1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đất và người tỉnh Điện Biên: Phần 2

96 4 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đất và người tỉnh Điện Biên: Phần 2
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điện Biên có nền văn hóa với những nét đặc sắc riêng: tháp cổ Mường Luân với những phù điêu tinh xảo, tuyệt hảo, đàn tính tẩu, những ca khúc có nhịp điệu sâu lắng, những điệu xòe, điệu mùa của đồng bào dân tộc Thái, dân tộc H''Mông, dân tộc Lào, dân tộc Hà Nhì, đầy sôi động. Những nét đặc sắc về văn hóa ở Điện Biên đã làm cho bao du khách đến Điện Biên say mê. Mời các bạn cùng đón đọc phần 2 của cuốn sách ngay sau đây.

Trang 1

CHUYEN TINH NANG LO THI LUGNG

Hưởng ứng lời kêu gọi của tướng Ngai,

tướng Khanh (người Thái), các dòng họ đồng bào Thái ở Mường Then hề hởi đem quân theo

chủ tướng nghĩa quân Hoàng Công Chất từ dưới

xuôi lên chống lại giặc Phẻ Trưởng tộc của các dòng họ tập trung dưới cờ trên bãi đất bằng phẳng ven cánh rừng biên giới Việt - Lào để chờ

gặp chủ tướng Hoàng Công Chất

Chủ tướng Hoàng Công Chất dáng người khỏe mạnh, bước chân hùng dũng, nét mặt thể

hiện hào khí của một dũng tướng hiên ngang, cùng tướng Ngải, tướng Khanh xuất hiện trước

ngàn người dân tộc Thái nai nịt gọn gàng, ngời

ngời sắc khí, sẵn sàng theo chủ tướng đánh đuổi giặc Phẻ, giành lại quyển độc lập, tự do cho

đồng bào các dân tộc ở Mường Then Tiếng hô

vang thay lời chào hỏi ban đầu :

- Chúng tôi thể theo chủ tướng đánh đuổi

giặc Phẻ !

85

Trang 2

Và sau đó là tiếng vé tay ran rat dé chao mừng chủ tướng

Hoàng Công Chất vòng hai tay về phía

trước, cúi chào các tân nghĩa binh :

- Xin cảm ơn sự tin tưởng của các dòng họ ! Chúng tôi nguyện đem hết sức mình cùng các đòng họ đánh duổi giặc Phẻ, giành lại Mường

Then, xây dựng nền độc lập, dân chủ cho nhân dan trong vung!

Tiếng chủ tướng vừa dứt, tiếng vỗ tay lại

rần rạt vang lên Chỉ trong giây lát mà ý chí của

chủ tướng và tân nghĩa binh đã hòa đồng làm

một Chủ tướng ra hiệu cho mọi người ngừng vỗ

tay và ông mời từng trưởng tộc lên trước đoàn

quân tự giới thiệu về đội nghĩa binh của mình tham gia vào nghĩa quân Đến dòng họ Lò,

Hoàng Công Chất mời trưởng tộc họ này giới thiệu đội nghĩa binh của mình, trong đó có một

nghĩa binh người nhỏ nhấn, da trắng như trứng

gà bóc, đôi mắt đen long lanh ẩn dưới chân mày

lá liễu Chủ tướng chỉ vào nghĩa binh đó hỏi :

- Tại sao trưởng tộc lại cho cả cậu bé kia

tham gia vào nghĩa binh ?

Trưởng tộc trả lời :

- Đó là á1 nữ của tôi

Vị chủ tướng chợt ngạc nhiên và hỏi :

86

Trang 3

- Tại sao trưởng tộc lại cho ái nữ tham gia

vào nghĩa binh ? Để ái nữ ở nhà chăn tằm, dệt

vải mới đúng chứ Chẳng lẽ trưởng tộc không

hiểu, cho nữ nhi ra chiến trận là bận chân

nghĩa quân lắm sao ?

- Tôi đã ngăn cản, nhưng ái nữ không nghe, bởi ái nữ của tôi cũng là một võ sỹ Tôi không thể

ngăn cấm người muốn đi đánh giặc được

Vị chủ tướng nghe vậy liền cả cười :

- Ái nữ của trưởng tộc cũng biết võ nghệ

chăng ?

- Thưa vâng

- Nếu ái nữ của trưởng tộc đánh thắng một

võ sỹ của ta, thì ta sẽ cho ái nữ của trưởng tộc được tham gia vào nghĩa quân, Chẳng hay trưởng tộc có dám nhận lời không ?

Trưởng tộc quay sang người con là nữ nghĩa binh trao đổi một lát, nữ nghĩa bình gật đầu

- Thưa chủ tướng, ái nữ của tôi đồng ý ạ !

- Vậy mời nàng lên đây đấu với nghĩa binh

của ta ! Mời các nghĩa binh ngồi xuống dé

chứng kiến trận đấu này

Nữ nghĩa binh vòng hai tay về phía trước, cúi đầu chào trưởng tộc rồi cầm gươm bước lên khoảng trống trước mặt các nghĩa binh Nhìn

87

Trang 4

bước đi nhanh nhẹn như cơn gió nhẹ, tay cầm

cây gươm xoay xoay như một đồ chơi của nàng,

Hoàng Công Chất cảm thấy nàng không phải là

một nữ nghĩa binh bình thường Quả thế thật, trong chớp nhoáng nữ nghĩa bình đã chỉ mũi gươm vào ngang cằm người đối diện Tiếng vỗ

tay ràn rạt vang lên Chủ tướng cho hai người

Vị chủ tướng vui vẻ gật đầu, và tiếng vỗ tay

lại ràn rạt vang lên

Được rên luyện và tham gia chiến trận

trong nghĩa quân, Lò Thị Lương rất khâm phục

vị chủ tướng văn võ song toàn Qua tướng Ngải, tướng Khanh, nàng biết được chủ tướng là một anh hùng áo vải, yêu chính nghĩa, ghét tà gian, quyết chiến đấu để bảo vệ lẽ phải Ông oai

phong lẫm liệt trên lưng ngựa ngoài chiến trận Với quân thù, ông kiên quyết chiến đấu

không khoan nhượng, với nhân dân, ông ôn hòa

như người anh cả trong gia đình Không phân

biệt địa vị, không phân biệt đồng bào miển

xuôi với đồng bào các dân tộc miền núi, ông yêu

88

Trang 5

quý, trân trọng mọi người như anh em một nhà, và kêu gọi tất cả các dân tộc vùng Tây Bắc

đoàn kết lại thành sức mạnh để đánh đuổi giặc

Phẻ, giành lại quyển độc lập cho các dân tộc

Tây Bắc Ngưỡng mộ trước tài năng, khâm

phục ý chí kiên trung, yêu mến tác phong đỉnh

đạc của vị chủ tướng, nàng Lương đã thổ lộ với cha minh :

- Aia! Con da yêu thương vị chủ tướng họ

Hoàng mất rồi, ải hỏi vị chủ tướng làm chéng cho con di!

Trưởng tộc hết sức ngạc nhiên :

- Chủ tướng đã có tới ba người vợ rồi, sao con còn muốn lấy chủ tướng ?

- Con muốn cùng chủ tướng ra chiến trận

Ngoài chiến trận, trên bãi tập con có thể giúp

được chủ tướng những việc cần thiết

- Con còn rất trẻ mà !

- Con đã gửi tình yêu cho chủ tướng rồi, ải

nhất định phải hỏi chủ tướng cho con !

- Con biết gì về chủ tướng mà đem lòng yêu

thương như vậy ?

