1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ÔN KHẢO sát sở môn văn

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vẻ đẹp của tình đồng chí trong đoạn thơ của Chính Hữu
Tác giả Chính Hữu
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Ôn khảo sát sở môn văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 50,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỒNG CHÍ Chính Hữu 1: Vẻ đẹp của tình đồng chí trong đoạn thơ sau: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Anh với tôi bi

Trang 1

ĐỒNG CHÍ (Chính Hữu) 1: Vẻ đẹp của tình đồng chí trong đoạn thơ sau:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

MỞ BÀI: Chính Hữu là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp Ông thường

viết về đề tài chiến tranh và người lính “Đồng chí” là bài thơ nổi tiếng nhất của ông Đọc bài thơ, ta cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà thiêng liêng của tình đồng chí Đoạn thơ sau đã diễn tả một cách chân thực, cảm động vẻ đẹp của tình đồng chí:

(trích dẫn đoạn thơ)

THÂN BÀI:

Luận điểm 1: Trước hết, tình đồng chí được thể hiện ở sự thấu hiểu, đồng cảm với nhau sâu sắc khiến ta xúc động

- Luận cứ 1: Người lính thấu hiểu được hoàn cảnh của bạn:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”

Hai câu thơ cất lên với giọng điệu tha thiết như một lời tâm sự chân thành Họ ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, quê nhà bỏ lại sau lưng Vốn là những người nông dân, ruộng nương, gian nhà là những gì gắn bó máu thịt nhất, là những gì quý giá nhất Nhưng khi

Tổ quốc cần, họ sẵn sàng gác lại tất cả để lên đường ra trận Yếu tố tự sự, cách dùng từ “anh” diễn tả sự sẻ chia, thấu hiểu sâu sắc: Tôi hóa thân vào anh để thấu hiểu nỗi niềm tâm sự của anh, chia sẻ với anh chuyện quê nhà, ruộng nương, nhà cửa Anh ra đi nhưng lòng ngổn ngang tâm

sự Lòng tôi xúc động rưng rưng Vì tâm sự của anh cũng là nỗi lòng của tôi Những người lính chống Pháp thưở đó là những người nông dân “ra đi ra đi từ mái tranh nghèo” nên rất nặng lòng với quê hương, gia đình

- Luận cứ 2: Người lính còn thấu hiểu được nỗi lòng của bạn

Trang 2

Từ “mặc kệ” được dùng với nghĩa bỏ lại tất cả, không bận lòng, ra đi với thái độ dửng dưng, dứt khoát Câu thơ ngang tàng, đượm chất lãng mạn như muốn nâng đỡ con người vượt lên cái bất đắc dĩ của hoàn cảnh Chàng trai cày chỉ quen gắn bó với ruộng đồng, với mái tranh nghèo, với lũy tre xanh nay dứt quyết rời quê hương để vào chiến trận nơi phương trời xa Phải có tinh thần

hi sinh và tình yêu đất nước cháy bỏng thì mới có thể ra đi với thái độ dứt khoát đến vậy Mặt khác, từ “mặc kệ” còn tạo nên giọng điệu tếu táo, hóm hỉnh đầy chất lính Người lính hiểu rõ nỗi lòng bạn Nỗi lòng của “anh” cũng chính là nỗi lòng của “tôi”: Gác tình riêng ra đi vì nghĩa

lớn, để lại sau lưng mảnh trời quê hương với bao thương nhớ giấu kín trong lòng Câu thơ khiến

ta nhớ đến những chàng trai đất Hà thành cũng nén tình riêng để lên đường ra trận trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:

“Những phố dài xao xác heo may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”

Luận điểm 2: Người lính cũng có những tâm tư, nỗi nhớ như bạn mình:

“Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

Giếng nước, gốc đa là những hình ảnh ẩn dụ cho quê nhà thân yêu Giếng nước là nơi dân làng gặp gỡ nhau mỗi sớm, mỗi chiều; gốc đa là nơi dân làng nghỉ ngơi khi trưa nắng Đó là hồn quê Giếng nước, gốc đa được nhân hóa để “nhớ người ra lính” Quê hương nhớ các anh hay chính các anh đang ngày đêm ôm ấp hình bóng quê hương? Ở đây, người lính không nói mình nhớ quê hương Thực ra đó cũng là cách để họ tự vượt lên chính mình, nén tình riêng vì sự nghiệp chung Người lính hiểu được nỗi lòng bạn vì nỗi nhớ của bạn cũng chính là nỗi nhớ của tôi Nếu phần đầu bài thơ xuất hiện hình ảnh sóng đôi “anh” và “tôi” thì đến đây chỉ còn “anh”

Do thương bạn mà quên mất mình hay nỗi lòng bạn cũng chính là nỗi lòng của mình? Hiểu thấu tâm tư, nỗi nhớ của nhau cũng là một biểu hiện của tình đồng chí

Luận điểm 3: Tình đồng chí còn được biểu hiện ở sự sẻ chia với nhau những gian khổ, thiếu thốn của cuộc đời quân ngũ khiến ta trân trọng, cảm động

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, người lính gặp bao khó khăn, gian khổ, thiếu thốn Đó là những trận sốt rét rừng hành hạ họ đến mức “sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi” Là sự thiếu thốn quân trang, quân dụng: áo rách vai, quần vá, chân không giày Đó còn là

sự khắc nghiệt của thời tiết chốn rừng hoang với cái lạnh cắt da cắt thịt Những câu thơ với hình

Trang 3

ảnh chân thực đã tái hiện lại những khó khăn, thiếu thốn của những năm đầu kháng chiến chống Pháp

Thế nhưng, điều đáng quý là trong gian khổ, thiếu thốn, người lính vẫn chia sẻ và sát cánh bên nhau Từ “biết” vừa diễn tả sự nếm trải vừa diễn tả sự chia sẻ, cảm thông giữa những người đồng đội Họ đã cùng nha chống chọi với ốm đau, bệnh tật nơi chiến trường gian khổ Họ

đã cùng nhau vượt qua những khó khăn, thiếu thốn của cuộc đời quân ngũ Trong gian khổ, khó khăn, tình đồng chí vẫn luôn tỏa sáng.

Luận điểm 4: Cuối cùng, vẻ đẹp của tình đống chí còn thể hiện ở việc truyền cho nhau hơi

ấm, tiếp thêm cho nhau niềm tin, sức mạnh để vượt qua khó khăn, gian khổ.

- Trong cái giá rét nơi núi rừng Việt Bắc, người lính vẫn nở nụ cười lạc quan, yêu đời:

“Miệng cười buốt giá”

Đó là nụ cười trong tiết trời giá rét của vùng núi cao mà áo chăn không đủ ấm Nhưng đó còn là

nụ cười vượt lên trên buốt giá, vượt lên hoàn cảnh khó khăn, gian khổ Là nụ cườ của lòng yêu

đờ, của tinh thần lạc quan họ đã trao nhau

- Cùng với nụ cười là cái nắm tay thật chặt:

“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

Người lính thương yêu nhau theo cái cách mộc mạc, giản dị mà sâu sắc Cái nắm tay thay cho mọi lời muốn nói Cái nắm tay truyền cho nhau hơi ấm, truyền cho nhau sức mạnh của niềm tin chiến thắng, của ý chí chiến đấu Có thể nói, tình đồng chí đồng đội của những người lính trong khó khăn, gian khổ đã tạo nên nguồn sức mạnh tinh thần to lướn giúp họ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ

=> Đánh giá:

- Tài năng: Bằng thể thơ tự do với nhịp thơ linh hoạt; bằng ngôn ngữ thơ giản dị, hàm súc, cô

đọng; bằng hình ảnh thơ bình dị mà giàu sức gợi; bằng giọng thơ thiết tha, tâm tình,… nhà thơ

