1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đất và người nam bộ trong đất rừng phương nam của đoàn giỏi

59 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đất Và Người Nam Bộ Trong Đất Rừng Phương Nam Của Đoàn Giỏi
Tác giả Đỗ Thị Ngân Trâm
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Sư Phạm Ngữ Văn
Thể loại Báo Cáo Tổng Kết Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 645,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với độc giả khắp nơi trên mọi miền đất nước, họxem tác phẩm ấy như một áng văn về con người, về vùng đất Nam bộ khá điển hình.Cho nên, Đất rừng phương Nam càng phổ biến khi được dịch

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN

-

 -BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA

CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC

2013-2014 TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Bình Dương, 4/2014

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1

2 Lí do chọn đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

7 Cấu trúc của đề tài 4

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 5

1.1 Đôi nét về nhà văn Đoàn Giỏi 5

1.1.1 Cuộc đời 5

1.1.2 Sự nghiệp văn học 6

1.2 Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam 8

1.2.1 Hoàn cảnh sáng tác 8

1.2.2 Cốt truyện 9

Chương 2 THIÊN NHIÊN NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM 12

2.1 Nền tảng địa văn hóa Nam bộ 12

2.2 Thiên nhiên Nam bộ trong Đất rừng phương Nam 13

2.2.1 Hệ thống thực vật 14

2.2.2 Hệ thống động vật 17

2.3 Ý nghĩa thiên nhiên đối với con người 21

CHƯƠNG 3 CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM 26

3.1 Cuộc sống con người Nam bộ ……….26

3.1.1 Cách thức cư trú 26

3.1.2 Cách thức mưu sinh 28

3.1.3 Phương tiện giao thông 32

3.1.4 Ẩm thực Nam bộ 33

3.1.5 Ngôn ngữ Nam bộ 37

3.2 Tính cách Nam bộ 40

Trang 4

3.2.2 Bình dị, chất phác 45

3.2.3 Con người nghĩa khí, hào hiệp 47

3.2.4 Năng động, sáng tạo 50

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 5

Trước hết tôi xin cảm ơn trường đại học Thủ Dầu Một và khoa Ngữ văn đã chotôi cơ hội thử sức với việc nghiên cứu khoa học Qua công việc này, tôi được thể hiệnkhả năng của mình và đây cũng như lần tập duyệt cho tôi khả năng làm luận văn tốtnghiệp

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Đông đã tận tìnhgiúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này Nhờ sự giúp đỡ tận tình và luônquan tâm của thầy, chúng tôi đã hoàn thành bài nghiên cứu theo đúng thời gian quyđịnh Qua đó, công việc này giúp tôi, một sinh viên năm thứ ba ngành Sư phạm Ngữvăn, có thêm kiến thức chuyên ngành và kĩ năng làm một bài nghiên cứu khoa họccũng như bài luận văn tốt nghiệp sau này

Tuy chúng tôi đã cố gắng rất nhiều để hoàn thành bài nghiên cứu này, song vìđây là lần đầu tiên tiếp xúc với việc làm một bài nghiên cứu khoa học thì việc sai xót

là không thể tránh khỏi Mong thầy (cô) thông cảm và đóng góp ý kiến để bài nghiêncứu được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đoàn Giỏi – Một người con của miền đất Nam bộ, ông là một trong những nhàvăn của Nam bộ thế kỉ XX Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu về cuộc đời và cũng như

về các tác phẩm của ông Như các bài viết sau:

Đoàn Giỏi – người lưu giữ huyền thoại phương Nam do Lưu Hồng Sơn Ngườiviết cung cấp cho ta biết được cuộc đời con người nhà văn Đoàn Giỏi và các tác phẩmchính của ông Người viết nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong thể loạivăn xuôi của Đoàn Giỏi những con người đậm chất Nam bộ và không những conngười mà về thiên nhiên Nam bộ

Bên cạnh bài viết của Lưu Hồng Sơn thì có bài viết của Huỳnh Mẫn Chi cũngviết về Đoàn Giỏi nhưng nghiêng về tìm hiểu con người và tác phẩm để lại của ông vàmột tác phẩm còn dang dở của nhà văn khi cuối đời chưa kịp hoàn thành đó là tác

phẩm Núi cả cây ngàn.

Có một số bài báo cũng viết về nhà văn Đoàn Giỏi và các tác phẩm của ôngnhư: Đoàn Minh Tuấn 2005 Có một nhà văn – chiến sĩ công an Tạp chí Nhà Văn, số

11, tr.80 Báo Sài Gòn giải phóng, số ra ngày 28/3/1999, tr.5

Ngoài những bài viết đó về Đoàn Giỏi thì có những luận văn nghiên cứu vềcách viết truyện hay chất Nam bộ trong tác phẩm của ông Tiêu biểu là luận văn thạc sĩ

văn học- chuyên ngành với đề tài: “Chất Nam bộ trong truyện, kí của Đoàn Giỏi” và khóa luận “Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Đoàn Giỏi” của sinh viên Phan Thị Thu

Hiền (SV chuyên ngành Văn học hệ CNTN, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐHKHXH&NV TP.HCM) do TS Võ Văn Nhơn hướng dẫn, đã được bảo vệ tại Trường

ĐH KHXH và Nhân văn tháng 6 năm 2012

Đất rừng phương Nam (1957) của Đoàn Giỏi không chỉ là tác phẩm phổ biến

trong giới học sinh - sinh viên Đối với độc giả khắp nơi trên mọi miền đất nước, họxem tác phẩm ấy như một áng văn về con người, về vùng đất Nam bộ khá điển hình.Cho nên, Đất rừng phương Nam càng phổ biến khi được dịch ra nhiều thứ tiếng: Nga,

Ba Lan, Trung Quốc, Đức, Tây Ban Nha…

Bài nghiên cứu này của chúng tôi tiếp tục đi vào nghiên cứu chất văn hóa Nam

bộ trong tác phẩm của Đoàn Giỏi vì khả năng có hạn nên chúng tôi chỉ đi nghiên cứu

Trang 7

một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn mang đậm văn hóa Nam bộ để góp vào kho tàngchung nghiên cứu về nhà văn Đoàn Giỏi cũng như tác phẩm của ông.

2 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, khi đất nước đang trên đà hội nhập và phát triển với tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao đã kéo theo sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học côngnghệ Và cũng chính từ đó đã có rất nhiều những đề tài nghiên cứu khoa học mang tínhthời sự, cấp thiết nhưng ta vẫn dễ dàng nhận thấy một điều rất thú vị là lĩnh vực nghiêncứu về đất nước - con người Việt Nam, lâu nay vẫn luôn là vấn đề có sức cuốn hút đặcbiệt đối với mọi tầng lớp xã hội Từ nhà khoa học - khoa học xã hội đến nhà khoa học

về tự nhiên, từ nhà hoạt động chính trị đến nhà hoạt động xã hội, mọi người từ mọingành nghề đều cảm thấy cần phải có nhận thức, am hiểu sâu sắc hơn nữa về đất nướccon người Việt Nam và cũng chính là quê hương, dân tộc mình trên dải đất thânthương hình chữ S

Trên bước đường phát triển, chúng ta đang cố gắng tiếp thu, học hỏi những vănminh, tiến bộ của nhân loại song cũng không nên vì thế mà quên đi những nét đẹptruyền thống, bình dị, gần gũi ngay xung quanh mình hàng ngày mà do bộn bề cuộcsống ta vô tình lãng quên đi Đã đến lúc chúng ta cần sống “chậm” hơn để kịp nhận ranhững giá trị tốt đẹp của dân tộc, nhất là đối với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, họ cầnđược tiếp xúc nhiều hơn nữa với những giá trị tốt đẹp của dân tộc Và trước hết, để thuhút được sự quan tâm, tìm hiểu ở họ thì những tài liệu tham khảo trong học tập cũngnhư trong nghiên cứu cần có sức hấp dẫn, lôi cuốn và cũng thật sinh động Vậy tại saochúng ta lại không khai thác những đề tài này thông qua lĩnh vực văn chương, một lĩnhvực vừa đảm bảo được tính nhân văn cao vừa đáp ứng được những yêu cầu kháchquan của độc giả khi họ có nhu cầu tìm hiểu về quê hương, đất nước mình

Chính vì thế, trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ nghiên cứu về vùng đất,con người miền Nam và cụ thể hơn là đất và người miền Tây Nam bộ dưới góc nhìn

văn hóa qua tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi để tìm hiểu sâu

sắc hơn về thiên nhiên miền sông nước trĩu nặng phù sa; văn hóa, cuộc sống, tính cáchcủa những con người nơi đây của một thời còn nhiều sơ khai dưới ách thống trị củabọn thực dân

Qua đề tài này chúng tôi mong muốn có được cái nhìn chân thật, sâu sắc vềthiên nhiên và con người Nam bộ để tìm ra nét đặc trưng vốn có, những điều thú vị,

Trang 8

mới mẻ tại nơi đây Và khi hoàn thành thì bài nghiên cứu sẽ là tài liệu vừa có giá trị vềmặt văn học, vừa có giá trị về mặt tinh thần góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn nét vănhóa Nam bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam – đất nước – con người nói chung.

