếu t6 đầu
là những quá trình tiến hóa và quan
(8) A.C King, sách đã dẫn, trang 201 (9) Quy luật Hardy-Weinherg cho rằng nếu việc giao phối trong cùng nhóm là ngẫu nhiệm, nếu sự đội biến không xảy ra, và quy mô nhóm là lo lớn thì tấn suất gien trong quỹ dự trữ gien vẫn duy trì bất biến từ thế hệ này qua thế hệ khác, điều kiện cân bằng và ổn định di truyền sẽ được duy trì và do vậy không có sự tiến hóa,
Trang 13chuỗi quá trình phát triển Đặc biệt là
Darwin chứng zninh rằng những biến đổi
kế thừa do môi trường sống ảnh hưởng
nhiều cách khác nhau trong một quần
thể Ông ta đã viết như sau:
Bằng hình thức ẩn dụ, có thể nói rằng hằng
ngày và hằng giờ trên khắp thế giới sự sàng
lọc tự nhiên đang tỉ mẩn xẩy ra với những biến
đổi nhỏ nhoi nhất; loại bổ những cái xấn, duy
trì và bổ sung tất cá những cái gì được cho là
tốt; bất cứ khi nào và bất kỳ nơi đâu khi cơ hội
đưa đến - vận hành trong im lặng một cách vô
tình để làm cho cơ thể con người tốt hơn trong
mối tương quan với những bộ phận cơ thể cũng
như với những điểu kiện sống bên ngoài.t®
'Theo thuật ngữ hiện nay, giữa các
cá thể mang những gien mới tổn tại
đến một mức độ nào đồ và sinh sản
được một lớp hậu duệ, thì những gien
mới được bổ sung vào dự trữ gien và
những đặc trưng riêng biệt của quần
thể sẽ biến đổi theo mức độ đó Tuy
nhiên, nếu vì tác động của môi trường
chung quanh, những gien này thất bại
không tổn tại được để sinh sản thì sự
biến đổi mới cũng không thay đổi dự
trữ gien và cũng không ảnh hưởng đến
những hậu quả tương lai Ngoài việc
tồn tại, các cá thể sở hữu những gien
mới và những đặc tính hậu quả còn tổn
tại với tấn số tương đối lớn so với các
cá thể không chứa đựng (các gien mới),
tấn số tăng những gien mới trong quần
thể từ thế hệ này qua thế hệ khác là
rất lớn
Sự sàng lọc tự nhiên là sự vận hành
của bất kỳ yếu tố môi trường nào lên
những biến đổi di truyền và tạo ra sự
sinh sản lệch pha Những cá thể biến
đổi sinh sản và tổn sinh ổn định vững
chắc nhất là những cá thể dễ thích
nghi với môi trường nhất; từ thế hệ
này qua thế hệ khác, các cá thể này
với môi trường
Trong bối cảnh tiến hóa, câu hỏi quan trọng được đặt ra là sự đột biến
có giá trị tiêu cực (hủy diệt) hay tích
cực (thích nghỉ) đối với sự tổn tại, và nếu có đù là trường hợp nào thì ở mức
độ nào? Khoa di truyền đân tộc học là
khoa học về những loại gien khác nhau trong những môi trường riêng biệt,
trong đó các tấn sế gien, những điều kiện tồn sinh, hay tiém năng sinh sản
được xác định theo toán học Những
điều kiện trên cũng là các chỉ số của
tỷ lệ biến đổi trong quá trình tiến hóa Như vậy, rõ ràng sự đột biến luôn là
sự sàng lọc hữu ích và thường xuyên, cùng với tính cách vượt trội trong một
môi trường ổn định - làm đổi thay một
cách rất nhanh chóng đặc điểm của
một quần thể
Tác động của sự lai tạp giữa các
quân thể dân cư Việc hôn phối đị chủng giữa hai quân thể có dự trữ gien khác nhau là những kết hợp mới giữa các gien
tạo thành một thế hệ con lai tạp giữa
hai quần thể Mặc dù chúng ta đã nói rằng mỗi loại gien chịu trách nhiệm về
một đặc điểm đơn lẻ nào đó, nhưng các loại gien cũng thực sự vận hành như một
dàn hợp xướng và ảnh hưởng đến sự phát triển của nhiều đặc điểm hình - kiếu Những kiểu - hình mới mẻ có thể trở thành đặc trưng của quân thể bất chấp
việc lai giống tiếp tục hay không hoặc
vật lai giống có một sự sàng lọc và điểu
(10) C Darwin, Nguần gốc của các Chững Loài (Nhà xuất bản Macmillan), trang 78.
Trang 14kiện sinh sản cao hơn vật không lai giếng
hay không Rốt cuộc, là một dạng loại
mới ra đời, như trường hợp đã xảy ra với
những dân tộc Mỹ và Nam Phi đa màu
(Xem chương 13)
Tác động sàng lọc của những biến
đổi môi trường Một chừng mực nào
“đó, môi trường và gien đều không ổn
định Bất kỳ sự biến đổi môi trường nào
cũng sẽ mang đến sự tác động sàng lọc
đối với dự trữ gien của những quần thé
cư dân sinh sống trong môi trường Vì
vậy, trong qua trình tiến hóa sự biến
đổi môi trường quan trọng không kém
sự biến đổi đi truyền Nhưng môi trường
cũng chính là sinh vật và đất đai Bất
kỳ sự biến đổi nào trong đời sống cây cô
hay loài vật cũng chính là sự biến đổi
môi trường và ảnh hưởng đến tất cả
mọi sự vật khác trong môi trường Mỗi
biến động trong quá trình tiến hóa đều
có một tác động phản hồi gây ra những
biến đổi môi trường đối với những sinh
vật khác Do đó, quá trình tiến hóa
nhanh chóng từ thời đại địa chất này
qua thời đại địa chất khác cũng được
cảm nhận như một tác động tích lũy gia
tăng của các biến đối trong một cơ thể
Những tác động thích nghỉ của
bệnh thiếu hồng huyết câu Dù việc
sàng lọc tự nhiên có hoặc không mang
lại sự hữu ích, một đột biến nào đó cũng
luôn phụ thuộc vào môi trường cụ thể
mà quần thể phải tranh đấu để tổn tại
Một sự kiện đã gây ra nhiều mối quan
tâm cho những nhà di truyền học và
nhân chủng học, là việc phát hiện loại
gien lặn có khả năng gây đột biến tạo
ra sự rối loạn máu và được gọi là bệnh
thiếu hông huyết cầu lưỡi liêm, bệnh
này sở dĩ gọi như vậy vì những tế bào
máu bị nhiễm có hình lưỡi hiểm Người
ta tin rằng những kiểu di truyển gien
đẳng hợp tử là 100% nguy hiểm chết
người và những đẳng hợp tử của loại
gien này thường bị đào thải rất sớm
_Á
Tuy nhiên, ở trạng thái đẳng hợp, mệt
cá nhân khi nhận một gien trội bình thường từ cha mẹ và một gien lặn đột
biến từ người khác thì đây là kiéu di
truyền không nguy hiểm Những đứa bé đẳng hợp gien này không bị chết nhờ loại gien đơn hình lưỡi liễm Yếu tổ làm cho những nhà khoa học hiện đại phải ngạc nhiên và thích thú là những người
có gien dang đẳng hợp tử lại miễn nhiễm đối với bệnh sốt rét Ở những vùng nhiệt đới của cựu lục địa có bệnh sốt rét, bàng ngàn người mang loại gien trội suy yếu trầm trọng và bị chết vì bệnh sốt rét Những người mang gien ding hợp với một gien lan dang lưỡi liễm lại miễn nhiễm với hệnh sốt rét và phát triển mạnh khỏe hơn những người không có được chút gien lưỡi liềm nào cả Những người này không phải chịu đựng cả hai thứ bệnh sốt rét và thiếu máu
Như vậy, trong môi trường đẩy rẫy bệnh sốt rét, nhóm người mang loại gien
lặn dạng lưỡi liễm có khả năng gây đột
biến trong dự trữ gien của mình rõ ràng
có lợi thế hơn, mặc dù đứa tré sinh ra với dạng gien đẳng hợp này gần như déng nghĩa với sự chết sớm và đây rõ ràng là một sự hy sinh cân thiết để duy trì nòi giống Sự đột biến gien như vậy
là sự nguyễn rủa đối với người dạng gien đẳng hợp tử và là một ân súng đối với người đạng gien dị hợp tứ
Việc xóa bổ được bệnh sốt rét cũng loại bỏ theo cái ưu thế chọn lọc của nhóm người mang loại gien lặn dạng lưỡi liém
có khả náng gây đột biến; và do đó tần
số xuất hiện loại đột biến này cũng thấp hơn trong những khu vực không có bệnh sốt rét so với những vùng bệnh sốt rét hãy còn hoành hành." Sự hiện diện của bệnh sốt rét tác động một cách vừa phải trong việc duy trì loại gien lặn hình
(11) Đọc A.C Allison, “Những lãnh vực đa dạng thải
trong Nhân Logi” (Aspects of Polymorphism in Man)
ấn bản 1955, chương 20, trang 239 - 255.
