1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đất và người tỉnh Điện Biên: Phần 1

85 4 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đất Và Người Tỉnh Điện Biên: Phần 1
Tác giả Nguyễn Thị Lâm Hảo
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 4,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách Đất và người tỉnh Điện Biên giới thiệu một phần nhỏ những thông tin, tư liệu về vùng đất Mường Thanh - Mường Trời Điện Biên Phủ. Cuốn sách là những sưu tầm, tuyển chọn, ghi chép bước đầu các tư liệu mà tác giả đã sưu tầm trong nhiều năm công tác gắn bó với Điện Biên. Cuốn sách được chia thành 2 phần, mời các bạn cùng đón đọc phần 1 sau đây để biết thêm nội dung chi tiết.

Trang 1

Nguyễn Thị Lâm Hảo

Trang 2

Nguyễn Thị Lâm Hảo

- Sinh năm 1949

- Quê quán: Văn Đức,

Chí Linh, Hải Dương `

- Lên Tây Bắc năm 1967

- Hội uiên Hội VHN:

Trang 3

ĐIỆN BIÊN - ĐẤT VÀ NGƯỜI

Trang 4

Nguyễn Thị Lâm Hảo

Trang 5

Cùng một tác gia:

Hoài cảm Đền Đô

(Nhà xuất bản Văn học — 2000)

Huyền thoại Điện Biên Phủ

(Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin - 2001, 2003)

Dém xoé Dién Bién (in chung)

(Nhé xudt ban Vén hoc — 2002) Vang uọng Triểu Trần (Nhà xuất bản Văn học - 2002)

Lam Son tu nghia

(Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin — 2004)

Em gái rừng ban (Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin —2004)

Hoàng triều Nguyễn - Huế

(Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin - 2005)

Vai nét vé khỏi nghĩa Hoàng Công Chất

(Công ty in Điện Biên — 2006)

Nhớ quê

(Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin — 2006)

Điện Biên - đất uà người

(Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin ~ 2008)

Trang 6

LỜI TÁC GIẢ

Mường Thanh - Mường Trời - Điện Biên

Phú - một danh thắng du lịch nổi tiếng, uới

những uẻ đẹp thiên nhiên kỳ diệu, làm say dim

lòng người, có nhiều hang động còn giữ nguyên

bể hoang sơ nguyên thủy, có những cánh rừng xanh mướt, mùa xuân uễ, hoa ban nở trắng, ngat

hương, có những đổi, núi hình dáng sinh động,

găn uới những câu chuyện thân thoại, cổ tích sinh

động, có dòng sông Nậm Rớm chảy uề phía Tây

(chay sang Lào), có cánh đồng Mường Thanh -

uựa lúa lớn nhất ở miền Tây Bắc Tổ quốc

Điện Biên có nền uăn hóa uới những nét đặc

sắc riêng : tháp cổ Mường Luân uới những phù

điêu tỉnh xảo, tuyệt hảo; đàn tính tẩu, những ca khúc có nhịp điệu sâu lắng; những điệu xòe,

điệu múa của đồng bào dân tộc Thái, dân tộc

Mông, dân tộc Lào, dân tộc Hà Nhì, đây sôi động Những nét đặc sắc uê uăn hóa ở Điện Biên

đã làm cho bao du khách đến Điện Biên say mê

Không chỉ ở những điểm trên, Điện Biên trở

5

Trang 7

nên nổi tiếng uà chỉnh phục được tình cảm của

mọi người bởi chiến thắng lịch sử Điện Biên

Phú "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"

Điện Biên Phủ là một uùng đất ghỉ bao chiến

công, hỳ tích hào hùng, oanh liệt, Uué vang cua

dân tộc Việt Nam trong thời hỳ bháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Chiến thắng Điện Biên Phủ là bài học, là điểm tựa, là niềm

tin cho các nước, các dân tộc bị áp bức trên toàn

thế giới

Với mong muốn cung cấp, giới thiệu phần nhỏ những thông tin, tư liệu uề uùng đất Mường

Thanh - Mường Trời - Điện Biên Phủ, đồng thời

có thể xem là món quà lưu niệm dành cho dụ

khách sau chuyến thăm quan uê uăn hóa, lịch

sử, sinh thái tại Điện Biên, chúng tôi xin hân hạnh giỏi thiệu cuốn Điện Biên - đất oà người

Cuốn sách này là những sưu tâm, tuyển

chọn, ghỉ chép bước đầu các tư liệu mà tác giả

da@ suu tam trong nhiều năm công tác gắn bó uới

Điện Biên Mặc dù rất cố gắng trong uiệc biên soạn, song tập sách khó có thể tránh khỏi những

khiếm khuyết, hạn chế Rất mong được bạn đọc

tượng thứ uà góp ý

Trang 8

SƠ LƯỢC VỀ ĐIỆN BIÊN

TRONG LỊCH SỬ

Theo sách sử cũ và sách Điện Biên trong

lịch sử của Đặng Nghiêm Vạn - Định Xuân

Lâm, thì :

Đất Điện Biên Phủ giàu đẹp nằm trong

vùng Tây Bắc hùng vỹ bao la của nước ta đã được bao gồm vào địa đồ nước ta từ lâu Căn cứ

vào các sách sử như An Nam chí lược (đời

Trần), Dư địa chí (đời Lê) các chính sử như Đại

Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, các chính sử Trung Quốc đời Hán, đời Đường, từ đời Hùng Vương, dải đất này đã thuộc nước Văn

Lang, đến đời Hán thuộc Giao Ghỉ, đời Tùy - Đương thuộc châu Chị Đến đời Lý, đó là miền

thuộc châu Lâm Tây và châu Đăng Đến đời

Trần, nước ta chia làm 1õ lộ trong đó có lộ Đà Giang là miền thuộc vùng Tây Bắc hiện nay

Sau khi dẹp Đèo Cát Hãn, một tù trưởng Thái

trắng ở Lai Châu, năm 1429 Lê Lợi đặt hai lộ Gia Hưng và Quy Hóa bao gồm miền Lai Châu

Trang 9

trong đó có đất Điện Biên Đến đời Lê Thánh

Tông, miền Điện Biên thuộc phủ An Tây Đến

năm 1775, chúa Trịnh đặt châu Ninh Biên thuộc phủ Gia Hưng lấy trung tâm là đất Điện