3 Mục tiêu nghiên cứu

Qua đề tài nghiên cứu về “Đất và người Nam bộ trong Đất rừng phương Nam

của Đoàn Giỏi” chúng tôi nhận thấy đề tài sẽ:

- Là tài liệu tham khảo trong học tập cũng như tài liệu cung cấp thông tin vềvăn hóa, thiên nhiên, con người miền Tây Nam bộ thuở còn sơ khai

- Làm rõ được nét đặc trưng tiêu biểu về miền đất Nam Bộ trong tác phẩm củanhà văn Đoàn Giỏi

- Góp phần gìn giữ, bảo tồn, phát huy những bản sắc văn hóa, những nét đẹptruyền thống của con người Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sẽ tìm hiểu đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác củaĐoàn Giỏi để có cái nhìn khách quan về tác giả cũng như áp dụng vào việc triển khainghiên cứu

Sau đó đề tài sẽ tìm hiểu về những đặc trưng thiên nhiên được thể hiện qua tácphẩm, cụ thể là miền Tây Nam bộ, Việt Nam

Cuối cùng, đề tài sẽ tìm hiểu về con người nơi đây qua những nét chính về vănhóa cũng như phong cách sinh hoạt hàng ngày

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê

Trên cơ sở tìm hiểu về tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, người viết sẽ thống

kê các yếu tố, chi tiết miêu tả về thiên nhiên và con người miền Tây Nam bộ cóliên quan đến đề tài cũng như tần suất xuất hiện các yếu tố đó

5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Dựa vào kết cấu đề cương có sẵn, người viết sẽ tìm hiểu từng khía cạnh trongtác phẩm để tiến hành nghiên cứu Bên cạnh đó, người viết cũng sẽ tìm hiểu,tham khảo các ý kiến, nhận định để rút ra những đặc trưng bản chất làm rõ cho

đề tài Từ những nguồn tài liệu sưu tầm được người viết sẽ rút ra những gì tinhtúy, xác đáng nhất để phục vụ cho việc nghiên cứu về đề tài

5.3 Phương pháp lịch sử - xã hội

Trang 9

Đặt văn học trong mối tương quan với các yếu tố xã hội và lịch sử, cụ thể trong

đề tài này là xã hội và lịch sử phát triển vùng Nam Bộ để đối chiếu và luận suy

ra những đặc điểm phát triển của văn học

6 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

- Thiên nhiên miền Tây nam bộ

- Nét đặc trưng về cuộc sống, tính cách của người dân miền Tây Nam bộ

6.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thiên nhiên miền Tây Nam bộ

- Con người miền Tây Nam bộ

- Không gian: khu vực miền Tây Nam bộ và thời gian vào khoảng năm 1945

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì đề tài được chia thành bachương chính:

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

Chương này giới thiệu về tiểu sử của nhà văn Đoàn Giỏi, nói về sự nghiệp sángtác của nhà văn qua các chặng đường sáng tác, giới thiệu về hoàn cảnh ra đời của tác

phẩm cũng như tóm tắt cốt truyện tác phẩm Đất rừng phương Nam

CHƯƠNG II: THIÊN NHIÊN NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM

Nghiên cứu về thiên nhiên trong đất rừng phương Nam, đây vừa là một vùngthiên nhiên được ưu đãi nhiều thuận lợi thế nhưng bên cạnh đó, thiên nhiên cũng thậthoang sơ, dữ dội, đặt ra những thử thách cho con người Ngoài ra người viết còn tìmhiểu về vai trò của thiên nhiên đối với cuộc sống con người

CHƯƠNG III: CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM

Chương này nêu lên những nét đặc trưng của con người miền Tây Nam bộ vềnhững khía cạnh như: cách mưu sinh, cách cư trú, việc đi lại, ẩm thực cũng như nhữngđặc trưng về ngôn ngữ, tính cách con người nơi đây

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

1.1. Đôi nét về nhà văn Đoàn Giỏi

1.1.1 Cuộc đời

Đoàn Giỏi (17/5/1925 - 2/4/1989), tên thật là Đoàn Văn Giỏi Ngoài bút danhĐoàn Giỏi thường dùng, ông còn có nhiều bút danh khác: Nguyễn Hoài, Huyền Tư,Nguyễn Phú Lễ…Đoàn Giỏi sinh ở quê tại thị xã Mỹ Tho, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc xãTân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), trong một gia đình địa chủ

Nhà văn Đoàn Giỏi chính là người con thứ tư (Nam bộ gọi là thứ năm) của ôngĐoàn Văn Vàng và bà Nguyễn Thị Kiểu Ông bà này có tất cả mười người con: ĐoànVăn Mỹ, Đoàn Thị Ba, Đoàn Thị Tư, Đoàn Giỏi, Đoàn Phú, Đoàn Thị Đức, ĐoànNgọc Hưng, Đoàn Nhân và Đoàn Thị Tuyết.Trong những người con ấy, Đoàn Giỏi,Đoàn Phú, Đoàn Nhân là những người từng tham gia hoạt động cách mạng trong thời

kỳ kháng chiến chống Pháp Họ đều là những chiến sĩ bất khuất trung kiên, dũng cảmtrên khắp các chiến trường Cha Đoàn Giỏi, ông Đoàn Văn Vàng là một địa chủ tríthức tiến bộ và yêu nước Ông từng làm chủ hàng trăm héc ta ruộng vườn Khi Cáchmạng tháng Tám thành công và toàn quốc kháng chiến bùng nổ, gia đình ông đã tựnguyện hiến toàn bộ nhà cửa, ruộng đất cho chính quyền Việt Minh Từ nghĩa cử caođẹp ấy, ông Đoàn Văn Vàng như tạo điều kiện cho chính mình, một điền chủ lớn đãxích lại gần với cách mạng

Thuở nhỏ, Đoàn Giỏi học ở trường trung học Mỹ Tho Sau đó, ông theo học trườngCao đẳng Mỹ thuật Gia Định Cứ tưởng, cuộc đời và số phận của Đoàn Giỏi đã gắnliền với cây cọ, với nét vẽ nào ngờ năm 1943, khi Đoàn Giỏi sáng tác được một truyệnngắn đầu tiên thì xem như cuộc đời ông chuyển sang bước ngoặt mới Truyện ngắn ấy

được nhà văn Hồ Biểu Chánh chọn đăng trên tờ Nam kỳ tuần báo Cũng từ truyện

ngắn đó, Đoàn Giỏi xem Hồ Biểu Chánh như một người thầy của mình đối với trongvăn chương Sau đó, những truyện ngắn khác của Đoàn Giỏi viết bao giờ cũng được sựgóp ý chân tình từ Hồ Biểu Chánh Về sau, tác phẩm của Đoàn Giỏi gần gũi với ngườidân lao động như cách tư duy của Hồ Biểu Chánh Nhưng phong cách và văn chươngcủa Đoàn Giỏi lại mạnh mẽ, gai góc, cuồng nhiệt như chính cá tính của ông

Trang 11

Con đường nghệ thuật mở ra chào đón trước mắt ông, nhưng cuối cùng ông chọn côngviệc không liên quan gì tới hội họa, tới văn chương Ông có tinh thần giác ngộ cáchmạng sớm và ông chọn cho mình con đường khác Năm 1947, Đoàn Giỏi về làmtrưởng công an huyện Châu Thành Thời gian này, ông phải phụ trách mười xã đangrơi vào thời kỳ khó khăn về mặt kinh tế cũng như tinh thần của người dân do chiếntranh gây ra Năm 1948, Đoàn Giỏi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vàgiữ chức phó ty tuyên truyền tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) Cùng thời

gian này, Đoàn Giỏi kiêm luôn vị trí chủ bút tờ báo Tiền Phong của Mặt trận Việt

Minh Mỹ Tho Được hai năm, Đoàn Giỏi chuyển công tác đến nơi khác, đó là năm

1949, ông chuyển sang làm phó ty công an tỉnh Rạch Giá (nay thuộc tỉnh Kiên Giang)

Từ năm 1949 đến năm 1954, ông công tác tại Chi hội Văn nghệ Nam Bộ, viết bài chotạp chí Lá Lúa, rồi tạp chí Văn nghệ Miền Nam

Sau 1954, ông tập kết ra Bắc, ông đã mang hương sắc miền Nam ra Bắc Mọi thóiquen hàng ngày, Đoàn Giỏi vẫn giữ đúng phong cách Nam bộ, dù sống trên mảnh đấtmiền Bắc hay ở đất trời châu Âu

Ông mất ngày 2 tháng 4 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh ung thư Ngày

7 tháng 4 năm 2000, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đặt tênông cho một phố thuộc Quận Tân Phú

Hiện nay ở Châu Thành - Tiền Giang, tên tuổi của nhà văn Đoàn Giỏi đã gắn liềnvới trường Trung học cơ sở Tân Lý Tây – huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang Còn

về cuộc đời riêng, Đoàn Giỏi đã trải qua hai cuộc hôn nhân Thế nhưng ông chỉ có mộtngười con duy nhất với người vợ đầu tiên, đó là Đoàn Quang Viễn Đoàn Quang Viễnsinh năm 1958, sinh sống tại Tân Hiệp - Châu Thành - Tiền Giang, bên cạnh nền nhà

mà ông nội Đoàn Văn Vàng đã hiến cho cách mạng Ông Đoàn Văn Viễn cũng có mộtngười con trai duy nhất đó chính là Đoàn Quang Minh, sinh năm 1980 Rất tiếc là sốphận của Đoàn Quang Viễn cũng rất ngắn ngủi như cha mình, ông đã ra đi vào mộtngày cuối năm của năm 2005 tại bệnh viện đa khoa thành phố Mỹ Tho – tỉnh TiềnGiang, do tai biến mạch máu não