Trang 15lưỡi liém co kha nding gay a6t bién trong
quân thể đân cư Do đó, quá trình tiến
hóa theo chiều hướng của bệnh thiếu
hông huyết cầu là một đặc điểm được
duy trì trong những nhóm đân cư sống
của sự đột biến hay sàng lọc tự nhiên
Đây chính là ¿ức động Seuodll Wright,
tác động được đặt theo tên nhà di truyền
học vĩ đại hiện nay, người đã chứng minh
được sự vận hành của xu thế di truyền
tự nhiên
Giả sử một nhóm nhỏ dân cư (hoặc
bat ky nhóm sinh vật nào khác) phải di
cư đến một lãnh thổ mới và hậu quả là
mất liên lạc với những nhóm tổ tiên
nguồn -gốc của họ Và xa hơn nữa cũng
giả sử rằng những thế hệ sau cũng phân
thành những nhóm nhỏ và tách khỏi
những thế hệ trước có nguồn gốc di dân,
để xây dựng quê hương mới ở một nơi
nào khác và cũng sống biệt lập như
những dân tộc riêng biệt,
Trong tình huống mà tần số xuất
hiện của gien tượng trưng cho một đặc
điểm nào đó chỉ đạt 15 phần trăm so
với nhóm dân cư gốc, thì khả năng có
thể xảy ra một cách hoàn toàn dễ dang
là những đi đân mang loại gien này
không thể đạt đến tỉ lệ ð phân trăm,
Trong dự trữ gien của nhóm đân đi cư,
tần số xuất hiện của loại gien này tự
động giảm xuống chỉ còn hai phần ba
Dự trữ gien của những xã hội gốc và
những xã hội mới cũng dị biệt ở mức độ
đó Đi xa hơn nữa, nếu không có sự hôn
phối dị chủng, không có sự đột biến cũng
như những thay đổi trong các yếu tố sàng
lọc tự nhiên thì sự biến đổi vẫn chỉ là
Quần thể có chung XXKXX///YT
nguồn gốc Quần thể F„ XXXVy X4VyV
Quần thể F„ XXXXV XXVVV XXKYV XJWV/
` Quần thể F, xxxxx xxxyy XXJVY VWY/
Hình 8.4: Xu thé di truyền lự nhiên (Hiệu ting Sewall Wrigh trong một chuỗi phân nhánh của các quần thé dân cư Đặc tính của hai quần thể có chung mội nguồn gốc có thể thay dổi thao sự vận hành của quy luất ngẫu nhiên trong sự phân bố các loại gian mà không
cần đến những đột biến riêng tả
việc duy trì mãi mãi cái cũ Bây giờ, chúng ta hãy giả sử rằng một nhúm nhỏ trong nhóm di đân lại đi đến một vùng đất mới khác Họ chỉ mang theo tỉ lệ 5 phần trăm trong tổng dự trữ gien của nhóm gốc Và nếu tình cờ, không ai trong nhóm này mang loại gien này thì kể như loại gien đó đã bị toàn bộ nhóm bỏ rơi Từ đó, hình thành một nhóm cư đân mới hoàn toàn khác hẳn với tổ tiên của
họ về đặc điểm quyết định bởi sự hiện điện của loại gien bị bỏ rơi kia
Xu thế có thể cũng đểng thời đi theo hai hay nhiều hướng khác nhau Hình 8.4 là một mô hình đơn giản biểu thị sự việc này xảy ra như thế nào Chúng ta giả sử rằng tần số của hai loại gien đẳng
vị z và y là bằng nhau Trong mô hình, mỗi ký hiệu z và y tượng trưng cho một tần số gien của 10 phân trăm trong toàn
bộ dự trữ gien của quần thể dân cư gốc
Vì vậy chúng ta bắt đầu với gien năm x
và năm ÿ Giả sử nhóm chia đều ra làm hai, một nửa khăn gói và kéo nhau đi
Và cũng ngẫu nhiên giả sử rằng một nhóm mang 3x và 3y, nhóm kia mang 2x và By Bay gid ching ta hãy theo đồi nhóm đx3y Theo bẩm sinh, con cái họ rỗi cũng tách làm đôi và một nữa lại ra
A
Trang 16đi Tình huống có thể xảy ra với tỉ lệ
một trên năm là nhóm ra đi mang 4xly
và tiếp tục theo truyển thống, nhóm di
dân này lại sinh sôi và chia cắt và nhóm
di dân thế hệ kế tiếp theo tỉ lệ một trên
năm mang 5z0y, ra đời thế hệ F4 khác
han thé hé me 3x2y
"Thế hệ thứ ba của những đi đân tách
biệt kia đã mất tất cả gien loại y Đặc
tính do gien y xác lập từ những nguồn
gốc tổ tiên cũng hoàn toàn biến mất Ở
nhánh 2x3y thế hệ thứ hai bên kia, sự
chia cắt và đi đân có thể cũng sinh ra
một nhóm đân cư hoàn toàn không mang
gien x Nhu vậy từ một nhóm dân cư tổ
tiên gốc không đồng nhất về gien, có
thể sinh sản ra nhiều nhóm dân cư mới
tùy theo tỉ lệ biến đổi của hai loại gien
x và y, một nhóm thuần xz và một nhóm
thuần y Nhóm tổ tiên gốc đã sinh ra ít
nhất ba dòng: một dòng pha tạp như
chính mình, một dòng thuần z và một
dòng thuẫn y Tất cả điều này xảy ra
mà không kèm theo những thay đổi về
các cấu trúc của gien nguyên thủy, mặc
cho những cuồng quay di truyền khi sự
sinh sản nhân đôi xảy ra
Sự hình thành loài
Chúng ta cũng đã nhiều lần để cập
đến phạm trù “chủng loài” Một chủng
loài bao gỗm một hay nhiều quần thể mà
trong đó những thành viên có khả năng
giao phối và sinh sản với nhau và đồng
thời, không thể giao phối với các chủng
loài khác Về phương diện di truyền,
những thành phần cùng chủng loài có
thể trao đổi gien với nhau qua quá trình
sinh sản và những sinh vật khác chủng
loài thì không thể Sự hình thành loài
xảy ra khi hai hoặc nhiều hơn nữa các
nhóm nhô của cùng một quần thể dân cư
gốc tách ra và sống biệt lập với nhau, và
trong quá trình thích nghi với môi trường
mới những nhóm nhỏ này phải vượt qua
những cải biến lớn lao đến độ chúng không
-
còn khả năng giao phối với nhau nữa Đây chính là quá trình sản sinh ra nhánh theo dạng hình cây trong qui trình phát sinh loài (xem hình 8.8) Kết quả đưa đến là sự tiến hóa khác nhau thông qua
sự bức xạ thích nghỉ Hầu hết các chủng loài mới đều hình thành theo cách này Tuy nhiên, trong một số điều kiện hạn chế - chẳng hạn như trên một hòn đảo nhỗ - một chủng loài có thể biến đổi theo thời gian mà không sản sinh ra thêm một chủng loài mới nào khác Một ching loài mới thay thế chủng loài gốc theo một cách rất đơn giản bằng một tiến trình thay đổi đều đặn và được gọi là sự biến đổi
Trong quá trình tiến hóa của chủng loài có dạng giống người, những đòng addi của con người, khi đột, tỉnh tỉnh, và vượn đều xuất phát từ một tổ tiên chung thoi ky Miocene
Su tuyét chiing
Quá nhiều chứng tích hóa thạch của một số chủng loài có khả năng chứng minh một cách thuyết phục rằng chúng
đã hiện điện và tổn tại cách đây không lâu Sự tuyệt chủng là sự thất bại trong việc tái thích nghi với sự biến đổi nhanh chóng của môi trường Một lân nữa, chúng
ta cũng nên nhớ lại rằng hình thái bên ngoài của một sinh vật mới trong một môi trường nào đó, chỉ là sự cải biến cho phù hợp với những điểu kiện môi trường như khí hậu và độ cao của mặt đất Sự tuyệt chủng của một dạng sinh vật nào
đó có thể là một hướng mở tới một tình trạng môi trường sinh thái thích hợp hơn cho một loài sinh vật mới ra đời, với nhiều phương cách để thích nghi hơn Tiến trình bức xạ đã từng bước dần
da dang hóa những hình thái sự sống từ cái khởi điểm giản đơn dầu tiên trong đại nguyên sinh Những hình thức mới
mẻ thường càng lúc càng phức tạp hơn
và hỗn tạp hơn Những loài động vật có
Trang 17vú cao cấp tượng trựng cho hình thức
phức tạp nhất trong thang bậc của sự
sống Do tính ưu việt của hệ thần kinh,
con người là sinh vật phức tạp nhất trong
mọi chủng loài Con người là sắn phẩm
của những sức mạnh tổng hợp và tương
tác lẫn nhau Công việc kế tiếp của chúng
ta là lần theo dấu vết của nhánh người
trong loài động vật có vú cao cấp
Hóa thạch của loài có vú cao cấp
từ thống Focene đến thống
Pleistocene
Những thời kỳ mở đầu thuộc Đại
Nguyên Sinh kéo đài rất lâu, ẩm ướt và
ấm áp Thống Eocen kéo đài từ sáu mươi
triệu năm đến hai mươi triệu năm cách
nay, là thời đại của rừng rậm trùng điệp
bao la, cung cấp môi trường sống cho vô
số những cư đân có vú nhỗ bé, vô danh,
sống trên cây - những loài đã tiến hóa
từ việc ăn côn trùng, mõm đài, tai rộng
thành những cư dân mặt đất thuộc thứ
hạng ăn côn trùng Và đó cũng là khởi
thủy của bộ bán hầu
Ba ban hau théng Eocene
Bộ bán hầu (trước loài khi không đuôi)
là những động vật có vú cao cấp cổ xưa
nhất Hiện nay, đã phát hiện được từ
năm mươi đến sáu mươi chủng loại hóa
thạch của bộ bán hầu được phát hiện trong
vùng Bắc Bán cầu của Cựu và Tân Lục
Địa Thoạt tiên, khả năng thích nghi đáng
chú ý ở loài bán hấu là sự phát triển của
những móng vuốt có thể bám chặt giúp
cho việc chạy nhảy đi chuyển từ cành
này qua cành nọ, cũng như một thị lực
sắc bén để thực hiện những cú chuyển,
nhảy xa chính xác Nhưng rồi chúng bị
suy sụp vì những thời kỳ không thích
hợp Suốt thời gian thống Oligocene,
những biến động môi trường, chẳng hạn
như ở Bắc Mỹ và châu Âu, đã “sàng lọc”
và hủy diệt chúng Có thể chúng đã thích
nghỉ và vượt qua bằng con đường của loài
gặm nhấm, những loài dã biết tạn dung những cánh dông cô phương ĐÁc mút cách hữu hiệu hơn và chắc chắn da œó sự giao
phối với một loài có vú nào đó Tuy nhiút
loài bán hấu đã thành công trong siéc tổn tại ở vùng Trung và Nam Mỹ, những nơi mà tiến trình tiến hóa kế tiếp dã sản sinh ra loài khi Tân Thế Giới - loi khi không có dạng giống con người,
Nam Á và Phi châu, loài bán hấu đá
vượt qua được những thời gian then chốt sau cùng trong thống Eocene và thống
Ogliocene để sản sinh những loài giống
tổ tiên của những đòng dõi nhân chủng hiện nay Có thể cho rằng đời sống trên cây cối đã mang đến một lợi thế chọn lọc