Biên bây giờ Đến đời Minh Mệnh tha 12

(1832), phủ Gia Hưng nằm trong tỉnh Hưng Hóa Đến thời Thiệu Trị nguyên niên (1841), để

bảo vệ mién Tây Bắc giàu đẹp, chống lại sự dòm

ngó của phong kiến Xiêm La và Nam Chưởng (Luông Pha băng) và chống lại sự quấy rối

thường xuyên của những đám giặc có từ ba nước My-an-ma, Lào và Trung Quốc vào Tây Bắc cướp phá, nhà vua đặt ra phủ Điện Biên, đóng phủ ở Chiểng Lé, noi đại bản doanh của vị

anh hùng nông dân Hoàng Công Chất Khi xưa

phủ Điện Biên bao gồm đất Điện Biên hiện nay

với châu Sông Mã, một phần châu Tuần Giáo

Đến khi giặc Pháp tới Điện Biên, Điện Biên

Phủ vẫn được duy trì Sau ngày giải phóng

(1954), châu Điện Biên đổi thành huyện Điện

Biên, được đặt trong tỉnh Lai Châu

Tại kỳ họp thứ 4, ngày 26 tháng 11 năm

2003, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa

Việt Nam khóa XI đã thông qua việc chia tách

tỉnh Lai Châu thành hai tỉnh : tỉnh Điện Biên

và tỉnh Lai Châu Ngày 18 tháng 1 năm 2004,

tỉnh Điện Biên đã tổ chức lễ ra mắt các cơ quan

lãnh đạo tỉnh Huyện Điện Biên thuộc tỉnh 8

Trang 10

Điện Biên và được chia tách thành 3 đơn vị hành chính : thành phố Điện Biên Phú, huyện

Điện Biên Đông, và huyện Điện Biên Mường Thanh thuộc huyện Điện Biên với diện tích như

ngày nay

Tên gọi xưa nhất của Điện Biên là Mường

Then hay Mướng Theng Âm Việt đọc chệch là

Mường Thanh Tên gọi đó vẫn được duy trì cho

đến ngày nay trong nhân dân các dân tộc nước

ta Đó cũng là tên gọi quen thuộc của nhân đân

các dân tộc, nhất là các dân tộc thuộc ngôn ngữ Tày - Thái ở nam Trung Quốc và Đông Dương

Vào thế kỷ XII, các chia Ly đã xây dựng công trình phòng thủ ở phía nam cánh đồng

Mường Thanh (nay thuộc xã Xam Mứn) để

chống lại các cuộc xâm lấn của kẻ thù bên

ngoài Theo sách Hưng Hóa kỷ lược, thành này

rộng khoảng hơn trăm mẫu, cao một trượng, ngoài có lũy tre bao bọc; trong thành có ba vạn

cối giã gạo bằng guỗng nước và chứa được ba

vạn dân định nên được gọi là thành Tam Vạn

(tiếng Thái là Xam Mứn) Vào thế kỷ XVIII, chế

độ phong kiến Việt Nam trên con đường suy

vong, triéu đình phong kiến không còn đủ sức

kiểm soát vùng Tây Bắc Việt Nam, nhân cơ hội

đó, các tri châu miền Tây Bắc nổi loạn, gây nên những cuộc tranh chấp, chém giết lẫn nhau,

làm cho cuộc sống của nhân dân ở đây hết sức

9

Trang 11

thống khể Lợi dụng tình hình đó, giặc Phẻ (giặc

Phoọng, giặc Nhuồn) do phạ chẩu Tín Toòng

cầm đầu từ Thượng Lào tràn sang đánh chiếm

Mường Thanh và thành Tam Vạn Nhiều thủ

lĩnh người Thái tổ chức nhân dân đứng lên

chống lại giặc Phẻ, song do lực lượng yếu, nên

đều thất bại

Sau đó, dưới sự lãnh đạo của hai thủ lĩnh là

Ngải và Khanh, phong trào chống giặc Phẻ nổ

ra rộng lớn hơn và thu hút đông đảo nhân dân

các dân tộc trong vùng cùng tham gia

Năm 1754, hai thủ lĩnh Ngải và Khanh đã liên kết với Hoàng Công Chất, lãnh tụ nông dân

vùng Sơn Nam, đang từ thượng du Thanh Hóa

tiến lên miền Thượng Lào, sát biên giới Tây Bắc Việt Nam Nhờ sức mạnh của sự đoàn kết giữa

hai đội nghĩa quân miền xuôi và miền ngược, lại được sự ủng hộ hết lòng của đểng bào các dân tộc vùng Tây Bắc nói chung và vùng Mường Thanh nói riêng, nghĩa quân đã chiếm được thành Tam Vạn, giải phóng Mường Thanh

Hoàng Công Chất cho xây dựng thành Chiếng

Lễ và cùng tướng Ngải, tướng Khanh lãnh đạo

nhân dân vùng Tây Bắc mà chủ yếu là ở Mường

Thanh, quét sạch giặc ngoại bang, thu hồi toàn

bộ vùng đất đai bị chiếm đóng, đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân Vùng biên giới 10

Trang 12

Tây Bắc của tổ quốc giữ vững được khoảng gần

hai mươi năm, Mường Thanh lại thuộc về sự

quản lý của triểu đình Lê - Trịnh

Thời kỳ Nhà Nguyễn, Mường Thanh liên tục

bị các thế lực ngoại bang như giặc Lự, giặc

Muông, giặc Xiêm, giặc cờ vàng cướp phá Nhân

dân đã đứng lên dưới cờ khởi nghĩa của tù trưởng

Mường Muối là Bạc Cầm Ten chống giặc Xiêm

và tù trưởng Trương Han chống giặc cồ vàng

Năm 1858, thực dân Pháp đem quân xâm

lược Việt Nam Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, nhân dân Tây Bắc trong đó

có Mường Thanh đã đứng lên chống giặc Pháp

dưới sự lãnh đạo của tuần phủ Hưng Hóa Nguyễn Quang Bích

Tháng 4 năm 1890, thực đân Pháp cơ bản

bình định xong vùng Tây Bắc Không chịu

khuất phục kẻ thù xâm lược, nhân dân Điện

Biên tiếp tục đứng lên chống giặc Pháp Mỏ đầu

là cuộc khởi nghĩa do Lường Xám lãnh đạo Ngày 25 tháng 4 năm 1914, nghĩa quân đến

Mường Thanh Được nhân dân ủng hộ, nghĩa quân Lường Xám mạnh lên, giặc Pháp bỏ chạy Song Lường Xám không đóng quân ở Mường

Thanh mà di chuyển sang Lào Đến năm 1916,

phong trào này chấm dứt

Tháng 10 năm 1918, tại vùng cao Điện Biên,

11

Trang 13

Giang Ta Chay (A Chay, Pa Chay, ), mét thu lĩnh người HMông, đã kêu gọi nhân dân đứng

lên khởi nghĩa chống Pháp với khẩu hiệu "Quét

sạch Tây trắng chống thuế, giành quyền tự chủ” Cuộc khởi nghĩa được nhân dân ủng hộ

đông đảo Dựa vào thế hiểm trở của núi rừng,

cùng với thuật chiến tranh du kích, nghĩa quân

đã làm cho giặc Pháp ở vùng Tây Bắc nhiều

phen điêu đứng Pháp đã nhận rõ sự ảnh hưởng

to lớn của cuộc khởi nghĩa do Giàng Tả Chay

lãnh đạo và phải thú nhận : “thời kỳ đầu của

cuộc chiến đã cho thấy rõ, không phải chúng ta

chỉ phải đương đầu với một lũ giặc cổ có từ 80

đến 100 tay súng mà thôi, thực ra phải đối phó với cả một dân tộc đã nổi dậy theo Pả Chay”Ó, Cuộc khởi nghĩa hoạt động đến năm 1922 thì

chấm dứt

Trong thời phong kiến cũng như trong thời

Pháp chiếm đóng, ở Điện Biên có nhiều cuộc nổi

dậy chống ngoại xâm và chống Pháp của nhân

dân các dân tộc Mặc dù các cuộc nổi dậy đó chưa

giành được thắng lợi hoàn toàn, song, đó là minh

chứng lịch sử nói lên truyền thống yêu nước,

đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc anh em, giữa

miền xuôi với miền ngược trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và áp bức, bất công

