1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân chủng học: Phần 2

170 3 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân Chủng Học: Phần 2
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Nhân chủng học
Thể loại Chuyên khảo
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 28,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách Nhân chủng học: Phần 2 gồm có các chương sau: Chương 8 Động vật có vú và sự tiến hóa; Chương 9 Sự biến đổi thành người; Chương 10 Con người đứng thẳng và tiên kỳ thời đại đồ đá cũ; Chương 11 Người thông minh thời tiền sử và hậu kỳ thời đồ đá cũ; Chương 12 Buổi ban đầu của thời đại văn minh; Chương 13 Các chủng tộc của nhân loại; Chương 14 Chủng tộc và khả năng văn hóa; Chương 15 Tìm kiếm lương thực. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 2

Nồi cũng tụ tập bây đàn trang bi va

Những thị thành uò bảo uệ con người,

Bằng luật lệ oà những rào cản ngăn

ngừa xung đột

De doa con người, tài sẳn va ve con

Đó là nỗi sợ hãi sai ldm doi vdi quyén

được sinh ra

hoặc những phác thảo rõ ràng hơn, những

nghiên cứu của các ngành khoa học vật

lý, sinh học và nhân chủng học của thế

kỷ vừa qua đã có những bước tiến rất xa

để đẩy lài những lớp sương mù dày đặc

đã từ lâu bao phủ, che khuất quá khứ

của chúng ta Chúng ta cũng không cần

phải nhờ cậy vào trí tưởng tượng hoặc

huyền thoại để tìm hiểu vài điều nào đó

về cội nguồn của mình Với những phương

tiện khảo cổ họt cùng với các chứng tích

hóa thạch, những kỹ thuật của ngành

(1) "Thơ lrào phủng, Thư từ, và Nghệ thuật Thi ca của

Horace” (The Satires, Epislles, and Art of Poeiry of

Horace) — ban dịch của Conington, lẫn san định thứ

bảy, trang 12

_“@

vững chắc hơn về những thực tại đã xảy

ra trong quá khứ so với những tiền nhân

thế kỷ trước

Vấn để của khoa học ngày nay là bái tạo thành chỉ tiết xác thực và cụ thể hơn những đường nét mà theo dé con người — trong quá trình tiến hóa của mình - đã phát triển từ một cơ thể đơn giản, dơn bào thành một sinh — vật — con - người trong Kỷ nguyên cổ đại hai

tỷ năm trước; cũng như để xáe định những quá trình vận hành đã nhào nặn và tạo nên cách sống của con người

Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét một số yếu tố đáng tin cậy về tiến trình sinh học lên quan đến loài động vật có vú, cụ thể như niên đại của hóa thạch, sự vận hành tiến hóa, và các hóa thạch của những động vật có vú tiền sử

Khoa địa chất học và tính chất

cổ đại của loài động vật có vú

Địa tầng học là bộ môn phân tích những trầm tích trong lòng trái đất theo từng địa tầng riêng biệt Những bối cảnh thời gian liên quan mật thiết đến vị trí tương ứng của địa tầng, những địa tầng xếp nằm bên dưới thường có niên đại lớn hơn những địa tầng nằm trên, ngoại trừ có những xáo trộn nghiêm trọng trong lòng địa cầu Trong hầu hết mọi khu vực địa phương trên địa cầu, những thời đại tương quan của từng địa tầng là rất rõ ràng Nhưng không có địa phương nào

có đủ những địa tắng chính yếu có thể nêu ra toàn bộ những bối cảnh tương ứng cho tất cả mọi địa tảng Chìa khóa của vấn dễ chính là xác lập cho được những bối cảnh thời gian chồng chéø lên nhau Và khi chìa khóa của van dé

đã xác lập, vị trí tương quan của một tảng địa chất riêng biệt cũng có thể xác định bằng cách đối chiếu với địa tầng tương ứng Như váy, dịa tầng học có thể nêu ra những thời kỳ liên quan của đất

Trang 3

đá vô tình, của các chứng tích hóa thạch,

và của tất cả những gì có ý nghĩa chứa

đựng trong những hóa thạch đó Và sau

đó tùy theo ý nghĩa thực sự của các chuỗi

sự kiện trong quá trình phát triển tiến

hóa của những hình thái sống - được

sắp xếp lại

Những thời đại và kỷ nguyên địa chất

Thời gian trùng lấp từ khi khởi thủy

vũ trụ cho đến khi địa cầu sinh ra được

gọi là kỹ nguyên vũ trụ, kỷ nguyên địa

chất bắt đầu với những kết tụ của tầng

lớp trâm tích đầu tiên và kéo đài đến

tận ngày nay Kỷ nguyên địa chất gồm

những “lốc” thời gian gọi là thời đại Thời

đại lại đánh dấu bằng một chuyển biến

mạnh mẽ từ những điêu kiện của trái

đất và gọi là Kỷ Năm thời đại địa chất

và những hình thái sống nổi bật được

mô tả trong bảng 8.1 Những biến đổi

thứ yếu về tình trạng địa cầu được gọi là

các nhiễu loạn, nằm trong phạm vi các

thời đại tạo nên các thống và gọi là các

giai đoạn hoặc thời kỳ (period & epoch)

Sự tiến hóa của các loài động vật có vú

xây ra trong cuối kỷ thứ ba Thời đại này

chia làm sáu thời kỳ theo thứ tự thời

gian nhu sau: Paleocene, Eocene,

Oligocene, Miocene, Pliocene, va cudi cimg

là Pleistocene Ba Thong sau Miocene,

Pliocene va Pleistocene ja những thời kỳ quan trong then chốt của những t2 tin

gần gũi của loài người, và món dia chat cdc thoi ky thudc Thdng Pleistocene la ea

sở để nghiên cứu vẻ con người, vì đáy 12 thời kỳ mà chủng Họ Người tiến hóa dén giai đoạn cuối cùng

Kệ thứ bơ (Đại Tên Sinh) Miocene

và Pliocene là những kỷ nguyên ấm áp, Miocene ẩm ướt còn Pliocene khô ráo Pleistocene lại không ổn định, luán chuyển giữa lạnh giá và ấm áp vừa phải Suốt những khoảng thời gian cực kỳ

lạnh giá, tuyết rơi ở những vùng cao độ

và những vĩ tuyến cao của Bắc bán cầu

và không tan chảy nổi trong những mua

hè lạnh giá ngắn ngủi Năm này qua năm nọ, chông chất lên nhau nén xuống

vì sức nặng của chính mình, tuyết biến thành băng Mặc dù ở thể rắn, nhưng băng vẫn có độ bám dính, có thể tan chảy xuống các thung lũng giữa những

trái núi và trải rộng ra thành mõm băng

khổng lỗ trên những vùng rộng lớn Trong suốt quá trình đóng băng ở khắp mọi nơi trên địa cẩu, nước bị nhốt kín

trong băng ở độ sâu hàng trăm bộ dưới mực nước biển Trọng lượng khổng lỗ của các băng hà đè vào các lục địa so với trọng lượng đã nhẹ đi của nước trong các đại dương gây sự sụt lún của các châu

Bảng 8.1: Các thời đại địa chất, thời điểm và các hình thái của sự sống

Kỷ nguyên Thời điểm Độ đài Hình thái nổi bật

Thời hiện đại)

Đại vô sinh 4,5 đến 6 tỷ năm 3 đến 4 tỷ năm Không có sự sống, những tế bảo đấu tiên cũng |

Dai nguyén sinh 1,5 đến 2 tý năm 1,6 đến 3 tỷ năm | Đơn bào và đa bào |

Đại cổ sinh 500 triệu năm 300 triệu năm Động vật không xương sống

Đại trung sinh 200 triệu năm 25 triệu năm Thực vật, rong biển, động vật có vũ ká: bở

Sắt, các loài lưỡng cư, cả :

Kỷ Thứ Ba 78 triệu nằm 75 triệu năm Động vật có vú cao cấp, loi người

Trang 4

A_-lục và làm biến đổi những đường nét

của mặt đất Những khu vực khí hậu ôn

hòa và nhiệt đới nằm ngoài những vùng

băng giá di chuyển và biến đổi, gây ra

những sự di trú trên phạm vi và qui mô

toàn cầu và những lễ lối thích nghi mới

trong đời sống thực và động vật Giai

đoạn Pleistocene là thời gian thử thách

và kích thích những khả năng thích nghỉ,

cũng như đẩy nhanh quá trình phát triển

tiến hóa của loài người

Giữa những hỗn độn dài đăng đẳng

còn lại từ những thời kỳ mà các chuyển

động tiến lên của băng giá chấm dứt

(còn gọi là các băng tích), những trầm

tích bên ngoài lớp đất bêi và những thêm

sông - tất cả đêu tương quan với từng

thời kỳ băng giá riêng biệt Những biến

đổi trong quần thể thực vật và quần thể

động vật cũng tương quan với từng giai

đoạn băng hà Như vậy, ngày nay môn

địa thời học về giai đoạn Pleistocene có

thể xác định một cách hoàn toàn chính

xác từng khu vực cục bộ của trái đất

Những chu kỳ khí hậu chính trong giai

đoạn Pleistocene sinh ra bốn chuyển động

tiến lên đầu tiên của những vỉa băng,

được gọi là những lớp băng hà ở châu

Âu, những lớp băng hà này được đặt tên

theo những thung lũng đọc theo rặng

núi Alpes, trong khi ở Bắc Mỹ chúng

được biết đến tùy theo các tình trạng

ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất của

chúng.” Do những mục đích có sẵn, trong

hình 8.1 chúng ta chỉ cần chỉ danh chúng

bằng những con số, số La Mã dành chỉ

những thời ky bang ha va s6 A — Rap

cho những địa tầng băng tương ứng

Niên đại sữa cáo chứng tích tiển sử

Điều quan trọng khi quan tâm đến

những chuỗi tiến trình tiến hóa chính

là phải Biết hình thái nào của sự sống

xảy ra cùng và sau những chuỗi tiến

trình đó Đối với mục tiêu này, thì niên

đại tương đối của vật chất (tìm thấy

của giai đoạn/thời kỳ đó) cũng đủ đáp

A

ứng Tuy nhiên, thông thường không

thể liên kết một cách trực tiếp một trầm

tích của nơi này trên thế giới với bất

cứ nơi nào khác để kết luận về niên đại của trầm tích Và điều này cũng gây nhiều trở ngại cho việc thiết lập các chuỗi tiến trình tiến hóa, nếu hai chứng tích hóa thạch hay hai trầm tích văn hóa then chốt cùng liên quan Trong

những trường hợp này, niên đại tương

đối tỏ ra rất hữu ích Trong niên đại tuyệt đối, có thể thiết lập những thời

kỳ chính xác hoặc gần chính xác, và từ

đó những thời kỳ tương đối cũng đễ dàng xác định Việc xác định những thời điểm tuyệt đối luôn luôn là một yêu cầu, nhưng không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được việc này

Xác định niên đại bằng hóa lý Đầu thế ký này, Ngài Rutherford và

những cộng sự tại Đại học Cambridge

nước Anh đã chứng minh rằng những

nguyên tố uranium và thorium cũng dần

phân hủy để trở thành chất chỉ không phóng xạ Tý lệ phân hủy được thiết lập và điễn tả bằng số năm của bán chu kỳ phân hủy Bán chu kỳ phân hủy

là khoảng thời gian cần thiết để 50% khối lượng phân tử uranium hay thorium phân hủy thành dạng chì Bảng 8.2 biểu thị những bán chu kỳ phân hủy của các phẩm vật dôi dư của năm loại khoáng chất diễn ra trong một vài loại đá Năm

1907, ý tưởng dùng tỉ lệ chì còn lại

trong những thành phần phóng xạ để

xác định niên đại hình thành của một

vài loại đá tiêu biểu đã ra đời Chẳng

hạn như, số lượng nguyên tử uranium

238 trong một hòn đá cân bằng với số lượng nguyên tử chì 206, có nghĩa là một nửa khối lượng uranium 238 đã chuyển hóa thành chì 206; như vậy, một

(2) Tên các địa tang bang {4 Giinz, Mindel, Riss va Wirm @ chau Au va Kansan, Nebraskan, lilinoisan va Wisconsonian ở lục địa Bắc Mỹ

Trang 5

Bảng 8.2: Các nguyên tố phóng xạ và những sẵn phẩm phân hãy tương ứng Dùng để xác dịnh niên

Uranium 238 Chi 206, helium 4.500

Potassium 40 Galcium 40, Argon 40 1.310

bán chu kỳ phân hủy eda uranium 238

đã trôi qua và tuổi của hòn đá là 4,5 tỷ

năm (với điều kiện không có sự ô nhiễm

hoặc các yếu tế ngoại lai tác động)

Những truy nguyên gần đây nhất cho

thấy rằng có thể tuổi trái đất là 4,ð tỷ

năm và của vũ trụ là từ 4,9 đến 6 tỷ

năm, Trong ngành khảo cổ học, nguyên

tố kali 40-argon (đọc là 40 K-A) rất quan

trọng, vì đưới những điểu kiện tối wu,

loại nguyên tế này có thể xác định

những niên đại chỉ xê dịch từ một trăm

ngàn nãm hoặc hai triệu năm bởi tính

tương đối ngắn của bán chu kỳ phân

hủy của nguyên tố potassium 40.8)

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NIÊN ĐẠI BẰNG

CARBON 14 Ngay sau Thế chiến thứ hai,

một khả năng mới để xác định niên

đại những vật liệu khảo cổ đã dược

nhà vật lý hạt nhân W.E Libby thiết

lập Phương pháp này đặt nến tảng

trên nguyên tắc phân hủy phóng xe

của các nguyên tố, nhưng thay vì chỉ

với các loại đá, phương pháp này có

thể áp dụng với các loại vật chất hữu

cơ khác như gỗ, xương, hạt giống, và

tất cả những hình thái sống của thực

vật Ngoài ra, phương phấp này còn

xử lý được với cả than (khai quật được

từ những biên trường lứa trại ngoài

trời thời tiền sử), những gì còn sót lại

trong các bữa ăn (xương thú vật và các

loại hạt trái cây), và cũng như chính xương của con người, miễn là tất cả những loại mẫu vật này không bị hóa thạch ở mức độ quá đáng

Carbon 14 (C1) hình thành trong tầng bình lưu khi những hạt neutron phóng ra từ các tia vũ trụ đội xuống lớp nitrogen của khí quyển Lúc đó, nitrogen chuyén hóa thành chất phóng

xạ C1, Các chuyển động của khí quyển hòa trộn cân bằng C⁄ với không khí của trái đất Cây cối và các loài thực vật hấp thu C1 trong không khí, các loài động vật lại hấp thu C từ những thức ăn thực vật Khi thực vật hay một động vật chết, tiến trình hấp thu Ơ1“ ngưng lại và tiến trình phân hủy phóng xạ bắt đầu Hiện nay, bán chu

kỳ phân hủy phóng xạ của nguyên tố C“ được ước tính vào khoảng 5.730 năm với sai số + 40 năm.“ Lượng phóng xạ mỗi phút được đo bằng một

(3) H Brown, Tuổi của Thái Dương Hệ (The Age of the Solar System), Chuyén san Scientific American, s& thang 4, 1957, trang 102; A, Knopf, Phuong pháp tính toán thời gian trong dja chat hoe (Measuring Geologic Tima}, Nguyét san The Scientitic Monthly, sé thang