cho loài có vú là khuynh hướng thị lực lập phương Câu nói khuyến dụ “hãy nhìn trước khi nhảy - ăn có nhai, nói có nghĩ”
vẫn còn có giá trị từ đó đến nay (có lẽ là trong trường hợp này) Bộ não lớn dẳn
lên cũng giúp cho những phán đoán chính
xác hơn Dù bất kỳ nguyên nhân nào, thị
lực đã trở thành lập phương và bộ não
đã lớn dần lên
Bộ mũi tạt thống Dligoeene
Chúng ta không phát biện được bất
kỳ hóa thạch của loài có vú thuộc thống
Oligocene ở châu Âu Tuy nhiên, ở Ai
Cập, vấn để lại khác hẳn Một lớp hóa thạch thuộc thời kỳ đầu của thống Oligocene nim duéi ving Fayum, gần
thủ đô Cairo Những trầm tích là một
via béi tich phi sa Hén quan đến sự xuất hiện cũng như sự biến mất của một dãi đất ven Địa Trung Hải
Vào đầu thế kỹ 20, hai mảnh móng vuốt và một ít xương thu được tại
Fayum tượng trưng cho hai chủng loài Parapitheeus và Propliopithecus Trên
cơ sở khuôn mẫu bộ răng, hóa thạch
Parapithecus duge chap nhận thuộc dang giống người thực sự, vì cấu trúc
bộ răng đã được tổng quát hóa một cách đẩy đú theo kiểu răng của loài
khi ở Cựu Luc Dia Tu nam 1960,
A
Trang 18những cuộc khai quật mở rộng do những
nhà nhân chủng học thuộc Trường Đại
Học Yale đã phát hiện được nhiều bộ
phận của hơn một trăm cá thể, những
chứng tích này hiện đang được nghiên
cứu kỹ lưỡng với mục đích có thể hiểu
biết nhiều hơn về chủng loại con người
thuộc thống Oligocene so với những gì
chúng ta đang biết trong hiện tại Chẳng
hạn chỉ một điều thôi, từ năm mươi năm
qua một chiếc móng hóa thạch của chủng
Propliopithecus được xem là tượng trưng
cho một tổ tiên vượn nguyên thủy Ngày
nay hóa thạch này đã được đánh giá là
thuộc chủng của Họ Người Và đánh giá
trên đã biến chứng tích này thành đại
biểu cho quỹ gien tổ tiên chung thuộc
thống Oligocene ma ti đó con người cũng
như tất cả loài khi tiến hóa lên sau này
Nói chung, hóa thạch này đã được chấp
nhận như là đại điện cho một trong các
loài tổ tiên, mà từ đó những sinh vật
giống người - các loài khỉ và con người -
xuất phat
Sinh vat dang người thuộc théng Miocene
Hai mươi triệu năm thuộc thống
Miocene lại là một thời kỳ có điều kiện
khí hậu vô cùng thích hợp cho loài động
vật có vú sống trên cây Ôn hòa và ấm
áp, thường ẩm ướt hơn so với khí hậu
(12) Giả thuyết Boule - Straus được trình bày rất chỉ
tiết trong ấn bản lần thử hai của tác phẩm này (Con
người trong thế giới sơ khai — Man in the Primitive
World) Gid thuyết nay cho rằng con đường tiến hóa từ
một nguồn gốc lổ liên giống khỉ có đuôi (monkeylike
ancesor) thành người là thuộc về những thời kỳ của
Thống Oligocene chứ không phải từ nguồn gốc tổ tiên
giống khĩ không đuôi (apelike ancestor) thuộc những
thời kỳ của Thống Miocene Giả thuyết này còn nhấn
mạnh răng dòng họ tổ lông của loài người chi liên hệ
trực tiếp từ những dòng của các loài khi có đuôi đ Cựu
Thế Giới, mà không phải bước qua giai đoạn tiến hóa
cùng chia sẻ với loài khi không đuôi Những phân tích
về nhiễm sắc thể và huyết thanh gần đây nhất chứng
(6 rằng đây là một điều hoàn loàn không thể xảy ra Và
do vậy, trong thập kỷ này giả thuyết Boule ~ Sirauss
không còn được các nhà chuyên môn chấp nhận nữa,
cũng như chúng ta sẽ không bàn về gid thuyết ấy,
trong ấn bản này nữa
A
của thế giới hiện nay Những khu rừng mưa (một chữ thích hợp hơn chữ rừng rậm, được dùng trong khoa học - rain forest thay vi jungle) bao pha phan lớn
châu Á, châu Phi và thậm chí cả châu
Âu cũng như những vùng có cao độ thấp
hơn Các cao nguyên là những cánh đẳng
cổ và rải rác những vùng đầy cây cối, khí hậu lạnh vừa phải Khắp thế giới
và sản sinh ra những giống loài tiển
thân của các loài vượn khi với con người ngày nay
Thành quả của thống Mioeene là sự
ra đời của những chủng loài đa dạng Đryopithecus và từ chủng loài này chuyển hóa thành chủng pongids (vượn, đười ươi)
và những thành phần thuộc chủng Pan
(tính tỉnh và khi đột) Một hóa thạch
khác của loài khi thuộc thống Miocene liên hệ rất gần gũi với hóa thạch chủng dryopithecus là hóa thạch chủng Proconsul cia chau Phi Pliopithecus la
loại hóa thạch quan trọng thứ ba cửa những chủng loài có dạng người thuộc thống Miocene, ngoài ra còn có một loại
khác là Oreopithecus
Hóa thạch Dryopitheeus Mẫu hóa thạch Ðryopitheeus đầu tiên được nhà cổ
sinh vật học người Pháp Edouard Lartet
mô tả vào năm 1856, ba năm trước khi
Charles Darwin cho ra mắt tác phẩm Nguôn gốc của các chủng loài Hàng thập
niên qua, đặc trưng tiêu biểu của chủng dryopithecus được xác định một cách chắc
chắn dựa vào bộ răng, đặc biệt thường
được nhắc đến là “khuôn mẫu hình chữ
Y- Dryopithecus” của các răng hàm Cũng
từ hình thể một vài chdm sao trên bầu trời, người ta đã liên tưởng để đặt tên
khi nhìn thấy “mẫu” của loại răng này.
Trang 20bằng cả tay chân Có thể loài này đã
sống bằng cả hai cách, nhưng thực tế
cũng cho thấy rằng kiểu cách sống của
loài khỉ đột - tính tính đã được các loài
vượn thuộc Thống Miocene thiết lập sẵn,
những loài đã biết khai thác mặt đất
như một môi trường sống thích hợp.1®
Nhưng đường như thực tế quan trọng
hơn trong giai đoạn tiến hóa thuộc thống
Miocene nay la ching loài Proeonsul
thích đi chuyển bằng cách chuyển từ
cành này qua cành nọ, hơn là chạy dọc
theo cành cây như tất cá tổ tiên đầu
tiên của chúng Đây là sự thích nghỉ
của loài có vú đi cùng với sự tăng trưởng
kích cỡ cơ thể theo chiều hướng phát
triển thành dạng người Và sự thích
nghi này, đến lượt mình lại dẫn đến sự
bức xạ đáp ứng, chọn lọc những điểu
chỉnh theo khuynh hướng sử dụng bàn
tay thay cho móng vuốt Những cơ bản
của sự thao tác bằng tay và việc sử
dụng dụng cụ đã được thiết lập Những
hạt giống đầu tiên của nền văn hóa
cũng sắp sửa được gieo xuống
Hóa thạch Oreoptthecus Hóa thạch
chúng Oreopithecus là loại hóa thạch
dạng người đã được lưu trữ một cách
trang trọng trong những viện bảo tàng
châu Au từ hơn một trăm năm nay Một
mẫu vật là xương hàm với đầy đủ bộ
răng được phát hiện năm 1860 ở
Tuscany (miễn trung nước Ý) được xem
là một hoá thạch của loài khi mém dai
(cercopithecus) thuộc Cựu Lục Địa cũng
được hầu hết các sinh viên chiêm ngưỡng
cả hàng thập niên Một nhà chuyên
môn người Đức, G Schwalbe, năm 1916
cho rằng hóa thạch này đã mang đầy
đủ đặc điểm dạng người và chắc chắn
phải thuộc về một chúng loài khi không
đuôi có dạng người đã tuyệt chủng Năm
1958 là năm mã các hóa thạch
Oreopithecus dù chỉ trưng bày trong các
bảo tàng cũng gây ra nhiều tranh luận
trên toàn thế giới và sự tranh luận này
đã mang lại nhiều thông tin rat thd vi
A
Tién si Johannes Hurzeler thuéc dai hoc
Basel, Thuy Si 14 người đã quay trở lại
vấn để hóa thạch Oreopithecus và từ năm 1954 đã khôi phục lại công tác khai quật các vỉa than non ở vùng đầm lây Pontine Chỉ trong vòng vài năm, ông đã tìm được những bộ phận còn lại của ít nhất bốn mươi cá thể Nhưng phần thưởng đáng giá nhất là phát hiện ngày 2 tháng 8 năm 1958 — một mẫu
vật (bộ xương) hoàn chỉnh đang trong
tinh trang bao quản rất tốt (Hình 8.7)
Hurzeler đã công bố chính hóa thạch
Oreoptthecus này là một con người sơ khai và là thủy tổ đầu tiên của con người Quả thật, xét về mặt niên đại (cuối thống Pliocene - đầu thống Miocene) thì đây quả là một sự kiện
thời sự
Tuy nhiên, những định lượng nghiêm
túc và tỉnh táo hơn sau này lại dẫn đến một kết luận kém phấn khích hơn, W.L Strauss, Jr da tiến hành những sự phân tích bằng phương pháp so sánh với tất
cả những hóa thạch nguyên thủy Theo
quan điểm của Strauss, hóa thạch Oreopithecus rõ ràng là một loài vật có dang giống người Nhưng trong phạm vi các loài có dạng giống người, hóa thạch này có nằm trong gia đình họ người hay không vẫn còn là một vấn để cần phải
xem xét Bộ răng thì rõ ràng là không
thuộc về họ Khi Nhưng xương chỉ sau (từ cổ tay trở xuống) thì lại chứng tổ một sự hoạt động leo trèo bằng tay Vì
vậy, dù có thuộc họ người hay một họ
Oreopitheeus mới mẻ thì rõ ràng còn nhiễu điểu phải chứng mính Và quyết định về vấn để này: “Cơ bản hãy còn là một vấn để cẩn phải sờ mó và ngửi tới
ngửi lu.” G.G Simpson la mét nha
(13) DE biét chi tét han, hay đọc “Sinh vật họ người ở vùng Đông Phí thuộc théng Miocene" (Miocene Hominidae
of East Africa) cla W.E Le Gros Clark và L.S.B, Leakey, (14) W.L Straus Jr - "Phan loại céc ching Oreopithecus” (The Classification of Oreopithecus) va S.L Washburn
“Phương pháp Phân Loại và Sự Tiến Hóa của Nhân toại" (Classificatian and Human Evolutlon), trang †74.
Trang 23va rang him trước phía trong) cũng xấp xỉ
như ở người, không giống với các loài khỉ ~
các răng ngoài thường lớn hơn Như vậy chỉ
với hầm trên này, chúng ta cũng có thể nhận
thấy miệng của hóa thạch này giống với con
người hơn là với các loài khỉ, xét về mức độ
chiểu sâu cũng như độ nhô ra.1?