Trang 12

ông thường đậm chất nghĩa khí và hào hùng Dù có sinh sống, công tác, hoạt động ởđâu, ông cũng luôn luôn hướng về vùng đất Nam bộ Bản chất Đoàn Giỏi lại là ngườirất chịu khó tìm tòi và hay nghiên cứu mọi chuyện một cách ngọn ngành cho nên văncủa ông thường rất góc cạnh, gồ ghề nhưng cũng chân tình và hồn nhiên như chínhmiền đất hoang sơ và hào phóng của miền Tây Nam bộ Nhà thơ Chế Lan Viên đã

nhận xét: “Đoàn Giỏi là một trong những người đầu tiên truyền bá ngôn ngữ Nam bộ

hiện đại qua những tác phẩm của mình”

Sự nghiệp sáng tác của ông trải dài từ trước Cách mạng tháng Tám đến sau đổimới, đi qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; vượt từ Nam ra Bắc, rồilại từ Bắc vào Nam Tất cả điều này đều được phản ánh trong từng chặng đường tácphẩm của ông

Giai đoạn chống Pháp: 1943: Nhớ cố hương (truyện ngắn), 1946: Khí hùng

đất nước (ký), 1947: Người Nam thà chết không hàng (kịch thơ), 1948: Đường về GiaLương (truyện ngắn), 1948: Những dòng chữ máu Nam kỳ 40 (ký), 1949: Chiến sĩTháp Mười (kịch thơ), 1954: Giữ vững niềm tin (thơ), Chuyện thằng Cồi (truyện thơ)

Giai đoạn chống Mỹ: 1955: Trần Văn Ơn (truyện vừa), 1955: Cá bống mú

(truyện vừa), 1955: Đèn tôi bay về Lục Hồ Chí Minh (ký), 1955: Cây đước Cà Mau(ký), 1955: Ngọn tầm vông (ký), 1957: Đất rừng phương Nam (tiểu thuyết), 1958: Cáitrống con (truyện ngắn), 1960: Hoa hướng dương (truyện vừa), 1960: Trước giao thừa(truyện ngắn), 1961: Đường đi qua làng (truyện phim, viết chung với Chi Lăng), 1962:Cuộc truy tầm kho vũ khí (truyện vừa), 1963: Người thủ thuỷ già trên hòn đảo lưu đày(truyện vừa), 1966: Như nước trong nguồn (ký), 1971: Chuyến xuồng đêm (truyệnngắn), 1971: Người đồng hương (truyện ngắn), 1971: Chung một kẻ thù (truyện ngắn),1973: Người tù chính trị năm tuổi (truyện ngắn), 1973: Tiếng trống (ký)

Sau giải phóng: 1977: Chuyến xe thổ mộ ngày giáp tết (truyện ngắn), 1979:

Những chuyện lạ về cá (biên khảo dành cho thiếu nhi), 1982: Tiếng gọi ngàn (truyệnngắn), 1982: Qua những chặng đường (chấp bút hồi ký Nguyễn Thị Thập), 1984:Rừng đêm xào xạc (truyện ngắn), 1986: Họ là ai (ký), 1986: Các con vật trên rừngdưới biển (biên khảo dành cho thiếu nhi), 1987: Chú bé Hà Nội và con ó lửa trên ĐồngTháp Mười (truyện ngắn), 1989: Núi cả non ngàn (tiểu thuyết - bản thảo dang dở)

Trang 13

Như vậy, chúng ta có thể thấy được sức sáng tác mạnh mẽ, bền bỉ và phải nóirất đều đặn của Đoàn Giỏi về mọi thể loại Sự liệt kê trên chưa hẳn là chính xác và đầy

đủ, có nhiều sáng tác của ông bị thất lạc và có thể chưa xác định được rõ thời gian viết

1.2 Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam

1.2.1 Hoàn cảnh sáng tác

Vào năm 1957, khi đất nước ta bị chia cắt hai miền Nam Bắc, Ban biên tập nhàxuất bản Kim Đồng muốn có một tác phẩm giới thiệu về phong cảnh đất nước, conngười miền Nam tươi đẹp, trù phú, giúp bạn đọc thêm hiểu và yêu miền Nam Biết nhàvăn Đoàn Giỏi hiểu rõ vùng đất này nên Ban giám đốc nhà xuất bản Kim Đồng cử nhàvăn Trần Thanh Địch đến gặp nhà văn Đoàn Giỏi ở Hà Nội để nhờ ông viết Và dĩnhiên, nói đến quê hương miền Nam, nhà văn Đoàn Giỏi vui vẻ nhận lời ngay và hứa

sẽ hoàn thành tác phẩm sau một tháng

Dẫu tác phẩm chỉ được viết trong vòng một tháng, thế nhưng vì hình ảnh từngnắm đất, từng con rạch nhỏ, từng nếp nhà đơn sơ đã đều ăn sâu vào tâm khảm của nhàvăn nên mạch văn cứ tuôn chảy một cách tự nhiên nhất và khi tác phẩm được hoànthành thì nó đã trở thành một món ăn tinh thần vô giá đối với tất cả mọi người ở mọilứa tuổi

Bối cảnh của tiểu thuyết là các tỉnh miền Tây Nam bộ, Việt Nam vào nhữngnăm 1945, sau khi thực dân Pháp quay trở lại xâm chiếm Nam bộ Câu chuyện mangđầy đủ những nét đặc trưng của vùng Tây Nam bộ, với bối cảnh là cả một vùng đấtđược thiên nhiên ưu đãi, cánh đồng bát ngát mênh mông, sóng nước rì rầm, rừng rậm

bạt ngàn trù phú, thú rừng hoang dã muôn loài Đất rừng phương Nam đã mang đến

cho người đọc nhiều thú vị về bối cảnh, con người, tập tục văn hóa của vùng nôngthôn Nam bộ

Nội dung câu chuyện cũng vậy, Đoàn Giỏi chỉ xoay quanh ở vùng đất Nam bộ.Ông mượn hình ảnh một cậu bé bị lưu lạc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở

Nam bộ để giới thiệu Đất rừng phương Nam Nơi đó là một vùng đất vô cùng giàu có,

hào phóng và hùng vĩ với những con người trung hậu, trí dũng, một lòng một dạ theokháng chiến Tác phẩm gần như tập hợp tất cả đất rừng và người phương Nam Có thể

nói, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi như một xã hội của miền sông nước Tây

Nam bộ thu nhỏ Bởi ở nơi đó, người đọc đã tìm thấy hình ảnh người dân của vùng đấtphương Nam từ sông Tiền, sông Hậu trải dài đến Kiên Giang - Rạch Giá, rồi xuống

Trang 14

tận rừng U Minh, sau đó dừng lại ở Năm Căn, Cà Mau Sự tài tình của Đoàn Giỏi lànhư tái tạo lại bối cảnh sông nước, con người của thuở ông cha ta còn mang gươm mởcõi

Bằng chất thơ đậm chất Nam bộ mà Đoàn Giỏi đã gửi trọn vào tác phẩm củamình từng hơi thở của thiên nhiên, của con người nơi đây Tất cả được bắt nguồn từtình yêu đối với mảnh đất và con người Nam bộ và được thể hiện trong từng chi tiếtmiêu tả, trong ngôn ngữ và tính cách nhân vật, tạo nên một sự khởi sắc đầy ấn tượngmới mẻ, hấp dẫn, một thứ bổ sung cho cách nhìn về con người và thiên nhiên vùng đấtphương Nam

1.2.2 Cốt truyện

Dựa vào bối cảnh thời gian là những năm đầu kháng chiến chống Pháp và cốttruyện là chú bé An bị lạc gia đình trong quá trình đi tản cư, Đoàn Giỏi đem đến chongười đọc bao nhiêu là cảm nhận phong phú, bất ngờ, sâu lắng đầy thi vị về cảnh vàngười, về vùng đất cực nam của Tổ quốc thân yêu Đến với vùng đất ấy ta như được vềvới quê hương, một quê hương đôi lần bỡ ngỡ khi nhìn thấy nó lần đầu tiên, nhưngngay sau đó là sự say mê khi được đắm mình vào thế giới lạ kỳ, hấp dẫn Người, cảnhcủa một vùng quê như ẩn giấu bao trầm tích đáng yêu, đáng quý cứ mở ra trước mắtchúng ta trong chuyến đi dài ngày của nhân vật

Câu chuyện kể về cuộc đời lưu lạc của chú bé An vì biến cố đã xảy đến với giađình, đó là vào khoảng thời gian sau năm 1945, khi thực dân Pháp quay trở lại xâmlược nước ta Cậu bé vốn là con trai của một gia đình trí thức sống ở nơi thị thành, thếnhưng khi giặc đến gia đình cậu phải tản cư lánh nạn qua những miền đất phương Namtrong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Do tính mải chơi của trẻ con màchú đã bị lạc cha mẹ và trôi dạt trên mảnh đất xa lạ, vùng đất trù phú, đa dạng, kì vĩvới những kênh rạch, tôm cá, chim chóc, muông thú, lúa gạo và cây cối, rừng già.Trong thế giới đó có những con người vô cùng nhân hậu như cha mẹ nuôi của An, nhưcậu bé Cò, chú Võ Tòng, dì Tư Béo cùng những người anh em chiến sĩ giàu lòng yêuquê hương, đất nước Dù không được sống cùng cha mẹ ruột thế nhưng cậu bé đượcyêu thương, đùm bọc trong gia đình cha mẹ nuôi, cùng với những người dân nơi đâyvới tất cả tình người ấm áp, được đối xử như máu mủ trong gia đình Từ đây cậu bésống một cuộc sống tự do, phóng khoáng, được khám phá vô vàn những điều thú vị,mới lạ và cũng phải chứng kiến cảnh giặc đến tàn phá quê hương Với bản chất là một

Trang 15

cậu bé thông minh, ngoan ngoãn, càng ngày cậu càng bộc lộ mình là một người dũngcảm, kiên trung và minh chứng chính là việc cậu lên đường ra chiến trận, nắm chắc taysúng bảo vệ quê hương.