11/1957, trang 226-236; và đặc biệt nên đọc chương

10 của cuốn “Mội dẫn nhập và Khoa khảo cổ thời tiền

sử “(An iniroductlon to Prehlstorie Archaeology} của

F Hole va ALF Heizer

(4) Số ước tính nguyên thủy của Libby là 5.568 năm

A

Trang 7

KHOA NGHIEN cUU TUéi THO CUA GÂY

Thoa nghiên cứu tuổi thọ của cây (Tiếng

Hy Lạp: đendron = cây + logy = nghiên

cứu) hay xác định tuổi cây qua đường

kính (hoặc chu vì) thân cây, sử dụng

một kiến thức thực tế là: nếu rễ cây

không bị ngập nước, các loại cây tăng

trưởng nhanh hơn trong những năm mưa

nhiều so với những năm hạn hán Điều

này lại biểu thị độ tăng trưởng đường

kính thân hàng năm của một số loại

cây, đặc biệt là cây thông Kỹ thuật cơ

bản được dùng ở đây cũng giống như kỹ

thuật dùng để xác lập một khóa chủ

chốt trong địa tầng học, vấn để khác

nhau ở chỗ - một bên chú trọng đến

những đải vĩa các loại đất đá khác nhau,

một bên là sự tăng trưởng đường kính

thân được đem so sánh với bể đày của

các loại cây trong cùng khu vực tương

quan Phương pháp này tuy rất giản dị

và chính xác nhưng chỉ áp dụng được

trong một số môi trường hạn chế Bởi

vậy, những thành tựu quan trọng nhất

đo phương pháp này chỉ đạt mức 1.500

năm ở vùng Tây Nam Mỹ và 4.000 năm

ở bang Nevada Đã có những nỗ lực để

áp dụng phương pháp này tại Thổ Nhĩ

Kỳ và các địa phương bán khô hạn khác,

Môn có sINh vật Học Môn cổ sinh vật

học (Tiếng Hy Lạp: pơioios = cổ, xưa +

onta = sự vật đang tến tại) là khoa

nghiên cứu về sự sống trong các thời

quá khứ xa xưa qua các chứng tích hóa

thạch Kết hợp những quần thể thực vật

và quản thể động vật cùng với những

phân tích có tính biên niên - thứ tự

thời gian về kích — cỡ Những con ma-

mút đây lông lá là những động vật có

vú Kỷ nguyên băng hà di nhiên không

xuất hiện trong những trầm tích của thời

hậu trung sinh hoặc thuộc về Kỷ thứ ba

Trong nhiêu trường hợp thuận lợi và may mắn, tổng tập hợp các hóa thạch khá rõ

ràng của các loài thực vật hay đóng vật (của một hiện trường) có thể cho biết

chúng là trầm tích của thời ky tién, trung

hay hậu của thống Pleistocene

Dù đứng riêng biệt hay kết hợp với nhau, những kỹ thuật nói trên đều giúp

dự đoán những niên đại của thời tiền

sử Bổ sung thêm hoặc bằng kính nghiệm, hoặc bằng phương pháp hoá lý

có thể giúp đạt đến sự chính xác hơn

và đáng tin cậy hơn, vì sự sùy luận đã

được thay thế bằng những thực tế trực tiếp và cụ thể Khi đã xác định được tính chất trong thang biểu thời gian thì nhiệm vụ kế tiếp của chúng ta là nhìn lại một số cơ chế vận hành mà với ý nghĩa của chúng, quá trình tiến

hóa điễn ra

Di truyền học và sự tiến hóa

Làm thế nào các chủng loài tiến hóa thành con người qua một quá trình tuần

tự tiến hóa suốt bao thế hệ thời gian? Chỉ khi nào hiểu được điểu này chúng ta mới có thể trả lời được những câu bồi riêng biệt quay quanh nguồn gốc của loài người: “Loài động vật có vú cao cấp đã phát triển như thế nào từ những động

vật có vú giản đơn?”; “Những hóa thạch

của con người thuộc nhiều chủng loài khác với hóa thạch của loài có vú cao cấp như

thế nào?”; “Các hóa thạch và những loài

có vú đang tổn tại - kể cả con người - liên quan với nhau như thế nào?”

Chúng ta sẽ tìm được những câu trả lời trong thuyết di truyền của Mendel,

trong những nguyên tắc về sự sàng lọc

và thích nghi môi trường trong thiên nhiên, và những nghiên cứu về sự tái

tạo của tế bào Xét về tính chất phức

tạp của môn hóa phân tử và của quả trình sinh sản lưỡng bôi (cell chemistry and biparental reproduction), qua that

A

Trang 8

không thể làm gì hơn ngoài việc để cập

đến những nguyên tắc di truyén hoc co

bản liên quan đến những quan tâm về

nhân chủng của chúng ta Những người

muốn biết tường tận hơn, có thể phải đi

tìm những chí tiết bổ sung trong những

nguôn kiến thức chuyên môn của khoa di

truyền học

Sự sinh sản tế hàø

Chỉ cho đến tận cách đây 100 năm,

quan điểm cho rằng sự sống là sự tự -

đồng - thời - phát - sinh, như hình ánh

của loài giòi chẳng hạn, mới trở nên

phổ biến ở châu Âu và châu Mỹ Tuy

nhiên, vào giữa thế kỷ mười chín, việc

nghiên cứu bằng kính hiển vi những cơ

thể sống đã chứng minh rằng, tất cả cơ

thể là tập hợp của những tế bào và mỗi

tế bào là con đẻ của những tế bào có

trước Khuôn mẫu đi truyền của các sinh

vật sinh sản đơn bôi và sinh sản lưỡng

bôi là khác biệt nhau Vì loài động vật

có vú cao cấp thuộc loại sinh sản lưỡng

bôi, cho nên ở đây chúng ta chỉ cần xem

xét đến loại khuôn mẫu thứ hai - sinh

sản lưỡng bôi

Sự phân bao Cơ thể trưởng thành

của con người được tạo nên bởi hàng tỷ

tỷ tế bào, và được sắp xếp như một hệ

thống hợp nhất Mỗi một trong hàng tỷ

tỷ tế bào này là một phó bản tái sinh

của một cặp tế bào đực và cái (các giao

tử) Sự hợp nhất của một giao tử đực -

còn gọi là tỉnh trùng, với một giao tử cái

- còn gọi là trứng sinh ra một hợp tử hay

một trứng thụ tỉnh Tại thời điểm đầu

tiên trong lịch sử cuộc sống của một cơ

thể, hợp tử tiếp nhận những chất đi truyền

cơ bản và định hình phần lớn tính chất

cấu trúc phân tử của tất cả những phát

triển tế bào tiếp theo sau Cơ thể tự tăng

trưởng bằng cách nhân lên các tế bào bổ

sung, bằng cách phân hóa hay sinh sản

nhân đôi của các tế bào Trong những cơ

thể đa bào, tất cả tế bào đều có nhân,

mỗi nhân lại mang những chất di truyền

A

trong một dung dịch gọi là chất nhiễm sắc Hình thức phân hóa tế bào đặc biệt

xảy ra trong những sinh vật đa bào được

gọi là sự phân bào của tế bào sợi (Tiếng

Hy Lạp: mifos = sợi, tơ), bởi vì loại phân hóa này tiêu biểu cho một giai đoạn hình thành những tế bào sợi từ chất nhiễm sắc Các sợi này lại đến lượt tách ra thành những vật thể có hình dạng riêng biệt

và có thể quan sát bằng kính hiển vi, được gọi là các nhiễm sắc thể (vật thể có màu sắc) Tế bào của con người sản xuất được bốn mươi sáu nhiễm sắc thể và sắp xếp thành hai mươi ba cặp Trong sự phân bào sợi, các nhiễm sắc thể lại tách ra theo chiều đọc thành hai phân nửa riêng biệt, hai nửa này di chuyến đến hai cực đối nghịch của tế bào, sau đó tế bào lại

tự tách thành hai tế bào con mang day

đỗ tính chất của hai mươi ba cặp nhiễm sắc thế Bằng sự phân bào, mỗi nhiễm sắc thể - ngoại trừ các tế bào giới tính -

tự sản sinh những bản sao của chính

mình, hàng tỷ tỷ tế bào đều lặp đi lặp lại quá trình này để hình thành một cơ thể trưởng thành và hoàn thiện Việc những giao tử thực hiện xuyên suốt quá

trình tự sinh sản được gọi là sự phân bào

giảm nhiễm (Tiếng Hy-lạp: meiowm = làm

cho nhồ hơn)

Sự phản bào giảm nhiễm Tình trạng lưỡng bôi xảy ra khi có một bể - thể - nhiễm - sắc bình thường của cặp nhiễm sắc thể tuy mang đặc tính của

cả hai nhưng lại là tế bào giới tính Sự thụ tỉnh kết hợp hai giao tử lại với nhau, trong đó, nếu những tế bào giới

tính nhân đôi lên thì số nhiễm sắc thể

cũng tăng lên gấp đôi cho mỗi đợt phân bào Để ngăn ngừa việc này xảy ra, những tế bào giới tính có một quá trình

tự sinh sản đặc biệt - mỗi giao tử chỉ nhận một trong hai nhiễm sắc thể tách

ra từ một cặp (nhiễm sắc thể) Những giao tử của loài người chỉ có hai mươi

ba nhiễm sắc thể Dù là đực hay cái mỗi giao tử đều kết hợp bất kỳ giao tử

Trang 10

những quy luật về những đặc điểm di

truyền, những quy luật có giá trị đối với

tất cả mọi loài sinh vật Mendel đã nhận

thấy rằng khi hai dòng thuần chủng của

các loài đậu khác nhau (ví dụ như loại

vỏ trơn và loại vỏ nhăn) được lai giếng

với nhau, thì tất cả giống đậu lai đều có

vỏ trơn láng Nhưng khi loại giống này

được đem ủi lai giống một lần nữa với

một đậu khác thì một giống lai mới lại

có những đặc điểm vỏ vừa trơn láng vừa

nhãn theo tỉ lệ xác định là 3 trên 1 Xa

hơn nữa, trong những đời lai giống kế

tục sau, những đặc tính vỏ trơn hoặc

nhăn lại đi truyền một cách không lệ

thuộc và kết hợp với nhau theo đủ các

kiểu cách Mendel cũng đã chứng mỉnh

nhiễu loại đặc điểm khác cũng xảy ra

theo kiểu cách như vậy, như màu sắc

chẳng hạn

CÁC QUY LUẬT TRONG THUYẾT DI TRUYỂN

MENDEL Khi giải thích những quan sát

của mình, Mendel đã lý giải rằng tỉnh

trùng và trứng chứa đựng “những yếu

tế” kiểm soát những đặc điểm của sự

phát triển Những yếu tố này chính là

các gien mới nhất Đi sâu hơn, Mendel

cho rằng mỗi thực vật phải có ít nhất

một yếu tố từ cây bố mẹ Vì vậy, phải

có hai yếu tế cho mỗi đặc điểm của

loài giống con Nhưng khi giống con

lai tạp thì một trong bai yếu tố bị bỏ

qua, và như vậy đối với tỉnh trùng hay

trứng chỉ còn một trong hai yếu tế Sự

việc xảy ra như thế nào, Mendel không

biết nhưng ông đoán rằng sự phân bào

giảm nhiễm chính là quá trình này

Ông còn giải thích rằng sự tái phân

bố những yếu tố trong tế bào con là

hoàn toàn ngẫu nhiên và những tác

động khác nhau của các yếu tố ảnh

hưởng đến những đặc điểm riêng biệt

Chẳng hạn như, yếu tế vỏ láng (của

các hạt đậu) có ưu thế hơn so với yếu

tố vẻ nhăn khi hai hình thái của yếu

tố này được kết hợp trong tế bào của

con giống con Bởi vì những yếu tố kế

thừa truyển giao suốt quá trình sinh sản tế bào là những đơn vị riêng biệt

và được đi truyền như quy luật đầu tiên

về kế thừa của Mendel, được gọi là quy luật chia tách Diễn đạt theo ngôn từ mới, “gien” chính là đồng nghĩa của “yếu tố”, nghĩa là, gien không thể lai tạp,

gien vận hành như những đơn vị độc

lập Chứng đi từ thế hệ này qua thế hệ khác mà vẫn nguyên vẹn và không biến đổi, tùy những đặc tính nổi trội của mình chúng có thể hoặc không thể sản sinh những đặc điểm nổi trội Gien chia tách một cách ngẫu nhiên, cho nên tỷ

lệ những đặc điểm trong các con giống

là có thể dự đoán được.®

Quy luật thứ hai của Mendel điễn tá

sự việc một cặp gien kế thừa về một đặc điểm nào đó, không bị ảnh hướng bởi tính kế thừa của bất kỳ các gien cụ thể nào khác ở trên những nhiễm sắc

thể khác Các kiểm soát di truyền của

các đặc điểm được sắp xếp một cách độc lập giữa các tế bào con và biểu thị một cách độc lập những đặc điểm về vị trí với các gien của những nhiễm sắc

thể khác Đây chính là quy luật về sự

sắp xếp độc lập Quy luật này giải thích mỗi cá nhân — ngoại trừ những cặp song sinh giống hệt nhau, có thể tiếp nhận một tổng hợp duy nhất những đặc tỉnh đi truyền Số lượng sự kết hợp tiêm

năng của các gien trong hai mươi ba

đặc điểm giả định ổ con người được kiểm soát bởi các loại gien trong các cặp

nhiễm sắc thể khác nhau, là vào khoảng

2? hoặc hơn tám triệu kết hợp khác nhau của các giao tử

Trong sự thụ tỉnh, sự kết hợp của các giao tử như vậy cũng tạo ra một số lượng

kết hợp gien là 8.000.000 x 8.000.000

hoặc 64 tỷ tỷ lần Vì số lượng các đặc điểm được kiểm soát bởi các gien định

vị trên những cặp nhiễm sắc thể khác

là nhiễu hơn con số hai mươi ba, nên tổng số lần những kết hợp là quá lớn -

Trang 11

không thể tính hoặc đếm được Và đây

chính là khởi điểm quan trọng thứ hai

của thuyết Mendel về sự biến đổi

Quy luật thứ ba của thuyết di truyền

Mendel lai khéng do Mendel ma do T.H

Morgan (1866 - 1945), nha di truyén hoc

đầu tiên trong số những nhà di truyền

hoc xuất sắc của Đại học Columbia, phat

hiện vào đầu thế ky này (T.K 20 - NÐ)

Đó là quy luật thứ tự trực hệ của gien

Các gien về những đặc điểm cụ thể nào

đó được định vị trong những chuỗi đều

đặn dọc theo một nhiễm sắc thể và nối

kết với nhau do những phản ứng hóa

học, và do đó tất cả thường kế thừa

thành một nhóm sắc thể Khi những

nhóm sắc thể này bắt gặp các hợp tử,

chúng thường xếp đặt thành hai sợi song

song Tuy nhiên, đôi khi chúng xoắn vào

nhau và một đoạn nhiễm sắc thể tách

ra từ điểm xoắn Mỗi đoạn tách rời lại

“nối” với cực đối nghịch, và như vậy sự

đột biến của các đoạn nhiễm sắc đã hoàn

thành Mã di truyền của mỗi nhiễm sắc

thể trong một cặp luôn biến đổi Mặc đù

gien được kết hợp một cách độc lập về

mặt di truyền, nhưng vị trí tương đối

của chúng trên các nhiễm sắc thể là rất

quan trọng, bởi vì gien dẫn đến sự phát

triển các đặc điểm Sự lai giống, bằng

cách biến đổi trạng thái kế cận của gien

có thể chuyển đổi các tác động kết hợp

và chỉnh sửa cấu trúc với hình thức tế

bào của chúng, như vậy một nguồn biến

đổi khác lại được sắn sinh

CÁO KIỂU VÀ HÌNH THÚC DI TRUYỀN Mỗi

cá thể nhận hai loại gen, loại này từ người cha còn loại kia từ người mẹ Các gien riêng biệt kết hợp với nhau thành từng cặp tại các vị trí nhiễm sắc thể

và được gọi là các gien đẳng vị (Tiếng Hy-lap: adielon = ln nhau) Toàn bộ bổ thể của các gien truyền đến mệt hợp tử tạo thành các kiểu đi truyển genotype