đã thể hiện một cách sâu sắc biểu hiện của tình đồng chí Tình đồng chí biểu hiện bằng sự thấu hiểu nỗi niềm, tâm sự của nhau; bằng sự sẻ chia những khó khăn, gian khổ, thếu thốn của cuộc sống chiến đấu Đó là tình cảm thiêng liêng, cao đẹp; là nguồn sức mạnh tinh thần giúp người lính vững vàng hơn trong những năm tháng chiến đấu gian lao, thử thách

- Tấm lòng: Đằng sau tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, cao đẹp là tấm lòng của nhà thơ

dành cho đồng đội mình Ông viết bài thơ để tri ân với những người đã cùng ông vào sinh ra tử trong cuộc kháng chiến đầy gian khó Tấm lòng đó đã thăng hoa và làm nên một bức tượng đài

về người lính chống Pháp bằng thơ

KẾT BÀI: “Đồng chí” là bài thơ thành công và cảm động viết về tình đồng chí, đồng đội trong

kháng chiến chống Pháp Bài thơ đã góp phần lưu giữ lại mãi mãi hình ảnh đẹp về những người lính Cụ Hồ trong tâm khảm bao thế hệ con người Việt Nam

Trang 4

2 Tình đồng chí trong đoạn thơ đầu:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

MỞ BÀI: Chính Hữu là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp Ông thường

viết về đề tài chiến tranh và người lính “Đồng chí” (1948) là bài thơ nổi tiếng nhất của ông Đọc bài thơ, ta cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà thiêng liêng của tình đồng chí Đoạn thơ đầu

đã diễn tả một cách chân thực, cảm động vẻ đẹp của tình đồng chí với những cơ sở làm nên tình

cảm ấy

THÂN BÀI:

Luận điểm 1: Trước hết, tình đồng chí có cơ sở từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân

(tình giai cấp).

“Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Lời thơ giản dị như một lời trò chuyện tâm tình Các thành ngữ “nước mặn đồng chua”,

“đất cày lên sỏi đá” gợi lên những miền quê nghèo khó Đó là những vùng đồng chua nước mặn, những miền đất trung du đất đai cằn cỗi, bạc màu Mỗi người một miền quê nhưng giống nhau

là đều vất vả, lam lũ, đói nghèo Hai câu thơ sóng đôi nhấn mạnh điểm tương đồng về nguồn

gốc xuất thân của họ: người nông dân mặc áo lính Chính sự tương đồng ấy đã gắn kết họ lại với nhau mà làm nên tình đồng chí

Luận điểm 2: Bên cạnh đó, tình đồng chí còn có cơ sở từ sự tương đồng về nhiệm vụ chiến đấu, lí tưởng chiến đấu (tình yêu nước):

“Súng bên súng đầu sát bên đầu”

Cuộc kháng chiến chống Pháp là cuộc hội ngộ của những con người cùng chung lí tưởng

Từ những phương trời xa lạ, họ đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và gặp nhau ở lí

tưởng sống cao đẹp: chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước Câu thơ chỉ bảy tiếng mà sử dụng

đến ba điệp từ: súng, bên, đầu đã diễn tả được sự sát cánh bên nhau trong chiến đấu của những

người lính Họ có chung nhiệm vụ, chung lí tưởng cáo đẹp: chiến đấu để bảo vệ độc lập tự do

cho đất nước “Tình yêu nước cùng với lí tưởng cao đẹp đã xóa dần khoảng cách giữa những

con người xa lạ mà làm nên tình đồng chí Họ gắn bó với nhau một cách chân thật, tự nhiên bằng một tình cảm mới của thời đại: tình đồng chí

Luận điểm 3: Đặc biệt, tình đồng chí còn có cơ sở từ việc chia sẻ những gian khổ, thiếu thốn (tình người, tình tri kỉ):

Trang 5

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

Đây là câu thơ hay và cảm động, đầy ắp kỉ niệm về một thời gian khổ “Đêm rét” là hiện thực khó khăn về những năm tháng chiến đấu giữa cái giá rét của núi rừng Có sống những năm

tháng chiến tranh giữa núi rừng lạnh giá mới thấy hết cái khắc nghiệt ấy Thế nhưng, người lính

đã cùng nhau chia sẻ khó khăn, gian khổ bằng hành động “chung chăn” Từ Hán Việt “tri kỉ” diễn tả, khắc sâu một mối quan hệ tình cảm sâu nặng, không thể tách rời giữa họ Với những người lính ngày đó, tình đồng chí không còn là tình cảm, tình thân mà còn là sức mạnh để họ

sống và chiến đấu vì đất nước Chính tình người, tình tri kỉ trong gian khó đã làm nên cơ sở của tình đồng chí.