?? Dẫn theo sách Lịch sử Đăng bộ tính Lai Châu 1999

12

Trang 14

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đăng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam)

được thành lập Tuy nhiên, do Điện Biên là nơi miền núi xa xôi, do điều kiện lịch sử, xã hội,

nên cách mạng đến với Điện Biên rất muộn

Cho đến trước ngày Tổng khởi nghĩa Cách

mạng tháng Tám (1945), ở Điện Biên chưa có tổ

chức Đảng, tổ chức Việt Minh nào Tháng 11

năm 1950, chỉ bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở

Điện Biên mới được thành lập

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Điện Biên được

hoàn toàn giải phóng Chiến thắng Điện Biên

khẳng định lòng yêu nước và quyết tâm chiến

đấu chống giặc ngoại xâm để giành lại độc lập,

tự do, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của

nhân dan Việt Nam Chiến thắng Điện Biên trở

thành điểm tựa, niềm tin cho nhân dân bị áp

bức trên toàn thế giới noi theo trong cuộc chiến

đấu chống bọn xâm lược thực dân kiểu cũ

Tuy năm Tân Sửu - 1841 (Thiệu Trị nguyên

niên - Nhà Nguyễn) vua Thiệu Trị chuẩn y Sớ

trình của Ngụy Khắc Tuấn, cho thành lập phủ mới : Điện Biên Phủ (phủ Điện Biên), nhưng cái

tên Điện Biên Phủ chỉ nổi tiếng và trở nên

thông dụng sau khi quân ta chiến thắng lừng lẫy quân đội Pháp trong chiến dịch lịch sử kết thúc cuộc kháng chiến chống bọn xâm lược Pháp vào năm 1954 và từ đó nó đồng nghĩa với

13

Trang 15

từ chiến thắng Đến năm 1972, tên đó được đặt

cho trận chiến chống đợt tập kích chiến lược B.ð2

tàn bạo của giặc Mỹ của quân, dân miền Bắc

nói chung và quân, dân Thủ đô Hà Nội nói riêng, trận Điện Biên Phủ trên không Tên

Điện Biên trở thành tên tượng trưng cho ý chí

quật cường bất khuất, tỉnh thần độc lập tự chủ

của nhân dân Việt Nam

Đất Mường Thanh là nơi cư trú của con,

người rất sớm Nhiễm câu chuyện thần thoại,

truyền thuyết dân gian lưu truyền cho đến nay

nói lên điều đó Những câu chuyện đó mô tả lại

quá trình các dân tộc Tây Bắc chỉnh phục mảnh

đất lúc đầu còn hoang vu này để biến nơi đó

thành một nơi con người có thể cư trú và ngày

càng đông đúc Những câu chuyện đó được lưu

truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác theo bước chân người các dân tộc Tây Bắc thiên di tới

khắp miền Đông Dương Vì vậy, ngày nay mặc

dù các câu chuyện dé có biến đổi đi tùy theo

từng vùng dân tộc hay các địa phương khác

nhau, có được thêm thất, bổ sung về chỉ tiết,

nhưng vẫn không hể thay đổi nội dung cơ bản

cổ xưa của chúng, và chính nội dung đó đã giúp

cho con cháu người các dân tộc đến chinh phục

đất Điện Biên từ buổi xa xưa hiểu rằng quê

hương xa xưa của họ là đất Mường Thanh -

Điện Biên anh hùng CHính vì vậy, khi cuộc

14

Trang 16

chiến Điện Biên Phủ kết thúc, Điện Biên Phủ

được giải phóng, nhân dân các dân tộc Thái,

Lào, Lự, các dân tộc thuộc ngôn ngữ Môn -

Khơme ở khắp miền Tây Bắc nước ta, ở Lào, ở Thái Lan, và thậm chí ở cả My- an - ma, ở miền

đông Ấn Độ xa xôi đều ăn mừng, coi như đất tổ

của họ được giải phóng °

Theo quan niện của các dân tộc Tây Bắc, thì

có hai đất Mường Then Một là vùng đất hiện nay với những con người sống thực, những cảnh

vật thực Hai là đất Mường Then trừu tượng

nửa huyền thoại, nửa có thật Một Mường Then

xa xưa chỉ còn lại trong trí nhó, nơi tổ tiên họ cư

trú với những nhân vật, những địa danh, những hành động trong huyển thoại Dân tộc Mường

cũng ghi lại trong các truyện cổ của họ rằng vùng đất Mường U, Mường Thanh xưa là nơi có những

vị chúa giàu có trị vì, với những cô nàng xinh đẹp, với những đàn vơi ngà sáng, là nơi ở của

người Rự (tức người Lự hay Thái) và người Xá

Tổ tiên các nhóm dân tộc Tây Bắc tới Mường

Thanh đã phải trải qua bao gian nan, cực khổ,

bao hy sinh xương máu, để bao mồ hôi, nước

mắt để cuối cùng biến được mảnh đất Mường

Thanh hoang rậm thành nơi cư trú thuận lợi

Các truyện huyền thoại giúp ta mường tượng được điều đó Những truyện có phần hoang đường nhưng cũng có phần thực đó được kể lại

1ỗ

Trang 17

có trình tự trước sau theo từng thời gian và theo

trình độ tiến triển của xã hội loài người từ lúc còn sống thành bầy nguyên thủy đến lúc bước vào ngưỡng cửa của văn mình Chúng vẽ nên lịch sử thời kỳ rất xa xưa của đất Điện Biên, va

cho ta thấy được nỗi gian khổ cũng như sự vinh

quang của tổ tiên ta trong cuộc đấu tranh chống

thiên nhiên để mưu cầu cuộc sống tốt hơn cho bản thân và cho con cháu về sau

Thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ dân gian ở Mường Then có rất nhiều Các câu chuyện tuy có tình tiết khác nhau, nhưng cốt truyện vẫn thể hiện cùng một nội dung cơ bản