Theo chân cậu bé An, người đọc như được đến đất rừng và được gặp những conngười nơi đây, được khám phá những điều mới lạ của một vùng đất còn nhiều néthoang sơ Cuộc sống tự do và cuộc đời phóng khoáng cởi mở đã để lại ấn tượng sâusắc trong tâm khảm người đọc nhiều thế hệ suốt những năm tháng qua

Tiểu kết

Đoàn Giỏi là nhà văn đã biến miền đất phương Nam trở thành thân thuộc, đángyêu đối với độc giả, không chỉ là độc giả nhỏ tuổi trên khắp mọi miền đất nước.Những trang văn của ông thấm đượm hơi thở của sông nước, rừng cây, những câuchuyện cả thực, cả kỳ bí của thiên nhiên Nam bộ hoang sơ và truyền được hơi thở ấycho độc giả Có được điều đó không những là nhờ tình yêu của ông đối với miền đấtNam bộ quê hương mà còn ở óc quan sát tỉ mỉ, tinh tế, lối văn kể chuyện hấp dẫn trongtác phẩm của mình

Cũng chính vì thế, trong tập tiểu luận - phê bình “Tiếng vọng những mùa

qua” của Nguyễn Thị Thanh Xuân (NXB Trẻ, 2004) nhận định về tác giả Đất rừng

phương Nam: “Có mảnh đất sinh ra những nhà văn, và ngược lại, có nhà văn từ trang viết đã biến miền quê riêng của mình thành miền quê chung thân thuộc trong tâm tưởng bao người Với Đoàn Giỏi, tôi nghĩ rằng ông đã đón nhận được cái hạnh phúc đó Ông đã đem đến cho bạn đọc cả nước những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất mà trước đó xa ngái, hoang sơ trong hình dung của mọi người Ông đã xây dựng những nhân vật lòng đầy nghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa "(Đoàn Giỏi, Đất

và rừng phương Nam)

Thành công của tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc là một tiểu thuyết được mọi

người yêu mến mà tác phẩm còn được chuyển thể thành công thành bộ phim Đất

phương Nam do hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS) sản xuất năm

1997 Từ khi ra đời, bộ phim vẫn liên tục được trình chiếu trên nhiều kênh truyền hìnhđịa phương, nhận được sự yêu mến của đông đảo quần chúng, không chỉ là nhân dântrong nước mà còn cả những kiều bào nước ngoài Bộ phim cũng là phim dài tập đầutiên của Việt Nam được xuất khẩu sang Mỹ và được đón nhận đông đảo

Trang 16

CHƯƠNG 2 THIÊN NHIÊN NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM

2.1 Nền tảng địa Nam bộ

Nam bộ là vùng đất cuối cùng của Tổ quốc, bao gồm 2 vùng đất có nét riêng rõrệt Đông Nam bộ là vùng đồi núi thấp với những thềm phù sa cổ Nơi đây được nhìnnhận như diềm phía Nam của đại khối cao Tây Nguyên, từ đó các dòng Đa Nhim, ĐaDung hợp lưu lại thành sông lớn Đồng Nai, tiếp nước của La Ngà rồi vượt qua Trị Antới gặp Sông Bé, sông Sài Gòn để đổ ra của Lòng Tàu Còn Tây Nam bộ, tức Đồngbằng sông Cửu Long là vùng đất tiếp nối địa hình bán sơn địa ấy với một đồng bằngchâu thổ phẳng và thấp Đây là sản phẩm bồi tụ của sông Mê Kong, con sông dài nhất

và nhiều nước, nhiều phù sa nhất Đông Nam Á trên một khuôn vịnh nông kéo dài từbồi địa Tông – lê – sap của Campuchia tới khu vực đồng bằng sông Tiền và sông Hậu.Những cứ liệu về mặt địa lý trên giúp chúng ta xác định vấn đề cụ thể về địa – văn hóaNam bộ ở đây chính là nói về khu vực Tây Nam Bộ

Khi nghiên cứu về nền tảng địa – văn hóa Nam bộ, việc đặt trong mối tươngquan với các đặc điểm về sinh thái và xã hội của vùng văn hóa này là điều kiện cầnthiết Lịch sử Nam tiến nói riêng và lịch sử Nam bộ nói chung là lịch sử của vùng đấtmới với độ dài thời gian hơn ba thế kỉ hình thành và phát triển Đặc tính “mới” là nétbao trùm lên cả hai phương diện địa lý và lịch sử của đồng bằng sông Cửu Long Sovới cả nước, đây là khu vực có lịch sử khai phá muộn nhất Vì vậy văn hóa vùng miềnnày cũng chính là văn hóa của vùng đất mới với những nét tiếp thu và bảo tồn truyềnthống dân tộc và những nét đặc sắc riêng biệt phù hợp với những điều kiện tự nhiên và

xã hội trên địa bàn Quá trình Nam tiến được phản ánh rất rõ trong văn học từ nhữngsáng tác dân gian cho tới văn chương bác học Trong kho tàng văn học dân gian đồngbằng sông Cửu Long, ca dao, thành ngữ, truyền thuyết, giai thoại về đất và người trongquá trình khai mở đất chiếm số lượng khá lớn và được xem là đặc sắc hấp dẫn nhất Đa

số truyện kể, truyền thuyết dân gian Nam bộ đều thể hiện những đặc tính mới củavùng miền trên nhiều biểu hiện khác nhau của văn hóa Ngay cả truyện cười Bác BaPhi cũng tiếp nối truyền thống ấy bằng cách tái hiện lại thiên nhiên hoang dã nơi cựcnam tổ quốc với một trí tưởng tượng phong phú Văn chương bác học cũng có không ítnhững tác phẩm tập trung khai thác mảng đề tài này một cách thành công Qua đây

Trang 17

càng chứng tỏ được đặc trưng của các sáng tác văn học trong việc tái hiện cuộc sống

và vai trò của nó trong việc lưu trữ và truyền tải những giá trị văn hóa dân tộc Xemxét nguồn gốc của những người đầu tiên đặt chân đến Nam bộ đã chứng tỏ cho chúng

ta thấy nền văn hóa của khu vực này một mặt phát sinh từ những điều kiện địa lý nhânvăn mới, mặt khác lại liên quan tới yếu tố gốc gác, cội nguồn xuất thân Có thể tìmthấy vô số biến thể ca dao, dân ca từ miền Bắc được cải sửa trong kho tàng văn họcdân gian đồng bằng sông Cửu Long

Ngày nay, khu vực này bao gồm mười hai tỉnh và một thành phố Đồng bằngsông Cửu Long có đặc điểm địa hình là một châu thổ thấp, bằng phẳng, là sản phẩmbồi tụ của sông Mê Kong và là nơi có cửa sông giáp biển nên việc bồi tụ này vẫn diễn

ra hàng năm Đây là nơi sở hữu một hệ thống kênh rạch chằng chịt với hơn “2500kmsông rạch tự nhiên và 2500 km sông rạch đào” vì thế đặc điểm nổi bật của văn hóađồng bằng sông Cửu Long là văn hóa sông nước, kênh rạch Điều này được thể hiệnqua nền nông nghiệp lúa nước, tập quán đánh bắt thủy sản, việc giao thông đi lại đếncác lễ hội về nước và đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp có liên quan đến sông nước

Là một vùng văn hóa có tuổi đời trẻ nhất cả nước, văn hóa đồng bằng sông CửuLong dù đã được hình thành trong một thời gian dài nhưng vẫn đang ngày được địnhhình rõ nét hơn Nó góp phần tô thắm bức tranh văn hóa đa sắc của đất nước ta nhưngvẫn giữ được những nét đặc sắc riêng cho mình

2.2 Thiên nhiên Nam bộ trong Đất rừng phương Nam

Thiên nhiên, cảnh vật vốn là một trong những đối tượng thẩm mỹ quan trọngcủa nhiều ngành nghệ thuật, đặc biệt là đối với văn học, thiên nhiên vừa đóng vai trò làđối tượng miêu tả vừa đóng vai trò là phông nền qua đó nhà văn làm nổi bật lên những

ý tưởng, gửi gắm những tâm sự cần giãi bày Thiên nhiên cảnh vật được đề cập trong

Đất rừng phương Nam chính là thiên nhiên cảnh vật của quê hương Nam bộ, toàn bộ

không gian trong tác phẩm là không gian của vùng đất miền Tây sông nước Nhà văn

đã chú ý khắc họa những nét đặc trưng của miền đất này ở nhiều góc độ khác nhaugiúp người đọc như được tận mắt chứng kiến những nét đặc sắc của vùng đồng bằngsông Cửu Long

Để có được một miền đất phương Nam trù phú với những cánh đồng thẳng cánh

cò bay, những cánh chim tung trời, tiếng vó ngựa reo vui trên đường làng, tiếng máichèo trên sông nước… chúng ta không thể quên được công lao to lớn của ông cha ta

Trang 18

hơn 300 năm về trước xuôi thuyền vô phương Nam đi mở đất – qua bao cuộc bể dâu,qua bao cuộc đổi thay, qua bao gian khổ hy sinh Nam bộ vốn là một vùng đất mớiđược hình thành từ chủ trương của chúa Nguyễn đi về phương Nam mở mang bờ cõi

để khi đi vào tác phẩm thì mảnh đất nơi đây tuy không còn hoàn toàn mang những néthoang sơ, nguyên thủy thế nhưng nó vẫn mang trong mình nhiều điều mới lạ, thú vịmang đầy đủ những nét đặc trưng nhất của miền Tây sông nước