Kết luận rút ra được từ hóa thạch
này là chủng loài Ramapithecus da phat
triển những đặc điểm của bộ răng thiên
về chiêu hướng giống của loài người hơn
Nếu trong tương lai, có những phát hiện
Năm 1961, Leakey lại khai quật được
ở châu Phi một hoá thạch loại anh em
họ bàng gần gũi với hóa: thạch
Ramapithecus, một mảnh tương tự của
hàm phải trên với một cặp răng hàm
và răng hàm trước Một răng nanh đã
rụng, phát hiện riêng Theo phương pháp
phân tích bằng K-A (Kali - Argon 40),
mẫu vật này được xác định có niên đại
khoảng mười bốn triệu năm, thuộc thời
kỳ đầu Thống Pliocene Theo những gi
được trình bày và báo cáo sau này, cũng
không có điểu gì để phân biệt hóa thạch
này thuộc về một chúng riêng biệt khác
với chủng Rœmapitheeus %% Tuy nhiên,
phát hiện này lại rất quan trọng vì nó
chứng minh rằng hóa thạch dạng
Ramapitheeus không phải là loại mẫu
vật đị thường hiếm có, đông thời cũng
chứng tô rằng những quân thể gồm những
con người nguyên thủy tương cận nhau
đã từng pha trộn hòa lẫn nhau từ một
chủng mẹ Dryopi£hecus, trong cùng thời
kỳ như nhau trên cả hai tiểu lục địa Đông
đã góp công chứng minh một cách thuyết phục rằng trái đất và những hình thái sống trên quả đất đã và đang trải qua quá trình tiến hóa liên tục và dai dẳng
Tình trạng và bối cảnh sống của
những tiên nhân cổ xưa của nhân loại được tái lập nhờ khoa địa tầng học và
khoa địa thời học, những môn khoa học
xây đựng nên tảng trên các yếu tố như:
tỉ lệ phân hủy của các thành phần bức
xạ, phân tích phấn hoa thảo mộc, tính
toán chu vi than cây, thành phẩn hóa
học của các mẫu hóa thạch Sự sống đã bắt đầu từ hai tỷ năm trước đưới đạng đơn bào Quá trình tiến hóa của sự sống bao gồm sự phát triển không ngừng những sự kết hợp tế bào ngày càng phức
tạp hơn và càng da dang hon Qua trình
tiến hóa chính là kết quả của sự biến đổi di truyền và sự thích nghỉ với môi trường bằng sự sàng lọc tự nhiên Tính
liên tục của sự sống được duy trì bằng sự
tái sinh sản của tế bào - bao hàm sự phân bào, đây là quá trình mà các nhiễm sắc thể hình thành và tự tách đôi theo theo chiều dọc, mỗi nửa này lại tìm đến
một tế bào cái, hình thành hai bản sao
giống hệt như tế bào gốc và thay thế cho tế bào này Tuy nhiên, trong những
trường hợp tái sinh sản lưỡng bôi, những
(17) €.6 Coon: “Nguồn gốc của các chủng loài” (The
Origin ot Races), trang 206
(18) Laakey là người nhiệt thành và tận tâm nhất trong
sổ những nhà khoa học đương thời trong công việc tìm kiểm những dấu vết quan trọng của tiền lhân nhân
loại, nhưng cũng thường phấn khích quá mức (một số
người nghĩ như vậy) khi ông có khuynh hướng gán cho
mỗi phát hiện ở các địa phương của mình ít nhất một chủng loài mãi Chẳng hạn, Leakey đã dđật tên cho mẫu vật hóa thạch tìm thấy tại trang trại của ông Kred Wicker ð đất nước Kenya là Kenyanthropus Wickeri
A
Trang 24giao tử - là kết quả của sự phân bào
giảm nhiễm - chỉ nhận một nửa số nhiễm
sắc thể, vì vậy khi hai giao tử đực và
cái kết hợp thì trứng thụ tỉnh hay còn
gọi là hợp tử sẽ thành một bổ thể
Nhiễm sắc thể quyết định giới tính của
giao tử Mỗi cá nhân đều chỉ có một kiểu
di truyền độc nhất, vì vậy thường có
những đột biến xảy ra (khi thay đổi kiểu
di truyén) Gien là đơn vị của các phân
tử DNA, xác định những đặc điểm riêng
biệt (của từng cá thể) và có một tiêu
chuẩn sắp xếp tùy theo nhiễm sắc của
cơ thể Nhưng trong sự hình thành những
cặp nhiễm sắc thể mới, những thành
phần của các nhiễm sắc thể có thể được
tổ chức lại bằng cách trao đổi chéo Khi
điều này xảy ra, thì càng có nhiều biến
đổi hơn
Bổ sung thêm cho sự biến đổi do sự
tái kết hợp gien trong việc sinh sản
lưỡng bôi (sự biến đổi Mendel) là sự biến
đổi của các giao tử do sự đột biến, lai
tạp dong giống, và xu thế di truyền tự
nhiên Sự tiến hóa xảy ra bất kỳ khi
nào sự sàng lọc tự nhiên tác động lên
những biến đổi di truyền dẫn đến sự
sinh sản lệch pha, nghĩa là, khi cơ thể
sở hữu được một vài loại gien nào đó có
khả năng hơn về phương diện tôn tại và
tự sinh sản so với những cơ thể bình
thường trong quần thể Một quần thể
dan cư theo Mendel là một nhóm địa
phương gồm những cá thể cùng chủng
loài giao phối với nhau (trao đổi gien)
Những biến đổi kéo đài trong dự trữ gien
của một quần thể gây ra do sự sàng lọc
tự nhiên, cũng tạo ra sự thích nghỉ môi
trường trong một bộ phận quần thể Khi
có hai hay nhiều hơn các nhóm nhỏ của
một quân thể gốc bị cô lập và phải thích
nghi với những môi trường khác nhau
theo chiêu hướng không thé giao phối
với nhau được nữa, lúc này quá trình
phát sinh loài điễn ra Quá trình tiến
hóa sau đó sẽ sản sinh hai (hay nhiều
hơn) những chủng loài mới Đây chính
Ad
là quá trình bức xạ thích nghỉ mà qua
đó càng ngày càng có nhiều hơn những hình thái sự sống điễn ra và đâm chổi nẩy lộc
Nguồn gốc tổ tiên của tất cả loài có
vú cao cấp đều bắt nguồn từ một số động vật sơ khai có vú thuộc thời kỳ cuối của Đại trưng sinh, và cũng từ những động vật này bộ bán hầu thuộc những thời
kỳ thống Eocene của kỷ thứ ba xuất phát
Bộ bán hầu sinh sôi nẩy nở ở cả hai bán cầu, nhưng hầu hết đã tuyệt chủng
đo điều kiện khí hậu của những thời kỳ thuộc thống Oligocene Bộ bán hầu ngày nay được đại diện bởi các loài khỉ cây, vượn cáo, khỉ mắt cá, Vào những thời
kỳ cuối thuộc Thống Oligocene, những sinh vật có dạng người đã sinh sống và tiến triển ở châu Phi (và có lẽ cả châu 4) và được cho là liên quan đến những
hóa thạch loại Propliopitheeus và Parapithecus
Các loài có vú möm dài tiến triển
riêng biệt từng loài ở cả Tân Thế Giới
và Cựu Lục Địa sau thời kỳ Thống
OlHgocens, và chỉ các loài khỉ có đuôi của
Cựu Lục Địa có mối quan hệ xa xôi với
loài người Các loài khi Cựu Lục Địa này
ngày càng quan hệ gắn bó hơn với cơn người, nhưng không phải là dòng giống nguồn gốc của loài người Những người
nguyên thủy dang héa thạch
Dryopithecus xuất hiện vào những thời
kỳ thuộc Thống Miocene Hóa thạch Proconsul là một loài khi không đuôi châu Phí thuộc Thống Miocene với bộ răng, não bộ, và cơ xương cánh tay biểu
lộ sự vận động bảng tay - tất cả chứng minh rằng dây là một dạng tổ tiên gần
gũi của loài người Hớa thạch
Ramapithecus đại diện cho những tiên nhân của chúng ta thuộc Thống Pliocene,
từ mười bốn triệu năm trước với cấu trúc
bộ răng đây đủ đạng người dã tách biệt
họ ra khỏi những Họ Khi của thời kỳ Thống Miocene Hóa thạch Oreopithecus
Trang 25có thể đã sinh ra một trực hệ duy nhất
của loài khi hoặc người, nếu chúng loài
này sống sót qua khổi những thời kỳ
giữa Thống Miocene, nhưng rất tiếc điều
này đã không xảy ra
Một khoảng trống đài đăng đẳng mười
ba triệu năm vẫn hiện điện giữa hóa thạch
Ramapithecus và sự xuất hiện của sinh
vật - người đầu tiền trong thống
Pleistocene Các hóa thạch có thể lap day
khoảng trống này vẫn chưa được phát hiện
CAC BAI BOC THEM CHON LOC
1 Aitken, M.J: “Ngành uậột lý uà khoa
khảo cổ học” (Physics and Archaeology ,
xuất bản 1961) Một cuốn sổ tay chuyên
nghiệp về những ứng dụng của ngành
vật lý để xác định những niên đại trong
khoa khảo cổ
9 Clark, W.E Le G.: “Mhững tiên nhân,
của loài người: Một dẫn nhập uê sự tiến
hóa của loài có vu cao cấp” (The
Antecedents of Man: An Introduction to
the Evolution of the Primates), xudt ban
1960 Day là một tóm lược chi tiết và
xuyên suốt về cơ cấu thân thể (có tinh
giải phẫu học) Không nặng về kỹ thuật
quá và cũng không đễ đọc lắm, tuy nhiên
rõ ràng và dễ hiểu
8 Dunn, L.C.: “Tính di truyền nà Sự
tiến hóa trong những quân thể nhân loạt”
(Heredity and the Evolution in Human
Populations), xu&t bản 1960 Một dẫn
eet
nhập tương đối đơn giản, được một nhà khoa học hàng đầu viết cho những người không chuyên,
4 Dobzhansky, T: “Di truyén hoc va nguồn gốc của các chủng loài” (Genetics and The Origin of Species), xuất bản
1986 Tác phẩm này cung cấp những kiến
thức cơ bản sinh vật học cũng như những
ý tưởng tiêm ẩn bên trong những phát triển mới nhất của những thành tựu khoa học, dùng để nghiên cứu về những đồng
đõi con người
5 Dobzhansky, T: “Sự tiến triển của nhân loại: Sự tiến hóa của các chủng loài nhén loạt” (Mankind Evolving: The
Evolution of the Human Species), xuat ban
1964 Tác phẩm được viết gần ba mươi
năm sau cuốn “Di truyền học và nguồn
gốc của các chủng loài”, trình bảy những phát hiện mới nhất và những suy tư đẩy tính nhén bản của Dobzhansky về để tài
“nhân loại từ đâu đến và sẽ về đâu”
6 Hole F va R.F Heizer: “Mét dén nhdp vé khoa khdo cé tiên sử” (An Introduction to Prehistoric Archaeology), xuất bản 1965 Tác phẩm hướng dẫn những phương pháp khảo cổ và phục vụ cho cả
giới không chuyên, bao gdm những đoạn
rất hay về địa tầng học và niên đại
7, 8impson, G.G.: “Ý nghĩa của sự Tiến hóa” (The Meaning of Evolution), xuất
bản 1965 Một tác phẩm xuất sắc với sự bình luận và giải thích rất hiện đại về
sự tiến hóa của cơ thể sinh vật
2 Ss
Trang 26Su bién doi
thanh Nguoi
hống Miocene đã cung cấp môi
trường phát triển cho sự sinh sôi nẩy nở nhanh chóng của chúng loài vượn
người tiền sử Thống Pliocene lại thử
thách tối đa những khả năng sinh tôn
của chủng loài này, bởi vì đây là thời
kỳ đầy những thảm họa về khí hậu trên
toàn châu Phi Những cơn mưa Thống Miocene đã chấm dứt và trên mười triệu năm, một sa mạc kỳ dị - rất có thể đã
nối phía bắc Sahara và phía nam
Kalahari - bóp chết luc dia ménh mong
này trong cái nóng như thiêu đốt, trong
cái nghẹt thở của bụi bặm và đất cát
Trang 278a mạc hành hạ, thử thách khả năng
tổn tại của mọi loài động vật có vú trên
con đường tiến hóa, còn hơn cả sự thử
thách của các loại khí hậu giá lạnh ở
phía bắc bán cầu trong Thống Pleistocene
kế tiếp
Tuy vậy, độ ẩm trong những rặng
núi đổi cao ven sườn nam dãy Himalaya,
và có lẽ dọc mạn sườn những dãy núi
cao gân xích đạo của châu Phi cũng đủ
để những bãi cỏ, cây bụi, cây thân mộc
cần thiết cho một môi trường phát triển
và giúp cho loài động vật có vú có thể
sống sót Vì vậy, những động vật đầu
tiên thuộc Họ Người đã tổn tại cho đến
khi lại có những cơn mưa, những trận
bão tuyết của Thống Pleistocene, khi màu
xanh tươi lại trở về bao phủ những vùng