=> Đánh giá:

- Tài năng: Bằng thể thơ tự do với nhịp thơ linh hoạt; bằng ngôn ngữ thơ giản dị, hàm súc, cô

đọng; bằng hình ảnh thơ bình dị mà giàu sức gợi; bằng giọng thơ thiết tha, tâm tình,… nhà thơ

đã lí giải sâu sắc về cội nguồn của tình đồng chí Tình đồng chí là sự kết tinh và tỏa sáng của

những tình cảm cao đẹp: tình giai cấp, tình yêu đất nước và tình tri kỉ Đó là tình cảm thiêng liêng, cao đẹp; là nguồn sức mạnh tinh thần giúp người lính vững vàng hơn trong những năm tháng chiến đấu gian lao, thử thách

- Tấm lòng: Đằng sau tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, cao đẹp là tấm lòng của nhà thơ

dành cho đồng đội mình Ông viết bài thơ để tri ân với những người đã cùng ông vào sinh ra

tử trong cuộc kháng chiến đầy gian khó Tấm lòng đó đã thăng hoa và làm nên một bức tượng đài về người lính chống Pháp bằng thơ

KẾT BÀI: “Đồng chí” là bài thơ thành công và cảm động viết về tình đồng chí, đồng đội trong

kháng chiến chống Pháp Bài thơ đã góp phần lưu giữ lại mãi mãi hình ảnh đẹp về những người lính Cụ Hồ trong tâm khảm bao thế hệ con người Việt Nam

ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ (Huy Cận)

1 Phân tích/ Cảm nhận 2 khổ thơ đầu của bài thơ.

MỞ BÀI: Huy Cận là một gương mặt nổi bật của thơ ca hiện đại Việt Nam "Đoàn thuyền đánh

cá" là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông Đọc bài thơ, người đọc rất ấn tượng trước hai khổ thơ đầu của bài thơ

THÂN BÀI:

Luận điểm 1: Trước hết, khổ thơ đầu của bài thơ đã miêu tả cảnh đoàn thuyền ra khơi trong khung cảnh hoàng hôn thật đẹp

Luận cứ 1: Mở đầu là những câu thơ miêu tả cảnh biển hoàng hôn rực rỡ, tráng lệ, huy hoàng mà gần gũi, ấm áp :

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa”

- Để miêu tả cảnh biển vào đêm, t/g sử dụng biện pháp so sánh: "mặt trời xuống biển" được ví như "hòn lửa" gợi lên trước mắt người đọc h/a mặt trời hồng tráng lệ đang dần chìm xuống biển

Trang 6

Biển cả bao la rực lên một màu đỏ ối, biển lấp lánh ánh sáng, những tia nắng cuối ngày nhuộm

đỏ mặt biển Đó là vẻ đẹp kỳ vĩ, lộng lẫy, huy hoàng khi hoàng hôn xuống

- Điều đáng nói ở đây là mặt trời vốn là một hình ảnh thiên nhiên hết sức hùng vĩ, tráng lệ lại được so sánh với hòn lửa có trong gian bếp của bao gia đình Cách so sánh ấy làm h/a mặt trời

trở nên gần gũi, thân thương vô cùng Vẻ đẹp ấy không xa lạ, rợn ngợp mà mang hơi ấm của gia đình