Họ cất nhà dọc mé sông, lao động kiếm sống và đi lại đều gắn với sông nước.Cũng chính vì thế mà phương tiện đi lại chủ yếu của người dân nơi đây là bằng ghexuồng dọc theo các dòng nước ấy Cậu bé An cũng trôi dạt trên những con thuyền qua

nhiều vùng đất, nơi mà "các con kênh thẳng tắp chạy dài vô tận" Lúc đầu cậu bé được

đoàn thuyền vận tải trung lương của Ủy ban kháng chiến Nam bộ cho đi nhờ thuyền từHậu Giang xuống, cậu được dì Tư Béo cưu mang và trở thành bồi bàn cho quán nhậucủa dì ngay sát bên một con kênh nhỏ, cuộc đời của cậu bé An chỉ thực sự nổi trôi trênnhững con nước vô định khi mà cậu phải cùng với gia đình cha mẹ nuôi đi tản cư nơinày đến nơi khác trên chiếc thuyền con rách nát

Một vùng sông nước mênh mông, kênh rạch chằng chịt hiện ra trước mắt độcgiả qua những trang văn thấm đượm tình người Và ở đây chúng ta đã được chứngkiến một cảnh quần tụ đến kì lạ, khi thiên nhiên ưu đãi cho vùng đất này một hệ sinhvật đa dạng và phong phú

Đây là một hệ thống "mạng nhện" bủa giăng chi chít những dòng chảy chằngchịt, liên thông không có điểm khởi đầu và không biết đâu là điểm kết thúc Sức hútcủa vùng sông nước này thật có sức hấp dẫn dây chuyền Ấy là cái không gian xanhbao bọc cả trên, cả dưới và cả xung quanh nữa, tất cả làm thành một bản hòa âm về sắc

xanh: "trên thì trời xanh, dưới thì nước xanh, chung quanh mình chỉ một sắc xanh cây

lá"[5:273].

Trang 19

Thiên nhiên còn hoang sơ thể hiện cả ở việc đặt tên cho các địa danh Tên sông,tên đất nào cũng gắn liền với các "sự tích" thế nhưng đó không phải là tên một ônghoàng hay bà chúa nào trong sách sử hay truyền miệng dân gian mà chỉ đơn giản là tùytheo đặc điểm sinh thái ở đó, có nghĩa là động thực vật ven bờ mà đặt tên cho nó.

"Chẳng hạn như gọi rạch Mái Giầm, vì hai bên bờ rạch mọc toàn những cây mái giầm cọng tròn xốp nhẹ, trên chỉ xòa ra độc một cái lá xanh hình chiếc bơi chèo nhỏ; gọi kênh Bọ Mắt vì ở đó tụ tập không biết cơ man nào là bọ mắt đen như hạt vừng, chúng

cứ bay theo thuyền từng bầy như những đám mây nhỏ, ta bị nó đốt vào da thịt chỗ nào

là chỗ đó ngứa ngáy nổi mẩn đỏ tấy lên; gọi kênh Ba Khía vì ở đó hai bên bờ tập trung toàn những con ba khía, chúng bám đặc sệt quanh các gốc cây (Ba khía là một loại còng biển lai cua, càng sắc tím đỏ, làm mắm xé ra trộn tỏi ớt ăn rất ngon) Còn như xã Năm Căn thì nghe nói ngày xưa trên bờ sông chỉ độc có một cái lán năm gian của những người tới đốn củi hầm than dựng nên, cũng như Cà Mau là nói trại đi theo chữ Tức khơ mâu tiếng Miên nghĩa là "nước đen"[5:273] Cũng có thể đây là vùng mà

cha ông ta đi mới đi mở cõi về sau này, mới được khai phá nên nơi đây chưa có được

độ dày của nền văn hiến, về phương diện này nó còn rất đỗi thô sơ

Ở đây có những loại cây cỏ đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long,

quang cảnh bạt ngàn một màu xanh, đó là "Những làng mạc êm đềm, bóng dừa, bóng

chuối che rợp các khu vườn mát rượi đất phù sa, con đường đất nhỏ lượn trên bờ rạch nước đầy ăm ắp soi bóng những cây sầu riêng, măng cụt "[5:108]

Tất cả những nét đặc trưng của từng loại cây cỏ nơi đây đều được Đoàn Giỏi

miêu tả một cách rất sinh động qua vốn kiến thức thực tế phong phú và đa dạng: "Cây

đọt chiếc tròn tròn như ngôi mộ Cây tràm quấn dây tơ hồng như người đàn bà bồng con đứng xõa tóc, tay vẫy vẫy Cây dừa nước, lá nhọn hoắt như hai hàng gươm giắt dài theo sống lá tu tủa, chĩa mũi nhọn lên đe dọa trời."[5:154] Hay những cây tràm

mọc san sát nhau: "hai bên bờ mọc chen chúc những cây tràm vỏ trắng, cành lá rậm

rạp." Rồi cây chà là mọc sát nhau dọc bờ sông đến nỗi: "những ngọn san sát giao nhau, mặt trời phải khổ sở lắm mới chiếu xuyên qua được những tàu gai dày đặc để lọt xuống mặt đất sình lầy đen kịt."[5:254].

Và một loài cây rất đặc trưng cho hệ sinh vật khu vực đất ngập mặn đó là cây

đước :"Cây đước mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp

này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu,

Trang 20

màu xanh chai lọ lòa nhòa ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai"[5:274].

Cảnh tượng vừa nên thơ vừa hùng vĩ ấy được Đoàn Giỏi ghi lại qua cảm nhận của

nhân vật An trong chương Rừng đước Cà Mau Về mặt sinh vật học, đước là loại cây

có rễ sâu và khỏe Vì vậy dù sống trên vùng đất nhão, quanh năm ngập nước (rừng

ngập mặn) nhưng nó vẫn luôn đứng vững và vươn lên xanh tốt như một hình ảnh mangtính biểu tượng đậm nét nhất Nó là biểu tượng cho những người con sinh ra từ mảnhđất này, họ kiên cường dầu gặp phải bất cứ khó khăn nào, họ tìm cách thích nghi vớimôi trường xung quanh thật khéo léo cũng giống như việc các rễ cây đước xòe ra, ănsâu vào lòng đất bùn lầy, trơn trượt

Huyền thoại đó cũng được Tố Hữu dệt nên qua những câu thơ chứa chan tìnhcảm trong bài thơ Bà má Hậu Giang (1941):

“Tao già không sức cầm dao, Giết bay có các con tao trăm vùng.

Con tao gan dạ, anh hùng, Như rừng đước mạnh, như rừng tràm thơm”

Khi đọc Đất rừng phương Nam, cái gợi lại cho người đọc không chỉ là một câu

chuyện đậm chất tình người mà còn là một ấn tượng sâu sắc về cảnh sắc rừng tràm U

Minh: "chim hít líu lo Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất Gió đưa mùi hương

ngọt lan ra, phảng phất khắp rừng" [5:164] Ấn tượng về thiên nhiên Nam bộ trong

mùa bông tràm nở trắng sông nước đã lưu lại trong trí nhớ người đọc như một thứ xúccảm thẩm mỹ đẹp đẽ

Đi xuôi xuống vùng Năm Căn ta mới thực sự bắt gặp cảnh sống động của vùngsông nước Cà Mau, nó vẫn là một vùng sông nước nhưng ở đây người đọc được chứng

kiến cảnh nhộn nhịp, huyên náo của một vùng chợ tấp nập kẻ bán người mua: "Chợ

Năm Căn nằm sát bên bờ sông, ồn ào, đông vui tấp nập Vẫn là cái quang cảnh quen thuộc của một xóm chợ vùng rừng cận biển thuộc tỉnh Bạc Liêu, với những túp lều lá thô sơ kiểu cổ xưa nằm bên cạnh những ngôi nhà gạch văn minh hai tầng, những đống

gỗ cao như núi chất dựa bờ, những cột đáy, thuyền chài, thuyền lưới, thuyền buôn dập dềnh trên sóng "[5: 274].

Qua cách miêu tả từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, tả xen kẽ cùng với việc

sử dụng các từ ngữ gợi tả tinh tế của Đoàn Giỏi ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp trùphú nhưng vẫn còn nhiều nét hoang sơ của vùng sông nước miền Tây Nam bộ Đó là

Trang 21

một khung cảnh thiên nhiên hoang dã mà đầy thú vị - nơi có màu xanh bạt ngàn củacây lá, có sự hùng vĩ của các dòng sông rộng lớn và đồng thời cũng có cảnh sinh hoạttấp nập, tươi vui.