Nói chung, các thuyết đều cho rằng : Mường

Thanh là nơi khởi thủy sinh ra loài người Tại

đất Mường Thanh còn hai nơi có liên quan đến

sự ra đời của con người : đó là bản Tẩu Pung thuộc xã Nà Tấu (Ná Táu) ở phía đông bắc

huyện, và hồ U Va thuộc xã Xam Mứn ở phía

tây huyện Tẩu Pung nghĩa là quả bầu to Từ quả bầu đó, các giống người chui ra (theo truyện Chung gốc bầu) Gần bản Tấu Pung

hiện nay vẫn còn trái núi trông hơi giống hình quả bầu Hồ U Va ở cạnh Pá Nậm (nơi sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa gặp nhau) Thuyết

rằng : Ngày xửa ngày xưa, trong hồ này có cây khau cát (sắn dây rừng) nối giữa cõi trời với cõi

trần gian Theo Truyện bể bản mường của hai

16

Trang 18

tác giả Cầm Trọng và Đặng Nghiêm Vạn thì :

con người do Then (Trời) cử xuống trần gian để dựng bản, lập mường Ở trần gian, con người

phải trải qua nhiều khổ cực, “ba chìm, bảy nổi,

chín lênh đênh”, rồi mới có khả năng đứng vững trên trần gian mà sinh sôi, nảy nở Then năm lần cử người xuống trần gian :

Lần thứ nhất : Then cử người xuống trần, con

người còn dại lắm Họ sống “trần truồng như bầy thú - hỗn độn, không cùng giống, vạn người không

cùng bản” Họ sống ở trần gian khổ cực quá,

không chịu được, nên Then phải gọi họ về trời

Lần thứ hai : Then cử lớp người khác xuống trần gian Lớp người này khôn hơn lớp người

trước một chút Nhưng thời ấy, “người già người lột”, nên lớp người này “sống lâu mãi phát chán,

vì không được về trời”, bèn xúi nhau làm việc trái

ý Then Then tức giận, gây ra trận mưa lớn (đại

hồng thủy), nước mưa ngập hết trần gian, làm lớp người thứ bai chết hết Trường ca Ẩm Ê¡ luông

(khai sinh ra cái lớn) của người Thái ở Mai

Châu, tỉnh Hòa Bình, có đoạn :

Lời đôn đến Then (Trời)

Trời mới giận âm âm

Trời mới giận ào ào

- Đân Mường Bằng dám gan!

Xá Mường Dưới dám bướng ?

17

Trang 19

Then lam trén mua da

Hợt mưa to bằng quả đốn

Hat mua to bang qué gém

Mưa hơi mươi ngày đêm không tanh

Mua một tháng trời không thôi Nước lũ ngập ngọn cây cúm

Nước ngập bhắp răng đôi,

Người dưới chết trôi

Trâu bò mắc trên núi đá

Vịt ngan mắc trên cành cây cao

Có cây biến thành rắn

Cây hụu, cây xa biến thành con tran”

Lan thứ ba : Then cử xuống trần gian một lớp người khác Khi con người xuống đến trần gian, thì trần gian khô cằn, khiến họ không thể sinh

sống được Cỏ cây úa vàng Trồng cây cây úa,

trồng lúa lúa cần Không có nước, con trâu lăn

ra chết, con vịt không có chỗ bơi, con người khát

cháy cổ Thế là người bỏ trần gian, trở về trời

Lần thứ tư : Then cử lớp người khác xuống trần gian Đó là ải Lậc Cậc (người khổng lổ) và

con cháu của ải Ải Lậc Cậc mạnh khỏe, giỏi giang Khi xuống trần gian, ải “đem theo bò

chín ngăn bướu, trâu chín ngàn vai, cày, bừa to

khỏe, sức voi mới kéo xuể”, Nhưng rồi ải gặp

™ Ban dich cha Kha Văn Tiến,

18

Trang 20

nạn mà chết Con cháu của ải ở lại làm ăn được

hai nghìn đời rồi lại trở về trời

Lân thứ năm : Then phải cử con rể đưa hai

anh em tạo Xuông, tạo Ngắn xuống trần gian

Sách Truyện bể bản mường kể rằng : Hai tạo

được Then cho tám quả bầu và tám chiếc cột đồng

để chống trời Then giao cho hai tạo ba trăm ba

mươi họ Xá, năm trăm năm mươi họ Thái đưa

xuống mặt đất Then lại cho đặt trong quả bầu

đủ thứ : đủ ba trăm ba mươi giống lúa, ba trăm

ba mươi giống cá, có cả sổ cúng, số bói, số xem

ngày tháng Then còn đặn khi người trần sinh

nở phải theo nhau ra ngoài cho Then biết

Tạo Xuông, tạo Ngân chia của cải đều nhau

Đất Kinh, đất Mường, đất Lào cũng được hai

quả bầu, hai cột đồng, để các giống người cùng nhau sinh sống

Có thuyết lại nói rằng : Người trời đã nung

dùi đỏ để dùi vào quả bầu, từ quả bầu các giống

người chui ra Người Xá ra trước bị dính tro than

ở lỗ dùi nên sau này da ngăm ngăm đen, sau đó là người Thái, người Lào, người Kinh, lần lượt chui

ra nên da trắng hơn Thuyết này giống như Truyện đẻ trăm trứng của dân tộc Kinh - đồng bào

các dân tộc cùng chung một nhà, cùng là anh em

Từ đấy loài người ở trần gian mới được ổn

định

19

Trang 21

Theo thuyết về cây khau cat 6 hé U Va thi:

Ngày xửa ngày xưa, từ lâu lắm rồi, trời và đất ở

xất gần nhau, gần đến nỗi "giã gạo còn vướng chày, đếo cày còn vướng rìu” Con người lúc lên

trời, khi xuống trần gian đều trèo qua cây khau

cát nếi giữa trời với đất Có gia đình nọ, người

chồng vì giận vợ lười biếng, bèn lên ở với trời, vợ

vẫn ở trần gian, đứa con khi thì lên trời ăn cơm

với cha, lúc thì xuống trần gian ăn cơm với mẹ Thế là người mẹ tức quá, cầm dao chặt đứt cây

khau cát Từ đó trời và đất cách xa nhau

Có thuyết lại kể : Vì loài người ở trần gian làm

trái ý Then, muôn loài lại hay lên trời kiện cáo, làm Then bộn rộn quá không làm được việc khác,

Then tức giận liển sai vợ cắt đứt dây khau cát

(cắt đứt lối lên trời, trời cứ thế dâng cao lên tít

tap chin tang may Am £t luéng có đoạn :

Trời mới giận âm âm

Trời mới giận ào ào Trời mới cao lên :

Ba mươi tiếng oọng trống Hai mươi tiếng uọng chiêng

Cao lên ba mươi tâm tên nỗ

Năm mươi tam dan súng

Cao vii lén ba mươi thing chi te

Tuy trời đã dâng lên cao như vậy nhưng Then vẫn chưa hết giận, Then còn cho một cây sĩ, một

20

Trang 22

cây và (có thuyết nói cây sung - tiếng Thái là

my co núa) xuống mọc ở giữa hê U Va Hai cây

này rất to lớn, cành lá sum suê, xanh tốt, xòe ra

bốn hướng, che khuất cả bầu trời - “râm chín mươi triệu rặng đổi, che kín mười bốn nghìn

mường”, làm cho trần gian ẩm thấp, tối tăm, lạnh lẽo Loài người muốn chặt hai cây của