(Tiếng Hy-lạp: gen = sinh sdn + typos

= cú, đòn) hoặc còn gọi là cấu tạo di

truyền của cơ thể Khi một cặp gien đẳng vị của một đặc điểm nào trong cơ thể giống nhau (nghĩa là cả hai đều là gien trội hay đều là gien lặn, tình trạng này được gọi là đẳng hợp -komozygous

(Tiếng Hy-lạp: homos = giống nhau +

Zygofos = vợ chồng) Khi cặp gien đẳng

vị không giống nhau (một gien trội và một gien lặn), tình trạng này là đị hợp

- heterozygous (Tiéng Hy-lap: heteros =

khac nhau + zygotos = vg chéng) Hinh

đáng bên ngoài của cơ thể là tổng hợp những đặc điểm của cơ thể, và được gọi

là kiểu hình - phenofype (Tiếng Hy-lạp: phainen = biểu lộ + typos = kiểu, loại)

Các gien lặn được che giấu trong các

kiểu đị hgp heterozygous, su hién diện

của các gien này không biểu lộ một cách

trực tiếp trong kiểu hình đi truyền, và

chỉ được xác định bởi chính sự vận hanh của chúng giữa các gien gốc và các gien

có trước của một cơ thể riêng biệt Đây

là chuỗi quá trình tiến hóa quan trọng

được giải thích rõ hơn từ trang 163 đến

trang 164 (bản địch này)

Các đật biến Như đã thảo luận ở

phần trên, theo thuyết di truyền của

Mendel, những biến đổi di truyền xảy

ra trong (mỗi co thể) cá nhân là sự truyền giao những đặc điểm từ thế hệ

này qua thế hệ khác và vận hành như

một sự kết hợp giới tính của các gien Những biến đổi bổ trợ cũng xảy ra như

là kết quả của những thay đổi nội tại cấu trúc phân tử của gien Đây chính là

sự chỉnh sửa theo mã DNA, thay đổi

A_

Trang 12

tác dụng kiểm soát gien về mặt tăng

trưởng Khi những biến đổi như trên đã

đủ ổn định để tạo nên một lớp gien kế

thừa trong con giống thì chúng được gọi

là các đột biến

“TÂN Số ĐộT BIẾN Tân số đột biến trung

bình được ước lượng vào khoảng 1 trong

100.000 gien Nhưng một giao tử đơn

của cơn người có thể chứa nhiều lần cái

số 100.000 gien này và một đột biến tự

phát từ số lượng này luôn là một sự

tiém tang Sự đột biến gien là loại vũ

khí có thể gây ra cái chết sớm của cơ

thể, như trường hợp sự đột biến sinh ra

chứng loãng-không đông máu Lúc bấy

giờ, cơ thể không còn cơ hội để tái sinh

và gien đột biến không thừa hưởng

những đặc điểm đi truyền Những đột

biến như vậy không mang ý nghĩa của

chuỗi quá trình tiến hóa, trừ phi chúng

nối kết với các gien khác và vì vậy các

loại gien này cũng biến mất cùng loại

đột biến chết người này

Nếu gien đột biến là gien lặn, trong

thế hệ mà sự đột biến đang xảy ra-

hậu quả tác động trên các đặc điểm

không nhìn nhận thấy được Những hậu

quả này sẽ biểu lộ trong những kiểu di

truyền đẳng hợp ñomozygous sau này

và tần số rất thấp Mặt khác, nếu sự

đột biến là nổi trội và không nguy

hiểm, nó sẽ thiết lập được những tác

động rõ ràng và ngay tức khắc Những

tác động này sẽ được kế thừa trong

phần lớn cơ thể con giống Những đột

biến dù có xảy ra một cách hoàn toàn

ngẫu nhiên, sau đó cũng sẽ xây ra đều

đặn và lặp đi lặp lại, trong những điều

kiện có sấn, dưới những hình thức

không nguy hiểm chết người, và trở

thành bền vững lâu dài theo như ¿huyết

phân bố quân cư của Mendel

Thuyết phân bố qudn cu va de

trữ gien Một quần thể theo quan điểm

của Mendel là một nhóm địa phương

gồm nhiều thành viên của một chủng

Ae

loài hầu như chỉ giao phối với nhau và

chi thỉnh thoảng với các thành viên

của những quần thể tương cận (cùng một loài) Tất cả gien do các thành

viên của quần thể sở hữu tạo thành đự

trữ gien Vì vậy dự trữ gien là nguồn cung cấp chất liệu đi truyền của quần thể trong việc thừa kế di truyén của thế hệ tiếp theo Bởi trong quá trình

sinh sản của sự phân bào cũng như sự

phân bào giảm nhiễm, khuynh hướng của cơ thể là chuyển giao một cách tương đối toàn vẹn (không biến đổi) những đặc điểm cho thế hệ kế tiếp",

Sự ổn định này lại làm cho chủng loài

và cơ chế vận hành bị hạn chế về mặt tiến hóa Như là kết quả của sự tiến hóa, những biến đổi về kiểu - hình di truyễn xảy ra từ thế hệ này qua thế

hệ khác, và hình dạng cơ thể cũng nhu đặc điểm trong quá trình sống của quần thể do vậy cũng biến cải theo Nhưng những gì giúp sức và thúc đẩy cho chiều hướng đổi thay này?

Sự biến đổi, sàng lọc tự nhiên và sự

thích nghỉ Những yếu tố làm đảo lộn trạng thái cân bằng di truyền là (1) sự đột biến,

(2) sự sàng lọc tự nhiên, (3) sư Jai tap

quân thể, (4) sự lệch lạc về đi truyền Trong những yếu tố này, hai yếu t6 đầu

là những quá trình tiến hóa và quan

(8) A.C King, sách đã dẫn, trang 201 (9) Quy luật Hardy-Weinherg cho rằng nếu việc giao phối trong cùng nhóm là ngẫu nhiệm, nếu sự đội biến không xảy ra, và quy mô nhóm là lo lớn thì tấn suất gien trong quỹ dự trữ gien vẫn duy trì bất biến từ thế hệ này qua thế hệ khác, điều kiện cân bằng và ổn định di truyền sẽ được duy trì và do vậy không có sự tiến hóa,

Trang 13

chuỗi quá trình phát triển Đặc biệt là

Darwin chứng zninh rằng những biến đổi

kế thừa do môi trường sống ảnh hưởng

nhiều cách khác nhau trong một quần

thể Ông ta đã viết như sau:

Bằng hình thức ẩn dụ, có thể nói rằng hằng

ngày và hằng giờ trên khắp thế giới sự sàng

lọc tự nhiên đang tỉ mẩn xẩy ra với những biến

đổi nhỏ nhoi nhất; loại bổ những cái xấn, duy

trì và bổ sung tất cá những cái gì được cho là

tốt; bất cứ khi nào và bất kỳ nơi đâu khi cơ hội

đưa đến - vận hành trong im lặng một cách vô

tình để làm cho cơ thể con người tốt hơn trong

mối tương quan với những bộ phận cơ thể cũng

như với những điểu kiện sống bên ngoài.t®

'Theo thuật ngữ hiện nay, giữa các

cá thể mang những gien mới tổn tại

đến một mức độ nào đồ và sinh sản

được một lớp hậu duệ, thì những gien

mới được bổ sung vào dự trữ gien và

những đặc trưng riêng biệt của quần

thể sẽ biến đổi theo mức độ đó Tuy

nhiên, nếu vì tác động của môi trường

chung quanh, những gien này thất bại

không tổn tại được để sinh sản thì sự

biến đổi mới cũng không thay đổi dự

trữ gien và cũng không ảnh hưởng đến

những hậu quả tương lai Ngoài việc

tồn tại, các cá thể sở hữu những gien

mới và những đặc tính hậu quả còn tổn

tại với tấn số tương đối lớn so với các

cá thể không chứa đựng (các gien mới),

tấn số tăng những gien mới trong quần

thể từ thế hệ này qua thế hệ khác là

rất lớn

Sự sàng lọc tự nhiên là sự vận hành

của bất kỳ yếu tố môi trường nào lên

những biến đổi di truyền và tạo ra sự

sinh sản lệch pha Những cá thể biến

đổi sinh sản và tổn sinh ổn định vững

chắc nhất là những cá thể dễ thích

nghi với môi trường nhất; từ thế hệ

này qua thế hệ khác, các cá thể này

với môi trường

Trong bối cảnh tiến hóa, câu hỏi quan trọng được đặt ra là sự đột biến

có giá trị tiêu cực (hủy diệt) hay tích

cực (thích nghỉ) đối với sự tổn tại, và nếu có đù là trường hợp nào thì ở mức

độ nào? Khoa di truyền đân tộc học là

khoa học về những loại gien khác nhau trong những môi trường riêng biệt,

trong đó các tấn sế gien, những điều kiện tồn sinh, hay tiém năng sinh sản

được xác định theo toán học Những

điều kiện trên cũng là các chỉ số của

tỷ lệ biến đổi trong quá trình tiến hóa Như vậy, rõ ràng sự đột biến luôn là

sự sàng lọc hữu ích và thường xuyên, cùng với tính cách vượt trội trong một

môi trường ổn định - làm đổi thay một

cách rất nhanh chóng đặc điểm của

một quần thể

Tác động của sự lai tạp giữa các

quân thể dân cư Việc hôn phối đị chủng giữa hai quân thể có dự trữ gien khác nhau là những kết hợp mới giữa các gien

tạo thành một thế hệ con lai tạp giữa

hai quần thể Mặc dù chúng ta đã nói rằng mỗi loại gien chịu trách nhiệm về

một đặc điểm đơn lẻ nào đó, nhưng các loại gien cũng thực sự vận hành như một

dàn hợp xướng và ảnh hưởng đến sự phát triển của nhiều đặc điểm hình - kiếu Những kiểu - hình mới mẻ có thể trở thành đặc trưng của quân thể bất chấp

việc lai giống tiếp tục hay không hoặc

vật lai giống có một sự sàng lọc và điểu

(10) C Darwin, Nguần gốc của các Chững Loài (Nhà xuất bản Macmillan), trang 78.

Trang 14

kiện sinh sản cao hơn vật không lai giếng

hay không Rốt cuộc, là một dạng loại

mới ra đời, như trường hợp đã xảy ra với

những dân tộc Mỹ và Nam Phi đa màu

(Xem chương 13)

Tác động sàng lọc của những biến

đổi môi trường Một chừng mực nào

“đó, môi trường và gien đều không ổn

định Bất kỳ sự biến đổi môi trường nào

cũng sẽ mang đến sự tác động sàng lọc

đối với dự trữ gien của những quần thé

cư dân sinh sống trong môi trường Vì

vậy, trong qua trình tiến hóa sự biến

đổi môi trường quan trọng không kém

sự biến đổi đi truyền Nhưng môi trường

cũng chính là sinh vật và đất đai Bất

kỳ sự biến đổi nào trong đời sống cây cô

hay loài vật cũng chính là sự biến đổi

môi trường và ảnh hưởng đến tất cả

mọi sự vật khác trong môi trường Mỗi

biến động trong quá trình tiến hóa đều

có một tác động phản hồi gây ra những

biến đổi môi trường đối với những sinh

vật khác Do đó, quá trình tiến hóa

nhanh chóng từ thời đại địa chất này

qua thời đại địa chất khác cũng được

cảm nhận như một tác động tích lũy gia

tăng của các biến đối trong một cơ thể

Những tác động thích nghỉ của

bệnh thiếu hồng huyết câu Dù việc

sàng lọc tự nhiên có hoặc không mang

lại sự hữu ích, một đột biến nào đó cũng

luôn phụ thuộc vào môi trường cụ thể

mà quần thể phải tranh đấu để tổn tại

Một sự kiện đã gây ra nhiều mối quan

tâm cho những nhà di truyền học và

nhân chủng học, là việc phát hiện loại

gien lặn có khả năng gây đột biến tạo

ra sự rối loạn máu và được gọi là bệnh

thiếu hông huyết cầu lưỡi liêm, bệnh

này sở dĩ gọi như vậy vì những tế bào

máu bị nhiễm có hình lưỡi hiểm Người

ta tin rằng những kiểu di truyển gien

đẳng hợp tử là 100% nguy hiểm chết

người và những đẳng hợp tử của loại

gien này thường bị đào thải rất sớm

Tuy nhiên, ở trạng thái đẳng hợp, mệt

cá nhân khi nhận một gien trội bình thường từ cha mẹ và một gien lặn đột

biến từ người khác thì đây là kiéu di

truyền không nguy hiểm Những đứa bé đẳng hợp gien này không bị chết nhờ loại gien đơn hình lưỡi liễm Yếu tổ làm cho những nhà khoa học hiện đại phải ngạc nhiên và thích thú là những người

có gien dang đẳng hợp tử lại miễn nhiễm đối với bệnh sốt rét Ở những vùng nhiệt đới của cựu lục địa có bệnh sốt rét, bàng ngàn người mang loại gien trội suy yếu trầm trọng và bị chết vì bệnh sốt rét Những người mang gien ding hợp với một gien lan dang lưỡi liễm lại miễn nhiễm với hệnh sốt rét và phát triển mạnh khỏe hơn những người không có được chút gien lưỡi liềm nào cả Những người này không phải chịu đựng cả hai thứ bệnh sốt rét và thiếu máu

Như vậy, trong môi trường đẩy rẫy bệnh sốt rét, nhóm người mang loại gien

lặn dạng lưỡi liễm có khả năng gây đột

biến trong dự trữ gien của mình rõ ràng

có lợi thế hơn, mặc dù đứa tré sinh ra với dạng gien đẳng hợp này gần như déng nghĩa với sự chết sớm và đây rõ ràng là một sự hy sinh cân thiết để duy trì nòi giống Sự đột biến gien như vậy

là sự nguyễn rủa đối với người dạng gien đẳng hợp tử và là một ân súng đối với người đạng gien dị hợp tứ

Việc xóa bổ được bệnh sốt rét cũng loại bỏ theo cái ưu thế chọn lọc của nhóm người mang loại gien lặn dạng lưỡi liém

có khả náng gây đột biến; và do đó tần

số xuất hiện loại đột biến này cũng thấp hơn trong những khu vực không có bệnh sốt rét so với những vùng bệnh sốt rét hãy còn hoành hành." Sự hiện diện của bệnh sốt rét tác động một cách vừa phải trong việc duy trì loại gien lặn hình

(11) Đọc A.C Allison, “Những lãnh vực đa dạng thải

trong Nhân Logi” (Aspects of Polymorphism in Man)

ấn bản 1955, chương 20, trang 239 - 255.