- Tướng Ngãi, tướng Khanh và anh em binh

sỹ người miển xuôi đã kế cho con biết về chủ

tướng rồi

- Vậy con hãy kể về cuộc đời của chủ tướng

89

Trang 6

cho ta nghe Kế đúng ta sẽ hỏi chủ tướng cho con

- Ải giữ lời hứa chứ ?

trọng Phong trào khởi nghĩa của nông dân

bùng lén ram rộ ở khắp nơi Các cuộc khởi nghĩa

tiêu biểu : khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương (1740-1751), khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741-

1751), khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1739-

1769) và cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật

Hoàng Công Chất tên thật là Hoàng Công Thư

xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo ở

làng Hoàng Xá, huyện Thư Trì, trấn Sơn Nam

hạ (nay thuộc xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình - T.G) Ông là một lãnh tụ nông

dân kiệt xuất, dựng cờ khởi nghĩa chống triểu

đình ruỗng nát của họ Trịnh thời Lê mạt, cứu

giúp đân nghèo Đây là cuộc khởi nghĩa nông

dân dài nhất, hoạt động trong phạm vì rộng

nhất, lên kết với nhiều cuộc khởi nghĩa nông

dân khác, tập hợp được các cư dân các đân tộc 90

Trang 7

khác nhau, không chỉ chống triều đình ruỗng nát mà còn có tác dụng bảo vệ Tổ quốc chống

ngoại xâm, và duy trì được 30 năm (1739-1769)

Hoàng Công Chất dựng cờ khởi nghĩa với mục đích “bảo quốc, an dân”, diệt cường hào ác

bá, lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo, với hoài bão xóa bỏ bất công, lập lại ký cương, phục

hưng đất nước, thống nhất giang sơn, thái bình

muôn thuở

Từ năm 1739, Hoàng Công Chất đã tập hợp

nông dân nghèo nổi dậy hoạt động ở vùng Sơn Nam Nghĩa quân có sở trường về thuật đánh

du kích “khi tan, khi hợp”, như nhận xét của

Nguyễn Đình Hoàn : “Giặc đóng ở trong các vùng co ram rap, quan, quân đến phía trước thì chúng lần ra phía sau, quan, quân chọn phía tả thì chúng chạy sang phía hữu” Để tăng cường

lực lượng và chống lại triều đình họ Trịnh thời

Lê mạt, từ năm 1739 đến năm 1741 Hoàng Công Chất luôn liên kết với các lãnh tụ khởi

nghĩa nông dân khác như Vũ Đình Dung,

Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ hoạt động chiến thuyền khắp vùng hạ lưu sông Hồng Đặc điểm

của nghĩa quân là giỏi thủy chiến, với sở trường

là lối đánh du kích "khi hợp khi tan” ra vào nơi

cé ram, bun lay, lam cho quân triéu đình không

thể biết được tung tích Năm 1739, viên dốc

lãnh Sơn Nam là Hoàng Kim Tào tiến đánh

91

Trang 8

nghĩa quân nhiều lần không được Năm 1740

Trình Doanh chia quân ra làm ba đạo và cử Cao

quận công Trịnh linh tiến theo đường bộ,

Trịnh quận công Hoàng Công Kỳ và Nhạc thọ

hầu Phạm Trần Tông cầm đầu hai cánh thủy

binh, tiến dọc hai bờ sông Hồng Về sau, họ

Trịnh lại củ Nguyễn Trọng Cảnh thống lĩnh ca

ba đạo quân đóng đồn ở huyện Thượng Nguyên

(nay thuộc tỉnh Nam Định) để chế ngự các mặt

Cùng năm ấy, Trịnh Doanh lại phái đốc trấn

Vũ Tả Liên và Đỗ Doãn Thành hợp binh đánh

vào Đông An, huyện Khoái Châu (nay thuộc

tỉnh Hưng Yên - T.G) nhưng không thắng nổi

nghĩa quân

Đến năm 1743, Trịnh Doanh sai thống lĩnh Trương Nhiêu tập trung quân đánh vào nghĩa

quân Hoàng Công Chất, nhưng không thành

Cuối năm ấy (1743), Hoàng Công Chất trá

hàng, tạo thời cơ chấn chỉnh lực lượng Trịnh Doanh bằng lòng ban quân tước cho Hoàng

Công Chất quản lĩnh một khu vực ở Sơn Nam nhưng với điều kiện Hoàng Công Chất phải giải bình và về triều yết bái Tất nhiên Hoàng Công

Chất không nghe và chiếm lấy Khoái Châu,

tiếp tục chống chúa Trịnh Trịnh Doanh cử Nguyễn Đình Hoàn, Trần Huy Mật hợp lực

cùng với trấn thủ Sơn Nam là Đinh Văn Giai

tấn công nghĩa quân Tuy nghĩa quân bị thất

92

Trang 9

bại nặng ở xã Đỗ Xá (huyện Kim Động, Hưng

Yên) nhưng vẫn chiếm cứ Khoái Châu Lúc bấy

giờ, nước sông Hồng lên cao, Nguyễn Đình

Hoàn định phá đê, tháo nước diệt nghĩa quân

Mưu kế thất nhân tâm đó cộng với việc sách

nhiễu nhân đân khiến “dân một phương kinh động” Vì vậy, cuộc ra quân của Nguyễn Đình Hoàn bị thất bại Trịnh Doanh vội vã bãi chức

Nguyễn Đình Hoàn và cử hoạn quan Hoàng

Công Kỳ làm trấn thủ Sơn Nam kiêm thống lãnh đạo Đông Nam tiếp tục đánh nghĩa quân

Hoàng Công Chất vẫn chiếm giữ Khoái Châu suốt hai năm 1744 - 1745 Cuối năm 1745, Hoàng Công Chất cho quân tập kích bắt sống được Hoàng Công Kỳ Chiến thắng này cổ vũ mạnh

mẽ tinh thần chống chúa Trịnh của nông dân

Sơn Nam Từ năm 1746 đến năm 1748, Hoàng Công Chất phối hợp với Nguyễn Hữu Cầu (tức

Quận He) hoạt động 6 vùng Sơn Nam, có lần đã

bao vây đánh chiếm phủ Ngự Thiên (tức huyện

Hưng Nhân sau này, nay thuộc huyện Hưng

Hà, tỉnh Thái Bình - T.G) Đến cuối năm 1748,

sau khi tấn công vào thành Thăng Long bị thất

bại, Nguyễn Hữu Cầu về Sơn Nam hợp lực với

nghĩa quân Hoàng Công Chất cùng chiến đấu

Chúa Trịnh tập trung quân dưới sự chỉ huy của

Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Đình Trọng đánh vào

Son Nam Trước sự tấn công mạnh mẽ của quân

93

Trang 10

triéu dinh, nghĩa quân bi that bai Hoàng Công Chất phải chạy vào Thanh Hóa, lên kết với

phong trào Lê Duy Mật (một Hoàng thân của

Nhà Lê bất mãn với chúa Trịnh đã chống lại

triểu đình - T.G), còn Nguyễn Hữu Cầu thì vào Nghệ An Đến năm 1751, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương bị quân triểu đình bat

được và bị tử hình, phong trào nông dân tạm

lắng xuống Cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở vào thế khó khăn, buộc phải chuyển dần địa

bàn hoạt động lên miền trung du và thượng du Hoàng Công Chất từ miền thượng du Thanh

Hóa tiến lên hoạt động ở Tây Bắc

Tây Bắc, vùng đất biên cương của Tổ quốc, phía bắc giáp với Trung Quốc, phía Tây giáp với Lào Nhưng vao thé ky XVIII, triểu đình trung

ương bạc nhược không còn đủ sức để ý đến vùng

đất đai này nữa Miền Điện Biên, Tuần Giáo,

một đải sông Mã, sông Đà bị buông lỏng để cho các thế lực cai trị, áp bức, bóc lột địa phương

lũng đoạn, xâu xé nhau Các chúa Lự ở Mường Thanh phát triển thế lực đến tận miền Tuần Giáo và Sìn Hồ Nhưng sau đó không lâu có

đám giặc có Lào hoành hành ở biên giới và xâm

phạm vào đất Điện Biên Bọn chúng đánh đuổi các chúa Lưự phải chạy bạt lên vùng Mường Lự