Then đi nhưng không ai chặt nổi Bỗng một

hôm có ba bốn anh em trai nhà Àm Ý đến nhận chặt hai cây của nhà Then Họ lên trời ăn trộm

sắt thép để làm lưới, làm bẫy bắt hổ và thuông

luồng, mổ thịt, làm bữa chén no say Ăn xong,

họ lên ngựa phi thẳng đến hồ U Va chặt cây nhà Then Hai cây vội báo tin cho Then biết

(thời ấy người, muông thú và cây cối đều biết

nói) Then giận quá, sai thần mưa làm “ mưa

vàng bạc xuống trước, mưa giáo mác xuống

sau” Người trần gian thấy vàng bạc liền tranh nhau ra nhặt, thế là bị chết rất nhiều Riêng

anh em Am Y thi chạy vào gầm bich thóc, trú

vào hang đá nên không chết Hết mưa, họ lập tức ra chặt cây Vì giận Then làm chết nhiều

người, nên những người còn sống sót bèn giúp

anh em nha Am Ý chặt cây :

Ba mươi chiếc rìu Thái chém phía trước

Năm mươi chiếc rìu Xó chém phía sơu

Cây nhà Then sợ quá vội van xin, nhưng loài người không tha Họ chặt “ba tháng không

21

Trang 23

nghỉ, ba năm không ngơi”, cuối cùng cây nhà

Then cũng đổ Cây đố về phía anh em nhà Âm

Y, anh em Am Y vội lên ngựa phi thật nhanh,

nhưng “chạy được tháng trời chưa hết bóng

cây”, nên cả mấy anh em bị cây đè chết Họ chết

nhưng trần gian nhờ họ mà sáng ra

Truyển thuyết khởi tổ của loài người ở Mường Thanh có rất nhiều Trong cuốn sách

này, chúng tôi xin phép được dựa trên tài liệu

nghiên cứu khoa học lịch sử của Đặng Nghiêm Vạn và Định Xuân Lâm, cuốn Truyện bể bản

mường của Câm Trọng và Đặng Nghiêm Vạn,

tài liệu nghiên cứu khoa học lịch sử của nhiều tác giả, và lời kể của các cụ cao niên ở Điện Biên, giới thiệu sơ lược các truyển thuyết có liên

quan đến Điện Biên

22

Trang 24

LỊCH SỬ “XUẤT HIỆN LOÀI NGƯỜI”

Ở ĐIỆN BIÊN QUA CÁC CÂU CHUYỆN

HUYỄN THOẠI

Câu chuyện thứ nhất

Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, trời và

đất còn liển nhau Ở hồ U Va phía bắc đất

Mường Then có dây leo khau cát (sắn dây rừng)

nối liền trời với đất Lúc đó, mặt đất còn như

trong đêm tối Ngước trông lên, trời mới chỉ to

bằng chiếc nấm khổng lỗ úp xuống đất Mường

Then, nơi có con sông Nậm Rốm chảy qua

Then (ông Trời cử “mười giống Xá, năm

giống Thái” xuống U Va dựng trần gian Loài

người lúc đó còn dại lắm Họ chưa biết dựng

bản, lập mường, chưa biết đặt Tạo bản (có thể

là Tù trưởng - T.G) Họ chưa biết làm ruộng,

cấy lúa, chưa biết nuôi con lợn, con gà, chưa

biết dựng nhà cửa Họ sống thành từng bẩy,

từng lũ, lang thang ở ven rừng, khe suối" bạ đâu ngủ đấy, nay gốc cây, mai hang đá Họ

28

Trang 25

kiếm được gì thì ăn cái ấy Lúc bấy giờ chưa có lửa và họ cũng chưa biết dùng lửa nên họ uống nước suối, ần thịt sống Họ ăn sống nuốt tươi

mà không biết tanh hôi Họ ăn con lợn, con gà

không cần cắt tiết Nhưng họ vẫn khỏe rtạnh Thân rắn như đồng, như sắt Họ chạy rất

nhanh, nhanh hơn cả con hươu, con nai nên họ

bắt được muông thú thật dễ dàng Tay vơ vội

cũng được vài con chim, con sóc để ăn khi đói

Họ không biết nuôi tầm, đệt vải, không có quần

áo Họ ở trần truồng như muông thú Ăn chung,

ở đụng Họ sinh con đẻ cái Đứa con lúc bé

không biết cha, lớn lên không biết dòng họ

Loài người ở đất Mường Then được ít lâu

không chịu nổi, Then phải gọi về trời Then lại

cử một lớp người khác xuống U Va Thuỏ ấy, cây cỏ; muông thú đều biết nói Người muốn giết thú, thú van lạy; người muốn chặt cây, cây

kêu xin Chỉ có giống cây chuối không biết nói,

người mới cắt cái lá, chặt cái cây làm lều để ở Hoặc họ ở ngay dưới cụm cây chuối Họ kiếm ăn

dễ dàng, làm ít, ăn nhiều Lúa hết, lúa khắc tự

về nhà, cá tự nhiên vào niêu Muốn gieo lúa, lúa

tự bay vào ruộng mạ; muốn ăn quả, quả hiện ra

trên cành Loài người lại được Then dạy cho

đan chài, dạy cách bắt cá Thức ăn kiếm được

nhiều hơn trước Nhưng rồi chưa biết trồng trọt

nên thức ăn khan hiếm dần Lúa lười không

24

Trang 26

chịu tự vào bịch Lúa trên nương đợi người đến

ngắt Lúa dưới ruộng bắt người đến hái

Câu chuyện thứ hai

Ngày xửa ngày xưa, từ lâu lắm rồi, rắn già

rắn chết, người già người lột Vì thế, người sống rất lâu Loài người lại làm nhiều điều trái ý

Then làm Then nổi giận, “cái giận to bằng mười

con voi, cái tức to bằng mười con trâu” Then

giận nhiều như thé nén Then sai than nắng làm nắng to nhiều ngày, nhiều tháng Trần gian bị hạn hán Trâu bò chết đói, có lúa trên nương

chết khô, ốc dưới suối chết cạn, men ở gác bếp

nhóm khói, củ mài mục hấp hơi dưới hố Loài

người không còn gì ăn, chết dần, chết gần hết

chỉ còn sót lại Lang Ải và Lang Nhi Hai người

rủ nhau lên Mường Then trên (phía bắc Mường Then, nơi có sông Nậm Rốm, Nậm Núa gặp

nhau) bắt cá Bụng thì đói nhiều ngày mà bắt mãi không được con cá nào, hai người tức giận

lắm, chỉ tay lên trời mà chửi trời, dậm chân

xuống đất mà chửi đất Then tức giận quá, liền

sai thần sấm, thần chớp, thần gió, thần mưa làm lũ lụt Khắp trần gian tối mịt như nằm

trong chậu nước chàm Hạt mưa to bằng hạt

t9 on

Trang 27

muối, nước dâng tới tận cửa trời Ba tháng vẫn còn mưa, sáu tháng nước chưa cạn Loài người

không còn al, cây có đều chết sạch

Câu chuyện thứ ba

Thuở ấy, có hai anh em mồ côi nhà kia rất

nghèo túng Một hôm họ vào rừng kiếm ăn, gặp

một con đúi, họ đuổi hết hai ngày, hai đêm mới kịp Đến hang của đúi, hai anh em gọi :

- Chúng tôi đi hết hai ngày hai đêm mới gặp được dúi Tại sao dúi vào hang lâu thế, không

ra đây cho chúng tôi bắt à ?