Trang 15

lưỡi liém co kha nding gay a6t bién trong

quân thể đân cư Do đó, quá trình tiến

hóa theo chiều hướng của bệnh thiếu

hông huyết cầu là một đặc điểm được

duy trì trong những nhóm đân cư sống

của sự đột biến hay sàng lọc tự nhiên

Đây chính là ¿ức động Seuodll Wright,

tác động được đặt theo tên nhà di truyền

học vĩ đại hiện nay, người đã chứng minh

được sự vận hành của xu thế di truyền

tự nhiên

Giả sử một nhóm nhỏ dân cư (hoặc

bat ky nhóm sinh vật nào khác) phải di

cư đến một lãnh thổ mới và hậu quả là

mất liên lạc với những nhóm tổ tiên

nguồn -gốc của họ Và xa hơn nữa cũng

giả sử rằng những thế hệ sau cũng phân

thành những nhóm nhỏ và tách khỏi

những thế hệ trước có nguồn gốc di dân,

để xây dựng quê hương mới ở một nơi

nào khác và cũng sống biệt lập như

những dân tộc riêng biệt,

Trong tình huống mà tần số xuất

hiện của gien tượng trưng cho một đặc

điểm nào đó chỉ đạt 15 phần trăm so

với nhóm dân cư gốc, thì khả năng có

thể xảy ra một cách hoàn toàn dễ dang

là những đi đân mang loại gien này

không thể đạt đến tỉ lệ ð phân trăm,

Trong dự trữ gien của nhóm đân đi cư,

tần số xuất hiện của loại gien này tự

động giảm xuống chỉ còn hai phần ba

Dự trữ gien của những xã hội gốc và

những xã hội mới cũng dị biệt ở mức độ

đó Đi xa hơn nữa, nếu không có sự hôn

phối dị chủng, không có sự đột biến cũng

như những thay đổi trong các yếu tố sàng

lọc tự nhiên thì sự biến đổi vẫn chỉ là

Quần thể có chung XXKXX///YT

nguồn gốc Quần thể F„ XXXVy X4VyV

Quần thể F„ XXXXV XXVVV XXKYV XJWV/

` Quần thể F, xxxxx xxxyy XXJVY VWY/

Hình 8.4: Xu thé di truyền lự nhiên (Hiệu ting Sewall Wrigh trong một chuỗi phân nhánh của các quần thé dân cư Đặc tính của hai quần thể có chung mội nguồn gốc có thể thay dổi thao sự vận hành của quy luất ngẫu nhiên trong sự phân bố các loại gian mà không

cần đến những đột biến riêng tả

việc duy trì mãi mãi cái cũ Bây giờ, chúng ta hãy giả sử rằng một nhúm nhỏ trong nhóm di đân lại đi đến một vùng đất mới khác Họ chỉ mang theo tỉ lệ 5 phần trăm trong tổng dự trữ gien của nhóm gốc Và nếu tình cờ, không ai trong nhóm này mang loại gien này thì kể như loại gien đó đã bị toàn bộ nhóm bỏ rơi Từ đó, hình thành một nhóm cư đân mới hoàn toàn khác hẳn với tổ tiên của

họ về đặc điểm quyết định bởi sự hiện điện của loại gien bị bỏ rơi kia

Xu thế có thể cũng đểng thời đi theo hai hay nhiều hướng khác nhau Hình 8.4 là một mô hình đơn giản biểu thị sự việc này xảy ra như thế nào Chúng ta giả sử rằng tần số của hai loại gien đẳng

vị z và y là bằng nhau Trong mô hình, mỗi ký hiệu z và y tượng trưng cho một tần số gien của 10 phân trăm trong toàn

bộ dự trữ gien của quần thể dân cư gốc

Vì vậy chúng ta bắt đầu với gien năm x

và năm ÿ Giả sử nhóm chia đều ra làm hai, một nửa khăn gói và kéo nhau đi

Và cũng ngẫu nhiên giả sử rằng một nhóm mang 3x và 3y, nhóm kia mang 2x và By Bay gid ching ta hãy theo đồi nhóm đx3y Theo bẩm sinh, con cái họ rỗi cũng tách làm đôi và một nữa lại ra

A

Trang 16

đi Tình huống có thể xảy ra với tỉ lệ

một trên năm là nhóm ra đi mang 4xly

và tiếp tục theo truyển thống, nhóm di

dân này lại sinh sôi và chia cắt và nhóm

di dân thế hệ kế tiếp theo tỉ lệ một trên

năm mang 5z0y, ra đời thế hệ F4 khác

han thé hé me 3x2y

"Thế hệ thứ ba của những đi đân tách

biệt kia đã mất tất cả gien loại y Đặc

tính do gien y xác lập từ những nguồn

gốc tổ tiên cũng hoàn toàn biến mất Ở

nhánh 2x3y thế hệ thứ hai bên kia, sự

chia cắt và đi đân có thể cũng sinh ra

một nhóm đân cư hoàn toàn không mang

gien x Nhu vậy từ một nhóm dân cư tổ

tiên gốc không đồng nhất về gien, có

thể sinh sản ra nhiều nhóm dân cư mới

tùy theo tỉ lệ biến đổi của hai loại gien

x và y, một nhóm thuần xz và một nhóm

thuần y Nhóm tổ tiên gốc đã sinh ra ít

nhất ba dòng: một dòng pha tạp như

chính mình, một dòng thuần z và một

dòng thuẫn y Tất cả điều này xảy ra

mà không kèm theo những thay đổi về

các cấu trúc của gien nguyên thủy, mặc

cho những cuồng quay di truyền khi sự

sinh sản nhân đôi xảy ra

Sự hình thành loài

Chúng ta cũng đã nhiều lần để cập

đến phạm trù “chủng loài” Một chủng

loài bao gỗm một hay nhiều quần thể mà

trong đó những thành viên có khả năng

giao phối và sinh sản với nhau và đồng

thời, không thể giao phối với các chủng

loài khác Về phương diện di truyền,

những thành phần cùng chủng loài có

thể trao đổi gien với nhau qua quá trình

sinh sản và những sinh vật khác chủng

loài thì không thể Sự hình thành loài

xảy ra khi hai hoặc nhiều hơn nữa các

nhóm nhô của cùng một quần thể dân cư

gốc tách ra và sống biệt lập với nhau, và

trong quá trình thích nghi với môi trường

mới những nhóm nhỏ này phải vượt qua

những cải biến lớn lao đến độ chúng không

-

còn khả năng giao phối với nhau nữa Đây chính là quá trình sản sinh ra nhánh theo dạng hình cây trong qui trình phát sinh loài (xem hình 8.8) Kết quả đưa đến là sự tiến hóa khác nhau thông qua

sự bức xạ thích nghỉ Hầu hết các chủng loài mới đều hình thành theo cách này Tuy nhiên, trong một số điều kiện hạn chế - chẳng hạn như trên một hòn đảo nhỗ - một chủng loài có thể biến đổi theo thời gian mà không sản sinh ra thêm một chủng loài mới nào khác Một ching loài mới thay thế chủng loài gốc theo một cách rất đơn giản bằng một tiến trình thay đổi đều đặn và được gọi là sự biến đổi

Trong quá trình tiến hóa của chủng loài có dạng giống người, những đòng addi của con người, khi đột, tỉnh tỉnh, và vượn đều xuất phát từ một tổ tiên chung thoi ky Miocene

Su tuyét chiing

Quá nhiều chứng tích hóa thạch của một số chủng loài có khả năng chứng minh một cách thuyết phục rằng chúng

đã hiện điện và tổn tại cách đây không lâu Sự tuyệt chủng là sự thất bại trong việc tái thích nghi với sự biến đổi nhanh chóng của môi trường Một lân nữa, chúng

ta cũng nên nhớ lại rằng hình thái bên ngoài của một sinh vật mới trong một môi trường nào đó, chỉ là sự cải biến cho phù hợp với những điểu kiện môi trường như khí hậu và độ cao của mặt đất Sự tuyệt chủng của một dạng sinh vật nào

đó có thể là một hướng mở tới một tình trạng môi trường sinh thái thích hợp hơn cho một loài sinh vật mới ra đời, với nhiều phương cách để thích nghi hơn Tiến trình bức xạ đã từng bước dần

da dang hóa những hình thái sự sống từ cái khởi điểm giản đơn dầu tiên trong đại nguyên sinh Những hình thức mới

mẻ thường càng lúc càng phức tạp hơn

và hỗn tạp hơn Những loài động vật có

Trang 17

vú cao cấp tượng trựng cho hình thức

phức tạp nhất trong thang bậc của sự

sống Do tính ưu việt của hệ thần kinh,

con người là sinh vật phức tạp nhất trong

mọi chủng loài Con người là sắn phẩm

của những sức mạnh tổng hợp và tương

tác lẫn nhau Công việc kế tiếp của chúng

ta là lần theo dấu vết của nhánh người

trong loài động vật có vú cao cấp

Hóa thạch của loài có vú cao cấp

từ thống Focene đến thống

Pleistocene

Những thời kỳ mở đầu thuộc Đại

Nguyên Sinh kéo đài rất lâu, ẩm ướt và

ấm áp Thống Eocen kéo đài từ sáu mươi

triệu năm đến hai mươi triệu năm cách

nay, là thời đại của rừng rậm trùng điệp

bao la, cung cấp môi trường sống cho vô

số những cư đân có vú nhỗ bé, vô danh,

sống trên cây - những loài đã tiến hóa

từ việc ăn côn trùng, mõm đài, tai rộng

thành những cư dân mặt đất thuộc thứ

hạng ăn côn trùng Và đó cũng là khởi

thủy của bộ bán hầu

Ba ban hau théng Eocene

Bộ bán hầu (trước loài khi không đuôi)

là những động vật có vú cao cấp cổ xưa

nhất Hiện nay, đã phát hiện được từ

năm mươi đến sáu mươi chủng loại hóa

thạch của bộ bán hầu được phát hiện trong

vùng Bắc Bán cầu của Cựu và Tân Lục

Địa Thoạt tiên, khả năng thích nghi đáng

chú ý ở loài bán hấu là sự phát triển của

những móng vuốt có thể bám chặt giúp

cho việc chạy nhảy đi chuyển từ cành

này qua cành nọ, cũng như một thị lực

sắc bén để thực hiện những cú chuyển,

nhảy xa chính xác Nhưng rồi chúng bị

suy sụp vì những thời kỳ không thích

hợp Suốt thời gian thống Oligocene,

những biến động môi trường, chẳng hạn

như ở Bắc Mỹ và châu Âu, đã “sàng lọc”

và hủy diệt chúng Có thể chúng đã thích

nghỉ và vượt qua bằng con đường của loài

gặm nhấm, những loài dã biết tạn dung những cánh dông cô phương ĐÁc mút cách hữu hiệu hơn và chắc chắn da œó sự giao

phối với một loài có vú nào đó Tuy nhiút

loài bán hấu đã thành công trong siéc tổn tại ở vùng Trung và Nam Mỹ, những nơi mà tiến trình tiến hóa kế tiếp dã sản sinh ra loài khi Tân Thế Giới - loi khi không có dạng giống con người,

Nam Á và Phi châu, loài bán hấu đá

vượt qua được những thời gian then chốt sau cùng trong thống Eocene và thống

Ogliocene để sản sinh những loài giống

tổ tiên của những đòng dõi nhân chủng hiện nay Có thể cho rằng đời sống trên cây cối đã mang đến một lợi thế chọn lọc

cho loài có vú là khuynh hướng thị lực lập phương Câu nói khuyến dụ “hãy nhìn trước khi nhảy - ăn có nhai, nói có nghĩ”

vẫn còn có giá trị từ đó đến nay (có lẽ là trong trường hợp này) Bộ não lớn dẳn

lên cũng giúp cho những phán đoán chính

xác hơn Dù bất kỳ nguyên nhân nào, thị

lực đã trở thành lập phương và bộ não

đã lớn dần lên

Bộ mũi tạt thống Dligoeene

Chúng ta không phát biện được bất

kỳ hóa thạch của loài có vú thuộc thống

Oligocene ở châu Âu Tuy nhiên, ở Ai

Cập, vấn để lại khác hẳn Một lớp hóa thạch thuộc thời kỳ đầu của thống Oligocene nim duéi ving Fayum, gần

thủ đô Cairo Những trầm tích là một

via béi tich phi sa Hén quan đến sự xuất hiện cũng như sự biến mất của một dãi đất ven Địa Trung Hải

Vào đầu thế kỹ 20, hai mảnh móng vuốt và một ít xương thu được tại

Fayum tượng trưng cho hai chủng loài Parapitheeus và Propliopithecus Trên

cơ sở khuôn mẫu bộ răng, hóa thạch

Parapithecus duge chap nhận thuộc dang giống người thực sự, vì cấu trúc

bộ răng đã được tổng quát hóa một cách đẩy đú theo kiểu răng của loài

khi ở Cựu Luc Dia Tu nam 1960,

A

Trang 18

những cuộc khai quật mở rộng do những

nhà nhân chủng học thuộc Trường Đại

Học Yale đã phát hiện được nhiều bộ

phận của hơn một trăm cá thể, những

chứng tích này hiện đang được nghiên

cứu kỹ lưỡng với mục đích có thể hiểu

biết nhiều hơn về chủng loại con người

thuộc thống Oligocene so với những gì

chúng ta đang biết trong hiện tại Chẳng

hạn chỉ một điều thôi, từ năm mươi năm

qua một chiếc móng hóa thạch của chủng

Propliopithecus được xem là tượng trưng

cho một tổ tiên vượn nguyên thủy Ngày

nay hóa thạch này đã được đánh giá là

thuộc chủng của Họ Người Và đánh giá

trên đã biến chứng tích này thành đại

biểu cho quỹ gien tổ tiên chung thuộc

thống Oligocene ma ti đó con người cũng

như tất cả loài khi tiến hóa lên sau này

Nói chung, hóa thạch này đã được chấp

nhận như là đại điện cho một trong các

loài tổ tiên, mà từ đó những sinh vật

giống người - các loài khỉ và con người -

xuất phat

Sinh vat dang người thuộc théng Miocene

Hai mươi triệu năm thuộc thống

Miocene lại là một thời kỳ có điều kiện

khí hậu vô cùng thích hợp cho loài động

vật có vú sống trên cây Ôn hòa và ấm

áp, thường ẩm ướt hơn so với khí hậu

(12) Giả thuyết Boule - Straus được trình bày rất chỉ

tiết trong ấn bản lần thử hai của tác phẩm này (Con

người trong thế giới sơ khai — Man in the Primitive

World) Gid thuyết nay cho rằng con đường tiến hóa từ

một nguồn gốc lổ liên giống khỉ có đuôi (monkeylike

ancesor) thành người là thuộc về những thời kỳ của

Thống Oligocene chứ không phải từ nguồn gốc tổ tiên

giống khĩ không đuôi (apelike ancestor) thuộc những

thời kỳ của Thống Miocene Giả thuyết này còn nhấn

mạnh răng dòng họ tổ lông của loài người chi liên hệ

trực tiếp từ những dòng của các loài khi có đuôi đ Cựu

Thế Giới, mà không phải bước qua giai đoạn tiến hóa

cùng chia sẻ với loài khi không đuôi Những phân tích

về nhiễm sắc thể và huyết thanh gần đây nhất chứng

(6 rằng đây là một điều hoàn loàn không thể xảy ra Và

do vậy, trong thập kỷ này giả thuyết Boule ~ Sirauss

không còn được các nhà chuyên môn chấp nhận nữa,

cũng như chúng ta sẽ không bàn về gid thuyết ấy,

trong ấn bản này nữa

A

của thế giới hiện nay Những khu rừng mưa (một chữ thích hợp hơn chữ rừng rậm, được dùng trong khoa học - rain forest thay vi jungle) bao pha phan lớn

châu Á, châu Phi và thậm chí cả châu

Âu cũng như những vùng có cao độ thấp

hơn Các cao nguyên là những cánh đẳng

cổ và rải rác những vùng đầy cây cối, khí hậu lạnh vừa phải Khắp thế giới

và sản sinh ra những giống loài tiển

thân của các loài vượn khi với con người ngày nay

Thành quả của thống Mioeene là sự

ra đời của những chủng loài đa dạng Đryopithecus và từ chủng loài này chuyển hóa thành chủng pongids (vượn, đười ươi)

và những thành phần thuộc chủng Pan

(tính tỉnh và khi đột) Một hóa thạch

khác của loài khi thuộc thống Miocene liên hệ rất gần gũi với hóa thạch chủng dryopithecus là hóa thạch chủng Proconsul cia chau Phi Pliopithecus la

loại hóa thạch quan trọng thứ ba cửa những chủng loài có dạng người thuộc thống Miocene, ngoài ra còn có một loại

khác là Oreopithecus

Hóa thạch Dryopitheeus Mẫu hóa thạch Ðryopitheeus đầu tiên được nhà cổ

sinh vật học người Pháp Edouard Lartet

mô tả vào năm 1856, ba năm trước khi

Charles Darwin cho ra mắt tác phẩm Nguôn gốc của các chủng loài Hàng thập

niên qua, đặc trưng tiêu biểu của chủng dryopithecus được xác định một cách chắc

chắn dựa vào bộ răng, đặc biệt thường

được nhắc đến là “khuôn mẫu hình chữ

Y- Dryopithecus” của các răng hàm Cũng

từ hình thể một vài chdm sao trên bầu trời, người ta đã liên tưởng để đặt tên

khi nhìn thấy “mẫu” của loại răng này.