đất thấp và khi những hề, những con
suối ngập tràn nước trở lại
Ảnh hưởng quan trọng của khí hậu
Thống Pleistocene đối với sự tiến hóa
loài động vật có vú dường như là sự thụ
hẹp lại, hoặc ngay cả sự biến mất của
những khu vực rừng rậm Thống Miocene
và thúc đẩy hình thành sự thích nghi
đầu tiên với lối sống trên mặt đất Việc
những động vật có vú đó có thể leo từ
trên cây xuống và chuyển dịch khá giỏi
trên mặt đất, di chuyển từ khu rừng nhỏ
này đến khu rừng nhỏ khác để tìm kiếm
thức ăn cùng sự an toàn, hẳn đã đem
lại cho chúng cơ may tốt nhất để sống
còn và làm tổn tại mãi mãi giống loài
của mình Chỉ có thể suy đoán những
điểu đã thật sự xảy ra đ Thống
Pleistocene, bởi lẽ với khoảng cách hơn
mười triệu năm giữa chúng loài
Ramapithecus va nhiing di tích hóa thạch
thuộc họ người ở mức cao hơn kế tiếp,
thì hiện nay những điểu này vẫn còn là
một chương bổ trống trong lịch sử bộ
động vật có vú Tuy nhiên, khoảng cuối
Thống Pliocene, một loài người vượn đứng
thẳng hoặc một giống người tiền sử, rất
sơ khai đã bắt đầu tiến hóa Những di
tích của loài này đã được tìm thấy trong
những lớp trâm tích thời kỳ đầu Thống
Pleistocene ở châu Phi và Indonesia Day
là những hóa thạch thuộc chung
Australopithecus
Hai chủng loài Australopithecus
“Austral” ham nghĩa miền nam, không
phải là châu Úc, điểm chung duy nhất
giữa chủng Austrdiopitheeus với Australia
(châu Úc) là có vị trí cùng nằm ở những
vĩ độ thuộc Nam bán cầu Mặc đầu một
số người tìm thấy các hoá thạch chủng Australopithecus khác nhau đã phấn khích
đặt tên cho những phát hiện của mình
thành bốn hay năm chủng loài khác nhau, bổ sung cho bai chủng loài có sẵn khác, nhưng ngày nay - sự thống nhất trên quan điểm khoa học là chỉ có một
chủng Australopithecus gôm hai loài Australopithecus Africanus va Australopithecus Robustus (Xem trang 187
- 188)
Hóa thach Australopithecus africanus
Nam 1924, Raymond A Dart, gido
sư khoa giải phẫu Đại học Witwater-
srand, đã báo cáo việc phát hiện một cái sọ gần như hoàn chỉnh của động vật
có vú cao cấp trẻ tuổi trong khu mô đá gần Taung, Rhodesia Những bộ phận
phụ thuộc của cái sọ này cùng nhiều hóa thạch của các loài đã tuyệt chủng thuộc
Thống Pleistocene, kể cả các loài khỉ có đuôi, cho thấy rõ tình trạng rất cổ xưa của hóa thạch Mẫu răng cho biết vật mẫu được sáu tuổi Khuôn mặt cũng như vùng trán hộp sọ không bị sứt mẻ Phần lớn hơn của hộp sọ đã bị thất lạc trong các cuộc khai mỏ, nhưng cách sắp đặt
hoàn thiện bên trong hộp sọ hoá thạch
cho thấy kích thước và hình dạng của bộ não gắn liền với khuôn mặt (xem Hình 9.1) Khó mà xác định một cách chấc chin đặc điểm riêng biệt của chủng loài Australopithecus đầu tiên, bởi lä những đặc điểm về loài đểu không biểu lộ rõ
A
Trang 28ràng ở tuổi chưa thành niên; chỉ có thể
thực biện các so sánh chắc chắn hơn với
những bộ xương người lớn cùng giới tính
Tuy nhiên, Dart cảm thấy an tâm chỉ
trong việc xác nhận một chủng loài mới
thuộc Họ Người; cái tên ông đặt cho loài
này đã trở thành quen thuộc với chúng
ta ngày nay Rồi sau đó, năm 1936 và
những năm kế tiếp, các hóa thạch khác
thuộc chủng Áustralopithecus lại được
phát hiện ở Sterkfontein, Makapansgat,
Swartkrans va Eromdraai - tất cả đều
thuộc Nam Phi - và giá trị của mẫu vật
đầu tiên vùng Taung đại diện cho một
chủng loài mới đã được hoàn toàn công
nhan.™, Vong Sterkfontein đã cung cấp
những cái sọ, từ mười sáu đến mười tám
năm tuổi, hầu như hoàn chỉnh, cộng thêm
một cái sọ chấp vá khác Makapansgat
đã cung cấp ba cái sọ chấp vá Đã thu
được khoảng hai trăm cái răng ở ba vùng
này; do vậy những hiểu biết của chúng
ta về những hộp sọ hoặc về bộ răng là
hoàn toàn không còn mơ hồ nữa
Hinh thai hép sọ Những cái sọ hóa
thach Australopithecus africanus biéu thi
tính chất chung của loài khi, với hộp sọ
nhô và hàm nhô ra, không có cằm Bên
treng hộp sọ nhỏ của các hóa thạch
Australopitheeus africanus, bộ não chiếm
một tỷ lệ vừa phải, thay đổi từ 450 đến
tối đa 700 cm® Bộ não của loài khỉ đột
được ghi nhận là từ 300 đến mức tối đa
(1) Robert Broom da tim thdy héa thach dau tiên ở
Sterkiontein vao nam 1936 Braom đặt lên cho nó là
Plesianthropus, nhưng rõ ràng đây ià một loài
Australopithecus africanus
Khi Dart phát hiện những di tích hóa thạch thuộc một
loài khÍ có dạng người tại Makapansgat vào năm 1951,
ông nghĩ rằng nó có cái gì đó khác với chủng
Australnphhecus africanus mà ông đã lìm thấy ở Taung,
và ông đã giải thích sai về màu sắc các khúc xưởng
động vật liên quan khi cho rằng màu sắc đó là do bị
đốt cháy Mặc dâu không có bằng chứng trực tiếp về
việc sử dụng lửa của loài khi có dạng người này, ông
đã cho rằng loài này đã biết nấu nướng từ thời đó, và
đo vậy, ông đã bồng bột đặt tên cho loài người vượn
này là chủng Ausiralopiiheeus prometheus, “người mang
tai ia" Sav đó, Australopithecus Prometheus đã khiêm
Một câu hỏi có thể được đặt ra về giá trị của các so sánh chỉ dựa trên kích thước
bộ não, vì người ta biết rằng không có sự lương quan giữa kích thước não bộ với khả năng trí tuệ của loài người hiện nay, ngoại trừ những trường hợp bệnh lý gọi
là bệnh đầu nhỏ hay bệnh đấu to Tuy nhiên, trong số những loài thuộc bộ động vật có vú cao cấp và trong việc so sánh với các động vật có hình thái thấp hơn thì thể tích não bộ, điện tích bề mặt vô não và sự phát triển tương đối của các phần khác nhau của não bộ là những hiển thị quan trọng và có thể xác định được về khả năng tỉnh thần tương đối, cũng như
về mức độ khả năng thích nghỉ với môi trường - và đi nhiên bao gồm khả năng sáng tạo văn hóa Chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra rằng những hoá thạch thuộc họ người cấp cao hơn đều có não bộ tương đối lớn; trường hợp của con người hiện đại thì kích thước nhỏ nhất (ngoại trừ những
người ngu đốt bị bệnh nhỏ đâu) là 1.000
cmẺ, trong khi những bộ não lớn nhất không bị bệnh lý là đến 2.000 cm, Thể tích trung bình của não bộ con người là
1.500 cm2 đối với phái nam và kém hơn
50 cm3 ở phái nữ
Hộp so cửa hớa thạch chủng Australopithecus diicanus có dạng một khung vòm cao, hơi tròn so với sọ loài khi đột Đặc điểm kế tiếp thu hút sự chú
ý là vị trí thấp của xương chẩm gắn với các cơ cổ, đế xương chẩm Đặc điểm này
rõ ràng là giống người chứ không phải
là giống khi Hộp sọ của loài động vật
có vú cao cấp có khớp nối với đốt sống đội (các đốt sống cổ đầu tiên) nhờ vào hai cue dang hình củ, các chỗm lỗi cầu
Trang 30nhỏ và giống người Răng nanh, như đã
được ghi chú trong Hình 9-1, hoàn toàn
không giống loài khỉ không đuôi nhưng
rất giống loài người Răng hàm trước một
chỏm, hình nón nhọn một đầu là nét đặc
trưng của loài khỉ đột cận đại đã hoàn
toàn biến mất
Khung xương chậu uà tư thế đứng
thẳng Cho đến bây giờ người ta đã nhận
thấy rằng tất cả những nét đặc trưng
thuộc họ người trong các xương sọ của
chiing Australopithecus africanus, cé thé
được sử dụng để đánh giá cao hon về
chủng loài này so với những đặc điểm
của họ vượn Chỉ cẩn đựa trén minh
chứng từ những cái sọ và những bộ răng,
chúng ta có thể đối diện với một sinh
vật tiên sử, sống trên mặt đất và đứng
thẳng, một sinh vật giống người hơn
khi đột, cho đâu sinh vật này có não bộ
không rõ ràng và có mũi nhô
Không cần phải có nhiều não mới có
thể đứng lên và đi, nhưng cần một cấu
trúc cơ và khung xương thích hợp mới
đạt đến động thái này Một số những
biến đổi về khung xương chậu, xương
chân, xương bàn chân và các mô cơ cố
liên quan là cần thiết Những biến đổi
này cuối cùng biểu thị sự liên quan giữa
hộp sọ với tư thế đứng thẳng, ở một
chừng mực nào đó, là thứ yếu - không
liên quan mật thiết với nhau
Ở những động vật thuộc họ người đâu
tiên, phức hệ tay trước - vai - ngực - cột
sống đầu tiên phải trải qua sự biến đổi
rõ rệt để thích nghỉ với sự vận động bằng
tay Sau đó, khi tổ tiên chủng loài
Australopithecus của loài người đã quen
sống trên mặt đất, bộ phận kế tiếp sẽ
được biến đối đại thể là phức hệ khung
xương chậu - phần thân dưới Sự biến đổi
phức hệ hàm - mặt - hộp sọ (đặc biệt là
sự mở rộng não bộ) diễn ra sau cùng trong
quá trình phát sinh loài người và những
loài tiên thân của Con Người Thông Minh
Hién Đạt? Ngày nay, với những chứng
A
cứ vững chắc và hợp lý, người ta cho rằng phức hệ về các đặc điểm có liên quan tới
tư thế đứng thẳng là một đặc trưng thuộc hình thái bọc quan trọng nhất của dòng giống họ người và là điểu kiện nguyên thủy cần thiết cho việc phát triển tỉnh thần sau này, biểu thị đặc điểm của lodi
người "Toàn bộ khuôn mẫu hình thái
của tứ chí và khung xương chậu của những giống loài tiêu biểu đã được biết đến trong
họ người, biểu thị một tiêu chuẩn giúp
phân biệt một cách rõ ràng và dứt khoát
chúng với những đại diện tiêu biểu của
Ho Vugn.™
Khung xương chậu và chân của chủng
loài Australopithecus thì sao? Hai mươi
ba năm sau phát hiện của Dart về xương
sọ một cá thể nhỏ tuổi vùng Taung, vùng
Sterkfontein đã cung cấp một khung xương
chậu giữa mớ hỗn độn những di tích các
bộ xương khác, may thay cũng gồm đủ cả
xương đùi (femur) và xương chày (tibia) Năm kế tiếp (1948), lại tìm thấy ở vùng
Makapansgat một khung xương chậu của
một người lớn (có thể cho là của người độ tuổi thanh thiếu niền mà xương hàm đã
được phát hiện trước đó, cũng ở cùng trong vùng) Năm 19ã0, lại một xương chậu khác được khai quật tại Sterkfontein Hãy nhìn
sơ qua Hình 9-2 để thấy xương chậu hoá
thạch của chúng loài Austraiopithecus như
thế nào Những biến đổi thích nghỉ về
hình thể khung xương chậu ảnh hưởng về mật chức năng đứng thẳng và di bộ cơ bản như sau:
1 Sự kéo đài phần nối ở bên cơ mông nhằm mở rộng xương chậu Điểu này tạo ra thế cán bằng tương xứng cho
phần trên của cơ thể, tức phản nằm
trên xương cùng
(2) S.L Washburn: “Khoa tan vat ly nhan ching” (The
New Physical Anthropology), chuong 13, ndm 1951, trang 298-304 Déng thdi, W.E.Le G Clark; “Những chứng tích hóa thạch về sự tiến hóa của loài người" (The Fossil Evidence for Human Evolution), cde trang
11, 13-14 và 123
(3) Le G Clark, tác phẩm đã dẫn, trang 12.