2.2.2 Hệ thống động vật

Có câu "đất lành chim đậu", thật vậy, trong cảnh thiên nhiên còn nhiều néthoang sơ như thế thì hệ động vật cũng vô cùng phong phú được Đoàn Giỏi thể hiện

như những trang du kí với tên các chương: “Đi câu rắn”, “Đi lấy mật”, “Rừng cháy”,

“Phường săn cá sấu”, “Qua Stróc Miên”, “Sân chim”…

Là một người giàu tình cảm nên ông không chỉ dành tình cảm đặc biệt chonhững con người dân Nam bộ chân chất, thật thà mà những con vật nhỏ bé xung quanh

họ cũng đi vào những trang văn của ông một cách hết sức thân thương, gần gũi

Gắn bó với gia đình bố nuôi An trên khắp mọi nẻo đường đó là chú chó tênLuốc Viết về loại nhân vật này, cũng gần như các nhà văn nước ta và thế giới qua một

số tác phẩm nổi bật như Tiếng gọi nơi hoang dã (Jack London), Robinson Crusoe

(Daniel Defoe), Lão Hạc (Nam Cao), Sao không về Vàng ơi? (Trần Đăng Khoa),…

Đoàn Giỏi đã khắc họa hình ảnh con chó trong những đặc tính tốt đẹp nhất Dưới lăngkính nhìn của nhà văn, các phẩm chất đó không đơn thuần chỉ là sự biểu hiện của bảnnăng loài mà đó còn là hình ảnh của một người bạn thông minh và hết sức trung thành.Chó là loài vật có khứu giác cực kỳ nhạy bén, vì vậy khả năng phát hiện mục tiêu haynhững nguy hiểm trước mắt cao hơn con người rất nhiều Giữa thiên nhiên hàng baohiểm nguy và mối đe dọa khôn lường, việc có được một người bạn trong mỗi bướcđường chinh phục như con chó là điều cần thiết Trong các con vật nuôi, chó đượcxem là loài vật có nhiều tình cảm với con người nhất và đồng thời cũng “hiểu” conngười nhất Lần đầu tiên An gặp con Luốc là lúc An còn ở với dì Tư Mắm, lúc đó chacon Cò đi bán rắn và tất nhiên là có mặt chú Luốc bởi Luốc luôn luôn bên cạnh chủcủa mình, trước những người xa lạ, trước sự tò mò, nghịch ngợm của lũ nhỏ khi thấy

các giỏ đầy rắn thì con chó giữ nhiệm vụ trông chừng bằng cách: “Mỗi lần có đứa trẻ

nào nhích lại gần giỏ rắn thì con chó săn nằm bên chân chủ lại nhổm dậy, vươn cổ ra nhe răng gừ gừ mấy tiếng”[5:61] Rồi lần thứ hai An gặp con Luốc là khi An bắt đầu

cuộc sống lưu lạc, đi tìm cha con người bán rắn để trả lại con dao găm mà họ đánh rơihôm nọ Lúc nhìn thấy lại đồ vật tưởng chừng đã mất, không chỉ ông chủ mà con Luốc

cũng biết vui mừng: “Con chó săn nhẩy cỡn chung quanh đống lửa, sủa ăng ẳng mấy

Trang 22

tiếng, lại lao tới liếm chiếc túi da beo trên tay thằng bé”[5:26] Nó còn là con vật hết

sức nghe lời chủ:

“ Con chó nhe nanh, lông gáy dựng lên, hai chân trước chồm chồm ra bóng tối

sủa dữ dội

- Luốc? yên nào?

Ông cụ già quát một tiếng Con chó săn tiu nghỉu lùi lại ngoan ngoãn nằm xuống bên chân chủ”.[5:25]

Luốc theo chân gia đình ông Hai qua mỗi bước đường lưu lạc của cuộc sống,cùng An dõi theo tía nuôi trong nhiệm vụ bí mật (giết vợ Tư Mắm trả thù cho chú VõTòng) và luôn sát cánh bên An khi cậu tìm đường vào rừng đến với căn cứ kháng

chiến “Cứ men theo dấu chân tía nuôi tôi, tôi vừa đi vừa dắt con Luốc chạy ộp oạp

trên bờ đất sình lút ngang ống chân… Tôi lội ngay xuống rạch, ngược theo dòng nước gợn bùn vẩn đục ngầu từ trong rừng chảy ra, mải miết bươn ra Con Luốc cứ kêu ư… ử… trong cổ, dường như muốn gọi tôi lên mà mãi không thấy tôi lên, nó bèn co giò phóng tùm xuống nước lội xộn xộn sát theo tôi” [5:239] Chú chó Luốc với gia đình tía

nuôi An vừa là một người bạn vừa là một thành viên không thể thiếu

Nếu như cha con An có chú chó Luốc là người bạn đồng hành trên mỗi bướcđường thì chú Võ Tòng có chú vượn bạc má tinh khôn tên là Tiểu Đồng Chú luôn có

mặt bên cạnh chủ và rất mực khôn ngoan: “Con vượn bạc má đứng thẳng hai chân

sau lên như người Hai tay nó bưng bát rượu đi thẳng đến chỗ Võ Tòng, đưa lên mời chủ Tiểu Đồng nhe răng kêu "ché ét, ché ét", rồi bắt đầu đi vòng quanh đống lửa mời rượu từng người Con chó săn gừ từ mấy tiếng, vì sợ chủ nên phải nằm yên chứ coi bộ như nó chỉ chực chạy ra cắn một miếng vào đùi con vượn thì mới hả Đến chỗ hai người đàn bà mặc quần áo đen, Tiểu Đồng nghiêng đầu cúi xuống chào, làm cho những người đàn ông thích chí cười rộ lên Hai người đàn bà lắc đầu quầy quậy, xua tay từ chối, nhưng con vượn bạc má không chịu đi, cứ đứng giậm chân kêu "Ché ét, ché ét" Cho đến khi mỗi bà phải cầm bát rượu lên nhấp môi một ít, Tiểu Đồng mới chịu bưng bát đi mời người khác.”[5:131] Lúc rừng bị giặc đốt, bằng sự tinh khôn của

mình con vượn đã chạy thoát thân được nhưng khi trận cháy kết thúc nó liền tìm vềnền căn nhà cũ và cứ như thế nó đợi chủ ở đó cho đến lúc “chết rũ xương” Con vượntinh khôn, có nghĩa có tình làm ta dễ nhầm lẫn nó với một con người thực thụ, cái chếtcủa chú làm cho độc giả có cảm giác nuối tiếc và xót thương cho chú

Trang 23

Đó là hình ảnh về những con vật luôn gần gũi với con người nhưng thế giới

động vật trong Đất rừng phương Nam chỉ thực sự mở ra khi ta đến với những trang

văn viết về những động vật nơi hoang dã

Ở xứ sở còn nhiều nét hoang sơ như mảnh đất miền Tây Nam bộ lúc bấy giờ thìviệc ta có thể bắt gặp những động vật hoang dã là chuyện bình thường, điều đó khôngchỉ giúp ta thấy rằng động vật hoang dã nơi đây vô cùng phong phú, đa dạng mà còngiúp ta thấy được nét văn hóa mưu sinh của nhân dân Nam bộ qua cách họ đi săn bắtcác loại động vật này

Trước hết, ta xét về sự đa dạng của các loài động vật nơi đây, đó là những đànong cho con người một lượng mật ngọt tự nhiên hàng năm rất lớn, là hàng cơ số cácloài rắn đa thể loại hay hàng nghìn loài chim quy tụ tại Sân Chim tạo nên một nét đặctrưng vốn có của miền đất này

Đến với chương Đi lấy mật của tác phẩm ta sẽ được theo chân cha con cậu bé

An đi lấy mật, ở đó ta thấy rất nhiều tổ ong trên những nhánh tràm trĩu nặng vì mậtong Những tổ ong thật lớn với mật vàng thơm ngát khiến chú bé An phải thốt lên:

“Quả thật thảo nào người ta hay nói "như ong vỡ tổ"! Ong vỡ tổ là lúc này đây không biết cơ man nào là ong Chúng bay vù vù, đen ngòm, loạn xạ, thành một vầng đen như cái chiếu”[5:168] Ong thì nơi nào cũng có nhưng cách mà người ta dụ ong đến làm tổ

và cách lấy mật thì quả thật không nơi nào có thể so sánh được: “Không có nơi nào,

xứ nào có kiểu tổ ong hình nhánh kèo như vùng U minh này cả”[5:171] Vậy vì sao lại

khác và khác như thế nào thì tôi sẽ kể sau vào mục Cách thức mưu sinh của con người

nơi đây Quay trở lại với câu chuyện đi lấy mật ong của cha con An ta lại thấy chínhbản thân của mình cảm thấy vui bởi những thành quả mà cha con ông gặt hái được,

mỗi khi họ đuổi được bầy ong đi là khi: “Trên nhánh kèo khô còn trơ lại cái tàn ong

sáp trắng to bằng chiếc nón, nặng chĩu những mật vàng.”[5:169] Ấy thế mà sau buổi

lấy mật hôm đó, thành quả mà họ thu được là: “tía nuôi tôi đã gỡ hơn năm mươi kèo

ong Mật đầy cả hai gùi Tôi mang gùi mật óc ách đằng sau lưng mà vẫn cảm thấy nhẹ tênh, và tiếc cái gùi bé quá”[5:169] Vậy ta mới thấy hết được sự trù phú mà thiên

nhiên đã ưu đãi cho người dân Nam bộ

Hết cảnh đi lấy ong ta lại theo chân Cò và An đi bắt rắn trong chương Đi câu

rắn Tuy còn nhỏ tuổi nhưng Cò là “con nhà nghề” nên rất thành thạo trong việc đi câu

rắn, cậu ta có thể phân biệt được từng loài rắn, nắm được đặc tính của từng loài và đặc

Trang 24

biệt là biết cách bắt rắn một cách rất chuyên nghiệp từ việc chuẩn bị mồi câu cho đến

khâu giăng mồi, bắt rắn và thành quả của họ là lúc An la lên: “Tôi kêu oái một tiếng,

đứng chết sững Một con rắn rằn ri cóc to cỡ bắp chân ngươi lớn đang vung vẫy uốn mình lên quấn lấy chùm dây câu Cái miệng nó há ra, đầy răng chơm chởm”[5:158].

Qua cách mà tác giả miêu tả về việc hai cậu bé có thể bắt rắn một cách dễ dàng nhưvậy cũng giúp ta thấy được rắn ở đây đa dạng và nhiều như thế nào Chẳng thế mà vàolần An gặp cha con Cò lần đầu tiên là lúc trên khoang thuyền của cha con họ có rấtnhiều rắn, trong hai cái giỏ đầy rắn, lũ trẻ thì vừa tò mò vừa sợ cứ đứng nhìn ông lão

bán rắn: “ông cụ già thong thả lôi từ trong khoang ra từng con rắn một, bỏ vào giỏ.