Trang 20

bằng cả tay chân Có thể loài này đã

sống bằng cả hai cách, nhưng thực tế

cũng cho thấy rằng kiểu cách sống của

loài khỉ đột - tính tính đã được các loài

vượn thuộc Thống Miocene thiết lập sẵn,

những loài đã biết khai thác mặt đất

như một môi trường sống thích hợp.1®

Nhưng đường như thực tế quan trọng

hơn trong giai đoạn tiến hóa thuộc thống

Miocene nay la ching loài Proeonsul

thích đi chuyển bằng cách chuyển từ

cành này qua cành nọ, hơn là chạy dọc

theo cành cây như tất cá tổ tiên đầu

tiên của chúng Đây là sự thích nghỉ

của loài có vú đi cùng với sự tăng trưởng

kích cỡ cơ thể theo chiều hướng phát

triển thành dạng người Và sự thích

nghi này, đến lượt mình lại dẫn đến sự

bức xạ đáp ứng, chọn lọc những điểu

chỉnh theo khuynh hướng sử dụng bàn

tay thay cho móng vuốt Những cơ bản

của sự thao tác bằng tay và việc sử

dụng dụng cụ đã được thiết lập Những

hạt giống đầu tiên của nền văn hóa

cũng sắp sửa được gieo xuống

Hóa thạch Oreoptthecus Hóa thạch

chúng Oreopithecus là loại hóa thạch

dạng người đã được lưu trữ một cách

trang trọng trong những viện bảo tàng

châu Au từ hơn một trăm năm nay Một

mẫu vật là xương hàm với đầy đủ bộ

răng được phát hiện năm 1860 ở

Tuscany (miễn trung nước Ý) được xem

là một hoá thạch của loài khi mém dai

(cercopithecus) thuộc Cựu Lục Địa cũng

được hầu hết các sinh viên chiêm ngưỡng

cả hàng thập niên Một nhà chuyên

môn người Đức, G Schwalbe, năm 1916

cho rằng hóa thạch này đã mang đầy

đủ đặc điểm dạng người và chắc chắn

phải thuộc về một chúng loài khi không

đuôi có dạng người đã tuyệt chủng Năm

1958 là năm mã các hóa thạch

Oreopithecus dù chỉ trưng bày trong các

bảo tàng cũng gây ra nhiều tranh luận

trên toàn thế giới và sự tranh luận này

đã mang lại nhiều thông tin rat thd vi

A

Tién si Johannes Hurzeler thuéc dai hoc

Basel, Thuy Si 14 người đã quay trở lại

vấn để hóa thạch Oreopithecus và từ năm 1954 đã khôi phục lại công tác khai quật các vỉa than non ở vùng đầm lây Pontine Chỉ trong vòng vài năm, ông đã tìm được những bộ phận còn lại của ít nhất bốn mươi cá thể Nhưng phần thưởng đáng giá nhất là phát hiện ngày 2 tháng 8 năm 1958 — một mẫu

vật (bộ xương) hoàn chỉnh đang trong

tinh trang bao quản rất tốt (Hình 8.7)

Hurzeler đã công bố chính hóa thạch

Oreoptthecus này là một con người sơ khai và là thủy tổ đầu tiên của con người Quả thật, xét về mặt niên đại (cuối thống Pliocene - đầu thống Miocene) thì đây quả là một sự kiện

thời sự

Tuy nhiên, những định lượng nghiêm

túc và tỉnh táo hơn sau này lại dẫn đến một kết luận kém phấn khích hơn, W.L Strauss, Jr da tiến hành những sự phân tích bằng phương pháp so sánh với tất

cả những hóa thạch nguyên thủy Theo

quan điểm của Strauss, hóa thạch Oreopithecus rõ ràng là một loài vật có dang giống người Nhưng trong phạm vi các loài có dạng giống người, hóa thạch này có nằm trong gia đình họ người hay không vẫn còn là một vấn để cần phải

xem xét Bộ răng thì rõ ràng là không

thuộc về họ Khi Nhưng xương chỉ sau (từ cổ tay trở xuống) thì lại chứng tổ một sự hoạt động leo trèo bằng tay Vì

vậy, dù có thuộc họ người hay một họ

Oreopitheeus mới mẻ thì rõ ràng còn nhiễu điểu phải chứng mính Và quyết định về vấn để này: “Cơ bản hãy còn là một vấn để cẩn phải sờ mó và ngửi tới

ngửi lu.” G.G Simpson la mét nha

(13) DE biét chi tét han, hay đọc “Sinh vật họ người ở vùng Đông Phí thuộc théng Miocene" (Miocene Hominidae

of East Africa) cla W.E Le Gros Clark và L.S.B, Leakey, (14) W.L Straus Jr - "Phan loại céc ching Oreopithecus” (The Classification of Oreopithecus) va S.L Washburn

“Phương pháp Phân Loại và Sự Tiến Hóa của Nhân toại" (Classificatian and Human Evolutlon), trang †74.

Trang 23

va rang him trước phía trong) cũng xấp xỉ

như ở người, không giống với các loài khỉ ~

các răng ngoài thường lớn hơn Như vậy chỉ

với hầm trên này, chúng ta cũng có thể nhận

thấy miệng của hóa thạch này giống với con

người hơn là với các loài khỉ, xét về mức độ

chiểu sâu cũng như độ nhô ra.1?

Kết luận rút ra được từ hóa thạch

này là chủng loài Ramapithecus da phat

triển những đặc điểm của bộ răng thiên

về chiêu hướng giống của loài người hơn

Nếu trong tương lai, có những phát hiện

Năm 1961, Leakey lại khai quật được

ở châu Phi một hoá thạch loại anh em

họ bàng gần gũi với hóa: thạch

Ramapithecus, một mảnh tương tự của

hàm phải trên với một cặp răng hàm

và răng hàm trước Một răng nanh đã

rụng, phát hiện riêng Theo phương pháp

phân tích bằng K-A (Kali - Argon 40),

mẫu vật này được xác định có niên đại

khoảng mười bốn triệu năm, thuộc thời

kỳ đầu Thống Pliocene Theo những gi

được trình bày và báo cáo sau này, cũng

không có điểu gì để phân biệt hóa thạch

này thuộc về một chúng riêng biệt khác

với chủng Rœmapitheeus %% Tuy nhiên,

phát hiện này lại rất quan trọng vì nó

chứng minh rằng hóa thạch dạng

Ramapitheeus không phải là loại mẫu

vật đị thường hiếm có, đông thời cũng

chứng tô rằng những quân thể gồm những

con người nguyên thủy tương cận nhau

đã từng pha trộn hòa lẫn nhau từ một

chủng mẹ Dryopi£hecus, trong cùng thời

kỳ như nhau trên cả hai tiểu lục địa Đông

đã góp công chứng minh một cách thuyết phục rằng trái đất và những hình thái sống trên quả đất đã và đang trải qua quá trình tiến hóa liên tục và dai dẳng

Tình trạng và bối cảnh sống của

những tiên nhân cổ xưa của nhân loại được tái lập nhờ khoa địa tầng học và

khoa địa thời học, những môn khoa học

xây đựng nên tảng trên các yếu tố như:

tỉ lệ phân hủy của các thành phần bức

xạ, phân tích phấn hoa thảo mộc, tính

toán chu vi than cây, thành phẩn hóa

học của các mẫu hóa thạch Sự sống đã bắt đầu từ hai tỷ năm trước đưới đạng đơn bào Quá trình tiến hóa của sự sống bao gồm sự phát triển không ngừng những sự kết hợp tế bào ngày càng phức

tạp hơn và càng da dang hon Qua trình

tiến hóa chính là kết quả của sự biến đổi di truyền và sự thích nghỉ với môi trường bằng sự sàng lọc tự nhiên Tính

liên tục của sự sống được duy trì bằng sự

tái sinh sản của tế bào - bao hàm sự phân bào, đây là quá trình mà các nhiễm sắc thể hình thành và tự tách đôi theo theo chiều dọc, mỗi nửa này lại tìm đến

một tế bào cái, hình thành hai bản sao

giống hệt như tế bào gốc và thay thế cho tế bào này Tuy nhiên, trong những

trường hợp tái sinh sản lưỡng bôi, những

(17) €.6 Coon: “Nguồn gốc của các chủng loài” (The

Origin ot Races), trang 206

(18) Laakey là người nhiệt thành và tận tâm nhất trong

sổ những nhà khoa học đương thời trong công việc tìm kiểm những dấu vết quan trọng của tiền lhân nhân

loại, nhưng cũng thường phấn khích quá mức (một số

người nghĩ như vậy) khi ông có khuynh hướng gán cho

mỗi phát hiện ở các địa phương của mình ít nhất một chủng loài mãi Chẳng hạn, Leakey đã dđật tên cho mẫu vật hóa thạch tìm thấy tại trang trại của ông Kred Wicker ð đất nước Kenya là Kenyanthropus Wickeri

A

Trang 24

giao tử - là kết quả của sự phân bào

giảm nhiễm - chỉ nhận một nửa số nhiễm

sắc thể, vì vậy khi hai giao tử đực và

cái kết hợp thì trứng thụ tỉnh hay còn

gọi là hợp tử sẽ thành một bổ thể

Nhiễm sắc thể quyết định giới tính của

giao tử Mỗi cá nhân đều chỉ có một kiểu

di truyền độc nhất, vì vậy thường có

những đột biến xảy ra (khi thay đổi kiểu

di truyén) Gien là đơn vị của các phân

tử DNA, xác định những đặc điểm riêng

biệt (của từng cá thể) và có một tiêu

chuẩn sắp xếp tùy theo nhiễm sắc của

cơ thể Nhưng trong sự hình thành những

cặp nhiễm sắc thể mới, những thành

phần của các nhiễm sắc thể có thể được

tổ chức lại bằng cách trao đổi chéo Khi

điều này xảy ra, thì càng có nhiều biến

đổi hơn

Bổ sung thêm cho sự biến đổi do sự

tái kết hợp gien trong việc sinh sản

lưỡng bôi (sự biến đổi Mendel) là sự biến

đổi của các giao tử do sự đột biến, lai

tạp dong giống, và xu thế di truyền tự

nhiên Sự tiến hóa xảy ra bất kỳ khi

nào sự sàng lọc tự nhiên tác động lên

những biến đổi di truyền dẫn đến sự

sinh sản lệch pha, nghĩa là, khi cơ thể

sở hữu được một vài loại gien nào đó có

khả năng hơn về phương diện tôn tại và

tự sinh sản so với những cơ thể bình

thường trong quần thể Một quần thể

dan cư theo Mendel là một nhóm địa

phương gồm những cá thể cùng chủng

loài giao phối với nhau (trao đổi gien)

Những biến đổi kéo đài trong dự trữ gien

của một quần thể gây ra do sự sàng lọc

tự nhiên, cũng tạo ra sự thích nghỉ môi

trường trong một bộ phận quần thể Khi

có hai hay nhiều hơn các nhóm nhỏ của

một quân thể gốc bị cô lập và phải thích

nghi với những môi trường khác nhau

theo chiêu hướng không thé giao phối

với nhau được nữa, lúc này quá trình

phát sinh loài điễn ra Quá trình tiến

hóa sau đó sẽ sản sinh hai (hay nhiều

hơn) những chủng loài mới Đây chính

Ad

là quá trình bức xạ thích nghỉ mà qua

đó càng ngày càng có nhiều hơn những hình thái sự sống điễn ra và đâm chổi nẩy lộc

Nguồn gốc tổ tiên của tất cả loài có

vú cao cấp đều bắt nguồn từ một số động vật sơ khai có vú thuộc thời kỳ cuối của Đại trưng sinh, và cũng từ những động vật này bộ bán hầu thuộc những thời

kỳ thống Eocene của kỷ thứ ba xuất phát

Bộ bán hầu sinh sôi nẩy nở ở cả hai bán cầu, nhưng hầu hết đã tuyệt chủng

đo điều kiện khí hậu của những thời kỳ thuộc thống Oligocene Bộ bán hầu ngày nay được đại diện bởi các loài khỉ cây, vượn cáo, khỉ mắt cá, Vào những thời

kỳ cuối thuộc Thống Oligocene, những sinh vật có dạng người đã sinh sống và tiến triển ở châu Phi (và có lẽ cả châu 4) và được cho là liên quan đến những

hóa thạch loại Propliopitheeus và Parapithecus

Các loài có vú möm dài tiến triển

riêng biệt từng loài ở cả Tân Thế Giới

và Cựu Lục Địa sau thời kỳ Thống

OlHgocens, và chỉ các loài khỉ có đuôi của

Cựu Lục Địa có mối quan hệ xa xôi với

loài người Các loài khi Cựu Lục Địa này

ngày càng quan hệ gắn bó hơn với cơn người, nhưng không phải là dòng giống nguồn gốc của loài người Những người

nguyên thủy dang héa thạch

Dryopithecus xuất hiện vào những thời

kỳ thuộc Thống Miocene Hóa thạch Proconsul là một loài khi không đuôi châu Phí thuộc Thống Miocene với bộ răng, não bộ, và cơ xương cánh tay biểu

lộ sự vận động bảng tay - tất cả chứng minh rằng dây là một dạng tổ tiên gần

gũi của loài người Hớa thạch

Ramapithecus đại diện cho những tiên nhân của chúng ta thuộc Thống Pliocene,

từ mười bốn triệu năm trước với cấu trúc

bộ răng đây đủ đạng người dã tách biệt

họ ra khỏi những Họ Khi của thời kỳ Thống Miocene Hóa thạch Oreopithecus

Trang 25

có thể đã sinh ra một trực hệ duy nhất

của loài khi hoặc người, nếu chúng loài

này sống sót qua khổi những thời kỳ

giữa Thống Miocene, nhưng rất tiếc điều

này đã không xảy ra

Một khoảng trống đài đăng đẳng mười

ba triệu năm vẫn hiện điện giữa hóa thạch

Ramapithecus và sự xuất hiện của sinh

vật - người đầu tiền trong thống

Pleistocene Các hóa thạch có thể lap day

khoảng trống này vẫn chưa được phát hiện

CAC BAI BOC THEM CHON LOC

1 Aitken, M.J: “Ngành uậột lý uà khoa

khảo cổ học” (Physics and Archaeology ,

xuất bản 1961) Một cuốn sổ tay chuyên

nghiệp về những ứng dụng của ngành

vật lý để xác định những niên đại trong

khoa khảo cổ

9 Clark, W.E Le G.: “Mhững tiên nhân,

của loài người: Một dẫn nhập uê sự tiến

hóa của loài có vu cao cấp” (The

Antecedents of Man: An Introduction to

the Evolution of the Primates), xudt ban

1960 Day là một tóm lược chi tiết và

xuyên suốt về cơ cấu thân thể (có tinh

giải phẫu học) Không nặng về kỹ thuật

quá và cũng không đễ đọc lắm, tuy nhiên

rõ ràng và dễ hiểu

8 Dunn, L.C.: “Tính di truyền nà Sự

tiến hóa trong những quân thể nhân loạt”