Trang 32này cùng cách sống cho chúng ta biết
rằng loài này thật sự lính hoạt và có
thể chạy nhanh bằng chân; phát hiện
đó khiến mệt số nhà nhân chủng học
gọi loài này là “Phi Tiêu Nam Phi”®,
Cuộc sống và nên văn hóa của chủng
lodi Australopithecus africanus
Bộ xương loai Australopithecus
afficanus không đủ để nói lên rằng chủng
loài này đã bước từ tinh trạng loài khi
không đuôi đến tình trạng của loài người
tiền sử, bởi lẽ người ta lập tức sẽ đặt
câu hồi: “Chủng loài này có một nên
văn hóa hay không?” Câu trả lời là:
“Vâng, chắc chắn là cé!”
Từ 1947, Dart đã dũng cảm tuyên bố
rang ching lodi Africanus người
Philistines (Philistines - mét dan téc
thù địch của người Do Thái, ở phía Nam
Palestine hiện nay —- ND) chỉ với một
xương quai không chỉ là một “người phi
tiêu” mà còn là “người tấn công” Vào
những thời đại Kinh thánh, Samson đã
làm gỏi hàng ngàn kẻ thù với hàm của
con lừa Dart đã chứng minh một cách
thuyết phục rằng chủng loai Africanus
là tên sát nhân hàng loạt của các loài
khỉ đầu chó, các loài thú săn khác, và
đã dùng xương đùi của một con linh đương
như một loại vữ khí - đùi cui bằng xương
Loài này, có thể, phần nào giống
Samson, đã sử dụng nửa hàm đưới của
một loài linh dương để làm vũ khí,
Môi trường của loài Africanus 14 thao
nguyên được tưới nước vừa phải, một vùng
đất có các bụi cây và cây thân mộc mọc
rải rác trên những đồng cổ sum suê tươi
tốt Đó là vùng đất tốt nhất cho loài ăn
cổ và có đẩy các thú săn, nhưng lại kém
hap dan đối với loài động vật có vú cao
cấp sống trên cầy Chứng loài
Australopithecus Africanus không sống
trên cây - tay của chúng đã được tự do
bởi tư thế đứng thẳng, nó có thể chạy
nhanh và răng của chúng, giống răng
của chúng ta, là răng của loài an thit.®
A
Chang loai Africanus han đã bắt đầu
ăn thịt khi tranh đua với loài kênh kênh hoặc linh cẩu khi bới tìm xác chết đã thối rữa, nhưng chúng đã vượt qua thói quen này vào thời kỳ chúng phải bỏ lại
bộ xương của chính mình (tuyệt chủng) trong những hang động vùng Nam Phi Chủng loài Aficanus ngày nay bầu như
đã là loài thú ăn thịt xảo quyét Ching
đã vượt qua giai đoạn quyết định chuyển đổi từ loài ăn cổ có dạng người tiễn sử thành loài ăn thịt thuộc họ người Thay mặt chang loai Australopithecus Africanus cia xt Nam Phi, Dart da ding cảm lý lẽ rằng chúng đã sử dụng vũ khí được làm theo kiểu mẫu - chắc chắn không phải là những sông cụ bằng đđ mà là những khúc dùi bằng xương Ai có thể giải thích thêm về vô số các đầu lâu loài khi đầu chó trong những hang động
mà ở đó các hóa thach Australopithecus gficanus được tìm thấy? Có đến bốn mươi tám cái tức 92% trong bộ sưu tập gồm năm mươi hai đầu lâu của loài Parapapio
bị nứt hộp sọ Hầu hết những vết nứt này nằm ở vùng trán bên trái các đầu lâu khi đầu chó và có dấu vết do sự va
(6) Biệt hiệu này được Giáo sư Jesse D Jennings dat ra (7) Xem A A Dart, "Kỹ thuật ăn thịt của chủng loài Auetralopilhecinae" - Predalory Implimenial Technique
of the Australopithecines, (Nhat báo vật lý nhân chũng học Mỹ, số 7 năm 1949), các trang 1 - 16; Sy chuyén đối thành loài ăn thịt từ Loài khi không đuôi đến con người" (Bình luận về Ngôn ngữ học và Nhân chủng
học quốc tế, Quyến 1, 1953) Các lý lê dành cho người vượn africanus, ké giết người được mô tä với nhiều chi
tiết không thuyết phục lắm của Robert Ardrey trong
cuốn "Các chủng loài ö châu Phí, đặc biệt chương 7,
9, và 10 Ngược lai, xem S.L Washburn, “Chủng loài Australopithecines: Những kẻ đi săn hay là những kê
bj sdn? “% Australopithecines: The Hunters or The
Hunteđ? (đặc san Nhà nhân chủng học Mỹ, số 59 năm
1957), các trang 612 - 614, (8) Nếu một người hay hoài nghỉ hồi: "Phải chăng răng của người Bà La Môn ăn chay khác với răng chúng ta?” — cau trả lời sẽ là người Bà La Môn đã không có chế độ ăn kiêng thịt lỪ hơn mội trăm hoặc hai trăm thế
hệ, và họ không nhai sống các loại rễ cây hoặc các
loại rau trải không được nấu chín,
Trang 33cham tay đôi Sử đụng phương pháp quan
sát và lý luận của chuyên gia pháp y,
thì rõ ràng phải xác nhận đây là sự
thảm sát, Giáo sư Dart lý luận rằng
những chứng cớ gián tiếp cho thấy tử
vong do sự tấn công trực diện bằng một
cú đấm trí mạng của những cá thể thuận
tay phải
Tổng số các loại xương hóa thạch
thuộc chúng loài Ausiralopithecus phát
hiến trong hang động vùng
Makaphansgat cho thấy rằng 11,2% là
xương đùi của loài linh dương, cao hơn tỷ
lệ bình thường về xương đùi của các bộ
sưu tập khác về khung xương hóa thạch
của loài linh dương, 90% những xương
đùi này là những mảnh vỡ ra từ đầu gối
(khớp nối có lỗi câu to) Phần này hầu
như đương nhiên được sử dụng làm loại
vũ khí dùi cui Phân nửa các hàm của
loài linh đương có răng“hàm nhọn (một
loại vũ khí tàn độc) cũng được tìm thấy
rất nhiều, vượt hơn cả sự mong đợi, trừ
trường bợp chúng đã được mang vào trong
hang trước
Rõ ràng đây là những vũ khí của loài
Australopithecus dfricanis, người thợ săn
năng nổ, vì không có công cụ bằng đá
nào được tìm thấy trong đống xương hóa
thach cia lodi Australopithecus africanus
trong những uùng thấp hơn ở Nam Phi
Tuy nhiên, đây không phải là vấn để
các sử học chuyên về tiền sử quan tâm
Là những công cụ được sửa đổi thích
ứng, các xương hàm có hình răng cưa
và các loại dùi cui của loai Australo-
pithecus afficanus vùng Nam Phi hẳn
có thể được dùng để phục vụ nhu cầu
một cách hiệu quả hơn những công cụ
làm bằng đá của người Oldowan và của
chủng loài Australo-pithecine ở vùng
Đông Phi
Ching loai Australopithecus robustus
Mẫu vật hóa thạch của sinh vật được
Broom tim thay dau tiên tại Sterkfontein
vao ndm 1948 - 1949 va goi la
Paranthropus (tiéng Hy-Lap: Para = gan
+ anthropos = con người), ngày nay được cống nhán là cửa ching loài Australopithecus nhung là một loài khác với loài dfieanus Loài này to hơn, nặng
nể hơn và nhiều cơ bắp hơn, hơn nữa,
răng hàm to hơn Vì thế tên của loài này là: roðus¿as (thô)
Xương sọ của loài robustus day, hộp
sọ không lớn hơn hộp sọ loài aficaness Thay vì trán tròn như aƒffieanus thì
robustus có trán trợt ra đằng sau, phần
giữa hộp sọ giống như của loài khỉ đột (Hình 9.3) Điều này giải thích rõ tại sao chúng có hàm bạnh, bộ răng đối xứng theo chiều dọc và bám chặt vào các cơ
dày, có chức năng nghiền
Răng loài robusius cũng được vẽ trong
hình Răng dùng để nhai và nghiền (răng tiên hàm và răng hàm) rất to, to hơn răng người cả về độ dài và độ rộng Tuy vậy, các răng cửa hoặc các răng dùng để cắn thì không to hơn của loài gficanus
Răng hàm to, có lớp men dày khoảng 3
mm, dày gấp 3 lần lớp men răng của
loài œ#icanus và con người Chúng bị
mòn và lõm vào, như thể do việc nhai
các thức ăn có sạn - đặc biệt là các rễ cây J T Robinson, người đã thống kê
phân tích trên 375 chiếc răng của loài
Australopithecus robustus, kết luận: Tất
cả những đặc điểm công thức răng của
lodi Paranthropus [Australopithecus robustus], về kích cỡ cũng như tỷ lệ, có
thể giải thích dựa trên giá định rằng việc sàng lọc để giữ lại một phần lớn
những răng có chức năng nghiền và giảm
bớt những chiếc răng kém quan trọng
hơn (răng cửa và răng nanh) tổ ra phù hợp với việc giảm kích cỡ của hàm ở những con vật ăn chay to lớn này.”®
(9) J T Robinson, “Cong thie rang cda chững loài
Australopithecus" (The Dentilien of Auetralopithecinae),
trang 149 - 194
Trang 34Cuéi cing, lodi robustus da cé thém
một cái răng nhọn thứ sáu duy nhất bổ
sung vào những răng hàm của mình Điều
này hiếm khi xảy ra ở người nhưng luôn
luôn xảy ra ở loài robusfus Thực tế này
có thể trở thành một nét chẩn đoán quan
trọng trong mắt xích liên kết loài này
với những vật hóa thạch ở nơi khác, bất
kể ý nghĩa chức năng của nó là gì đối
với các sinh vật
Những mẫu xương chậu hóa thạch vẫn
giữ những nét tương tự những xương chậu
Loài Australopithecus africanus
Loai Australopithecus