(Bình Lư) và Sìn Hồ, bổ cánh đồng Mường

Thanh và thành Tam Vạn cho chúng Kẻ cầm

94

Trang 11

đầu đám giặc Phé hay còn gọi là giặc Pọng, giặc

Nhuên” tự xưng là phạ chấu Tín Tòng Do muốn tranh chấp quyển chúa ở Thuận Châu,

tên phìa Khuyên dẫn bọn giặc này xuống đánh

lại chú là Cảm Tom Dude dip, bon giặc Phẻ tràn xuống cướp phá miền Sơn La, gây nên bao cảnh tang tóc, làm cho nhân dân vô cùng khổ

sở Không thể làm ngơ dược, triểu đình trung

ương phải cử quân lên dẹp giặc, nhưng cũng chỉ

đuổi được chúng về Mường Thanh Tại đây, tội

ác của giặc thật không sao kể xiết ! Ở Điên Biên

hiện nay còn một số tên địa điểm ghi lại những

kỷ niệm đau đớn của nhân dân các dân tộc, nhất là dân tộc Thái, dưới thời kỳ thống trị của

giặc Phẻ Như cánh đồng mang tên là Tổng Khao”” - sở dĩ có tên đó vì xưa giặc tới bắt tất

cả trẻ con trong vùng vứt vào khu trũng rồi

tháo nước ngập cho chết hết, sau khi nước rút, xương trẻ con chết trắng xóa cánh đồng

(Téng Khao 1a déng trắng) Như cánh đồng

Hoong Cúm””” - cánh đồng mang tên đó vì xưa

nhân dân chạy giặc không kịp vứt lại các “cúm”

là các hòm đan bằng tre hay mây để đựng các

* Tên gọi một bộ tộc Thái ở vùng Điện Biên hay nam Vân Nam (Trung Quốc)

™ Canh đổi Độc Lập hiện nay

P5 Nay gọi là Hồng Cúm

95

Trang 12

của cải quý giá Như khe Hong Ma Nao (tức khe Chó RéU - khc mang tên đó vì có người chạy

giặc trong đêm tối bế nhầm chó tưởng là con

nên địu đi, khí qua khe trên, sờ đến địu mới biết là chó bèn vứt bỏ lại

Nhân dân vùng Mường Thanh tan đi mọi

nơi Nhiều thủ nh Thái và các dân tộc khác hô

hào nhân dân cùng nhau tập trung lại, chống

giặc, nhưng vì sức yếu nên nhiều lần bị thất bại Ngày nay ở Điện Biên còn lưu truyền chuyện những người chống cự lại phạ chẩu Tín Tòng bị phạ chẩu Tín Tòng bắt, đều phải bị

buộc tội chết bằng cực hình như bị voi giày, bị

tẩm dầu đốt lửa, đầu lâu bị bêu dưới chân

thành Tam Vạn Không phải chỉ những người

có hành động chống cự lại cụ thể mới bị đàn áp

man rợ như vậy, mà cả gia đình, bà con của họ cũng bị tội theo Để tránh bị truy nã, một số

người phải chạy sang Mường Puên”' Họ đã gặp

nghĩa quân Hoàng Công Chất đang từ dưới xuôi

rút lên trú ở đó Tại đây, Hoàng Công Chất đã phối hợp với quân của thủ lĩnh người Thái là tướng Ngài, tướng Khanh”? đánh giặc Phể cứu

dân, bảo vệ miển biên giới Tổ quốc Trong đội

quân này có cả người dòng họ Lò nữa

® Một địa điểm thuộc Lào

#* Sách Cương mục có chép : Hoàng Công Chất liên kết với thủ lĩnh

Thành Có lẽ Thành là một trong hai tướng này

96

Trang 13

Kể đến đây nàng Lò Thị Lương ngừng lại, hỏi:

- Con kể có đúng không, ải ?

Ông trưởng tộc họ Lò còn đang ngây ngất

nghe lời kể của con gái Ông đang tự hào về tư thế, uy danh, tài năng và lòng yêu nước, thương

dân của vị thủ lĩnh nên không nghe thấy lời con

gái hỏi Nàng Lương thấy ải không trả lời, lại hỏi :

- Con kể có đúng không, ải ?

Ông trưởng tộc sực tỉnh :

- Đúng, đúng ! Vị chủ tướng của chúng ta

thật tài giỏi !

- Vậy ải phải giữ lời hứa đấy !

Ông trưởng tộc rất lo sợ con gái mình bị từ

chối, nhưng chính ông cũng yêu mến, kính nể,

khâm phục vị chủ tướng họ Hoàng nên ông nói :

- Được, ải sẽ đi hỏi chủ tướng làm chồng

cho con

Đến dinh chủ tướng, ông bỗng ngần ngại và nghĩ : “Hỏi chủ tướng làm chồng cho con gái mình có được không? Mình làm như vậy có xúc

phạm chủ tướng không ?” Chợt có tiếng hỏi từ

phía sau :

- Trưởng tộc họ Lò cần gặp ta chăng ?

Trưởng tộc vội quay lại Ông thấy vị chủ

tướng cùng tướng Ngải, tướng Khanh và mấy

97

Trang 14

nghĩa bình đứng phía sau ông từ lúc nào mà

ông không biết Ông vòng ha: tay về phía trước, cúi đầu chào chủ tướng Chủ tướng mời ông vào

phòng khách, sai người lấy nước mời ông cùng

ngồi uống với mọi người

Chủ tướng hỏi :

- Trưởng tộc có điều gì muốn nói thì cứ nói đi ! Trưởng tộc thấy cả tướng Ngải, tướng

Khanh cùng ngôi đó thì e ngại, không dám nói

Chủ tướng biết ý liền nói :

- Tướng Ngải, tướng Khanh với ta như anh

em ruột thịt một nhà Không có gì phải phân biệt cả Có điều gì trưởng tộc cứ nói di!

Trưởng tộc họ Lò lấy lại sự bình tĩnh, nói :

- Thưa chủ tướng, con gái tôi là Lò Thị

Lương muốn tôi hỏi chủ tướng làm chồng cho

nó Chủ tướng nhận lời chứ ?

Vị chủ tướng hết sức ngạc nhiên trước lời cầu hôn cho con gái của trưởng tộc họ Lò Còn tướng Ngài, tướng Khanh thì vừa cười, vừa gật

đầu tán thành Nhận thấy chủ tướng quá ngạc

nhiên trước lời cầu hôn cho con gái của trưởng

tộc họ Lò, tướng Ngải nói :

- Nàng Lò Thị Lương đã chọn chủ tướng làm

chồng rêi, chủ tướng nhận lời di!

Tướng Khanh cũng nói :

98

Trang 15

- Dan tộc Thái con gái phải hỏi chồng, như

miển xuôi, đàn ông đi hỏi vợ Nàng Lương đã ưng

chủ tướng làm chồng rồi, chủ tướng đồng ý đi !

Được sự tác hợp của hai vị tướng và tộc trưởng các dòng họ người Thái, chủ tướng Hoàng Công Chất người miền xuôi sánh duyên

cùng nàng Lò Thị Lương người Thái ở Mường Then Đám cưới được tổ chức theo phong tục người Thái Mường Then Cuộc hôn nhân của đôi trai tài, gái sắc này càng làm tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó keo sơn, ruột thịt giữa

người miển xuôi và người miền núi Tiếp theo

cuộc hôn nhân này, các nghĩa binh người miền xuôi và các cô gái Thái Mường Then cũng cùng

nhau tổ chức đám cưới Những cuộc hôn nhân

này là đỉnh cao của sự đoàn kết xuôi ngược

Thủ lĩnh Hoàng Công Chất và Lò Thị Lương đã khéo tập hợp, đoàn kết, gắn bó các dòng họ, các dân tộc thành một khối ở Mường Then nói riêng

và ở Tây Bắc nói chung Điều đó chính là thành

trì vững chắc chống lại bọn ngoại bang xâm lược, bảo vệ, giữ vững, xây dựng miển biên

cương của Tổ quốc ngày càng giàu đẹp

Nàng Lò Thị Lương không quản ngày đêm,

cùng chồng luyện tập binh sỹ, chuẩn bị quân

lương để tấn công giặc Phẻ Từ chiến thuật

đánh lẻ, đánh du kích nhằm tiêu hao số lượng

99

Trang 16

quân giặc, đến đánh lấn chiếm các trạm bảo vệ

thành Tam Vạn của giặc, nghĩa quân đã tiêu diệt dan các lực lượng của giặc Phẻ Giặc Phẻ tức giận nhưng không phát hiện được cơ sở của

nghĩa quân, nên đóng chặt cổng thành chờ thời

cơ tấn công tiêu diệt nghĩa quân nhanh chóng

Trong khi đó, thủ lĩnh Hoàng Công Chất được

lực lượng nghĩa quân người Thái và nhân dân các dân tộc địa phương giúp đổ, đã cho quân theo hai con đường từ phía châu Sông Mã tiến

lên bao vây thành Tam Vạn Trận đánh xảy ra rất ác liệt Giặc Phẻ chống cự rất mạnh Nghĩa

quân rất khó chiếm thành Tướng lĩnh nghĩa

quân họp bàn kế sách chiếm thành Nhiều ý

kiến được đưa ra bàn bạc, nhưng đều chưa chắc

chắn Lò Thị Lương đưa ra ý kiến Nàng nói :