(Heredity and the Evolution in Human

Populations), xu&t bản 1960 Một dẫn

eet

nhập tương đối đơn giản, được một nhà khoa học hàng đầu viết cho những người không chuyên,

4 Dobzhansky, T: “Di truyén hoc va nguồn gốc của các chủng loài” (Genetics and The Origin of Species), xuất bản

1986 Tác phẩm này cung cấp những kiến

thức cơ bản sinh vật học cũng như những

ý tưởng tiêm ẩn bên trong những phát triển mới nhất của những thành tựu khoa học, dùng để nghiên cứu về những đồng

đõi con người

5 Dobzhansky, T: “Sự tiến triển của nhân loại: Sự tiến hóa của các chủng loài nhén loạt” (Mankind Evolving: The

Evolution of the Human Species), xuat ban

1964 Tác phẩm được viết gần ba mươi

năm sau cuốn “Di truyền học và nguồn

gốc của các chủng loài”, trình bảy những phát hiện mới nhất và những suy tư đẩy tính nhén bản của Dobzhansky về để tài

“nhân loại từ đâu đến và sẽ về đâu”

6 Hole F va R.F Heizer: “Mét dén nhdp vé khoa khdo cé tiên sử” (An Introduction to Prehistoric Archaeology), xuất bản 1965 Tác phẩm hướng dẫn những phương pháp khảo cổ và phục vụ cho cả

giới không chuyên, bao gdm những đoạn

rất hay về địa tầng học và niên đại

7, 8impson, G.G.: “Ý nghĩa của sự Tiến hóa” (The Meaning of Evolution), xuất

bản 1965 Một tác phẩm xuất sắc với sự bình luận và giải thích rất hiện đại về

sự tiến hóa của cơ thể sinh vật

2 Ss

Trang 26

Su bién doi

thanh Nguoi

hống Miocene đã cung cấp môi

trường phát triển cho sự sinh sôi nẩy nở nhanh chóng của chúng loài vượn

người tiền sử Thống Pliocene lại thử

thách tối đa những khả năng sinh tôn

của chủng loài này, bởi vì đây là thời

kỳ đầy những thảm họa về khí hậu trên

toàn châu Phi Những cơn mưa Thống Miocene đã chấm dứt và trên mười triệu năm, một sa mạc kỳ dị - rất có thể đã

nối phía bắc Sahara và phía nam

Kalahari - bóp chết luc dia ménh mong

này trong cái nóng như thiêu đốt, trong

cái nghẹt thở của bụi bặm và đất cát

Trang 27

8a mạc hành hạ, thử thách khả năng

tổn tại của mọi loài động vật có vú trên

con đường tiến hóa, còn hơn cả sự thử

thách của các loại khí hậu giá lạnh ở

phía bắc bán cầu trong Thống Pleistocene

kế tiếp

Tuy vậy, độ ẩm trong những rặng

núi đổi cao ven sườn nam dãy Himalaya,

và có lẽ dọc mạn sườn những dãy núi

cao gân xích đạo của châu Phi cũng đủ

để những bãi cỏ, cây bụi, cây thân mộc

cần thiết cho một môi trường phát triển

và giúp cho loài động vật có vú có thể

sống sót Vì vậy, những động vật đầu

tiên thuộc Họ Người đã tổn tại cho đến

khi lại có những cơn mưa, những trận

bão tuyết của Thống Pleistocene, khi màu

xanh tươi lại trở về bao phủ những vùng

đất thấp và khi những hề, những con

suối ngập tràn nước trở lại

Ảnh hưởng quan trọng của khí hậu

Thống Pleistocene đối với sự tiến hóa

loài động vật có vú dường như là sự thụ

hẹp lại, hoặc ngay cả sự biến mất của

những khu vực rừng rậm Thống Miocene

và thúc đẩy hình thành sự thích nghi

đầu tiên với lối sống trên mặt đất Việc

những động vật có vú đó có thể leo từ

trên cây xuống và chuyển dịch khá giỏi

trên mặt đất, di chuyển từ khu rừng nhỏ

này đến khu rừng nhỏ khác để tìm kiếm

thức ăn cùng sự an toàn, hẳn đã đem

lại cho chúng cơ may tốt nhất để sống

còn và làm tổn tại mãi mãi giống loài

của mình Chỉ có thể suy đoán những

điểu đã thật sự xảy ra đ Thống

Pleistocene, bởi lẽ với khoảng cách hơn

mười triệu năm giữa chúng loài

Ramapithecus va nhiing di tích hóa thạch

thuộc họ người ở mức cao hơn kế tiếp,

thì hiện nay những điểu này vẫn còn là

một chương bổ trống trong lịch sử bộ

động vật có vú Tuy nhiên, khoảng cuối

Thống Pliocene, một loài người vượn đứng

thẳng hoặc một giống người tiền sử, rất

sơ khai đã bắt đầu tiến hóa Những di

tích của loài này đã được tìm thấy trong

những lớp trâm tích thời kỳ đầu Thống

Pleistocene ở châu Phi và Indonesia Day

là những hóa thạch thuộc chung

Australopithecus

Hai chủng loài Australopithecus

“Austral” ham nghĩa miền nam, không

phải là châu Úc, điểm chung duy nhất

giữa chủng Austrdiopitheeus với Australia

(châu Úc) là có vị trí cùng nằm ở những

vĩ độ thuộc Nam bán cầu Mặc đầu một

số người tìm thấy các hoá thạch chủng Australopithecus khác nhau đã phấn khích

đặt tên cho những phát hiện của mình

thành bốn hay năm chủng loài khác nhau, bổ sung cho bai chủng loài có sẵn khác, nhưng ngày nay - sự thống nhất trên quan điểm khoa học là chỉ có một

chủng Australopithecus gôm hai loài Australopithecus Africanus va Australopithecus Robustus (Xem trang 187

- 188)

Hóa thach Australopithecus africanus

Nam 1924, Raymond A Dart, gido

sư khoa giải phẫu Đại học Witwater-

srand, đã báo cáo việc phát hiện một cái sọ gần như hoàn chỉnh của động vật

có vú cao cấp trẻ tuổi trong khu mô đá gần Taung, Rhodesia Những bộ phận

phụ thuộc của cái sọ này cùng nhiều hóa thạch của các loài đã tuyệt chủng thuộc

Thống Pleistocene, kể cả các loài khỉ có đuôi, cho thấy rõ tình trạng rất cổ xưa của hóa thạch Mẫu răng cho biết vật mẫu được sáu tuổi Khuôn mặt cũng như vùng trán hộp sọ không bị sứt mẻ Phần lớn hơn của hộp sọ đã bị thất lạc trong các cuộc khai mỏ, nhưng cách sắp đặt

hoàn thiện bên trong hộp sọ hoá thạch

cho thấy kích thước và hình dạng của bộ não gắn liền với khuôn mặt (xem Hình 9.1) Khó mà xác định một cách chấc chin đặc điểm riêng biệt của chủng loài Australopithecus đầu tiên, bởi lä những đặc điểm về loài đểu không biểu lộ rõ

A

Trang 28

ràng ở tuổi chưa thành niên; chỉ có thể

thực biện các so sánh chắc chắn hơn với

những bộ xương người lớn cùng giới tính

Tuy nhiên, Dart cảm thấy an tâm chỉ

trong việc xác nhận một chủng loài mới

thuộc Họ Người; cái tên ông đặt cho loài

này đã trở thành quen thuộc với chúng

ta ngày nay Rồi sau đó, năm 1936 và

những năm kế tiếp, các hóa thạch khác

thuộc chủng Áustralopithecus lại được

phát hiện ở Sterkfontein, Makapansgat,

Swartkrans va Eromdraai - tất cả đều

thuộc Nam Phi - và giá trị của mẫu vật

đầu tiên vùng Taung đại diện cho một

chủng loài mới đã được hoàn toàn công

nhan.™, Vong Sterkfontein đã cung cấp

những cái sọ, từ mười sáu đến mười tám

năm tuổi, hầu như hoàn chỉnh, cộng thêm

một cái sọ chấp vá khác Makapansgat

đã cung cấp ba cái sọ chấp vá Đã thu

được khoảng hai trăm cái răng ở ba vùng

này; do vậy những hiểu biết của chúng

ta về những hộp sọ hoặc về bộ răng là

hoàn toàn không còn mơ hồ nữa

Hinh thai hép sọ Những cái sọ hóa

thach Australopithecus africanus biéu thi

tính chất chung của loài khi, với hộp sọ

nhô và hàm nhô ra, không có cằm Bên

treng hộp sọ nhỏ của các hóa thạch

Australopitheeus africanus, bộ não chiếm

một tỷ lệ vừa phải, thay đổi từ 450 đến

tối đa 700 cm® Bộ não của loài khỉ đột

được ghi nhận là từ 300 đến mức tối đa

(1) Robert Broom da tim thdy héa thach dau tiên ở

Sterkiontein vao nam 1936 Braom đặt lên cho nó là

Plesianthropus, nhưng rõ ràng đây ià một loài

Australopithecus africanus

Khi Dart phát hiện những di tích hóa thạch thuộc một

loài khÍ có dạng người tại Makapansgat vào năm 1951,

ông nghĩ rằng nó có cái gì đó khác với chủng

Australnphhecus africanus mà ông đã lìm thấy ở Taung,

và ông đã giải thích sai về màu sắc các khúc xưởng

động vật liên quan khi cho rằng màu sắc đó là do bị

đốt cháy Mặc dâu không có bằng chứng trực tiếp về

việc sử dụng lửa của loài khi có dạng người này, ông

đã cho rằng loài này đã biết nấu nướng từ thời đó, và

đo vậy, ông đã bồng bột đặt tên cho loài người vượn

này là chủng Ausiralopiiheeus prometheus, “người mang

tai ia" Sav đó, Australopithecus Prometheus đã khiêm

Một câu hỏi có thể được đặt ra về giá trị của các so sánh chỉ dựa trên kích thước

bộ não, vì người ta biết rằng không có sự lương quan giữa kích thước não bộ với khả năng trí tuệ của loài người hiện nay, ngoại trừ những trường hợp bệnh lý gọi

là bệnh đầu nhỏ hay bệnh đấu to Tuy nhiên, trong số những loài thuộc bộ động vật có vú cao cấp và trong việc so sánh với các động vật có hình thái thấp hơn thì thể tích não bộ, điện tích bề mặt vô não và sự phát triển tương đối của các phần khác nhau của não bộ là những hiển thị quan trọng và có thể xác định được về khả năng tỉnh thần tương đối, cũng như

về mức độ khả năng thích nghỉ với môi trường - và đi nhiên bao gồm khả năng sáng tạo văn hóa Chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra rằng những hoá thạch thuộc họ người cấp cao hơn đều có não bộ tương đối lớn; trường hợp của con người hiện đại thì kích thước nhỏ nhất (ngoại trừ những

người ngu đốt bị bệnh nhỏ đâu) là 1.000

cmẺ, trong khi những bộ não lớn nhất không bị bệnh lý là đến 2.000 cm, Thể tích trung bình của não bộ con người là

1.500 cm2 đối với phái nam và kém hơn

50 cm3 ở phái nữ

Hộp so cửa hớa thạch chủng Australopithecus diicanus có dạng một khung vòm cao, hơi tròn so với sọ loài khi đột Đặc điểm kế tiếp thu hút sự chú

ý là vị trí thấp của xương chẩm gắn với các cơ cổ, đế xương chẩm Đặc điểm này

rõ ràng là giống người chứ không phải

là giống khi Hộp sọ của loài động vật

có vú cao cấp có khớp nối với đốt sống đội (các đốt sống cổ đầu tiên) nhờ vào hai cue dang hình củ, các chỗm lỗi cầu

Trang 30

nhỏ và giống người Răng nanh, như đã

được ghi chú trong Hình 9-1, hoàn toàn

không giống loài khỉ không đuôi nhưng

rất giống loài người Răng hàm trước một

chỏm, hình nón nhọn một đầu là nét đặc

trưng của loài khỉ đột cận đại đã hoàn

toàn biến mất

Khung xương chậu uà tư thế đứng

thẳng Cho đến bây giờ người ta đã nhận

thấy rằng tất cả những nét đặc trưng

thuộc họ người trong các xương sọ của

chiing Australopithecus africanus, cé thé

được sử dụng để đánh giá cao hon về

chủng loài này so với những đặc điểm

của họ vượn Chỉ cẩn đựa trén minh

chứng từ những cái sọ và những bộ răng,

chúng ta có thể đối diện với một sinh

vật tiên sử, sống trên mặt đất và đứng

thẳng, một sinh vật giống người hơn

khi đột, cho đâu sinh vật này có não bộ

không rõ ràng và có mũi nhô

Không cần phải có nhiều não mới có

thể đứng lên và đi, nhưng cần một cấu

trúc cơ và khung xương thích hợp mới

đạt đến động thái này Một số những

biến đổi về khung xương chậu, xương

chân, xương bàn chân và các mô cơ cố

liên quan là cần thiết Những biến đổi

này cuối cùng biểu thị sự liên quan giữa

hộp sọ với tư thế đứng thẳng, ở một

chừng mực nào đó, là thứ yếu - không

liên quan mật thiết với nhau

Ở những động vật thuộc họ người đâu

tiên, phức hệ tay trước - vai - ngực - cột

sống đầu tiên phải trải qua sự biến đổi

rõ rệt để thích nghỉ với sự vận động bằng

tay Sau đó, khi tổ tiên chủng loài

Australopithecus của loài người đã quen

sống trên mặt đất, bộ phận kế tiếp sẽ

được biến đối đại thể là phức hệ khung

xương chậu - phần thân dưới Sự biến đổi

phức hệ hàm - mặt - hộp sọ (đặc biệt là

sự mở rộng não bộ) diễn ra sau cùng trong

quá trình phát sinh loài người và những

loài tiên thân của Con Người Thông Minh

Hién Đạt? Ngày nay, với những chứng

A

cứ vững chắc và hợp lý, người ta cho rằng phức hệ về các đặc điểm có liên quan tới

tư thế đứng thẳng là một đặc trưng thuộc hình thái bọc quan trọng nhất của dòng giống họ người và là điểu kiện nguyên thủy cần thiết cho việc phát triển tỉnh thần sau này, biểu thị đặc điểm của lodi

người "Toàn bộ khuôn mẫu hình thái

của tứ chí và khung xương chậu của những giống loài tiêu biểu đã được biết đến trong

họ người, biểu thị một tiêu chuẩn giúp

phân biệt một cách rõ ràng và dứt khoát

chúng với những đại diện tiêu biểu của

Ho Vugn.™

Khung xương chậu và chân của chủng

loài Australopithecus thì sao? Hai mươi

ba năm sau phát hiện của Dart về xương

sọ một cá thể nhỏ tuổi vùng Taung, vùng

Sterkfontein đã cung cấp một khung xương

chậu giữa mớ hỗn độn những di tích các

bộ xương khác, may thay cũng gồm đủ cả

xương đùi (femur) và xương chày (tibia) Năm kế tiếp (1948), lại tìm thấy ở vùng

Makapansgat một khung xương chậu của

một người lớn (có thể cho là của người độ tuổi thanh thiếu niền mà xương hàm đã

được phát hiện trước đó, cũng ở cùng trong vùng) Năm 19ã0, lại một xương chậu khác được khai quật tại Sterkfontein Hãy nhìn

sơ qua Hình 9-2 để thấy xương chậu hoá

thạch của chúng loài Austraiopithecus như

thế nào Những biến đổi thích nghỉ về

hình thể khung xương chậu ảnh hưởng về mật chức năng đứng thẳng và di bộ cơ bản như sau:

1 Sự kéo đài phần nối ở bên cơ mông nhằm mở rộng xương chậu Điểu này tạo ra thế cán bằng tương xứng cho

phần trên của cơ thể, tức phản nằm

trên xương cùng

(2) S.L Washburn: “Khoa tan vat ly nhan ching” (The

New Physical Anthropology), chuong 13, ndm 1951, trang 298-304 Déng thdi, W.E.Le G Clark; “Những chứng tích hóa thạch về sự tiến hóa của loài người" (The Fossil Evidence for Human Evolution), cde trang

11, 13-14 và 123

(3) Le G Clark, tác phẩm đã dẫn, trang 12.