robustus
Hình 9-8: Cấu trúc nặng nề cũa khuôn mặt và sợ loài
Australopithecus robustus trái ngược với cấu trúc của
loài Australopilhacus africanus Ca hai mau vat déu
thuéc phai nd (Theo J T Robinson, trang F Clark
Howell va Francois Bourtiere (dinh kém), Sin thai
hạc châu Phi và sy lién hod cda con người, Ban quyén
công ly xuất bản Aldine - 1963 của Cơ sở Wenner-
Gren về Nghiên cửu Nhân loại học)
Ad
cia lodi africanus, ngoai trừ một điểm
là to hơn Những khúc xương dài cho
thấy kích cỡ của một cơ thể to lớn hơn
nhiều (45kg đến 67, kg, so với trọng
lượng từ 22,ðkg đến 40,õkg của loài africanus)
Những dị biệt trong quá trình thích nghỉ
Chúng loài Australopithecus robustus
được minh họa như một loài chuyên đi
mò mẫm với một cây gậy hoặc là tay không để đào bới, nạy rễ cây lên, ăn các loại quả mọng và trái cây trong một bối cảnh khí hậu khá dễ chịu, có mưa mặc
đầu hơi ẩm ướt Australopithecus robustus
là loài gắn bó với suối và hỗ, sống ở những thời kỳ giữa của thống Pleistocene
- thời kỳ có lẽ tương đương với thời đại băng giá thứ hai Loài A/ieanws đã thích
ứng với những điểu kiện khí hậu khá khô ráo ở những thời kỳ đầu Thống
Pleistocene, và có lẽ họ không thích những khu rừng nhỏ, các loại cây dây
leo Loài fobustus không ghét thịt, nhưng các hóa thạch bị vùi lấp cùng với họ cho thấy rằng họ thích những thức ăn có thể nhặt mót một cách dễ đàng và đồng thời cũng không phải là những thợ săn thiện nghệ Nền văn hóa của họ thực chất là văn hóa của kể hái lượm và săn bắt nhỏ Nền văn hoá của loài Af¿canus là văn hóa của thợ
săn thú và người hái lượm
R6 rang hai loài này đại điện cho
những nhánh khác nhau của tổ tiên bí
ẩn thuộc Thống Pleistocene, những người
đã dò tìm nơi trú ngụ ở các bìa rừng thưa
Loài Africanus kiếm ra nơi trú ngụ sớm hơn trong các hang động vùng Nam Phi, nhưng zð ràng về mặt phát sinh loài, họ
là một loài phát triển cao hơn loài
robustus Robus‡us chủ yếu là ăn cây trái
và thảo mộc, nhưng họ lại đứng thẳng được trước Afcønus cũng có đặc điểm
đứng thẳng này, nhưng lại là loài ăn
thịt có răng và những đặc trưng về hộp
sọ giống con người Họ đã tiến hoá nhanh
Trang 35theo chiều hướng như con người Nếu không
làm ra những dụng cụ bằng đá thì họ
cũng là những loài sử dụng công cụ làm
bằng xương."? Cả hai hình thức này đêu
ảnh hưởng đến quá trình tiến hoá thích
nghi thành động vật có hai chân, từ đó
giải phóng hoàn toàn hai tay để có thể
sử dụng công cụ Nhưng chỉ có loài
africanus, bing viée dap ứng lại những
tiềm năng của cuộc sống trên thảo nguyên,
đã chuyển sang chế độ ăn thịt
Sự chuyển đổi chế độ ăn chay của
những loài khi không đuôi ở Thống
Oligocene và Miocene đã tước đoạt của
các chủng loài australopithecine những
khả năng phát triển một cách có hiệu
quá thành loài sát thủ ăn thịt với day
đủ răng nanh và móng vuốt Điểm quan
trọng cân nhấn mạnh là mặc dâu những
răng nanh trông có về đáng sợ của những
con khỉ đột, tỉnh tỉnh, đười ươi và khỉ đầu
chó, tuyệt đối không có bằng chứng nào
từ các báo cáo hiện đại về hành vi của
các loài động vật linh trưởng này - rằng
những răng nanh này được đùng để tự vệ
chống lại những con thú ăn thịt khác
không phải thuộc bộ linh trưởng Về mặt
tính khí, họ không phải là những chiến
binh Sự an toàn của những loài linh
trưởng tiền sử rõ ràng nằm trong sự cẩn
trọng, khôn ngoan và chất phác Nhưng
biến đổi thích nghỉ của lo&i Austra-
lopithecus africanus khi€n ho thich an thit
đường như không là tác nhân quyết định
trong lịch sử người tiền sử, bởi lẽ sở thích
này di cùng với việc sử dụng và sản xuất
dung cy Africanus bắt đầu sử dụng vũ
khí và công cụ khi tay được duỗi thẳng
ra, và thế là tổ tiên của chúng ta bắt đầu
đi trên con đường dẫn đến sự thích nghỉ
văn hoá Nếu sự giải thích của Dart về
bộ xương và hàm của các hoá thạch chủng
loài africanus tim thấy được tại Nam Phi
là đúng (và trường hợp ông ta đưa ra đã
gây ấn tượng sâu sắc), thi loai africenus
đã có nhiều dụng cụ dùng để giết và cắt
Việc họ “làm ra” hay đơn giản chỉ sử
dụng những công cụ này không liên quan
gì đến vấn để Nếu phục vụ tốt mục đích
của họ thì những dụng cụ này là một sự thích nghi văn hoá hữu hiệu, đầy đủ cho
sự tổn sinh trong thời gian và khóng gian đó Vấn đề ở đây là từ bấy giờ trở đi mọi tiến hoá của con người là tác động qua lại diễn ra đồng thời về mặt sinh học và văn hóa: “Có thể hiểu sự tiến hóa
của con người chỉ như một kết quả từ tác
động qua lại của hai sự phát triển này” Như vậy, sự thay đổi trong chế độ ăn uống thuéng ngay cia Jodi africanus da
khuyến khích việc sử dụng công cụ Việc
sử dụng công cụ được cải thiện theo mức
độ nâng cao trí thông minh Cùng với việc
phát triển năng lực trí tuệ, raột yếu tố có
chọn lọc thích hợp có lẽ cũng được vận
hành trong những quần thể chủng loài
australopithecine J T Robinson nhận ra
sự phát triển ở phần phía trên hơn và
phía hai bên của vùng trán các hộp sọ loài aficanus khi so sánh với các sọ loài robutus
(xem Hình 9.3), xem đây là bằng chứng
sy phan tmg thich nghi cia loai africanus,
vì các thùy trước của não là nơi điễn ra
quá trình “liên tưởng” và “suy nghĩ42, Với một người theo phương pháp lý luận
nhu E A Hooton thi diéu nay han có ý
(10) Tai Sterkfontein, ia mét dia phitong cung cap r&t nhiều mẫu vật hóa thạch thuộc chũng loài Africanus so với các địa phương khác, người ta đã không phái hiện được một dụng cụ bằng đá nào dù đã đào ở những lớp trầm tích sâu han Cho đến năm 1956 mới phát hiện một
số riu cắm tay thuộc dạng kiểu của kỳ thứ tư cùng với một hóa thạch thuộc loài alricanus nằm trong một lãng
đá dài độ 50cm Những chiếc ru này do chính sinh vật
này hay một sinh vật thuộc chủng loài khác làm ra vẫn còn là một câu hỗi chưa có lời giải đáp
(11) T Dobzhansky: “Sự tiến hóa: Chất hữu cơ và siêu
hữu cø" (The Evolution: Organic and Superorganic)
Trích trong tập san viện Fockeleller, số 2 năm 1963 chương 1, trang 1
(12) J.T Robinson "Bức xạ thích nghỉ ở chủng loài
Australopithecus và nguồn gốc của con người {Adaptive Radiation in Australopithecines and the Origin of Man)
va F.C Howell & F Bourliere - “Sinh thai Phi Chau va
sự tiến hóa của nhân loại" (African Ecology and Human
Evolulion) irang 410 — 413
Trang 36nghĩa như là sự góp phần vào việc làm
giảm đi các răng nanh, đồng thời làm
hàm ngắn lại và bạnh ra Não nở ra làm
rộng hộp sọ, kéo các chổm cầu lỗi ra xa
phía sau Nếu không phải vì các nguyên
nhân nào khác thì việc giảm kích cố mũi
đòi hỏi theo việc phải giảm bớt các răng
nanh, đây hoàn toàn chỉ là những nguyên
nhan co hoc" Nguge lai, Brace va
Montagu®® suy đoán rằng “vì các răng nanh
của loai Austraiopithecus africanus khéng
hướng người ta nghĩ đến chúng như là
những vũ khí tự vệ có ý nghĩa người ta
có thể kết luận rằng tổ tiên loài
australopithecine đã sử dụng các vũ khí tự
vệ trong một thời gian lâu đủ để những
biến đổi ngẫu nhiên có thể dẫn đến kết
quả là các răng nanh bị giảm đi bằng với
số răng cửa hình thành thêm”
Giả thuyết của Brace và Montagu về
việc răng nanh bị giảm di có một yếu
điểm là dựa trên giả định hoàn toàn
không theo kinh nghiệm - rằng động vật
thuộc họ người có răng nanh giống ngà
voi, sử dụng hoặc đã sử dụng những răng
nanh này như những vũ khí chiến đấu
Ching loài australopithecine ở
Olduvai
Kiến thức của chúng ta về loài
australopithecine được mở rộng nhờ vào
những phát hiện ở vùng Nam Phi Kiến
thức này được mở rộng thành một bức
tranh ngày càng rộng lớn hơn, do những
phát hiện không ngừng tích lũy một cách
nhanh chóng tại Olduvai, nước Tanzania,
miễn Đông châu Phi
Hẻm núi 0Iduvai
Olduvai được gọi là “Hếm núi vĩ đại
trong tiến Ỉrình tiến hóa của con người”
(13) E-A Hoolon "Xuất phát từ toài vượn" (Lp from the
Ape) trang 163 ~ 167
(14) C.L Brace va M.F.A Montagu “Sy tiến hóa của
loài người" (Man's Evolution), trang 227