Dúi nằm trong hang nói vọng ra :

- Xin anh em nhà người tha cho tôi Tôi sẽ cứu các người

- Tại sao phải cứu chúng tôi ?

Đúi nói :

- Tôi phải chui vào hang sâu vì trời sắp sập

vổi Trời sẽ có mưa to, gió lớn, nước dâng cao làm ngập tất cả trần gian đấy

- Thế chúng tôi phải làm gì để tránh mưa ?

- Hai anh em phải chui vào trong quả vả,

chuẩn bị đủ thức ăn bảy ngày, bảy đêm với đủ

26

Trang 28

các loại hạt giống các loại muông thú, mỗi thứ

một đôi

Hai anh em tha cho đúi và làm theo dúi

Quả nhiên mấy hôm sau mưa lớn, nước xối

xuống trần gian Nước ngập mênh mông dâng lên tận cổng trời Sau bảy ngày, bảy đêm, nước

rút, mặt đất như rắc đẩy phân gà Mọi vật đã chết hết loài người cũng chết hết Cả trần gian

chỉ còn hai anh em nhà kia nhờ dúi mà sống

sót Hai anh em làm lụng nuôi nhau sinh sống Người anh muốn tìm vợ, nhưng trần gian không còn người đàn bà nào Người em muốn lấy chồng, nhưng trần gian không còn đàn ông

Người anh nghĩ : nếu anh em họ chết đi thì trần

gian sẽ không còn loài người nữa Người anh

nghĩ mãi, thế là người anh có ý định lấy người

em gái mình làm vợ Người em không nghe Hai

người liền trao cho nhau nắp trầu làm tin, rồi

chia nhau đi tìm đồng bào Hai người đi hai ngả, đi mãi, một tháng, hai tháng, một năm,

hai năm vẫn không tìm được người nào Sau họ

lại gặp nhau Đương chưa biết làm gì thì họ

nhìn thấy hai con châu chấu đang nhảy nhau

Người anh mới hỏi hai con châu chấu :

- Châu chấu ơi ! Bây giờ làm sao cho loài người khỏi tuyệt diệt ?

Chau chau trả lời :

- Then đã có ý định hai anh em phải lấy

27

Trang 29

nhau Lấy nhau rồi sẽ đẻ con đẻ cái Như vậy

loài người sẽ không bị tuyệt diệt

Người anh lại hỏi người em :

- Châu chấu nói thế rổi, em có lấy anh

không ?

Người em trả lời :

- Không được đâu !

Hai anh em bèn trồng hai cụm tre bên sudn

hai quả đổi Tre lớn mau và từ hai bên ngọn cây

cứ quấn quện lấy nhau Hai anh em lại lăn hai

tảng đá, đá lăn xuống vực úp lên nhau Biết

không cưỡng được ý Then, hai anh em buộc

phải nghe lời châu chấu Được ít lâu sau, người

em có chửa Sau ba năm, người em đẻ ra hai

quả bầu lớn Vợ chẳng đặt hai quả bầu bên cối giã gạo, lạ thay hai quả bầu lớn lên rất nhanh

Một hôm, người em giã gạo mệt, bèn vứt chày bên cối gạo Chẳng may chày va vào bầu, làm

một quả vỡ tung ra Người anh đi lấy dùi, nung

đổ, đục quả bầu còn lại, tự nhiên người trong quả bầu lúc nhúc chui ra Người anh lại lấy mảnh sành rạch cho miệng lỗ to ra, người mới chui ra hết Người Xá ra trước, da bị than quanh miệng lỗ dính đầy, nên da người Xá bị

ngăm ngăm đen Người Thái, người Lào, người

Lu ra sau nén da trang hơn Cuối cùng là người Kinh ra tiép

28

Trang 30

Các con của hai anh em sống sót sau nạn

hồng thủy kia lười biếng, không chịu làm ăn Bố

mẹ giận quá nên đã đuổi chúng ra khỏi nhà và

bất chúng tự tìm thức ăn, chỗ ở mà sống Họ

mỗi người đi một ngả Số ở lại trên rừng là

người Thái, người Xá Đói quá, họ mới nghĩ cách

dùng dây leo trên rừng đan thành lưới để bẫy

thú rừng lấy thức ăn Một hôm có con chổn

vàng, con hổ vằn sa lưới Thích quá, nhưng ăn

sống nuốt tươi thì sợ, các con bảo nhau về xin

bố mẹ lửa để thui chín con vật

Bố mẹ các con nói :

- Bố mẹ không có lửa cho các con Các con

hãy lên trời xin lửa của Then Then có nhiều

lửa lắm

Nghe bố mẹ nói như vậy, họ đành từ biệt bố

mẹ và lên trời xin Then lửa

Then nói :

- Bây giờ loài người đã biết xin lửa để làm

chín thức ăn à ? Ta có nhiều lửa đấy, ta sẽ cho

loài người lửa đem về trần gian mà dùng

Nói rồi Then sai thân lửa đi lấy lửa từ mặt

trời cho người đem về Nhưng ba lần lấy lửa ra

khỏi cổng trời, lửa đều tắt Không biết làm thế

nào, họ sai rắn và cú đi lấy lửa Đi đến nửa

đường, cú thấy nhiều chuột quá, bụng lại đói, cú

bảo rắn :

29

Trang 31

- Rắn ơi, chốc nữa hãy đi xin lửa nhé ! Tôi

bắt mấy con chuột rồi cùng đi !

Rắn đồng ý đợi cú đi bất chuột Nhưng ran

lại nhìn thấy nhiều nhái quá, mà bụng rắn cũng đang đói, thế là rắn cũng đi bắt nhái, quên cả

việc đi xin lửa Đợi lâu không thấy cú và rắn về,

họ lại cử con ruổi trâu đi lấy lửa Ruôi trâu nói :

- Tôi sẽ lấy được lửa cho người, nhưng với điều

kiện người phải cho ruổi được hút máu trên lưng

trâu, hút máu đùi non của các cô nàng xinh đẹp

Người ưng ý Ruôi bay lên đến cửa nhà

Then xin lửa Then hỏi :

- Mat ruéi đâu ? Tai ruéi dau ?

- Đâu là mắt người khác, đó là mắt ruồi trâu

Đâu là tai kẻ khác, đó là tai ruồi trâu

- Nhốt ruồi vào đâu ruồi không trông thấy ?