- Tôi sẽ dẫn đội quân nghi binh tiến về phía

đổi Pú Vằng”' để nhủ quân Phẻ ra khai chiến

Chủ tướng cùng các tướng sỹ vòng ra phía

sau, đợi quân giặc mở cổng thành đuổi theo quân nghi binh, lúc đó sẽ tấn công lấy thành

Tam Vạn

- Như thế, rất nguy hiểm cho nàng ! - Hoàng

Công Chất nói

- Muốn cứu dân, cứu nước, ta không nói nguy

°®) Đổi Độc Lập ngày nay

100

Trang 17

hiém hay khéng, ma phải nói tới cái đích của

cuộc chiến đấu này là giải phóng Mường Then

Kế hoạch trận đánh được bàn bạc kỹ lưỡng

Trận chiến đã xảy ra Nghĩa quân chiếm được

thành Tam Vạn, nhưng Lò Thị Lương và con trai là Hoàng Công Trực cùng một số nghĩa

quân đã bị giặc Phẻ bất sống Để đòi lại thành

Tam Vạn, giặc Phẻ sai quân đóng các cọc ở giữa cánh đồng Tông Khao rồi trói mẹ con bà Lò Thị

Lương và số nghĩa quân bị bắt vào các cọc đó,

xung quanh chất nhiều củi khô và rơm rạ, rồi bắt bà Lò Thị Lương nói với mấy nghĩa quân về

báo với Hoàng Công Chất phải mở cổng thành

để đổi lấy vợ con Nhưng bà Lò Thị Lương đã

động viên con mình và các nghĩa quân hãy sẵn

sàng chịu chết chứ nhất định không kêu xin, và

bảo với mấy người được tha về rằng :

- Hãy nói với chủ tướng : không được mở cổng thành ! Phải giết sạch giặc Phả !

Nói rồi bà Lò Thị Lương thét lên cho mọi

người và giặc Phẻ nghe rõ hơn :

- Không được mở cổng thành ! Không được

mở cổng thành ! Phải tiêu diệt hết giặc Phẻ ! Phải tiêu điệt hết giặc Phẻ !

Tìn này tới chủ tướng Hoàng Công Chất và

nghĩa quân, mọi người nghiến răng, rơi lệ, thể quyết giết hết bọn giặc Phẻ, giải phóng Mường

101

Trang 18

Then, tra tht cho mẹ con bà Lô Thị Lương và các

nghĩa quân đã hy sinh vỉ sự nghiệp cứu nước

Đợi mãi không thấv Hoàng Công Chất mở

cổng thành, giặc Phẻ sai quân châm lửa thiêu

sống mẹ con bà Lò Thị Lương và số nghĩa quân

bị bắt Trong ngọn lửa rừng rực người ta còn

nghe tiếng hát của bà Lò Thị Lương Lời bài hát

là lời gửi gắm tình yêu thương chồng con, yêu

thương quê hương Mường Then giàu đẹp, là lời

nhắn nhu chéng con và nghĩa quân phải quyết

tâm tiêu diệt giặc Phẻ đến cùng, giải phóng Mường Then.Việc giết người đã man, tàn bạo

của giặc Phẻ càng khiến nghĩa quân tăng thêm

lòng căm thù giặc Phẻ cao độ và ý chí quyết

chiến, quyết thắng bọn giặc hung đữ này

Đã nhiều lần nghĩa quân Hoàng Công Chất

tổ chức tấn công giặc Phẻ, nhưng đều bị thua

Bởi giặc Phẻ đã sử dụng súng to châm mỗi thuốc súng bắn đạn chì ghém tam gần, làm

quân của Hoàng Công Chất bị thương vong

nhiều, không sao tiến lên được Trong số quân của Hoàng Công Chất, có người Lào, ngudi Lu

tham gia Vào đầu tháng 5 năm 1754, tướng Ngai

và tướng Khanh bày mưu đưa người Lào, người

Lư tới trước trai pha chau Tin Tong xin hang Pha

chau Tin Tòng tin là họ hàng thật, nên nhận

Đêm đến, quân Hoàng Công Chất tiến đánh, được 102

Trang 19

bo phan tra hang tu trong dann ra nen thang lớn, chém được Tín Tòng, tàn quân Phẻ theo sông

Nậm Núa và Nậm Rốm chạy sang Lào

Sau khi tiêu diệt hoàn toàn giặc Phẻ, giải phóng Mường Then, Hoàng Công Chất đến cánh đồng Tông Khao, cho thu lượm hài cốt mẹ con bà Lò Thị Lương và nghĩa binh bị giặc Phé

thiêu chết đem mai táng Và ông cho trồng lên

mộ mẹ con bà Lò Thị Lương một cây đa để phòng sau này có loạn lạc thì con cháu còn biết

chỗ mà tìm đến Hoàng Công Chất đã phong bà

Lò Thị Lương là Liệt nữ

Cảm phục người phụ nữ dũng cảm, sẵn

sàng hy sinh để nghĩa quân đánh chiếm thành Tam Vạn và cứu được nhiều sinh mệnh nghĩa quân, nhân dân vùng này đã lập miếu thờ mẹ

con bà Lò Thị Lương ở bản Tông Khao, đêm ngày nhang khói Sau này, chỉ có riêng dòng họ

Lò mới được vào thắp nhang ở ngôi miếu này

Ngày nay, miếu này vẫn được dòng họ Lò đến

thấp nhang và thỉnh cầu may mắn

Mường Then vốn là mảnh đất luôn luôn vang động tiếng gươm đao của các chúa đất, tù

trưởng khi tranh chấp Người thắng không hả lòng tham, người thua không chịu thất bại,

chinh chiến diễn ra liên miên, khiến cuộc sống

của nhân dân các dân tộc trong vùng vô cùng cực khổ, cơm không có ăn, nhà không có ỏ, trẻ

103

Trang 20

em không được đi học Nhưng dưới sự lãnh đạo của chủ tướng Hoàng Công Chất, sau khi

Mường Then được giải phóng nhân dân các dân

tộc trong vùng đoàn kết, đồng tâm xây dựng một Mường Then giàu đẹp

Mường Then được giải phóng, Hoàng Công

Chất tính đường cố thủ lâu dài để chống lại

triều đình dưới xuôi và chống ngoại xâm Lúc đầu, Hoàng Công Chất đóng quân ở thành Tam

Vạn Sau đó, nhận thấy thành tuy rộng, nhưng cách bố phòng quá sơ sài, không hợp với các loại

vũ khí mới xuất hiện thời đó như súng thần

công, súng hỏa mai, lại không hợp với sự phòng thủ đối với từ mặt Lào đánh sang cũng như từ

xuôi đánh lên, Hoàng Công Chất quyết định xây thành Chiềng Lể (nay gọi là thành Bản Phủ,

thuộc xã Noọng Hẹt, Điện Biên) Thành này là

một kỳ công của Hoàng Công Chất Thành rộng

80 mẫu, dựa lưng vào dòng sông Nậm Rốm, có

đường thành đắp bằng đất trồng tre gai đem từ Thanh Hóa lên vây kín, bên ngoài có hào rộng

từ 4 đến 5 mét, sâu 10 mét Thành cao 5 mét, mặt thành rộng từ 4 đến 6 mét, trên đó voi, ngựa đi lại được Thành có bốn cửa tiển, hậu,

tả, hữu, ở mỗi cửa có đắp đổn cao, có vọng tiêu

và lính gác Trong thành có khu ngoại vi là nơi

lính đóng Ở đây, Hoàng Công Chất cho đào tới

185 giếng và ao hình đạng khác nhau : vuông, 104

Trang 21

tròn, tam giác, lục giác, bát giác, để trữ nước

cho quân lính và nhân dân dùng Ông nói :

- Các ao này đều có hình dạng khác nhau, đó

là luật phong thủy, nhưng các ao này đều do binh

sỹ và dân bản làm nên Các ao đều chứa nước suối

Mường Then Nước tưới ruộng Mường Then Nước cho bình sỹ và dân Mường Then cùng uống Gạo

Mường Then mọi người cùng ăn Vậy, các dân tộc, các dòng họ, cũng như các ao kia, dù có hình

dạng như thế nào thì cũng đều ở đất Mường Then

này Do vậy, chúng ta không được phân biệt dòng

họ này với dòng họ kia, dân tộc này với dân tộc

khác, vì chúng ta cùng ăn, cùng ở, cùng đánh

giặc, cùng sống trên đất Mường Then Chúng ta

là người Mường Then, người trong một nhà Chúng ta phải biết bảo nhau làm ăn cho tốt, để

bảo vệ đất Mường Then của chúng ta !

Nghe lời căn đặn của vị chủ tướng, các bình

sỹ và nhân dân đang ở bên ông đều thấy hả lòng ha da và cùng nhau nói :

- Cảm ơn chủ tướng ! Cảm ơn chủ tướng !

Ngày nay, vẫn còn những di tích nơi nhà ở

của quân lính, nơi kho lương, kho vũ khí, nơi

chăn ngựa, giữ voi Giữa thành có phủ, là nơi

các chủ tướng nghĩa quân đóng

Hiện ở Điện Biên còn lưu truyền bài hát ca

ngợi thành Bản Phủ :

105

Trang 22

Thanh to, thanh dep,

Thành uững đứng giữa cánh đồng, Giặc nào chẳng khiếp uía,

Hào uây quanh thành sâu hơn mười sói,

Mặt thành rộng hai chục sỏi tay,

Ngựu phi, voi chay, linh đứng gươm tran

sang lodng,

Chúa cưỡi ngựa đứng trên mặt thành

uy nghiêm,

Nào ta hãy lấy tre uễ trông cho khắp

Tre Mường Thanh chúa bảo đừng lấy,

Hãy lấy tre có gai uờng như ngà

Tận miễn xuôi uê trắng mới tốt,

Lấy hơn bốn mươi ngàn khóm, Bao quanh thành, thành uững,

châu thuộc phủ An Tây xưa đã bị bọn quan lại Trung Quốc tỉnh Vân Nam cướp đoạt từ trước,

tức các châu : châu Chiêu Tấn (vùng Sìn Hồ hiện nay), châu Quỳnh Nhai, châu Lai (Mường

Phéng dich theo lời ca ông Lường Văn Ứn @ản Pắc Xe) trình bày

106

Trang 23

Lay, Mường Tè, Mường Xo tức Phong Thổ hiện

nay), Luân Châu, Mường Mùn (một phần huyện Tuần Giáo hiện nay), và các đất Quảng Lăng,

Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Toàn, Tuy Phụ,

Khiêm Châu nay thuộc tỉnh Vân Nam, Trung

Quốc Nghĩa quân còn lập một thế ÿ dốc với

nghĩa quân của Lê Duy Mật lúc đó lập căn cứ ở

núi Trình Quang thuộc tỉnh Trấn Ninh Sử

sách cũ chép, có nhiều lần hai toán nghĩa quân này đã phối hợp với nhau khống chế suốt một

dải từ miển thượng Thanh Hóa và Nghệ An đến

miền Hưng Hóa, tức miển Tây Bắc nước ta hiện

nay Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật lại uy hiếp triểu đình bằng cách mở những cuộc tập

kích vào vùng sông Thao, mạn Sơn Tây Hoàng

Công Chất chiếm toàn bộ 12 châu Thái tức miền Sơn La, Nghĩa Lộ và bắc Hòa Bình Các tù trưởng Thái như Bun Phanh, Hà Công Ứng và

tù trưởng Mường như Đinh Công Hồ cố chống

lại nhưng đều bị thua

Thế là toàn thể các chúa đất cả một đải sông

Đà, sông Thao, sông Mã đều thần phục Hoàng Công Chất và không chịu cống nạp về triểu

đình nữa Mường Thanh trở nên khu trung tâm văn hóa, chính trị của đất Tây Bắc Hoàng Công Chất thu cống nạp, điều binh khi chiến trận,

cắt cử, phong ấp, cấp sắc cho các tù trưởng

trong miền Hoàng Công Chất làm nhiều điều

107

Trang 24

tốt cho dân : chia ruộng đất, bảo vệ dan, chéng

được mọi cuộc xâm lấn, duy trì được an nĩnh trật tự trong vùng Ở vùng Điện Biên hiện còn

lưu hành một số câu vẻ nói lên phạm vi thế lực của nghĩa quân Hoàng Công Chất và lòng mến yêu của nhân dân địa phương đối với ông :

“Đây ! Dưới xuôi có 0ua,

Trên này có chúa,

Những miền phía dưới từ Mường Puôn,

chau Et”

Từ Đà Bắc, Chợ Bờ,

Phía trên từ Xo, Lù””"Hở xuống,

Tốt cả đêu thuộc quyền chúa Mường Thanh

Đất Mường Thưnh rộng một dải uới ba con

sông Nậm Rốm, Nậm Núa, Nậm Ù :

Vậy quanh thành Bản Phủ

Chúa thật yêu dân, Chúa xây bản, dựng mường,

Mọi người mới được yên ổn làm ăn n/**#)

“Nghe chăng tiếng hái của quân Keo Chat“

trong phủ,

f9 Một địa điểm thuộc Lào

Mường La nay thuộc Vân Nam (Trung Quấc) giáp với Mường Xo (Phong

Thổ, Lai Châu), nằm trong vùng 6 châu bị nhập vào Trung Quốc

015 Theo lời ca ông Lường Văn Ún (bản Pắc Xe) trình bày

€5 Keo Chất tức người Kinh tên là Chất, chì Hoàng Công Chat

108

Trang 25

Ngén vang khắp cánh đông Mường Thanh

bao ỉa

Ai ơi muốn biét xin hay vé coi,

Ai ơi có mắt hãy mở trông cho hÿ, Người Kinh cùng người Hán,

Người Thúit uới người Lào, người Xó,

Vui uẻ cùng nhau tay làm, miệng hút "”

Trong thời gian ở Mường Then, Hoàng Công

Chất có công to nhất là giữ yên bờ cõi của Tổ quốc,

tránh được nạn xâm lăng của người My-an-ma vào những năm 1753-1765 đô hộ toàn bộ vương

quốc Luông Pha băng và uy hiếp sự an ninh của

vài nước xung quanh trên bán đảo Đông Dương

Hoàng Công Chất lại khống chế được những

cuộc nhũng nhiễu, lấn đất, cướp bóc của bọn

giặc cỏ từ phương Bắc tới với sự dung túng của bọn quan lại phong kiến Trung Quốc Đồng thời

Hoàng Công Chất hoạt động rất mạnh chống lại

triểu đình Nhà Lê đã thối ruỗng Ông thường

liên kết với nghĩa quân của Lê Duy Mật tiến đánh những miền Thanh Hóa, Sơn Tây, Cuối

năm 1767, chúa Chất đem tới hơn một vạn

quân vượt qua Mộc Châu, Mai Châu tiến sâu

vào vùng trung du Thanh Hóa Nhân dân địa

phương nhất tể nổi dậy hưởng ứng, làm cho bọn

quan quân chúa Trịnh vô cùng hoảng sợ

Theo lai ca 6ng Luéng Van Un (ban Pac Xe) trinh bay

109

Trang 26

Chủ tướng họ Hoàng giờ đây đã là vị chúa cai quản vùng thập châu rộng lớn, độc lập với

Nhà nước Lê - Trịnh Trước mặt văn võ, bá

quan, chủ tướng Hoàng Công Chất luôn là

người thủ lĩnh chăm lo cuộc sống yên bình cho

nhân dân trong vùng, luôn sống hết mính vì sự

nghiệp vảo vệ miền thập châu ổn định Nhưng

mỗi đêm về, ông đều dành thời gian tưởng nhớ

người vợ trẻ - liệt nữ Lò Thị Lương đã vì ông, vì

nghĩa lớn mà hy sinh cuộc sống khi tuổi đời còn

rất trẻ Ông không quên hình ảnh người nữ nghĩa bình Nàng nhỏ nhắn, trang phục gọn gàng, hhanh nhẹn, bước đi nhẹ như làn gió Mỗi khi rèn luyện quân sỹ trên thao trường hay cầm

gươm ra chiến trận, nàng đều tỏ ra mạnh mẽ như nam nghĩa binh, khiến quân thù khiếp sợ Những đêm trăng thư nhàn, nàng cất lên tiếng hát ngọt ngào ca ngợi tình yêu đôi lứa, ca ngợi tài năng của vị chủ tướng Hoàng Công Chất,

các tướng lĩnh và nghĩa quân, Những khi từ

thao trường trở về doanh trại, ông cùng nàng thường cưỡi ngựa giong ruổi bên bờ suối, rồi đôi

khi xuống ngựa, ngồi tựa vai nhau soi mình bên đồng suối Gương mặt nàng có lúc lẫn trong những cánh hoa ban trôi nhẹ trên dòng nước trong xanh Tiếng cười của nàng giòn tan vang

bên vách núi Ông hái một nhành ban trắng cài

lên mái tóc nàng, ông nhận thấy nàng đang 110

Trang 27

hạnh phúc Biết bao kỷ niệm cứ ùa về tới tấp

Nhưng rồi cảnh mẹ con nàng bị bọn giặc Phẻ

thiêu chết trên cánh đồng Tông Khao lại hiện

lên trong tâm tưởng ông, ông nghẹn ngào thấy

có gì đè nặng trên ngực Thành công của ông, có

được, không thể không nói đến công lao to lớn của người vợ trẻ Và nàng như vẫn còn đây !

Nàng đang có lúc cùng ông gióng ngựa tuần tra trên nẻo đường biên giới xa xôi Vị chủ tướng nâng chén rượu mà rưng rưng nước mắt

111

Trang 28

THU LINH GIANG TA CHAY

Vừ Pà Chay, sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở

xã Pú Nhi, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện

Biên ngày nay Bố là Giàng Lao Chữ (có thuyết nói là Vàng Lao Chừ) Mẹ là Sùng Mai Chưn

Từ nhỏ, Tả Chay đã là một cậu bé thông minh,

nhanh nhẹn và hoạt bát hơn các bạn đồng niên

Lúc 10 tuổi, Tả Chay đã nổi tiếng có tài bắn no

giỏi nhất vùng Tả Chay có thể bắn trúng lỗ đồng xu áp chặt vào vách núi, bắn đón trúng

một quả bưởi lăn nhanh từ đỉnh đổi xuống

Vì bố mẹ rất nghèo, nên cậu bé Tả Chay phải đi làm con nuôi một gia đình người HMông

ở Lai Châu (nay là Điện Biên)

Từ khi thực dân Pháp vào chiếm đóng Lai

112

Trang 29

Châu, chúng ra sức áp bức bóc lột nhân dân ở

đây hơn cả bọn phìa, bọn tạo Đời sống của

nhân dân đã khổ nay lại càng khổ hơn Năm

1918, Giàng Tả Chay đã đến tuổi trưởng thành Không chịu nhục nhã dưới mấy tầng áp bức, bóc

lột của phìa, tạo và giặc Pháp, Giàng Tả Chay kêu gọi dân trong bản, trong vùng nổi dậy, phất

cờ khởi nghĩa Sách Truyện kể bản mường ghi :

“Khoảng năm 1918-1922, đồng bào Mèo” toàn

Tây Bắc do Giàng Tả Chay lãnh đạo, nổi dậy ở

Tua Chùa, Điện Biên (1918), Loong Hẹ (1922) đánh Pháp mạnh mẽ”

Cùng thời Giàng Tả Chay khởi nghĩa còn có

nhiều thủ -nh nghĩa quân người HMông đứng đầu những nhóm khác nổi dậy chống Pháp ở vùng cao, như ở Sơn La, Lai Châu

Nhưng nổi bật nhất vẫn là cuộc khởi nghĩa của

Giàng Tả Chay

Đa số các thuyết nói : Địa điểm đầu tiên của

cuộc khởi nghĩa Giang Ta Chay la hang Tham

En, cách thị xã Lai Chau 3 kilômét Lúc dau,

nghĩa quân có 375 người Trong hội lễ uống máu ăn thể, nghĩa quân bày một tiệc rượu

quanh đống lửa đang rừng rực cháy ở giữa hang sâu Chủ tướng Giàng Tả Chay cầm cái muôi

bằng vỏ quả bầu, múc rượu ở chum ra bát, rồi

* Tên trước đây gọi người HMông

115

Trang 30

tự tay bưng bát rượu chia cho từng nghĩa bình

Chia rượu xong, chủ tướng nói :

- Người Mèo ta vì phia, vì tao, vi tri chau

mà khổ quá rổi, nay thằng Pháp không phải

giống người với ta, nó ở mãi bên Tây đến đây

áp bức chúng ta, chúng ta càng khổ thêm

Hôm nay chúng ta ăn thể phải cùng nhau đuổi

hết thằng Tây, giết hết thằng Tây, thằng

phìa, thằng tạo, thằng tri châu để người Mèo

ta dé khé

Nói xong, chủ tướng cùng nghĩa bình nâng

bát rượu uống một hơi đến cạn Tiếng hò reo vang động cả hang sâu Sau hội ăn thể, nghĩa quân tiến ra khỏi hang Khí thế ra quân rất

mãnh liệt Ngay đêm ấy, nghĩa quân kéo đến

Mường Mùn (thuộc huyện Tuần Giáo ngày nay)

làm lễ Khai đao Nhĩa quân tấn công và giết

chết một tên gian ác là em trai tri châu, rồi ào

ào tiến quân sang Điện Biên Nghĩa quân đi đến đâu cũng được nhân dân hưởng ứng Bà con người HMông cất giấu thóc gạo để nuôi nghĩa quân Nhiều chàng trai người HMông tình

nguyện ra nhập nghĩa quân Súng, nỏ săn thú

rừng của người HMông nay trở thành vũ khí

săn bọn bán nước và cướp nước Một số cụ già

nay kể lại là chính mắt bố mẹ mình đã được

nhìn thấy trong đội quân của Giàng Tả Chay cố

cả nữ nghĩa binh Lính trai và lính gái đều thất

114

Trang 31

lung bằng vải điều, tay cầm binh khí như : giáo, mác, kiếm, nỏ bắn tên tẩm thuốc độc, súng kíp

tự ché, Cac cu còn nhìn thấy nghĩa quân có

một thứ súng lớn, mấy người mới khiêng nổi

một khẩu - đó là những khẩu “đại bác” bọc đa

trâu, bắn bằng đạn chì trộn lẫn sỏi Mỗi khi

tiến quân, nghĩa quân la hét 4m Am Ho chi

đột phá những nhà giầu là cường hào, phìa, tạo,

trì châu, đối với dân lành thì họ không làm

thiệt hại gì Vì vậy nghĩa quân được nhân dân

trong vùng hưởng ứng Thơ ca của người Thái

tá của Pháp là Đex cai quản đạo quân thứ 4

phải đích thân cầm quân đi đánh dẹp Khi quân

Pháp đến Mường Phăng thì nghĩa quân đã

chuyển lên núi cao Khi quân Pháp tiến đến

bản Nặm Ngàm thì bị nghĩa quân phục kích

sẵn ở sườn núi gần bản tấn công Bị đánh bất

ngờ, quân Pháp không kịp chống trả nên bị giết chết 50 tên, những tên sống sót chạy vội về

Mường Thanh

Bị thua đau, mấy ngày sau quân Pháp lại tổ

115

Trang 32

chức đánh vào Mường Pháng lần thứ hai Dai

úy Vi-nê và thiếu úy Gô-chi-ê chỉ huy 500 quân

lính vào đánh Mường Phăng Nghĩa quân chống trả quyết liệt giết chết tên đại úy Vi-nê và một

số lính Pháp Bọn giặc sống sót lại phải trở về Mường Thanh và tổ chức trận đánh mới, quyết

tiêu diệt bằng được nghĩa quân Giàng Tả Chay

Đoán biết được âm mưu này của giặc, nghĩa

quân đã rút một bộ phận vào rừng, một bộ phận

sang Loong He (Thuan Châu) để bảo toàn lực lượng Tại Loong Hẹ, nghĩa quân mở các cuộc tấn công bất ngờ vào các cơ quan của quân Pháp, làm cho công sứ Sơn La là Bon-nd-manh lo sợ, phải tập«-trung bính lính ở Thuận Châu để đối phó với nghĩa quân Mặt khác, Pháp cử tên thông ngôn của Pháp là Nguyễn Xuân Vượng đem

theo mấy tên cai và 80 lính khố xanh, lính dong

đi dụ Giàng Tả Chay ra hàng Toán người này

vừa lên đến dốc Loong Hẹ thì nghe thấy tiếng thét của nghĩa quân đang canh gác ở trên núi

Nguyễn Xuân Vượng đội mũ trắng, cười ngựa,

mới thò đầu lên nói mấy câu tiếng HMông

(Vượng nói sõi cả tiếng HMông và tiếng Thái) thì

đã bị một mũi tên từ trên núi bắn xuống cắm trúng ngực Vượng ngã ngựa chết tại chỗ Bọn

lính vội bỏ chạy, mang theo xác tên thông ngôn

Vượng về chôn ở Thuận Châu (Sự việc này xảy

ra vào cuối năm 1918 hoặc đầu năm 1919)

116

Trang 33

Ngày 21 thang 1 nim 1919 quân Pháp

danh sang Loong He Loong He 1a nai rting sau hiểm trỏ núi cao, dốc đứng, thuận lợi cho việc phục kích của nghĩa quân Quân Pháp tấn công nghĩa quân từ dưới chân núi lên, nghĩa quân chống trả lại quân Pháp từ trên núi xuống với những tay súng, tay nô cừ khôi làm cho quân Pháp thiệt hại nặng, tên trung úy De-xtang-ti

và tên thiếu úy Gô-chi-ê bị giết chết Quân Pháp thua, phải rút chạy

Thời gian này, lực lượng của nghĩa quân đã lớn mạnh, quân số tăng lên tới 6.000 người

Nghĩa quân gồm người HMông, người Thái,

người Xá Hoạt động của nghĩa quân đã ảnh hưởng tốt và lan rộng khắp vùng Tây Bắc và

sang tới cả vùng Thượng Lào Từng bị nghĩa

quân đánh bại mấy trận, nay lại thấy lực lượng

nghĩa quân ngày một lớn mạnh, quân Pháp thực sự lo lắng, nên phải huy động một tiểu đoàn lính lê dương, một trung đoàn lính khố đỏ

từ miển xuôi lên tăng cường lực lượng quân sự

cho hai tỉnh Sơn La và Lai Châu vốn phần nhiều là lính khố xanh và lính dõng

Tháng 10 năm 1920, một đại tá Pháp (có tài

liệu nói là trung tướng) tên là Puy-pây-ru chí

huy mấy nghìn quân từ déng bằng lên bao vây căn cứ của nghĩa quân Giàng Tả Chay ở dãy núi Sen-chi-ta gần Mường Ngội Sau chín ngày đêm

11/

Trang 34

Trong lúc quân Pháp dang réu rã, hoang mang trước những thất bại nặng nề ở Điện Biên

Phủ thì 1ö giờ ngày 17 tháng 3 năm 1954, quân ta tiếp tục tấn công vị trí Bản Kéo Mở

màn pháo binh ta bắn 20 phát đại bác vào căn

cứ Bản Kéo Hoang mang cực độ, không tin tưởng vào quân đội Pháp, 1 tiểu đoàn lính nguy

Thái đóng ở đây kéo cờ trắng ra hàng Quân

Pháp tức tối cho xe tăng đuổi theo, bị pháo binh

của ta bắn rát, buộc phải quay trở lại Cụm cứ điểm Bản Kéo của quân Pháp bi mất nhanh

chóng Ta kết thúc thắng lợi đợt tấn công thứ nhất - bóc gọn lần vỏ cứng của tập đoàn cứ điểm

Điện Biên Phủ, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm, uy hiếp nghiêm trọng sân bay Mường Thanh, giáng một đòn choáng váng

vào tỉnh thần binh lính Pháp

Sau õ ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu

trí, bộ đội ta đã đập nát tuyến phòng thủ ngoại

vì kiên cố phía bắc, đông bắc của quân Pháp, uy hiếp, kiểm chế sân bay trung tâm của quân

Pháp Sự tan rã nhanh chóng của các trung tâm

dé khang phía bắc là ngoài sự tính toán của

quân Pháp Ngày 16 tháng 3, Pháp tức tốc cho

3 tiểu đoàn quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ

và mang theo nhiều đạn dược, vũ khí hạng nặng Quân Pháp ra sức củng cố trận địa phòng

ngự, tăng cường bảo vệ sân bay, đưa lính Âu -

137

Trang 35

Phi ra trấn giữ các cứ điểm ngoại vi thay thế

lính ngụy, đồng thời gia tăng sự đánh phá của

không quân vào các trận địa và tuyến cung cấp

của ta Quân Pháp đặt tất cả hy vọng vào sức

mạnh của khu trung tâm, pháo binh, không

quân của chúng và trông chờ vào sự tổn thất, khó khăn, thoái chí của quân đội ta

Dang uy va Bo chi huy mặt trận quân đội ta

đã triệu tập hội nghị sơ kết và rút kinh nghiệm

đợt tấn công thứ nhất, đề ra nhiệm vụ chuẩn bị cho đợt tấn công thứ hai Hội nghị nhận định : trong đợt tấn công thứ nhất, ta đã tiêu diệt một

bộ phận quan trọng lực lượng của quân Pháp

bảo vệ khu vực ngoại vi Song, lực lượng của quân Pháp vẫn còn rất mạnh Vì vậy, phương châm tác chiến của ta vẫn là “đánh chắc, tiến

chắc” Nhiệm vụ đề ra cho cuộc tấn công thứ hai

là : đánh chiếm các điểm cao phòng ngự phía đông phân khu trung tâm, phát triển trận địa tấn công, thất chặt vòng vây, chia cắt quân Pháp ra từng khúc, thu hẹp phạm vi chiếm

đóng và vùng trời của quân Pháp, khống chế

đến triệt hẳn đường tiếp tế và tiếp viện của

quân Pháp, ;tạo điểu kiện chuyển sang tổng

công kích tiêu điệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm

Toàn bộ phân khu trung tâm nằm giữa

cánh đồng Mường Thanh Từ phân khu này đến

các triển núi xung quanh, địa hình đều bằng 138

Trang 36

phẳng, trống trải, từ 3 đến 6 cây số Muốn tấn

công được các điểm cao phía đông và khép chặt

vòng vây phân khu trung tâm, một vấn đề

chiến thuật có ý nghĩa vô cùng quan trọng cần được giải quyết là : làm thế nào để tiếp cận tập

đoàn cứ điểm của quân Pháp trên một địa hình

bằng phẳng và tiến hành chiến đấu liên tục cả

ngày lẫn đêm trong tầm hoạt động mạnh của

pháo bình, cơ giới và không quân quân Pháp

Vấn đề này chỉ có thể giải quyết được bằng biện

pháp xây dựng trận địa tấn công và bao vây Do

vậy, lãnh đạo mặt trận của ta quyết định : tập

trung xây dựng công sự, giao thông hào, hình

thành trận địa bao vây, tấn công quân Pháp là

nhiệm vụ trung tâm trong công việc chuẩn bị

cho cuộc tấn công thứ hai Ngày 20 tháng 3, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sỹ tập trung hoàn thành nhiệm vụ

trung tâm này

Nhận thức rõ yêu cầu cấp thiết và tác dụng

rất lợi hại của trận địa tấn công, bao vây quân Pháp, các chiến sỹ Điện Biên đã bắt tay vào cuộc chiến đấu thâm lặng trong lòng đất với vũ

khí chính là cuốc, xẻng Từ ngày 18 đến ngày 30

tháng 3 năm 1954, bộ đội ta chuẩn bị đợt tấn

công thứ 2 bằng cách xây dựng trận chiến tiến

công, bao vây những đường hào vây xung quanh

trung tâm và phân khu Nam Mỗi ngày chiến

139

Trang 37

sỹ ta đào xúc đất, đá liên tục từ 14 giờ đến 18 giờ Suốt 10 ngày, 10 đêm, chiến sỹ ta đã đào

được gần 100 kilômét hào giao thông hào chiến

đấu và xây dựng hàng vạn công sự chiến đấu,

hầm chứa đạn, hầm ngủ, hầm cứu thương, Hệ thống trận địa tấn công và bao vây gồm những đường hào giao thông trục chạy xung quanh phân khu Mường Thanh, cắt rời phân khu

trung tâm với phân khu nam, bao gồm nhiều tuyến giao thông hào có công sự chiến đấu tỏa

ra từ các triển núi xung quanh tiến sát trận địa

của quân Pháp, như những sợi dây thòng lọng ngày càng thắt chặt xung quanh phân khu

trung tâm Biết được việc này, quân Pháp

hoảng sợ và tức tối, tìm mọi cách phá hoại giao thông hào của bộ đội ta Quân Pháp cho máy

bay thả đèn dù suốt đêm, điên cuồng ném bom,

bắn phá các đoạn đầu hào, cài mìn trước trận

địa, tung bộ binh, xe tăng, xe ủi đất hòng san

lấp công sự, chiến hào của chiến sỹ Điện Biên Nhưng mọi sự cố gắng của quân Pháp đều vô hiệu Chiến sỹ Điện Biên càng nhanh chồng

tiến sát phân khu trung tâm của quân Pháp với

sức mạnh không gì ngăn cần nổi

Ngày 29 tháng 3 năm 1954, trận địa tấn công, bao vây của quân ta căn bản đã xây dựng xong Pháo cao xạ của quân ta tiến sát phân khu trung tâm

140

Trang 38

Ngày 30 tháng 3 năm 1954 quân ta nổ súng

đánh chiếm các ngọn đổi E, D1, D2 và cho một

bộ phận đánh thọc sâu tiêu diệt tiểu đoàn lính

dù ngụy số 5 Đại doàn 316 được lệnh xung phong chiếm lĩnh các ngọn đổi A1, C1, C2 sau

đó phát triển xuống chân đổi phía tây tiêu diệt

tiểu đoàn lính đù ngụy số 6 Đại đoàn 308 cho

một trung đoàn giữ đổi D3 và đổi C1, đột nhập vào trung tâm phía đông, tiêu diệt tiểu đoàn 2 lính Thái, diệt trận địa pháo của quân Pháp ở

cứ điểm 210, sau đó phối hợp với các đại đoàn

312, 316 quét sạch hai tiểu đoàn lính dù ngụy

số 5, số 6

Bằng những mũi tấn công sắc bén, sự anh

dũng, mưu trí, ngay từ những giây phút tấn

công mở đầu, quân ta đã giành thế chủ động,

cuộc chiến dấu diễn ra khá thuận lợi Sau 45

phút tấn công quả cảm, quân ta chiếm lĩnh đổi

C1 Sau 1 giờ 30 phút, tiểu đoàn lính dù ngụy

141

Trang 39

đóng giữ đổi E bị đánh tan Quân ta chiếm luôn

cứ điểm phía bắc của quân Pháp 20 giờ, hai

ngọn đổi D1, D2 đã thuộc quyển kiểm soát của

quân ta 22 giờ, tiểu đoàn lính dù ngụy số 5 bị đánh tan Trận địa pháo bình của quân Pháp ở

cứ điểm 210 bị tiêu diệt, tiểu đoàn lính dù ngụy

số 6 bị đánh bật tới bờ sông Nậm Rếm

Trên đổi A1, ngọn đổi quan trọng nhất

trong ð ngọn đổi bao bọc phía đông phân khu

trung tâm, cuộc chiến đấu diễn ra hết sức gay

go, quyết liệt Bộ đội ta tổ chức hai mũi tấn

công lên chính diện phía bắc ngọn đổi Sau gần

3 giờ chiến đấu, quân ta tiêu diệt các cứ điểm : E1, D1, D2, 210 Tại cứ điểm C1, cuộc chiến diễn ra rất ác liệt, mỗi bên chiếm một nửa Trên

đổi A1, quân Pháp dựa vào hầm ngầm và trận

địa kiên cố ra sức phản kích Cuộc chiến đấu giành giật từng thước đất Cuối cùng mỗi bên chiếm một nửa

Đáng sớm hôm sau, 31 tháng 3, quân Pháp

dốc toàn sức, mở những cuộc phản kích điên

cuéng hong chiếm lại những điểm cao đã mất

Nhưng bị bộ đội ta giáng trả mãnh liệt, các mũi

phản kích của quân Pháp lên các ngọn đổi E,

C1, D đều bị bẻ gẫy Riêng ngọn đổi A1, quân Pháp quyết chiếm lại bằng mọi giá Chúng đã tập trung đến đây những lực lượng thiện chiến nhất,

với quân số cao nhất trong khả năng hiện có,

142

Trang 40

liên tục nở những cuộc phản kích dữ dội Từ sáng sớm ngày 31 tháng 3 đến tảng sáng ngày 1 tháng

4 rồi đến các ngày sau đó, cuộc chiến đấu khốc

liệt giữa quân Pháp và bộ đội ta để giành giật

từng thước đất trên ngọn đổi quan trọng này đã diễn ra liên miên, kéo dài gần trọn chiến dịch

Cùng ngày 31 tháng 3, đông thời với bẻ gẫy

các cuộc phản kích của quân Pháp ở phía đông,

bộ đội ta mở các đợt tấn công vào các cứ điểm phòng ngự phía tây phân khu trung tâm của

quân Pháp Đại đoàn 312 cho một bộ phận tiến đánh vị trí 105, uy hiếp phía bắc sân bay Mường Thanh Hai trung đoàn 36 và 38 (thuộc đại đoàn 308) tấn công vị trí 106

Đêm ngày 1 tháng 4 năm 1954 quân ta diệt

vị trí 106, cứ điểm phòng ngự mạn tây bắc

Mường Thanh bị tiêu diệt gọn

Ngày 2 tháng 4, quân Pháp ở cứ điểm 311

sợ hãi cuộc tấn công của quân ta dang đến gần

đã kéo nhau ra đầu hàng Trong ngày hôm ấy,

hai đội đũng sỹ của ta đã bí mật đột nhập sân bay Mường Thanh, tiêu diệt một số quân Pháp,

bắt sống 10 tù binh Tuyến phòng thủ phía tây

của phân khu trung tâm đã bị chọc thủng 16

chỗ Sân bay Mường Thanh ngày càng bị uy

hiếp nghiêm trọng

Đêm ngày 4 tháng 4, quân ta tiến đánh cứ

143

Ngày đăng: 08/12/2022, 02:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w