Con nào con nấy to cỡ bắp tay ông Có một con rắn gì to như bắp chân người lớn nó

cứ rúc vào khoang, khiến ông phải khom lưng thò tay vào, nắm cổ nó trì một lúc mới kéo ra được”.[5:57]

Nếu như lúc cậu bé An được sống êm ấm với gia đình cha nuôi trong một mái

ấm đơn sơ bên cạnh bờ sông ta được cùng cậu bé khám phá những điều mới lạ về cácloài động vật hoang dã mà gia đình cậu đi săn bắt về thì khi gia đình cậu lưu lạc đếnmiền đất Năm Căn ta lại được tận mắt chứng kiến cảnh trù phú của thiên nhiên cùng

sự phong phú của chim chóc tại Sân chim Chỉ bằng nghệ thuật ngôn từ thôi mà tác giả

đã thật tài tình khi cho người đọc “mãn nhãn” qua từng lời kể về các loài chim nơi

đây: “Những con chàng bè đồ sộ như con ngỗng, mỏ to bằng cổ tay cứ gõ vào nhau

lộp cộp, làm rung rung mảnh da mềm thòng xuống tận cổ như cái diềm lụa mỡ gà Những con giang sen cẳng cao lêu nghêu, nặng hàng năm bảy cân thịt, bị khớp mỏ, tréo cánh đứng giữa đám sếu đen sếu xám mào đỏ, đầu không ngớt nghiêng qua nghiêng lại ngó theo mấy con ó biển đang lượn vòng trên kênh Cò thì không biết bao nhiêu mà kể Cò ngà, cò trắng, cò xanh, cò ma buộc từng xâu, chất nằm hàng đống”.[5:266] Nhất là khi đã đi đến Sân chim rồi thì người đọc mới thích thú, ngỡ

ngàng trước sự phong phú của các loài chim nơi đây: “Tôi giụi mắt bò ra khoang

trước, vốc nước dưới sông lên rửa mặt Trên vệt rừng đen ở chỗ con sông ngoặt như lưỡi cưa cá mập chơm chởm dựng đầu răng nhọn đã ửng lên màu mây hồng phơn phớt Từ chỗ vệt rừng đen xa tít đó, chim cất cánh tua tủa bay lên, giống hệt đàn kiến

từ lòng quả đất chui ra, bò li ti đen ngòm lên da trời Càng đến gần, khi bóng chim chưa hiện rõ hình đôi cánh, thì quang cảnh đàn chim bay lên giống như đám gió bốc tro tiền, tàn bay liên tri hồ điệp Những bầy chim đen bay kín trời, vươn cổ dài như

Trang 25

tàu bay cổ ngỗng lướt qua trên sông, cuốn theo sau những luồng gió vút cứ làm tai tôi rối lên, hoa cả mắt Mỗi lúc tôi càng nghe rõ tiếng chim kêu náo động như tiếng xóc những rổ tiền đồng Và gió đưa đến một mùi tanh lợm giọng, khiến tôi chỉ chực nôn

ọe Chim đậu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá Cồng cộc đứng trong tổ vươn cánh như tượng những người vũ nữ bằng đồng đen đang vươn tay múa Chim già đăy, đầu hói như những ông thầy tu mặc áo xám, trầm tư rụt cổ nhìn xuống chân Nhiều con chim rất lạ, to như con ngỗng đậu đến quằn nhánh cây Một con điêng điểng ngóc cổ lên mặt nước, thoạt trông tôi tưởng

là một con rắn từ dưới nước cất đầu lên”[5:271].

Bằng niềm tự hào của một người con Nam bộ, nhà văn Đoàn Giỏi muốn hướngngười đọc đến những gì thuộc về thiên nhiên mà chỉ ở vùng đất này mới có

2.3 Ý nghĩa thiên nhiên đối với con người

Như ta đã biết từ lâu rằng đất ở Việt Nam được phân bố theo tỷ lệ “tam sơn tứhải” nghĩa là núi chiếm ba phần, đất chỉ một phần và rồi cả hai phần nội địa đó chỉbằng phần lãnh hải Và sông nước là đặc điểm hàng đầu của địa lý Việt Nam, đất nướccủa hơn hai ngàn dòng chảy, của hàng trăm cửa sông đổ ra bể mà điển hình nhất là khuvực đồng bằng sông Cửu Long với “chín con rồng” phun nước ra biển đông ào ạt ngàyđêm không dứt Dòng Cửu Long cứ theo con nước ngọt nhịp nhàng hàng năm vượtqua các giồng đất ven sông để mang phù sa bồi đắp cho khu vực này Cũng chínhnhững thuận lợi này do thiên nhiên mang lại này đã giúp ích rất nhiều cho con ngườitrong cuộc sống, trong lao động sản xuất cũng như sinh hoạt hàng ngày và có thể nóithiên nhiên là yếu tố đầu tiên mang tính chất quyết định đến cuộc sống sinh hoạt của

cư dân Nam bộ khi đặt chân lên mảnh đất này Bên cạnh đó, thiên nhiên cũng đặt racho con người những thử thách buộc họ phải thích nghi hoặc tự biến đổi để tồn tại vàphát triển Qua cách miêu tả của nhà văn Đoàn Giỏi về cuộc sống của con người nơiđây ta có thể thấy được đó là cách sống linh hoạt, sáng tạo, hòa mình cùng thiên nhiên,

là sự lựa chọn những ngành nghề phù hợp với những điều kiện tự nhiên của vùng đấtmới

Trước hết, đây là một vùng đất mới được khai khẩn sau này nên cư dân chủ yếu

là do di cư từ miền Trung và miền Bắc vào, nền tảng địa hai nơi hoàn toàn trái ngượcnhau đòi hỏi con người cần phải có cách thích ứng khác nhau Nếu như ở miền Bắccon người ta sống trong làng xã được bao bọc bởi lũy tre làng khép kín thì ở vùng đất

Trang 26

mới này con người sống trong một không gian mở, ở đó không có những lũy tre phânbiệt làng này với làng khác, không có những mái đình, giếng nước, cây đa mà họ sốngtrong một không gian mở, có sự thông giao giữa mọi người Hơn nữa thiên nhiên lại

ưu ái, đãi ngộ cho họ một vùng đất trù phú, phù sa màu mỡ, hệ động – thực vật đadạng và phong phú, từ đó đã hình thành nên những nét tính cách rất đặc trưng củangười Nam bộ là họ rất thẳng thắn, bộc trực, trọng nghĩa quên mình, trọng thực tế hơn

lý thuyết, trọng đạo lí hơn giàu sang, ghét sự tính toán thiệt hơn chính vì thế nênnhững người dân Nam bộ nơi đây được nhận xét là những con người thông minh, linhhoạt và rất sáng tạo Cụ thể như thế nào thì tôi xin được trình bày rõ ràng hơn tại phầnTính cách của người dân Nam bộ

Ngoài việc ảnh hưởng đến việc hình thành tính cách của cư dân nơi đây thì yếu

tố nhiên nhiên cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nơi cư trú cũng như những nơi dùngtrong sinh hoạt cộng đồng như các ngôi chợ, hàng quán Cư dân thường sống vennhững con đường lớn, ven những con kênh rạch thuận lợi cho việc đi lại, buôn bán, cụthể là căn lều của gia đình cha nuôi An nằm ngay bên cạnh một con sông, khi cậu đượcnhận về nuôi cũng là lần đầu tiên mà cậu về với ngôi nhà, khi cậu ở dưới con thuyền

nhìn lên bờ : “Tôi đưa mắt ngó lên Một mái lều nhỏ, tiều tụy, nép dưới bóng cây tràm

vỏ trắng phản chiếu ánh bình minh như tô phấn Chung quanh nhà mọc đầy những cây bình bát đại, lá xanh um.”[5:133] Hay như quán rượu nhỏ của dì Tư Béo cũng

được cất lên bên cạnh con kênh: “Đó là một ngôi quán nhỏ xệch xạc, trống trước

trống sau, cất dựa bên bờ kênh dưới bóng một cây gáo cổ thụ”[5:25] Không những là

nhà cửa mà các ngôi chợ cũng được người dân cất lên gần các con sông để thuận lợi

cho việc đi lại mua bán, trao đổi hàng hóa, tiêu biểu là ngôi chợ Năm Căn: “Chợ Năm

Căn nằm sát bên bờ sông, ồn ào, đông vui tấp nập Vẫn là cái quang cảnh quen thuộc của một xóm chợ vùng rừng cận biển thuộc tỉnh Bạc Liêu, với những túp lều lá thô sơ kiểu cổ xưa nằm bên cạnh những ngôi nhà gạch văn minh hai tầng, những đống gỗ cao như núi chất dựa bờ, những cột đáy, thuyền chài, thuyền lưới, thuyền buôn dập dềnh trên sóng”[5:274]

Bởi vậy chính những nét đặc thù của miền sông nước đã ảnh hưởng rất lớn đếnviệc cư trú của người dân nơi đây Bên cạnh việc ảnh hưởng đến nơi cư trú, nơi sinhhoạt cộng đồng thì yếu tố thiên nhiên cũng ảnh hưởng nhiều đến việc mưu sinh củangười dân Tại đây người dân chủ yếu đi lại bằng phương tiện ghe xuồng và nhiều khi