- Nhốt ruôi vào vỏ kín, ruổi vẫn nhìn thấy

Nhốt ruồi vào giỏ đan thưa, mắt ruồi

tối như bưng

Then tin là thật nên bị ruồi trâu lừa Then

đem nhốt ruêi vào giỏ thưa rồi ngồi lấy lửa Ruéi nhìn thấy tường tận từ đầu đến cuối việc Then lấy lửa, nhưng vẫn tỏ ra không biết gì

Khi được lửa, Then trao cho ruồi mang về Ruồi

về đến nửa đường thì lửa cũng bị tắt Ruổi về đến trần gian, gặp người, người hỏi :

30

Trang 32

- Rudi dé hia 6 dau ?

- Lửa bị tắt rồi, nhưng tôi đã biết cách lấy

lửa của Then - Nói xong ruôi bảo người :

- Lấy một ống tre bể đôi như hình chân con

hoang, duc 16 như càng con cua, xiên dây vào

giữa, đây săn như ruột con mèo Lấy rơm, lấy rạ

như con chim làm tổ; bổ rơm rạ vào trong ruột

ống như chuột dành mồi trong hang Lấy tay

kéo lên, kéo xuống sợi đây như cô nàng xe chỉ Khi mũi ngửi thấy mùi khen khét thi hay

ngừng tay

Từ đó, loài người biết lấy lửa, con ruồi biết hút mâu

Câu chuyện thứ tư

Thuỏ ấy, ở giữa hồ U Va có cây vả phủ kín cả

bầu trời, có cây háy bò lan khắp mặt đất Trái

đất lạnh lẽo, tối mịt mù Người muốn chặt cây đó

đi nhưng không ai dám chặt Một hôm có hai vợ chồng nhà kia nhận lời xin chặt cây Họ mang

rìu đến hồ chặt liền ba tháng không nghỉ, ba

năm không ngơi Họ chặt đến đâu, máu cây chảy ra đến đó Cây van khóc vang trời, lạy xin tha, nhưng họ vẫn không tha Được năm tháng,

31

Trang 33

năm năm, cây vả, cây háy đổ, đè chết luôn hai

vợ chồng nhà kia Trái đất tràn ngập ánh sáng

Nhưng khốn thay, trên trời lại có tới chín

ông mặt trời, tám bà mặt trăng ngày đêm thay

nhau thiêu đốt trần gian Trời đất nóng lắm

Mai rùa bị nứt nẻ, sừng hươu bị nhăn nheo, đa

voi bị khô cứng hóa chai Trái đất khô cằn, cổ

cây vàng héo Dòng sông Đà trông chỉ bằng

chiếc đũa cả, nước sông Mã múc lên may chỉ

được một chum nhỏ Con sông Nậm Rốm cát trắng phơi lòng Họa mi câm tiếng hót, gà rừng

vắng tiếng gáy, chim cu ít tiếng gù, vượn trên non thôi tiếng hú, cáo không chạy chơi, chim

công ngừng nhảy múa, dơi nằm lì trong hang đá

không bay Con người chết gần hết

Loài chim không chịu nổi, chúng rủ nhau

bay lên nhà Then Thấy chim, Then hỏi :

- Chim lên nhà Then có việc gì thế ?

- Ở trần gian, trời nắng như thiêu, người,

vật, cây cổ ngập trong nắng, đất tan thành cát

bụi, loài chim không còn cành để đứng, không

còn cây để làm tổ, không có chỗ để kiếm mỗi nên chim lên đây xin nương nhờ đất của Then

Nghe chim nói vậy, Then bèn gọi gà ra và bảo:

- Gà đi quắp tám ông mặt trời về, chỉ để lại một ông hung đữ, đi quắp bảy bà mặt trăng về,

chỉ để lại một bà cô đơn

32

Trang 34

Gà nói :

- Tôi làm sao được Cánh tôi không thể làm

chèo đuôi tôi không thể làm lái, xin Then củ

cô vịt

Then gọi vịt ra và hỏi :

- Vịt có đi quắp được mặt trời, mặt trăng về

không ?

Vịt nói :

- Tôi làm sao được Tôi bận ấp trứng và nuôi

dạy các con, tôi không thể bỏ đàn con không người chăm sóc

'TThen nói :

- Ta cho gà ấp trứng, nuôi dạy con thay vịt Vịt cứ đi quắp mặt trời, mặt trăng về di!

Nghe Then nói, vịt đi quắp tám mặt trời,

bảy mặt trăng về như lời Then dặn Và từ đấy

vịt không ấp trứng nữa Vịt chỉ đẻ trứng, còn gà phải ấp trứng, nuôi con cho vịt Vì vậy đân gian

mới có câu “ mẹ gà, con vịt”

Lại nói, vịt lần lượt đi quắp hết tám ông

mặt trời, bảy bà mặt trăng Vì mặt trời mặt

trăng nóng quá, làm chảy mỏ vịt, từ đấy mỏ vịt

mới bẹp dí như ngày nay BỊ bẹp mỏ, vịt tức

giận, vịt để lại một ông mặt trời, một bà mặt

trăng, nhưng lại xoay lưng hai ông bà lại với nhau Vì thế, ngày nay ta thấy cứ mặt trời ló ra

33

Trang 35

thì mặt trăng lại quay vào, nếu mặt trăng mọc

ra, mặt trời lại tắt ngấm Bà mặt trăng bị xoay

ngược chiều với ông mặt trời nên không còn

nóng nữa Từ đó trần gian mới có đêm, có ngày

Từ đó trái đất mới được chiếu sáng Khí trời ấm

áp, dễ chịu Ban ngày thì mặt trời ấm áp, ban

đêm thì mặt trăng tỏa mát dịu dàng Loài người

sống vui vẻ, chim chóc thi nhau hót véo von,

tôm cá tung tăng bơi lội dưới sông, dưới suối, Trần gian thật là thanh bình

Hôm ấy cá trê lên nhà Then Then hỏi :

đầu bẹp dúm lại rồi, mắt thì lồi ra ngoài, óc thì

phun thành những cái râu tua tủa, xin Then

phạt tội cho người !

Nghe vậy, Then cho gọi người lên trời hỏi-:

® Thuộc xã Mường Chùm, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

34

Trang 36

- Tại sao người đánh rơi quả bí làm bẹp đầu

cá trê 7?

Người không nói gì, chỉ đứng vén

Then sai người trời đem vôi đến sơn da

người trắng tỉnh để muông thú, cá tôm, ốc nhìn thấy mà tránh (bởi da người trước cũng đen như

Then cho goi người lên trời và hỏi :

- Tại sao người lội suối lại dẫm vào tôm tép ?