Trang 32

này cùng cách sống cho chúng ta biết

rằng loài này thật sự lính hoạt và có

thể chạy nhanh bằng chân; phát hiện

đó khiến mệt số nhà nhân chủng học

gọi loài này là “Phi Tiêu Nam Phi”®,

Cuộc sống và nên văn hóa của chủng

lodi Australopithecus africanus

Bộ xương loai Australopithecus

afficanus không đủ để nói lên rằng chủng

loài này đã bước từ tinh trạng loài khi

không đuôi đến tình trạng của loài người

tiền sử, bởi lẽ người ta lập tức sẽ đặt

câu hồi: “Chủng loài này có một nên

văn hóa hay không?” Câu trả lời là:

“Vâng, chắc chắn là cé!”

Từ 1947, Dart đã dũng cảm tuyên bố

rang ching lodi Africanus người

Philistines (Philistines - mét dan téc

thù địch của người Do Thái, ở phía Nam

Palestine hiện nay —- ND) chỉ với một

xương quai không chỉ là một “người phi

tiêu” mà còn là “người tấn công” Vào

những thời đại Kinh thánh, Samson đã

làm gỏi hàng ngàn kẻ thù với hàm của

con lừa Dart đã chứng minh một cách

thuyết phục rằng chủng loai Africanus

là tên sát nhân hàng loạt của các loài

khỉ đầu chó, các loài thú săn khác, và

đã dùng xương đùi của một con linh đương

như một loại vữ khí - đùi cui bằng xương

Loài này, có thể, phần nào giống

Samson, đã sử dụng nửa hàm đưới của

một loài linh dương để làm vũ khí,

Môi trường của loài Africanus 14 thao

nguyên được tưới nước vừa phải, một vùng

đất có các bụi cây và cây thân mộc mọc

rải rác trên những đồng cổ sum suê tươi

tốt Đó là vùng đất tốt nhất cho loài ăn

cổ và có đẩy các thú săn, nhưng lại kém

hap dan đối với loài động vật có vú cao

cấp sống trên cầy Chứng loài

Australopithecus Africanus không sống

trên cây - tay của chúng đã được tự do

bởi tư thế đứng thẳng, nó có thể chạy

nhanh và răng của chúng, giống răng

của chúng ta, là răng của loài an thit.®

A

Chang loai Africanus han đã bắt đầu

ăn thịt khi tranh đua với loài kênh kênh hoặc linh cẩu khi bới tìm xác chết đã thối rữa, nhưng chúng đã vượt qua thói quen này vào thời kỳ chúng phải bỏ lại

bộ xương của chính mình (tuyệt chủng) trong những hang động vùng Nam Phi Chủng loài Aficanus ngày nay bầu như

đã là loài thú ăn thịt xảo quyét Ching

đã vượt qua giai đoạn quyết định chuyển đổi từ loài ăn cổ có dạng người tiễn sử thành loài ăn thịt thuộc họ người Thay mặt chang loai Australopithecus Africanus cia xt Nam Phi, Dart da ding cảm lý lẽ rằng chúng đã sử dụng vũ khí được làm theo kiểu mẫu - chắc chắn không phải là những sông cụ bằng đđ mà là những khúc dùi bằng xương Ai có thể giải thích thêm về vô số các đầu lâu loài khi đầu chó trong những hang động

mà ở đó các hóa thach Australopithecus gficanus được tìm thấy? Có đến bốn mươi tám cái tức 92% trong bộ sưu tập gồm năm mươi hai đầu lâu của loài Parapapio

bị nứt hộp sọ Hầu hết những vết nứt này nằm ở vùng trán bên trái các đầu lâu khi đầu chó và có dấu vết do sự va

(6) Biệt hiệu này được Giáo sư Jesse D Jennings dat ra (7) Xem A A Dart, "Kỹ thuật ăn thịt của chủng loài Auetralopilhecinae" - Predalory Implimenial Technique

of the Australopithecines, (Nhat báo vật lý nhân chũng học Mỹ, số 7 năm 1949), các trang 1 - 16; Sy chuyén đối thành loài ăn thịt từ Loài khi không đuôi đến con người" (Bình luận về Ngôn ngữ học và Nhân chủng

học quốc tế, Quyến 1, 1953) Các lý lê dành cho người vượn africanus, ké giết người được mô tä với nhiều chi

tiết không thuyết phục lắm của Robert Ardrey trong

cuốn "Các chủng loài ö châu Phí, đặc biệt chương 7,

9, và 10 Ngược lai, xem S.L Washburn, “Chủng loài Australopithecines: Những kẻ đi săn hay là những kê

bj sdn? “% Australopithecines: The Hunters or The

Hunteđ? (đặc san Nhà nhân chủng học Mỹ, số 59 năm

1957), các trang 612 - 614, (8) Nếu một người hay hoài nghỉ hồi: "Phải chăng răng của người Bà La Môn ăn chay khác với răng chúng ta?” — cau trả lời sẽ là người Bà La Môn đã không có chế độ ăn kiêng thịt lỪ hơn mội trăm hoặc hai trăm thế

hệ, và họ không nhai sống các loại rễ cây hoặc các

loại rau trải không được nấu chín,

Trang 33

cham tay đôi Sử đụng phương pháp quan

sát và lý luận của chuyên gia pháp y,

thì rõ ràng phải xác nhận đây là sự

thảm sát, Giáo sư Dart lý luận rằng

những chứng cớ gián tiếp cho thấy tử

vong do sự tấn công trực diện bằng một

cú đấm trí mạng của những cá thể thuận

tay phải

Tổng số các loại xương hóa thạch

thuộc chúng loài Ausiralopithecus phát

hiến trong hang động vùng

Makaphansgat cho thấy rằng 11,2% là

xương đùi của loài linh dương, cao hơn tỷ

lệ bình thường về xương đùi của các bộ

sưu tập khác về khung xương hóa thạch

của loài linh dương, 90% những xương

đùi này là những mảnh vỡ ra từ đầu gối

(khớp nối có lỗi câu to) Phần này hầu

như đương nhiên được sử dụng làm loại

vũ khí dùi cui Phân nửa các hàm của

loài linh đương có răng“hàm nhọn (một

loại vũ khí tàn độc) cũng được tìm thấy

rất nhiều, vượt hơn cả sự mong đợi, trừ

trường bợp chúng đã được mang vào trong

hang trước

Rõ ràng đây là những vũ khí của loài

Australopithecus dfricanis, người thợ săn

năng nổ, vì không có công cụ bằng đá

nào được tìm thấy trong đống xương hóa

thach cia lodi Australopithecus africanus

trong những uùng thấp hơn ở Nam Phi

Tuy nhiên, đây không phải là vấn để

các sử học chuyên về tiền sử quan tâm

Là những công cụ được sửa đổi thích

ứng, các xương hàm có hình răng cưa

và các loại dùi cui của loai Australo-

pithecus afficanus vùng Nam Phi hẳn

có thể được dùng để phục vụ nhu cầu

một cách hiệu quả hơn những công cụ

làm bằng đá của người Oldowan và của

chủng loài Australo-pithecine ở vùng

Đông Phi

Ching loai Australopithecus robustus

Mẫu vật hóa thạch của sinh vật được

Broom tim thay dau tiên tại Sterkfontein

vao ndm 1948 - 1949 va goi la

Paranthropus (tiéng Hy-Lap: Para = gan

+ anthropos = con người), ngày nay được cống nhán là cửa ching loài Australopithecus nhung là một loài khác với loài dfieanus Loài này to hơn, nặng

nể hơn và nhiều cơ bắp hơn, hơn nữa,

răng hàm to hơn Vì thế tên của loài này là: roðus¿as (thô)

Xương sọ của loài robustus day, hộp

sọ không lớn hơn hộp sọ loài aficaness Thay vì trán tròn như aƒffieanus thì

robustus có trán trợt ra đằng sau, phần

giữa hộp sọ giống như của loài khỉ đột (Hình 9.3) Điều này giải thích rõ tại sao chúng có hàm bạnh, bộ răng đối xứng theo chiều dọc và bám chặt vào các cơ

dày, có chức năng nghiền

Răng loài robusius cũng được vẽ trong

hình Răng dùng để nhai và nghiền (răng tiên hàm và răng hàm) rất to, to hơn răng người cả về độ dài và độ rộng Tuy vậy, các răng cửa hoặc các răng dùng để cắn thì không to hơn của loài gficanus

Răng hàm to, có lớp men dày khoảng 3

mm, dày gấp 3 lần lớp men răng của

loài œ#icanus và con người Chúng bị

mòn và lõm vào, như thể do việc nhai

các thức ăn có sạn - đặc biệt là các rễ cây J T Robinson, người đã thống kê

phân tích trên 375 chiếc răng của loài

Australopithecus robustus, kết luận: Tất

cả những đặc điểm công thức răng của

lodi Paranthropus [Australopithecus robustus], về kích cỡ cũng như tỷ lệ, có

thể giải thích dựa trên giá định rằng việc sàng lọc để giữ lại một phần lớn

những răng có chức năng nghiền và giảm

bớt những chiếc răng kém quan trọng

hơn (răng cửa và răng nanh) tổ ra phù hợp với việc giảm kích cỡ của hàm ở những con vật ăn chay to lớn này.”®

(9) J T Robinson, “Cong thie rang cda chững loài

Australopithecus" (The Dentilien of Auetralopithecinae),

trang 149 - 194

Trang 34

Cuéi cing, lodi robustus da cé thém

một cái răng nhọn thứ sáu duy nhất bổ

sung vào những răng hàm của mình Điều

này hiếm khi xảy ra ở người nhưng luôn

luôn xảy ra ở loài robusfus Thực tế này

có thể trở thành một nét chẩn đoán quan

trọng trong mắt xích liên kết loài này

với những vật hóa thạch ở nơi khác, bất

kể ý nghĩa chức năng của nó là gì đối

với các sinh vật

Những mẫu xương chậu hóa thạch vẫn

giữ những nét tương tự những xương chậu

Loài Australopithecus africanus

Loai Australopithecus

robustus

Hình 9-8: Cấu trúc nặng nề cũa khuôn mặt và sợ loài

Australopithecus robustus trái ngược với cấu trúc của

loài Australopilhacus africanus Ca hai mau vat déu

thuéc phai nd (Theo J T Robinson, trang F Clark

Howell va Francois Bourtiere (dinh kém), Sin thai

hạc châu Phi và sy lién hod cda con người, Ban quyén

công ly xuất bản Aldine - 1963 của Cơ sở Wenner-

Gren về Nghiên cửu Nhân loại học)

Ad

cia lodi africanus, ngoai trừ một điểm

là to hơn Những khúc xương dài cho

thấy kích cỡ của một cơ thể to lớn hơn

nhiều (45kg đến 67, kg, so với trọng

lượng từ 22,ðkg đến 40,õkg của loài africanus)

Những dị biệt trong quá trình thích nghỉ

Chúng loài Australopithecus robustus

được minh họa như một loài chuyên đi

mò mẫm với một cây gậy hoặc là tay không để đào bới, nạy rễ cây lên, ăn các loại quả mọng và trái cây trong một bối cảnh khí hậu khá dễ chịu, có mưa mặc

đầu hơi ẩm ướt Australopithecus robustus

là loài gắn bó với suối và hỗ, sống ở những thời kỳ giữa của thống Pleistocene

- thời kỳ có lẽ tương đương với thời đại băng giá thứ hai Loài A/ieanws đã thích

ứng với những điểu kiện khí hậu khá khô ráo ở những thời kỳ đầu Thống

Pleistocene, và có lẽ họ không thích những khu rừng nhỏ, các loại cây dây

leo Loài fobustus không ghét thịt, nhưng các hóa thạch bị vùi lấp cùng với họ cho thấy rằng họ thích những thức ăn có thể nhặt mót một cách dễ đàng và đồng thời cũng không phải là những thợ săn thiện nghệ Nền văn hóa của họ thực chất là văn hóa của kể hái lượm và săn bắt nhỏ Nền văn hoá của loài Af¿canus là văn hóa của thợ

săn thú và người hái lượm

R6 rang hai loài này đại điện cho

những nhánh khác nhau của tổ tiên bí

ẩn thuộc Thống Pleistocene, những người

đã dò tìm nơi trú ngụ ở các bìa rừng thưa

Loài Africanus kiếm ra nơi trú ngụ sớm hơn trong các hang động vùng Nam Phi, nhưng zð ràng về mặt phát sinh loài, họ

là một loài phát triển cao hơn loài

robustus Robus‡us chủ yếu là ăn cây trái

và thảo mộc, nhưng họ lại đứng thẳng được trước Afcønus cũng có đặc điểm

đứng thẳng này, nhưng lại là loài ăn

thịt có răng và những đặc trưng về hộp

sọ giống con người Họ đã tiến hoá nhanh

Trang 35

theo chiều hướng như con người Nếu không

làm ra những dụng cụ bằng đá thì họ

cũng là những loài sử dụng công cụ làm

bằng xương."? Cả hai hình thức này đêu

ảnh hưởng đến quá trình tiến hoá thích

nghi thành động vật có hai chân, từ đó

giải phóng hoàn toàn hai tay để có thể

sử dụng công cụ Nhưng chỉ có loài

africanus, bing viée dap ứng lại những

tiềm năng của cuộc sống trên thảo nguyên,

đã chuyển sang chế độ ăn thịt

Sự chuyển đổi chế độ ăn chay của

những loài khi không đuôi ở Thống

Oligocene và Miocene đã tước đoạt của

các chủng loài australopithecine những

khả năng phát triển một cách có hiệu

quá thành loài sát thủ ăn thịt với day

đủ răng nanh và móng vuốt Điểm quan

trọng cân nhấn mạnh là mặc dâu những

răng nanh trông có về đáng sợ của những

con khỉ đột, tỉnh tỉnh, đười ươi và khỉ đầu

chó, tuyệt đối không có bằng chứng nào

từ các báo cáo hiện đại về hành vi của

các loài động vật linh trưởng này - rằng

những răng nanh này được đùng để tự vệ

chống lại những con thú ăn thịt khác

không phải thuộc bộ linh trưởng Về mặt

tính khí, họ không phải là những chiến

binh Sự an toàn của những loài linh

trưởng tiền sử rõ ràng nằm trong sự cẩn

trọng, khôn ngoan và chất phác Nhưng

biến đổi thích nghỉ của lo&i Austra-

lopithecus africanus khi€n ho thich an thit

đường như không là tác nhân quyết định

trong lịch sử người tiền sử, bởi lẽ sở thích

này di cùng với việc sử dụng và sản xuất

dung cy Africanus bắt đầu sử dụng vũ

khí và công cụ khi tay được duỗi thẳng

ra, và thế là tổ tiên của chúng ta bắt đầu

đi trên con đường dẫn đến sự thích nghỉ

văn hoá Nếu sự giải thích của Dart về

bộ xương và hàm của các hoá thạch chủng

loài africanus tim thấy được tại Nam Phi

là đúng (và trường hợp ông ta đưa ra đã

gây ấn tượng sâu sắc), thi loai africenus

đã có nhiều dụng cụ dùng để giết và cắt

Việc họ “làm ra” hay đơn giản chỉ sử

dụng những công cụ này không liên quan

gì đến vấn để Nếu phục vụ tốt mục đích

của họ thì những dụng cụ này là một sự thích nghi văn hoá hữu hiệu, đầy đủ cho

sự tổn sinh trong thời gian và khóng gian đó Vấn đề ở đây là từ bấy giờ trở đi mọi tiến hoá của con người là tác động qua lại diễn ra đồng thời về mặt sinh học và văn hóa: “Có thể hiểu sự tiến hóa

của con người chỉ như một kết quả từ tác

động qua lại của hai sự phát triển này” Như vậy, sự thay đổi trong chế độ ăn uống thuéng ngay cia Jodi africanus da

khuyến khích việc sử dụng công cụ Việc

sử dụng công cụ được cải thiện theo mức

độ nâng cao trí thông minh Cùng với việc

phát triển năng lực trí tuệ, raột yếu tố có

chọn lọc thích hợp có lẽ cũng được vận

hành trong những quần thể chủng loài

australopithecine J T Robinson nhận ra

sự phát triển ở phần phía trên hơn và

phía hai bên của vùng trán các hộp sọ loài aficanus khi so sánh với các sọ loài robutus