- Cảnh biển vào đêm còn đc miêu tả qua h/a "Sóng đã cài then đêm sập cửa" H/a được xây dựng bằng liên tưởng, tưởng tượng và nhân hóa Những h/a ấy đã gợi ra những liên tưởng thật thú vị: Vũ trụ bao la như một ngôi nhà mà đêm tối là cánh cửa sập xuống, những con sóng chạy ngang trên biển là những chiếc then cài cửa và mặt trời là hòn lửa sưởi ấm căn nhà ấy Có thể

nói, thiên nhiên biển cả hiện lên vừa hùng vĩ, lung linh, rực rỡ lại vừa ấm áp, gần gũi, thân quen Nhà thơ như đang hóa thân thành người lao động để ca ngợi và tự hào về biển cả quê

hương

Luận cứ 2: Trong khung cảnh như thế, đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong khí thế hăm hở, sôi nổi, khỏe khoắn

“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”

- Nhà thơ sử dụng nghệ thuật đối lập: Vũ trụ nghỉ ngơi còn đoàn thuyền lại làm việc Sự đối lập

ấy cho thấy tư thế chủ động, làm chủ của người lao động Ngư dân đi biển mà như trở về với ngôi nhà của chính mình Nói cách khác, câu thơ đang diễn tả cuộc giao ca kì thú giữa vũ trụ và con người Phó từ “lại" diễn tả nhịp lao động khẩn trương và thường xuyên của người dân chài Mặt khác, từ “lại” còn biểu thị ý nghĩa ngược lại: thiên nhiên đã nghỉ ngơi mà con người lại ra khơi lao động Điều đó cho thấy sự chủ động, sáng tạo của con người

- Người lao động ra khơi trong câu hát: “Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”

Câu thơ có sử dụng kết hợp giữa bút pháp hiện thực với bút pháp lãng mạn khoa trương Bằng bút pháp hiện thực, nhà thơ đã làm hiện ra h/a cánh buồm no căng gió hay chính sức mạnh của thiên nhiên đã đưa con thuyền ra khơi Không chỉ thế, bút pháp lãng mạn khoa trương đã giúp nhà thơ lí giải với chúng ta về sức mạnh làm căng cánh buồm chính là từ câu hát ra khơi của con người Nói cách khác, chính khí thế mạnh mẽ, sôi nổi, hào hứng của người lao động đã làm nên sức mạnh Câu thơ đã sáng tạo nên h/a đẹp, lạ, giàu liên tưởng, từ sự gắn kết ba vật và hiện tượng: cánh buồm - gió khơi - câu hát Chỉ một câu thơ thôi không chỉ cho ta thấy khí thế ra khơi sôi nổi, hăm hở mà còn chứa đựng niềm tin tưởng vào chuyến ra khơi ấy của người lao động Chỉ một câu thơ thôi mà đã cho người đọc thấy rõ phong cách thơ Huy Cận sau Cách mạng: Sự chan hòa giữa thiên nhiên và con người

Luận điểm 2: Tiếp đến, ta lại ấn tượng trước tiếng hát ra khơi, ngợi ca sự giàu có của biển

cả quê hương (khổ 2)

Luận cứ 1: Ba câu thơ đầu diễn tả sự giàu có của biển cả:

“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.”

Trang 7

- Từ "bạc" là một định ngữ, chỉ số lựợng cá nhiều, phong phú, tạo nên sự giàu có, quý giá của

biển

- So sánh, liên tưởng thú vị: Cá thu như đoàn thoi gợi hình ảnh cá thu như những đoàn thoi xếp

thành hàng lao nhanh giữa biển khơi, hình ảnh đẹp tô đậm sự giàu có của biển cả

- Ân dụ: “dệt muôn luồng sáng” gợi khung cảnh biển cả bao la, những vẩy cá lấp lánh dệt nên muôn luồng sáng lung linh, rực rỡ, thắp sáng cả bầu trời đêm -> cảm hứng lãng mạn tạo nên một bức tranh biển đêm thật đẹp

- Nhân hoá: cá đi trên biển - cá dệt biển; cá vào lưới - cá dệt lưới Sự tưởng tưởng, liên tưởng độc đáo đa tạo nên vẻ đẹp riêng cho biển cả Biển trong xanh, vảy cá lấp lánh ánh bạc trong dòng nước tạo nên muôn luồng sáng khác nhau Bằng cảm hứng lãng mạn, t/g đã tạo nên một bức tranh thật lộng lẫy, diệu kì

Ý 2: Trong khung cảnh tuyệt đẹp ấy, người ngư dân cất tiếng hát gọi cá vào:

“Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!”