A
Hém núi này không làm chúng ta kinh
sợ khi nhìn thấy nó, nhưng lạ lùng ở chỗ là tại nơi đây người ta để phát hiện người hóa thạch và những nên văn hóa thời tiên sử, từ thời kỳ đầu xưa cổ nhất đến những thời kỳ cuối của thống Pleistocene Hểm núi bị cắt từ tây sang đông thành bức tường phía tây thung lũng Great Rift Nay là hẻm núi khô cần ở vùng hoang vu nằm lưng
chừng giữa hổ Victoria và ngọn núi huyền thoại Kilimanjaro, cách tây nam thủ đô Nairobi 150 dặm đường chìm bay
Tại đây một loạt các địa tầng - được hình thành do nước và gió - nằm trên những lớp dung nham núi lửa Trong
Pleistocene, sự bất ổn của địa cầu làm cho mặt trên mặt đất của vùng này bị nâng cao lên, và một con sông thời tiền
sử đã cắt ngang qua các địa tang nay, làm lộ diện các bể mặt của chúng từ đáy lên đến đỉnh Bề mặt phong hóa
của hẻm núi liên tục phơi bày các vật
hóa thạch và các đổ tạo tác đã bị chôn
vùi trong các lớp vỉa này
Những khảo sát của khoa địa tầng học tại Olduvai cho thấy năm địa tầng chinh Via tang I gim héa thạch quần thé động vật thuộc thời kỳ cuối Thống
Pleistocene như loài voi hiện nay, ngựa một móng, bò, và một số các loài vật
"Thống Pleistocene còn tổn tại như ngựa
ba móng, voi răng mấu và hươu cao cổ có gac Via tang này hình thành trong thời
kỳ có mưa đâu tiên của châu Phi, thời
kỳ mà cao độ các mặt hề luôn thay đổi (hết đâng lên rồi hạ xuống) Một số địa tang là các đáy hồ với các di tích hóa
thạch của các loài cá, cá sấu và hà mã
Các tầng khác là bể mặt đất Tro núi lửa trút xuống hồ và đất theo từng chu
kỳ Via tầng 1 dày từ 5,6 đến 32 mét (18
đến 105 feet) Phần trên của vỉa tâng |
cho thấy thời kỳ đan xen giữa mưa, khô han va tiéu sa mac
Trang 38NEN VAN HOA THẠCH ANH (DAO BAU)
OLDOWAN Ở VÍA TẢNG I Không có nhiều
điều để mô tả nền văn hóa kỹ nghệ đá
nổi tiếng cổ xưa nhất này Leakey tóm
lược nhu sau:
“Theo thời gian, nễn văn hóa Oldowan được
nói đến như là một “nền văn hóa thạch anh”,
và sự miêu tả này đến một chừng mực não
đó là chính xác, bởi vì đa số những công cụ
thuộc nền văn hóa này trẽn thực tế được làm
từ những viên thạch anh đã bị nước ăn mòn
Tuy nhiên, phải hiểu một cách rõ ràng rằng
những hình thức nguyên liệu khác cũng được
sử dụng bởi những người chế tạo thuộc nên
văn hóa nầy, Những mẫu vật tìm thấy được
chế tạo từ những tảng hoa cương nhỏ, các
mẫu vật khác lại được làm từ những cục
thạch anh thổ, không đồng đều, và dường
như người ta vẫn hổ nghỉ rằng có thể phát
hiện những kho lưu trữ của nền văn hóa này
ở những nơi mà các công cụ chế tạo dao từ
những viên thạch anh bị nước ăn mòn đã hoần
toàn biến mất,t9
Loại công cụ thông thường nhất của nền
văn hóa Oldowan là con dao bầu thô, kích cỡ
khác nhau - từ cỡ trái banh bóng bàn đến cỡ
trái banh bóng rổ Lưỡi bầu được làm bằng
cách bỏ đi những mảnh đẹt theo hai chiều doc
theo một mặt của viên thạch anh hoặc của
những viên đá khác đã chọn, chỗ giao nhau
của những vết lổm chổm này sẽ tạo ra một
lưỡi cắt có mép lổm chởm không đều nhau
Đặc điểm quan trọng nhất của những
loại dụng cụ này là chúng thật sự được
tạo ra một cách có ý thức Những sản
phẩm đơn giản làm ra từ các cục đá
này đều được thực hiện từ một kế hoạch,
một mục đích, một ý tưởng Một động
vật thuộc họ người phối hợp trí óc và
bàn tay nhằm cải thiện các phương tiện
của mình để đạt được mục đích Nếu con
người được định nghĩa là mộ: động vật
có 0ú cao cấp có khả năng làm ra các
công cụ hạn định, thì thật sự đã có
những sinh vật giếng con người ở
Olduvai trước khi vỉa tầng I kết lắng
Ay
Những công cụ làm bằng thạch anh của
loài sinh vật này là một loại đao đùng
để chặt - một trong các loại dao bầu, có nhiễu khả năng được dùng để cắt các
khớp thịi và ăn sống (Không có bằng
chứng về việc sử dụng lửa trong các lớp
kết lắng cia via tang I.)
Chitng loài Australopithecus africanus hay
chủng loài Homo habilis?
(Homo Habilis: tên đặt của một hóa
thạch phát hiện trong vỉa tầng I, hẻm
núi Olduvai, Có thể đây là một chủng
loài phát triển cao hơn, có nguồn gốc từ
chủng loài australopithecine hoặc cũng
có thể là thành viên đầu tiên của chủng
loài Người - ND)
Ngoài những mảnh hóa thạch của một
cá thể trẻ con phát hiện được ở vỉa tầng
1, đi tích khác của một số cá thể cùng loại cùng với một mẫu vật rất hoàn chỉnh: hộp sọ một cá thể người lớn thuộc
loài Ausiralopithecus robustus cũng được
nhóm Leakey phát hiện ở vỉa tầng này.1”? Rõ ràng, có một sự đị biệt về quan điểm trong việc diễn giải các chứng
tích hóa thạch không thuộc loài robus£s
ở vỉa tang I Hau hét các nhà cổ sinh vật học và các nhà tiên sử học chấp nhận ý kiến cho rằng các hóa thạch tìm được ở vỉa tảng I là quần thể địa phương
thuéc loai Austrelopithenus africanus, nhưng Leakey và các nhà vật ly nhân
chủng học cộng sự của ông - P V Tobias
và J Napier - cho rằng những cá thể nhé bé tim thay 6 Via tang I tai Olduvai
là thuộc Họ Người do những cơ sở sau:
(1) hộp sợ của chúng có dung tích ước
cá thể đặc biệt này thuộc về loái australopithecine.
Trang 40Homo sapieas Tool-rnaking
Homo vrectus Homo habitis (2)
Omnivorous:
Erectly bipedal
Tool-using Australopithecus africanus
Austratopit Vegetarian lerralepithccus robustus
Quadrupedel
Orcopithecus
Hình 9-6: Sơ đổ biểu thị học thuyết phổ biến về những
mối quan hệ tiến hoá của những động vật thuộc họ
người (australopithecines) và con người (Homo) Tư
thế, thức ăn, cách chế tạo và sử dụng còng cụ được
trình bây như những yếu tổ quyết định có tưởng quan
với các loại động vật có vú cao cấp Lưu ý rằng ngường
các giai đoạn giữa giai đoạn bốn chân và giai đoạn hai
chân là rãi quan trong và điều này lại phân dòng thành
hai khu vực chủ yếu và không liên tục Cũng lưu ý
rằng đây không phải là mội nhánh gia đình hệ cây mà
chỉ là một đường phân ranh chỉ sự thích nghỉ
hơn 80 cc so với dung tích lớn nhất đã
được biết ở loài australopithecines, (2)
răng nhỏ và những đường nét hộp sọ
cho thấy một “kiểu mẫu toàn diện tiến
hoá thành người hơn là của loai
australopithecines”, và (3) chúng rõ ràng
đã tạo ra những loại dụng cy Oldowan.'*
Do vậy, họ đặt tên cho chủng loài này
là người khéo tay (Homo Hoabilis, tiếng
La-tinh: habiiis = có khả năng, khéo léo)
Luận điểm này cho rằng bất kỳ một cá
thể thuộc họ người nào đã đạt đến mức
độ có được tổ chức văn hóa tâm sinh lý,
thì chính ban thân cá thể đó, đã thuộc
vào nhóm anh em gần gũi của loài người
Tuy vậy, cho dầu các nhà nhân chủng
học có chọn bất kỳ cách gì để gọi những
sinh vật thuộc họ người ở vỉa tảng I, thi
cũng không thể lèo lái những sự kiện
thực tế theo cách này hay theo cách kia
được, và sự quyết định sau cùng theo
nguyên tắc phân loại sẽ tiết lệ được nhiều
điểu hơn về tình trạng tỉnh thần của
những khay đi tích hóa thạch loài
robustus ð Swartkranz, mà theo quan điểm của ông - những xương này khác
véi xuong cia ca ching africanus lan chủng robustus Các hóa thạch này gồm
những miếng xương hàm trên và hàm dưới, có răng (hiển nhiên là của cùng một hộp sọ), một hàm dưới gần như hoàn hảo của một cá thể khác, cùng một số mảnh hộp sọ Năm 1961, Robinson và Leakey đều tin rằng những mảnh này tượng trưng cho một cá thể thuộc họ người đã phát triển cao như loài đã được phát hiện ở vỉa tầng I2
(18) P.V Tobias, "Con người đấu liên ở Dông Phí" (Early Man in East Abica), tap chí Khoa Học, ấn bản
1965, trang 27, và S Tax, “Nguồn gốc của con người” {The Crigin øf ManJ, tạp chí Nhắn chúng học hiện đại,
số 4 năm 1965, chướng 6, trang 342 ~ 439
(19) 8 Cole: “The Prehistory of East Africa ~ Thoi ti6n
sử của vùng Đông Phí”, trang 121
(20) Đây là dạng thái mả Robinson đạt tên id Telanthropus (tiéng Hy-lap: tele = xa + anthropos = con ngudi) trong t4c phdm The Australopithecines and Their Bearing on the Origin of Man and of the Making Tools (Nhat bao Khoa Hoe Nam Phi, quyển
57, ndm 1961, trang 3 — 13.