Trang 27

chính những chiếc ghe xuồng này lại cũng chính là ngôi nhà của họ, nó có thể vừa làmphương tiện đi lại vừa là nơi che nắng, che mưa cho họ trên những hành trình đi tìmnơi an cư lạc nghiệp Cụ thể là việc An cùng gia đình cha nuôi phải lưu lạc trên chiếcthuyền con khi phải đi tản cư, rồi việc đi lại của họ cũng gắn liền với con thuyền ấy,những lúc An cùng cha nuôi đi bắt ong, đi câu rắn rồi cả khi họ đi bán rắn cũng đềutrên chiếc thuyền ấy Với phương tiện đi lại chủ yếu là ghe, xuồng thì họ gắn bó cuộcsống mưu sinh của mình với thiên nhiên nơi đây, nó cung cấp cho con người nhữngđiều kiện để họ sinh sống Trước hết thiên nhiên cung cấp cho con người một hệ thống

“sản phẩm” từ tự nhiên vô cùng phong phú và đa dạng Việc này ta có thể dễ dàngnhận thấy qua những lần gia đình bố nuôi An đi săn bắt những con thú hoang dã nhưrắn, cá sấu hay lúc họ đi lấy mật ong từ những tổ ong đã gác kèo từ trước, hay chú VõTòng đi bắt cọp, bắt cá sấu Vào thời điểm đó khi mà con người ta phải sống phụ thuộcvào thiên nhiên, hầu hết mọi người, mọi gia đình tại nơi đây đều sống dựa vào thiênnhiên, đều đi săn bắt những con thú hoang dã trong tự nhiên để làm nguồn thực phẩm,

để có hàng hóa trao đổi với những vật dụng cần thiết cho cuộc sống hàng ngày ViệcĐoàn Giỏi miêu tả rất chân thực, tỉ mỉ quá trình đi săn bắt cũng như về số lượng củanhững loài động vật đủ để cho ta thấy rằng thiên nhiên nơi đây “giàu có” như thế nào

Bên cạnh những thuận lợi mà thiên nhiên mang lại cho con người thì nó cũngđem đến những thử thách buộc con người phải biết cách để vượt qua

Căn cứ theo hoàn cảnh ra đời của tác phẩm thì Đoàn Giỏi viết Đất rừng phương

Nam vào năm 1957, khi đây vẫn là một vùng đất mới được khai khẩn, thiên nhiên vẫn

còn mang bao vẻ hoang sơ, dữ dội vốn có của nó Trong quá trình sinh sống buộc conngười phải biết cách thích ứng một cách linh hoạt Dù độc giả sẽ rất thích thú với sựtrù phú, màu mỡ mà thiên nhiên ban tặng cho nơi đây thì khi đọc đến những dòng văn

kể về những khó khăn mà con người nơi đây phải đối mặt thì chắc hẳn nó cũng để lạimột ấn tượng sâu sắc không kém

Lúc bấy giờ con người sinh sống, mưu sinh bằng bản năng, bằng kinh nghiệmnên ta sẽ có cảm giác hồi hộp trước những khó khăn trước mắt mà An đang trảinghiệm Theo chân An và Cò đi bắt rắn ta ắt phải rùng mình trước cảnh muỗi mòng

nhiều vô số:“Muỗi vu vu từ bờ bay ra đuổi theo xuồng như những đám mây.”[5:154]

Đó còn là cảm giác nhầy nhụa đầy máu trên đôi bàn tay của An khi cậu bé chạy đến

vuốt muỗi trên người Cò: “Thằng Cò ư ư khạc nhổ rồi phun tiếp liền mấy cái ,

Trang 28

không đáp Hai tay nó mắc giữ cây giầm kìm lái, nó cởi trần mà lại không thể buông giầm để dùng tay đập muỗi được thành ra người nó cứ phải uốn éo, vặn qua vặn lại cho muỗi đỡ đốt Tôi gác giầm mũi lên xuồng, chạy đến vuốt vuốt khắp mình cho nó.

Eo ôi, hai bàn tay nhớt nhợt, ướt đầy máu.”[5:154] Rồi cũng trong lần An và Cò đi

câu rắn ấy, ta ắt phải hồi hộp, lo lắng thay cho An bởi đây là lần đầu tiên An làm mộtviệc nguy hiểm như thế, những con rắn thật to, ví chừng chỉ cần sơ hở một chút lànguy hiểm có thể đến với hai chú bé bất cứ lúc nào

Rồi trong một lần An đi lấy mật ong cùng cha nuôi, hai cha con đã phải đốidiện với vụ cháy rừng khủng khiếp do quân địch đốt phá, mới trước đó thiên nhiên cònhiền lành ôm ấp biết bao nhiêu là sinh vật trong lòng thế mà giờ thì những đám lửa bốccao ngùn ngụt, khói bay cay xè cả mắt, cả cha con An, cả những con thú trong rừng

đều cố gắng chạy thoát thân: “Trong khói mù nhô ra một con heo đầu đàn, cao gần

bằng con bò, lông gáy dựng ngược, mũi ngước lên thở phì phì làm cho hai cái nanh dài chỗ khóe mép vươn ra như lai lưỡi dao găm Rồi vun vút tràn đến một bầy heo rừng, con lớn con bé tranh nhau chạy, sống lưng nhấp nhô tràn tới như một đàn heo mục Nai co giò phóng bay qua những lùm cây thấp Hươu, chồn, bông lau, cáo, mèo tất cả những con thú bốn chân trong rừng đều nhắm mắt, nhắm mũi tranh nhau chạy.”[5:189] Hai cha con vừa thoát khỏi đám cháy thì lại gặp phải cọp, cũng may

nhờ vào kinh nghiệm của ông Hai về sự xuất hiện của con chim Lệnh báo hiệu sự xuấthiện của cọp, họ kịp trèo lên một cây sung cao và thoát nạn

Có thế mới thấy hết được những hiểm nguy luôn chực chờ phía trước, nhữngthảm họa đến từ thiên nhiên luôn rình rập, bất cứ một phút lơ là có thể cướp đi mạngsống của con người và con người trở nên thật nhỏ bé trước thiên nhiên Dù thiên nhiênkhắc nghiệt là vậy nhưng con người vẫn phải sống, phải kiên cường, nghị lực để chinhphục thiên nhiên, đối đầu với thú dữ và qua đó ta thấy thật cảm phục họ, những ngườidân dày dạn kinh nghiệm đầy nghị lực và ý chí vượt lên mọi khó khăn trong cuộcsống

Tiểu kết

Thiên nhiên qua sự khám phá, cảm nhận và phát hiện trong Đất rừng phương

Nam đẹp, bình dị nhưng cũng gắn liền với sự hoang dã và nhiều hiểm nguy

Trước hết, thiên nhiên nơi đây thật đẹp, còn mang nhiều nét hoang sơ, tự nhiên

Cả đất trời như được nhuộm màu xanh của sông nước, của cây cỏ thiên nhiên Thiên

Trang 29

nhiên trở thành người bạn vô cùng thân thiết, đã ưu đãi cho nơi đây những điều kiệnthuận lợi cho cuộc sống của con người Nó cung cấp cho con người một môi trườngsống trong lành, cho người nguồn lương thực phong phú cần thiết cho cuộc sống

Tuy nhiên bên cạnh đó thiên nhiên cũng mang trong mình những sự hiểm nguytiềm tàng, bởi bối cảnh trong tác phẩm là một thiên nhiên còn mang nhiều nét hoang

sơ, dữ dội khi nhân dân mới đi vào cuộc sống nơi vùng đất mới này Nó đặt ra cho conngười những thử thách cần phải vượt qua, buộc con người phải biết cách thích ứng vớimôi trường, biết linh hoạt, sáng tạo trong mọi hoạt động của cuộc sống thường ngày

Như vậy có thể nói thiên nhiên trong Đất rừng phương Nam vừa hiền hòa, gần

gũi vừa vô cùng khắc nghiệt Những rừng tràm thì xanh biếc, hương tràm thoangthoảng, đầy những bất ngờ, hấp dẫn nhưng bên cạnh đó thì sấu, cọp, ong, muỗi, rắn,…cũng phong phú đa dạng không kém Nhưng cũng chính vì sự đối lập này đã làm nênnét đặc trưng vốn có cho vùng đất này, tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc tìmhiểu về đất và người nơi đây qua từng trang văn

Ngày đăng: 20/07/2021, 07:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Văn Ân(1984), Văn học và phê bình, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Văn Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Tác phẩm mới
Năm: 1984
2. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nhà xuất bảnKhoa học xã hội
Năm: 2004
3. Lê Tiến Dũng (2003), Lý luận văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2003
4. Hà Minh Đức (1997), Lý luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
5. Đoàn Giỏi (2007), Đất rừng phương Nam, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất rừng phương Nam
Tác giả: Đoàn Giỏi
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2007
6. Nguyễn Văn Hạnh (2002), Văn hóa và văn học – vấn đề và suy nghĩ, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và văn học – vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nhà xuất bảnGiáo dục Hà Nội
Năm: 2002
7. Huỳnh Lứa (2004), Nam bộ đất và người, Nhà xuất bản trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam bộ đất và người
Tác giả: Huỳnh Lứa
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
Năm: 2004
8. Phương Lựu (1996), Lý luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
9. Phương Lựu (2005), Phương pháp nghiên cứu văn học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sưphạm
Năm: 2005
11. Đỗ Thị Minh Thúy(1997), Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội.II. Các trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Tác giả: Đỗ Thị Minh Thúy
Nhà XB: Nhà xuất bảnVăn hóa thông tin
Năm: 1997
10. Trần Đình Sử (2010), Lý luận và phê bình văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w