Đoàn cá được nhân hóa thành người dệt lưới Nhà thơ hóa thân vào người dân chài để để nói hộ tiếng lòng của họ Điệp từ "dệt" không chỉ nói đến sự giàu có của biển cả mà còn diễn tả niềm khao khát trở về trong chiến tháng với những mẻ cá đầy "Đoàn cá ơi!"- lời mời gọi cất lên thật th©n thương, tr×u mÕn Đây vừa là lời mời gọi, vừa là lời nhắn gửi thiết tha Tiếng hát cất lên hòa vào tiếng sóng, lan tỏa giữa trời đêm thành một giai ddieuj đẹp của cuộc sống mới Bắt đầu từ đây, đại từ "ta" vang lên đầy tự hào, kiêu hãnh trong suốt bài thơ Không còn là cái tôi nhỏ bé, đơn côi nh những ngày xa nữa mà là cái ta tập thể đầy sức mạnh, trong đó có sự nhân lên đến vô hạn tiềm lực của mỗi cá

nhân Qua câu hát của người lao động thấy được không khí lao động say sưa, chan hòa niềm vui, niềm lạc quan yêu cuộc sống mới, niềm tự hào, gắn bó với biển cả quê hương.

=> Đánh giá: Bằng giọng thơ sôi nổi, khí thế, khỏe khoắn; h/a thơ đẹp tráng lệ; bằng bút pháp

hiện thực kết hợp bút pháp lãng mạn khoa trương cùng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa,

đối lập, đoạn thơ đã làm nổi bật cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và khúc hát đầy lạc quan,

hào hứng của những con người đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc sống Qua đó, người đọc hiểu rõ hơn sự chuyển mình trong phoang cách thơ HC: từ một hồn thơ “ảo não” thành một hồn thơ yêu đời, yêu người

KẾT BÀI: Hai khổ thơ với bức tranh đẹp về cảnh đoàn thuyền ra khơi trong khung cảnh hoàng hôn và khúc hát mê say của người lao động trở thành những mảnh ghép để làm hoàn

hảo cho bức tranh về cuộc sống lao động trong những tháng năm xây dựng cuộc sống mới Bài thơ sẽ còn neo đậu lại mãi trong tâm trí bạn đọc với những cảm xúc mê say trước con người, trước cuộc đời và biển cả quê hương

2 Phân tích/ Cảm nhận hai khổ thơ cuối.

MỞ BÀI: Huy Cận là một gương mặt nổi bật của thơ ca hiện đại Việt Nam "Đoàn thuyền đánh

cá" là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông Đọc bài thơ, người đọc rất ấn tượng trước hai khổ thơ cuối của bài thơ

THÂN BÀI:

Luận điểm 1: Trước hết, ta thật ấn tượng trước cảnh kéo lưới trên biển.

Trang 8

“Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng,

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.

Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.”

- Đêm tàn, trời sắp sáng, sao đang mờ dần, nhịp độ lao động vẫn đang hết sức khẩn trương, hối

hả và không hề thuyên giảm "Kéo xoăn tay" là động tác kéo lưới rất căng, khoẻ và đẹp Những bắp tay rắn chắc nổi cuộn cuộn khi kéo lới; sự hăm hở, hồ hởi của người lao động mong muốn thấy được thành quả lao động H/a thơ thật đẹp

- một vẻ đẹp khỏe khoắn Động từ "kéo", "loé", "xếp", "lên", "đón " kết hợp với nhịp

thơ nhanh, khoẻ khoắn diễn tả không khí lao động khẩn trương, miệt mài, nặng nhọc nhưng hiệu quả Chữ “lóe” được dùng thật hay, vừa gợi ánh bình

minh đang lên, vừa gợi sắc màu sắc lấp lánh của cá làm chói sáng cả khoang thuyền Tính từ