Người chỉ đứng 1m, không nói gì

Then nói :

- Người sai rồi Nhưng Then không làm thế

nào cho óc, mắt và dạ dày tôm tép trở lại vị trí

cũ được Nay ta cho phần óc ấy làm cơ quan

thính giác, cho mắt nhìn được bốn phương

Từ đó râu của tôm tép rất thính, mắt của tôm tép nhìn rất tỉnh, nhưng đầu tôm tép lại có chỗ chứa phân, nên sau này tôm không thể hóa

rồng được

35

Trang 37

Then lại nói :

- Người da trắng rỗi, nhưng cái mắt vẫn còn

đen nên không nhìn được những thứ ở dưới

nước, phải lấy vôi sơn vào mắt cho người để

người nhìn rõ hơn

Người của Then vạch mắt người trần gian

ra sơn vôi vào, người trần gian lại cố nhắm mắt

lại Vì vậy người trời không sơn hết được, nên từ

đó người trần gian da trắng, mắt mới có lòng trắng, lòng đen

Vì trời đất gần nhau, nên ngày nào cũng có người hoặc muông thú, cua cá, ếch nhái, lên

Then kêu kiện Then bận việc xử kiện quá nên

đã sai người chặt cây khau cát để nâng trời lên

cao, không cho người và mọi vật ở trần gian lên

kiện nữa Then lên đến tận tầng mây thứ chín

mới dừng lại Từ đó người, muông thú, cây cối, không lên Then kiện nhau nữa

Câu chuyện thứ năm

Thuở ấy, loài người trên trái đất đã chết gần hết, Then sai mẹ Bẩu (người Kinh gọi là

bà Mụ) đúc một lớp người khác rồi lại cho họ

xuống trần gian Giống người này là con cháu ải

Lậc Cậc

36

Trang 38

Ai Lac Cae là người khổng lổ, Người ải to

bằng ba quả núi, tai ải bằng chiếc quạt lúa, má

ải phính tựa cái nhà đùi ải rất to, to đến năm

người ôm không xué Ban dau, ai Lac Cac cùng

vợ xuống khai phá đất Mường Then Khi xuống

trần gian, ải được Then cho “đem theo bò chín ngàn bướu, trâu chín ngàn vai, cày, bừa to khỏe, sức voi mới kéo xuế” Ái làm lều ở bản Tà Lét (nay là xã Núa Ngam, huyện Điện Biên)

Hai vợ chồng ải Lậc Cậc vừa cao, vừa to và rất

nặng, ải đi tìm cây trên rừng để làm lều, nhưng

không có cây rừng nào chịu đựng được sức nặng của hai vợ chồng ải nên ải phải làm lều ngay trên mat dat Léu cua ai cao vit, cham téi trời

xanh, vi ải cao trên bẩy, tám ngàn sải tay Ai

làm ruộng cấy lúa, trồng cây sắn, cây khoai, trồng rừng, ải còn bắt muông thú về nhà nuôi,

bắt con cá về ao thả làm bạn cho vui nhà Việc

gì äi làm cũng giỏi Mùa lúa, lúa chín đầy đồng Mùa xuân, ngoài vườn đầy hoa Mùa thu, mùa

đông ngoài vườn đầy hoa quả Ái làm rất khỏe,

ai gánh tro than Mỗi lần gánh lúc đổ xuống

mỗi bên thành một trái núi, bên than thành núi

than (Pú Thán) ở Mường Phăng ngày nay, bên tro thành nui tro (PG Tau) ở Chiéng Pac (Thuan Châu, Sơn La) ngày nay Gánh cỏ ngựa của ai quá lớn, lớn dén che kin cả mặt trời, làm bầu

trời tối đen lại Còn vợ ải cũng rất to lớn, cao và

37

Trang 39

nặng Vú vợ ai to bang trai nui Bộ phận sinh

con đẻ cái to bằng cả cánh đồng Một hôm ải sai

vợ căng váy đón bắt cá ở cửa sông (chỗ sông Đà

và sông Hỗng gặp nhau) Còn ải lấy bệ phận

sinh sản của mình xua cá ở ngọn sông Đà

Không may bộ phận sinh sản của ải bị dầm

đâm phải Vợ ải phải khểu dam ra Cái dầm là

một cây gỗ rất lớn, đem làm thuyển chở được

bảy người đi lại trên sông mà không bị sóng làm

chong chanh

Ai Lac Cac lay Mudng Then lam ruộng gieo

mạ, võ Mường Lò, Mường Tấc (nay thuộc tinh Sơn La), Mường Than (nay thuộc tỉnh Lai

Châu) để cấy lúa Đường cày của ải đủ để con

ngựa phi, ruộng cấy của ải đủ chỗ hai chục trâu

lồng (hiện nay vết tích đường cày chính là khe

thung lũng chạy dọc suốt từ Mường Vạt lên

Mường La tới Mường Muổi (Sơn La) Vợ chồng

ải rất chăm chỉ làm việc Sáng ả1 cấy ở Mường

Then, chiều ải cấy ở Mường Tấc, trưa ải nghỉ đô xôi ở Mường Than (ngày nay còn sót lại ba ông

đầu rau, chính là ba trái núi chụm lại) Một

hôm, ải đang cấy ở Mường Lò thì nhìn thấy trâu

ăn mạ ở Mường Then, ải lấy xôi nướng ném

đuổi trâu Nắm xôi này thành núi xôi nướng (Pú Khẩu Chộ ở xã Xam Mứn Mấy hạt xôi vãi

xuống bờ suối biến thành những viên sỏi, phụ

nữ có thai và trẻ chăn trâu hay nhặt ăn Thấy

38

Trang 40

trâu chưa chạy hết, ải lại lấy vài hòn đất ném

tiếp Ném xong, ải phủi tay, vài viên đá nhỏ sót lại lăn xuống nay thành núi đá rơi (Pu Hin

Kinh) bên dưới bản Khoa (xã Tương Phù, huyện Phù Yên tỉnh Sơn La) Khi về Mường Then, ải vô

ý đánh rơi hòn đá lửa, ải lấy chân gạt đá để tìm

Ai gạt chân mấy cái làm cho đá ở đoạn giữa

sông Nậm Rốm và cánh đồng Mường Then xô hết sang chân hai dãy núi bên cạnh và đầu,

cuối của dòng sông Từ đó, cánh đồng Mường Then và khúc giữa sông Nậm Rốm không còn viên đá nào Mà chỉ hai bên chân núi của cánh

đồng Mường Then và phía hai đầu của sông

Nậm Rốm có nhiều đá như hiện nay Hòn đá

lửa của ải rơi bị vỡ đôi, một nửa biến thành hòn

Déng 6 Pu Nam (x4 Xam Mun) va hon nui Nam

Bung (trên đường từ Nghĩa Lộ đi Tú Lệ)

Hôm ấy, biết tin mẹ ốm, ải Lậc Cậc vội về

thăm mẹ Thấy mẹ nằm yên trên giường, không

ngồi dậy được, ải lấy tay áp lên trần mẹ, mẹ ải

bị vỡ nát đầu chết tươi Ái vừa đau xót vì tại

mình mà mẹ chết, vừa thương mẹ, vừa ân hận,

ải cứ than vãn, tự trách mình mãi Buồn rau,

chán nản và đã thức qua nhiều ngày, nhiều

đêm khóc mẹ nên ải thiếp đi, rổi ngủ mê mệt,

bọn trẻ con thấy hơi thở của ai that 4m áp nên chúng rủ nhau đến chơi cù Lũ trẻ vừa chơi cù vừa chạy nhảy vừa hò hét thật vui Thấy buồn,

39

Ngày đăng: 08/12/2022, 02:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w