(xem Hình 9.3), xem đây là bằng chứng

sy phan tmg thich nghi cia loai africanus,

vì các thùy trước của não là nơi điễn ra

quá trình “liên tưởng” và “suy nghĩ42, Với một người theo phương pháp lý luận

nhu E A Hooton thi diéu nay han có ý

(10) Tai Sterkfontein, ia mét dia phitong cung cap r&t nhiều mẫu vật hóa thạch thuộc chũng loài Africanus so với các địa phương khác, người ta đã không phái hiện được một dụng cụ bằng đá nào dù đã đào ở những lớp trầm tích sâu han Cho đến năm 1956 mới phát hiện một

số riu cắm tay thuộc dạng kiểu của kỳ thứ tư cùng với một hóa thạch thuộc loài alricanus nằm trong một lãng

đá dài độ 50cm Những chiếc ru này do chính sinh vật

này hay một sinh vật thuộc chủng loài khác làm ra vẫn còn là một câu hỗi chưa có lời giải đáp

(11) T Dobzhansky: “Sự tiến hóa: Chất hữu cơ và siêu

hữu cø" (The Evolution: Organic and Superorganic)

Trích trong tập san viện Fockeleller, số 2 năm 1963 chương 1, trang 1

(12) J.T Robinson "Bức xạ thích nghỉ ở chủng loài

Australopithecus và nguồn gốc của con người {Adaptive Radiation in Australopithecines and the Origin of Man)

va F.C Howell & F Bourliere - “Sinh thai Phi Chau va

sự tiến hóa của nhân loại" (African Ecology and Human

Evolulion) irang 410 — 413

Trang 36

nghĩa như là sự góp phần vào việc làm

giảm đi các răng nanh, đồng thời làm

hàm ngắn lại và bạnh ra Não nở ra làm

rộng hộp sọ, kéo các chổm cầu lỗi ra xa

phía sau Nếu không phải vì các nguyên

nhân nào khác thì việc giảm kích cố mũi

đòi hỏi theo việc phải giảm bớt các răng

nanh, đây hoàn toàn chỉ là những nguyên

nhan co hoc" Nguge lai, Brace va

Montagu®® suy đoán rằng “vì các răng nanh

của loai Austraiopithecus africanus khéng

hướng người ta nghĩ đến chúng như là

những vũ khí tự vệ có ý nghĩa người ta

có thể kết luận rằng tổ tiên loài

australopithecine đã sử dụng các vũ khí tự

vệ trong một thời gian lâu đủ để những

biến đổi ngẫu nhiên có thể dẫn đến kết

quả là các răng nanh bị giảm đi bằng với

số răng cửa hình thành thêm”

Giả thuyết của Brace và Montagu về

việc răng nanh bị giảm di có một yếu

điểm là dựa trên giả định hoàn toàn

không theo kinh nghiệm - rằng động vật

thuộc họ người có răng nanh giống ngà

voi, sử dụng hoặc đã sử dụng những răng

nanh này như những vũ khí chiến đấu

Ching loài australopithecine ở

Olduvai

Kiến thức của chúng ta về loài

australopithecine được mở rộng nhờ vào

những phát hiện ở vùng Nam Phi Kiến

thức này được mở rộng thành một bức

tranh ngày càng rộng lớn hơn, do những

phát hiện không ngừng tích lũy một cách

nhanh chóng tại Olduvai, nước Tanzania,

miễn Đông châu Phi

Hẻm núi 0Iduvai

Olduvai được gọi là “Hếm núi vĩ đại

trong tiến Ỉrình tiến hóa của con người”

(13) E-A Hoolon "Xuất phát từ toài vượn" (Lp from the

Ape) trang 163 ~ 167

(14) C.L Brace va M.F.A Montagu “Sy tiến hóa của

loài người" (Man's Evolution), trang 227

A

Hém núi này không làm chúng ta kinh

sợ khi nhìn thấy nó, nhưng lạ lùng ở chỗ là tại nơi đây người ta để phát hiện người hóa thạch và những nên văn hóa thời tiên sử, từ thời kỳ đầu xưa cổ nhất đến những thời kỳ cuối của thống Pleistocene Hểm núi bị cắt từ tây sang đông thành bức tường phía tây thung lũng Great Rift Nay là hẻm núi khô cần ở vùng hoang vu nằm lưng

chừng giữa hổ Victoria và ngọn núi huyền thoại Kilimanjaro, cách tây nam thủ đô Nairobi 150 dặm đường chìm bay

Tại đây một loạt các địa tầng - được hình thành do nước và gió - nằm trên những lớp dung nham núi lửa Trong

Pleistocene, sự bất ổn của địa cầu làm cho mặt trên mặt đất của vùng này bị nâng cao lên, và một con sông thời tiền

sử đã cắt ngang qua các địa tang nay, làm lộ diện các bể mặt của chúng từ đáy lên đến đỉnh Bề mặt phong hóa

của hẻm núi liên tục phơi bày các vật

hóa thạch và các đổ tạo tác đã bị chôn

vùi trong các lớp vỉa này

Những khảo sát của khoa địa tầng học tại Olduvai cho thấy năm địa tầng chinh Via tang I gim héa thạch quần thé động vật thuộc thời kỳ cuối Thống

Pleistocene như loài voi hiện nay, ngựa một móng, bò, và một số các loài vật

"Thống Pleistocene còn tổn tại như ngựa

ba móng, voi răng mấu và hươu cao cổ có gac Via tang này hình thành trong thời

kỳ có mưa đâu tiên của châu Phi, thời

kỳ mà cao độ các mặt hề luôn thay đổi (hết đâng lên rồi hạ xuống) Một số địa tang là các đáy hồ với các di tích hóa

thạch của các loài cá, cá sấu và hà mã

Các tầng khác là bể mặt đất Tro núi lửa trút xuống hồ và đất theo từng chu

kỳ Via tầng 1 dày từ 5,6 đến 32 mét (18

đến 105 feet) Phần trên của vỉa tâng |

cho thấy thời kỳ đan xen giữa mưa, khô han va tiéu sa mac

Trang 38

NEN VAN HOA THẠCH ANH (DAO BAU)

OLDOWAN Ở VÍA TẢNG I Không có nhiều

điều để mô tả nền văn hóa kỹ nghệ đá

nổi tiếng cổ xưa nhất này Leakey tóm

lược nhu sau:

“Theo thời gian, nễn văn hóa Oldowan được

nói đến như là một “nền văn hóa thạch anh”,

và sự miêu tả này đến một chừng mực não

đó là chính xác, bởi vì đa số những công cụ

thuộc nền văn hóa này trẽn thực tế được làm

từ những viên thạch anh đã bị nước ăn mòn

Tuy nhiên, phải hiểu một cách rõ ràng rằng

những hình thức nguyên liệu khác cũng được

sử dụng bởi những người chế tạo thuộc nên

văn hóa nầy, Những mẫu vật tìm thấy được

chế tạo từ những tảng hoa cương nhỏ, các

mẫu vật khác lại được làm từ những cục

thạch anh thổ, không đồng đều, và dường

như người ta vẫn hổ nghỉ rằng có thể phát

hiện những kho lưu trữ của nền văn hóa này

ở những nơi mà các công cụ chế tạo dao từ

những viên thạch anh bị nước ăn mòn đã hoần

toàn biến mất,t9

Loại công cụ thông thường nhất của nền

văn hóa Oldowan là con dao bầu thô, kích cỡ

khác nhau - từ cỡ trái banh bóng bàn đến cỡ

trái banh bóng rổ Lưỡi bầu được làm bằng

cách bỏ đi những mảnh đẹt theo hai chiều doc

theo một mặt của viên thạch anh hoặc của

những viên đá khác đã chọn, chỗ giao nhau

của những vết lổm chổm này sẽ tạo ra một

lưỡi cắt có mép lổm chởm không đều nhau

Đặc điểm quan trọng nhất của những

loại dụng cụ này là chúng thật sự được

tạo ra một cách có ý thức Những sản

phẩm đơn giản làm ra từ các cục đá

này đều được thực hiện từ một kế hoạch,

một mục đích, một ý tưởng Một động

vật thuộc họ người phối hợp trí óc và

bàn tay nhằm cải thiện các phương tiện

của mình để đạt được mục đích Nếu con

người được định nghĩa là mộ: động vật

có 0ú cao cấp có khả năng làm ra các

công cụ hạn định, thì thật sự đã có

những sinh vật giếng con người ở

Olduvai trước khi vỉa tầng I kết lắng

Ay

Những công cụ làm bằng thạch anh của

loài sinh vật này là một loại đao đùng

để chặt - một trong các loại dao bầu, có nhiễu khả năng được dùng để cắt các

khớp thịi và ăn sống (Không có bằng

chứng về việc sử dụng lửa trong các lớp

kết lắng cia via tang I.)

Chitng loài Australopithecus africanus hay

chủng loài Homo habilis?

(Homo Habilis: tên đặt của một hóa

thạch phát hiện trong vỉa tầng I, hẻm

núi Olduvai, Có thể đây là một chủng

loài phát triển cao hơn, có nguồn gốc từ

chủng loài australopithecine hoặc cũng

có thể là thành viên đầu tiên của chủng

loài Người - ND)

Ngoài những mảnh hóa thạch của một

cá thể trẻ con phát hiện được ở vỉa tầng

1, đi tích khác của một số cá thể cùng loại cùng với một mẫu vật rất hoàn chỉnh: hộp sọ một cá thể người lớn thuộc

loài Ausiralopithecus robustus cũng được

nhóm Leakey phát hiện ở vỉa tầng này.1”? Rõ ràng, có một sự đị biệt về quan điểm trong việc diễn giải các chứng

tích hóa thạch không thuộc loài robus£s

ở vỉa tang I Hau hét các nhà cổ sinh vật học và các nhà tiên sử học chấp nhận ý kiến cho rằng các hóa thạch tìm được ở vỉa tảng I là quần thể địa phương

thuéc loai Austrelopithenus africanus, nhưng Leakey và các nhà vật ly nhân

chủng học cộng sự của ông - P V Tobias

và J Napier - cho rằng những cá thể nhé bé tim thay 6 Via tang I tai Olduvai

là thuộc Họ Người do những cơ sở sau:

(1) hộp sợ của chúng có dung tích ước

cá thể đặc biệt này thuộc về loái australopithecine.

Trang 40

Homo sapieas Tool-rnaking

Homo vrectus Homo habitis (2)

Omnivorous:

Erectly bipedal

Tool-using Australopithecus africanus

Austratopit Vegetarian lerralepithccus robustus

Quadrupedel

Orcopithecus

Hình 9-6: Sơ đổ biểu thị học thuyết phổ biến về những

mối quan hệ tiến hoá của những động vật thuộc họ

người (australopithecines) và con người (Homo) Tư

thế, thức ăn, cách chế tạo và sử dụng còng cụ được

trình bây như những yếu tổ quyết định có tưởng quan

với các loại động vật có vú cao cấp Lưu ý rằng ngường

các giai đoạn giữa giai đoạn bốn chân và giai đoạn hai

chân là rãi quan trong và điều này lại phân dòng thành

hai khu vực chủ yếu và không liên tục Cũng lưu ý

rằng đây không phải là mội nhánh gia đình hệ cây mà

chỉ là một đường phân ranh chỉ sự thích nghỉ

hơn 80 cc so với dung tích lớn nhất đã

được biết ở loài australopithecines, (2)

răng nhỏ và những đường nét hộp sọ

cho thấy một “kiểu mẫu toàn diện tiến

hoá thành người hơn là của loai

australopithecines”, và (3) chúng rõ ràng

đã tạo ra những loại dụng cy Oldowan.'*

Do vậy, họ đặt tên cho chủng loài này

là người khéo tay (Homo Hoabilis, tiếng

La-tinh: habiiis = có khả năng, khéo léo)

Luận điểm này cho rằng bất kỳ một cá

thể thuộc họ người nào đã đạt đến mức

độ có được tổ chức văn hóa tâm sinh lý,

thì chính ban thân cá thể đó, đã thuộc

vào nhóm anh em gần gũi của loài người

Tuy vậy, cho dầu các nhà nhân chủng

học có chọn bất kỳ cách gì để gọi những

sinh vật thuộc họ người ở vỉa tảng I, thi

cũng không thể lèo lái những sự kiện

thực tế theo cách này hay theo cách kia

được, và sự quyết định sau cùng theo

nguyên tắc phân loại sẽ tiết lệ được nhiều

điểu hơn về tình trạng tỉnh thần của

những khay đi tích hóa thạch loài

robustus ð Swartkranz, mà theo quan điểm của ông - những xương này khác

véi xuong cia ca ching africanus lan chủng robustus Các hóa thạch này gồm

những miếng xương hàm trên và hàm dưới, có răng (hiển nhiên là của cùng một hộp sọ), một hàm dưới gần như hoàn hảo của một cá thể khác, cùng một số mảnh hộp sọ Năm 1961, Robinson và Leakey đều tin rằng những mảnh này tượng trưng cho một cá thể thuộc họ người đã phát triển cao như loài đã được phát hiện ở vỉa tầng I2

(18) P.V Tobias, "Con người đấu liên ở Dông Phí" (Early Man in East Abica), tap chí Khoa Học, ấn bản

1965, trang 27, và S Tax, “Nguồn gốc của con người” {The Crigin øf ManJ, tạp chí Nhắn chúng học hiện đại,

số 4 năm 1965, chướng 6, trang 342 ~ 439

(19) 8 Cole: “The Prehistory of East Africa ~ Thoi ti6n

sử của vùng Đông Phí”, trang 121

(20) Đây là dạng thái mả Robinson đạt tên id Telanthropus (tiéng Hy-lap: tele = xa + anthropos = con ngudi) trong t4c phdm The Australopithecines and Their Bearing on the Origin of Man and of the Making Tools (Nhat bao Khoa Hoe Nam Phi, quyển

57, ndm 1961, trang 3 — 13.

Ngày đăng: 08/12/2022, 05:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN