Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất a Con người gây ô nhiễm môi trường đất b Chất thải từ sinh hoạt c Hoạt động của tự nhiên... Chất thải công nghiệp từ các khu nhà máy khu công nghiệp được
Trang 21 ĐẠI CƯƠNG
VỀ ĐẤT
2 PHƯƠNG PHÁP LẤY VÀ BẢO QUẢN MẪU
3 XÁC ĐỊNH CÁC CHẤT HỮU CƠ TRONG
ĐẤT
4 ĐỘ CHUA CỦA ĐẤT
5 XÁC ĐỊNH DUNG
TÍCH TRAO ĐỔI CATION
CỦA ĐẤT
6 XÁC ĐỊNH
MỘT SỐ KIM LOẠI
NẶNG
7 XÁC ĐỊNH N.P.K
TRONG ĐẤT
Trang 3NGUYỄN THÙY TRANG
Nụ cười tỏa nắng đó có thể làm tan chảy trái
tim tôi
Trang 42 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
a) Con người gây ô nhiễm môi trường đất b) Chất thải từ sinh hoạt
c) Hoạt động của tự nhiên
Trang 6I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
1 Các loại nhóm đất
b) Đất phi nông nghiệp
Là nhóm đất không được sử dụng với mục đích làm nông nghiệp và không thuộc các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng
Bao gồm:
- Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan
- Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh
- Đất xây dựng công trình sự nghiệp
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng
- Đất cơ sở công giáo, tín ngưỡng
Trang 8- Có cấu trúc rời rạc với những lỗ rỗng, cho phép rễ cây di chuyển một cách dẽ dàng trong đất.
- Độ pH của đất cát có thể dễ dàng thay đổi thường là từ 7,00-8,00
Trang 10- Là loại đất tương đối giàu dinh dưỡng.
- Có khả năng dưỡng ẩm tốt
- Đất dễ bị nén chặt khiến rễ cây khó phát triển
- Đất có tính axit, pH thấp
Trang 11I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
2 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
a) Con người gây ô nhiễm môi trường đất
- Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, con người đã biết tổng hợp, phân tách các chất Quá trình này con người đã thải rất nhiều chất độc nguy hại ra môi trường sống
- Sự tiên tiến của cuộc sống hiện đại, làm cuộc sống con người tiện ích hơn, thiên nhiên
đã cho con người rất nhiều nguồn tài nguyên
để sản xuất.Tuy nhiên sự thờ ơ trong công tác bảo vệ kiến môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng đang từng ngày biến đổi theo hướng xấu
Trang 12I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
2 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
a) Con người gây ô nhiễm môi trường đất
a.1 Chất thải công nghiệp từ các khu nhà máy khu công nghiệp được thải trực tiếp ra môi trường đất
Chất thải công nghiệp là các chất phát sinh trong quá trình sản xuất của các nhà máy,…
- Hóa chất dùng để chạy máy nhiệt điện, khai khác mỏ, nilon, nhựa dẻo, chúng thường ở dạng lỏng hoặc khí dễ gây cháy nổ hoặc ngộc độc
- Chất thải rắn gồm các kim loại nặng như sắt, bình điện,
… cần được thu gom và tái chế cẩn thận
Lượng chất thải này rất lớn tuy nhiên vẫn chưa được xử lý hiệu quả Hậu quả lượng chất thải được thải trực tiếp môi trường, chôn lấp một cách thô sơ,
Trang 13I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
2 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
a) Con người gây ô nhiễm môi trường đất
a.2 Một số loại chất thải công nghiệp
- Nước thải từ các công ty xí nghiệp làm sơn, nhuộm, Chứa BOD, COD, TSS, dầu khoáng, photpho, kim loại nặng, sunfua,…
- Một chất thải điển hình gây ô nhiễm đất từ khô công nghiệp là tro than, xỉ Trong tro than có nhiều chất độc như 5 mg/L chì, polynuclear aromatic hydrocacbon, benzo fluoranthene, các chất PAHs là chất gây ung thư
- Chất phóng xạ, khí CO
Trang 142 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
b) Chất thải từ sinh hoạt của con người
Trong quá trình sinh hoạt con nười thải ra rất nhiều chất thải ảnh hưởng đến môi trường đất Chất thải chủ yếu ảnh hưởng đến môi trường đất là rác thải và nước thải
I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
Trang 152 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
b) Chất thải từ sinh hoạt của con người
b.1 Rác thải trong quá trình sinh hoạt
- Là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người Bao gồm các chất thải vô cơ và hữu cơ
- Hầu hết các loại rác thải sinh hoạt đều được xử lý bằng phương pháp chôn lấp
Do đó nên khi chôn lấp, rác thải (chủ yếu là nhựa nilong) sẽ làm cho đất mất dinh dưỡng ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, gây ra cái chết của nhiều vi sinh vật
Trang 162 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
b) Chất thải từ sinh hoạt của con người
b.2 Nước thải sinh hoạt
Nước là nhu cầu cần thiết trong quá trình sinh hoạt của con người nên lượng nước thải sinh hoạt là rất nhiều
- Đa số nước thải sẽ được xả thẳng ra môi trường, có số
ít nhà hoặc chung cư có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt
- Trong nước thải sinh hoạt thường có: chất thải của con người, giấy vệ sinh, khăn ướt, ống xả bể phốt, nước tẩy rửa, dầu ăn, nước sơn,…
I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
Trang 172 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
b) Chất thải từ sinh hoạt của con người
b.3 Hoạt động nông nghiệp
Các sản phẩm sử dụng trong ngành nông nghiệp làm ô nhiễm môi trường đất như thuốc sâu, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, vỏ đựng,… chứa nhiều chất độc hại ảnh hưởng đến chất lượng đất Trong các sản phẩm này chứa nhiều hóa chất độc hại gây bất lợi cho đời sống
- Thuốc bảo vệ thực vật sau một thời gian
sử dụng sẽ bị bay hơi, một phần sẽ quang hóa , một phần cây sẽ hấp thu và phân giải, chuyển hóa Tuy nhiên, dù sử dụng bằng cách nào thì cuối cùng thuốc bảo vệ thực vật sẽ ngấm hết vào đất gây chết nhiều vi sinh vật, đặc biệt nếu
sử dụng trong thời gian dài chắc chắn chất độc
sẽ tích lũy dần trong đất
I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
Trang 182 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
b) Chất thải từ sinh hoạt của con người
b.3 Hoạt động nông nghiệp
- Một vài thuốc BVTV gốc clo như dichloro diphenyl trichloroethane (DDT), hexachlorohexane (HCH), endosulfan rất ổn định trong môi trường Chúng có thể tồn tại trong môi trường từ vài tháng đến vài năm Các hợp chất này có thể tích tụ sinh học và đạt đến ngưỡng độc hại của chúng
I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
Trang 192 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
c) Hoạt động của tự nhiên làm ô nhiễm môi trường đất
c.1 Xâm nhập mặn (nhiễm phèn, mặn)
Là hiện tượng nước mặn (nước biển) xâm nhập sâu vào vùng đất vốn dĩ là vùng nước ngọt, làm tha đổi độ mặn, độ phèn trong đất gây bất lợi cho cây trồng, động vật, con người
- Hiện tượng này ít xảy ra với mức độ cao gây thiệt hại lớn
- Khó khăn trong việc xử lý để đất trở lại bình thường, việc này hoàn toàn dựa vào tiên nhiên (mưa lớn)
I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
Trang 202 Các nguyên nhân gây ô nhiễm đất
c) Hoạt động của tự nhiên làm ô nhiễm môi trường đất
c.2 Bão, lũ lụt cuốn trôi các chất độc hại vào đất
- Lũ lụt cuốn trôi các rác thải, chất thải của con người Khi hết lũ lụt sẽ để lại lượng chất thải lớn cho môi trường đất
- Làm xóa mòn, cuốn trôi các quặng, mỏ,… làm các chất độc di chuyển đến vùng đất khác
- Khi nước rút sau mỗi trận bão lũ, để lại rác trên mặt đất và chất bẩn ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm
I ĐẠI CƯƠNG VỀ
ĐẤT
Trang 21Đẹp trai
Tính cách thành thật
Đa tài
Cần kể thêm
không?
BÙI HỮU ĐỨC
Trang 22Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, việc lấy mẫu có thể tiến hành theo các cách sau: Lấy mẫu theo tầng phát sinh (theo phẫu diện đất); lấy mẫu cá biệt và mẫu hôn hợp để phân tích hàng loạt các chỉ tiêu hay chỉ phân tích một vài thành phần của môi trường đất Mẫu lấy ở trạng thái tự nhiên, cấu tạo đất không bị phá hủy.
II PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ BẢO QUẢN
MẪU
Trang 231 Lấy mẫu theo tầng phát sinh (theo phẫu diện đất)
Để nghiên cứu, phân tích đất về phương diện phát sinh học hoặc nghiên cứu những tính chất
tự nhiên của đất (TCVL, TCHH); cách tiến hành lấy mâu được tiến hành theo "phương pháp chìa
khóa" Nội dung của phương pháp này như sau:
- Theo bản đồ thổ nhưỡng của khu vực nghiên cứu, tiến hành phân chia, xác định ranh giới của những loại đất chính theo nguồn gốc phát sinh và theo thành phần cơ giới
- Trên những khoanh vi của các loại đất chính và trong những địa hình đặc trưng điển hình của khu vực nghiên cứu tiến hành phân chia khu vực lấy mẫu "chìa khóa": 10 x 10 m hoặc 100 x100 m đào ở đây 1 - 2 phẫu diện
- Kích thước của từng phẫu diện: 1,2 x 0,8 m; về độ sâu thông thường đào đến tầng đá mẹ, ở những nơi có tầng phong hoá dày thì có thể đào đến 2m hoặc hơn; tiến hành mô tả phẫu diện
một cách tỉ mỉ, mô tả đặc trưng hình thái phẫu diện
II PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ BẢO QUẢN
MẪU
Trang 241 Lấy mẫu theo tầng phát sinh (theo phễu diện đất)
Tất cả tầng đều được lấy như trên, trừ tầng dưới cùng (tầng mẫu chất) và tầng trên cùng (tầng canh tác) Đối với tầng dưới cùng dùng xẻng lấy từ đáy phẫu diện sau khi vừa đào xong Còn tầng canh tác thì lấy dọc theo cả chiều dày của chúng Tầng tích tụ mùn tùy độ dày mà có thể lấy theo từng lớp 10cm Trường hợp độ dày của tầng phát sinh quá lớn thì có thể lấy 2 mẫu hoặc hơn cho tầng đó Trường hợp tầng phát sinh có độ dày <10cm thì lấy hết cả tầng đó Đối với tầng tích tụ của đất mặn mẫu lấy không phải ở giữa tầng mà lấy ở khu vực chặt nhất của tầng này Một điều đáng chú ý nữa là không nên lấy trùng vị trí theo chiều thẳng đứng từ trên xuống mà nên lấy xen kẽ
Bên cạnh việc phân tích các tính chất hóa học của môi trường đất, nếu cần phân tích các tính
chất lý học như xác định thành phần đoàn lạp, độ thấm theo các phương pháp trong phòng thí
nghiệm thì lượng đất cần được lấy phải trên 1kg Để đảm bảo phân tích đầy đủ các tính chất hóa học của đất thì lượng đất cần lấy từ 0,5-1kg
Mẫu lấy xong, trước khi buộc lại mang về PTN phân tích cần phải ghi phiếu mẫu cho vào mẫu đất Phiếu ghi mẫu gồm các nội dung sau:-Ký hiệu mẫu; Loại đất, màu sắc; Tầng dày lấy mẫu; Điều kiện thời tiết; Thời gian lấy mẫu; Người lấy mẫu
II PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ BẢO QUẢN
MẪU
Trang 252 Lấy mẫu cá biệt
Việc tiển hành lấy mẫu cá biệt ngoài thực tế được tiến hành tương đối đơn giản Phương pháp này chỉ áp dụng để phân tích một số chi tiêu cần thiết nhằm đưa ra nhận định tình trạng hiện tại của môi trường đất hoặc phân tích nhanh một số chỉ tiêu của môi trường đất ngoài thực địa Qua khảo sát thực tế, chúng ta tiến hành lấy mẫu ở bất kỳ một vị trí nào đó (theo nhận định mang tính chủ quan của những người khảo sát và lấy mẫu) Kết quả phân tích của các mẫu cá biệt không phản ánh toàn bộ tính chất đất khu vực nghiên cứu mà chỉ để đưa ra những nhận định (chủ yếu trong trường hợp môi trường đất bị ô nhiễm) Để đánh giá toàn bộ tiềm năng đất đai và chất lượng môi trường đất khu vực nghiên cứu cần phải tiến hành lấy mẫu theo tầng phát sinh hoặc lấy mẫu hỗn hợp đại diện để phân tích các chỉ tiêu của môi trường đất
II PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ BẢO QUẢN
MẪU
Trang 263 Lấy mẫu hỗn hợp đại diện
Việc lấy mẫu hỗn hợp đại diện là công việc rất khó khăn, là giai đoạn đầu tiên của quá trình phân tích đất, có ảnh hưởng quyết định đến kết quả phân tích đất
Để lấy mẫu đại diện điển hình cho toàn khu vực phân tích với mức độ cao, có thể tiến hành theo các biện pháp sau:
* Lấy nhiều điểm: Trên khu vực nghiên cứu nếu chúng ta chỉ lấy mẫu ở một điểm thì rất khó điển hình và đại diện cho toàn khu vực; lấy mẫu càng nhiều điểm thì càng dễ điển hình hơn Trong thực tế không cho phép chúng ta lấy thật nhiều điểm mà thường chỉ lấy từ 5 - 10 điểm rồi trộn đều lại và lấy ra một lượng cần thiết gói mang về phòng thí nghiệm Các điểm được lấy mẫu phải phân bố đều trong khu vực nghiên cứu
II PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ BẢO QUẢN
MẪU
Trang 273 Lấy mẫu hỗn hợp đại diện
* Loại trì các điểm cá biệt không điển hình: Khi tiến hành lấy mẫu đất ở trong một khu vực đất cần tránh lấy những mẫu cá biệt không điền hình Ví dụ lấy mẫu đất trên một đám ruộng hay một đám đất nào đó, cần tránh những điểm vừa bón phân hay có vôi tích tụ; tránh lấy sỏi đá hoặc rễ cây lẫn vào nhiều; nếu ở sườn dốc thì không nên lấy ở đỉnh sườn hay chân sườn
Nếu toàn khu vực nghiên cứu kém đồng nhất thì phải phân nhỏ khu vực lấy mẫu Ví dụ một khu đất có vùng đất cao, đất trũng hay đất bằng; có thành phần cơ giới khác nhau, có hiện trạng
sử dụng khác nhau thì không thề lấy một mẫu điền hình cho toàn khu vực đó được Trường hợp này phải phân chia nhỏ khu vực ra thành nhiều ô, mỗi ô phải có sự tương đồng về địa hình, tính chất đất và mỗi ô lấy một mẫu đại diện đề phân tích
* Trộn đều tất cả các mẫu để lấy mẫu điển hình: Các mẫu đất khi lấy tại nhiều điểm (như trên) cần được tán nhỏ và trộn đè̀u để lấy mẫu đại diện mang về Lượng mẫu đất đã lấy tại một khu vực được dàn mỏng trên giấy hoặc nilon, sau đó dùng quy tắc chia 4 lấy một nữa (toàn bộ mẫu đất chia thành 4 phần như hình vẽ, sau đó lấy 2 phần không liền kề nhau, phần còn lại bỏ đi), tiếp tục tiến hành lấy như thế cho đến khi nào đủ trọng lượng cần thiết
II PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ BẢO QUẢN
MẪU
Trang 283 Lấy mẫu hỗn hợp đại diện
Lượng mẫu lấy mang về phòng để phân tích khoảng từ 0,5-1,0kg Mẫu phải kèm theo phiếu ghi mẫu (nội dung phiếu ghi mẫu như trên)
Mẫu mang về Phòng thí nghiệm phải nhập sồ phân tích các thông tin trong phiếu ghi mẫu của từng mẫu đất được lấy
Quy tắc chia 4 lấy một nữa
1 và 3 lấy; 2 và 4 bỏ họ̆c ngược lại
II PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ BẢO QUẢN
MẪU
Trang 291 Nguyên tắc xác định chất hữu cơ trong đất
Mùn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng, hàm lượng mùn trong đất ảnh hưởng đến tính chất lý, hoá học của đất Nói chung, hàm lượng mùn trong đất càng nhiều thì đất được đánh giá càng tốt; nhưng cần lưu ý thêm một số điểm liên quan khi đánh giá hàm lượng mùn như chế độ canh tác, tỷ lệ C/N, mùn/N, axit humic/axit fulvic,…
Thành phần chủ yếu của mùn là C, N, H, O, S, P và các nguyên tố khác Nếu phân tích tổng số các nguyên tố trên rất khó, người ta thường chỉ phân tích C hoặc N rồi suy ra hàm lượng mùn Như vậy số liệu phân tích mùn là con số gần đúng, tất nhiên mức độ chênh lệch với thực tế không đáng kể
III XÁC ĐỊNH CHẤT HỮU CƠ TRONG ĐẤT
Trang 301 Nguyên tắc xác định chất hữu cơ trong đất
Người ta đã xây dựng nhiều phương pháp xác định chất hưu cơ trong đất Có thể chia ra 3 nhóm phương pháp chính
• Phương pháp trọng lượng: Phương pháp này dựa vào lượng CO2 thoát ra trong quá trình oxi
hoá chất hữu cơ Theo phương pháp này có các phương pháp của Guttapson (1886); phương pháp Knôp (Knôp oxi hoá mùn theo lối ướt bằng hỗn hợp CrO3 + H2SO4, Gattuson oxi hoá theo lối khô nhờ dòng oxi)
• Phương pháp thể tích: Là phương pháp phổ biến nhất hiện nay và được áp dụng rộng rãi
trong các phòng thí nghiệm thổ nhưỡng Phương pháp này dựa vào sự tiêu hao dung dịch chất oxi hoá trong quá trình oxi hoá mùn Điển hình của nhóm này là phương pháp của Tiurin (1931) Phương pháp này dung K2Cr2O7 pha trong H2SO4 làm chất oxi hoá
• Phương pháp so màu: Phương pháp này dựa vào việc đo lường cường độ màu xanh Crom (III)
được tạo thành trong quá trình oxi hóa chất hữu cơ bằng K2Cr2O7 Theo nhóm này có các phương pháp của Walklet Black, phương pháp của Xuwplencop, phương pháp Oclop, phương pháp Grinden
III XÁC ĐỊNH CHẤT HỮU CƠ TRONG ĐẤT
Trang 312 Xác định chất hữu cơ trong đất bằng phương pháp Tiurin
• Nguyên tắc: phương pháp này thuộcnhóm phương pháp thể tích, dựa vào sự tiêu hao dung
dịch chất oxi hóa trong quá trình oxi hóa chất hữu cơ để tính ra hàm lượng chất hữu cơ có trong đất
Theo phương pháp này, chất hữu cơ được oxi hóa bằng dung dịch Kali Bicromat K2Cr2O7 Dựa vào khối lượng K2Cr2O7 đã tiêu hao trong phản ứng mà tính ra lượng chất hữu cơ
Ban đầu cho vào đất một lượng K2Cr2O7 lấy dư (K2Cr2O7 được pha trong H2SO4 đậm đặc với tỉ lệ 1:1)
3C + 2K2Cr2O7 + 8H2SO4 →2Cr2(SO4)3 + 2K2SO4 + 3CO2 + 8H2OSau đó chuẩn độ K2Cr2O7 còn lại sau phản ứng trên bằng dung dịch muối Morh (NH4)2SO4.FeSO4.6H2O
K2Cr2O7 + 7H2SO4 + 6FeSO4 → Cr2(SO4)3 + Fe2(SO4)3 + K2SO4 + 7H2O
K2Cr2O7 + 7H2SO4 + 6(NH4)2SO4.FeSO4 → Cr2(SO4)3 + 3Fe2(SO4)3 + 6(NH4)2SO4 + K2SO4 + 7H2O
III XÁC ĐỊNH CHẤT HỮU CƠ TRONG ĐẤT