“bạc, vàng, hồng ” gợi bức tranh lung linh đầy màu sắc, gợi rạng đông bắt đầu với màu sắc rực

rõ, huy hoàng của các loài cá

- Dường như hoạt động của con người rất nhịp nhàng với sự vận hành của vũ trụ Thật thú vị và bất ngờ khi rạng đông lóe sáng cũng là khi lưới được xếp và buồm được căng lên để trở về Côm tõ "đón nắng hồng" biểu hiện tâm trạng sảng khoái, phấn chấn của người lao động Họ như muốn chia sẻ niềm vui của mình với ánh bình minh, với mặt trời - một người bạn thiên nhiên cũng rất thân thiết với con người

Luận điểm 2: Tiếp đến là ấn tượng trước cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về ở khổ thơ cuối

Luận cứ 1: Mở đầu đoạn thơ là âm vang câu hát:

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Giai điệu khổ thơ đc tạo nên từ âm "ơi" ở cuối mỗi câu thơ đã gây ấn tượng mạnh mẽ về không khí sôi nổi, đầy say mê Mở đầu khổ thơ là câu thơ gần như lặp lại nguyên văn câu thơ đầu trong khổ thơ thứ nhất Có cảm giác đây là điệp khúc trong một bài hát - bài hát ngợi ca người lao động giữa bienr trời quê hương tươi đẹp:

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

rồi:

Câu hát căng buồm với gió khơi

Câu hát của người ngư dân như một điệp khúc ngân vang cả bài thơ Đó như là một bằng chứng sinh động cho không khí lao động tập thể sôi nổi, hào hứng Đó còn là biểu hiện cho sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên

Luận cứ 2: Ra khơi đã khẩn trương thì khi trở về lại càng khẩn trương hơn nữa

“Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”

Đoạn thơ sử dụng nghệ thuật nhân hóa kết hợp bút pháp lãng mạn, khoa trương Nhà thơ đã tạo

ra một h/a nhân hóa rất táo bạo và độc đáo Đoàn thuyền chở đầy những khoang cá phóng về bến như thể đang chạy đua cùng mặt trời vậy Phải về bến thật sớm để mẻ cá giữ đc sự tươi ngon và kịp phiên chợ sơm Động từ "chạy đua'' cho thấy sức lực của người đánh cá vẫn còn dồi dào lắm, khí thế lao động của họ vẫn còn khẩn trương lắm Đó thực sự là khí thế của những con

Trang 9

người tự do đang làm chủ sân chơi, làm chủ cuộc sống Họ chạy đua với thiên nhiên, chạy đua với thời gian Cuộc chay đua đó càng làm cho h/a con người trở nên lớn lao, kì vĩ hơn Con người vừa hòa hợp với thiên nhiên lại vừa thách thức thiên nhiên và cuối cùng là chế ngự cả thiên nhiên

- Tiếp đó, nhà thơ sử dụng biện pháp nhân hóa qua câu thơ:

“Mặt trời đội biển nhô màu mới”

Nếu mở đầu bài thơ là h/a mặt trời xuống biển thì kết thúc lại là h/a mặt trời đội biển nhô lên tạo nên kết cấu đầu – cuối tương ứng Kết cấu tương ứng ấy diễn tả vòng tuần hoàn của thiên nhiên,

vũ trụ Cảnh tượng mặt trời đội biển mở ra một không gian huy hoàng, tráng lệ: Mặt trời nhô lên, toản những tia nắng đầu tiên làm cho biển khơi trở nên rực rỡ, ấm áp, lung linh, Màu hồng rực rỡ, tươi vui ấy như lời chào đón của thiên nhiên với những con người lao động cần cù đang trở về đất liền

- Đặc biệt, câu thơ cuối là một liên tưởng, tưởng tượng hết sức độc đáo của nhà thơ:

“Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi”

Biện pháp hoán dụ kết hợp khoa trương diễn tả h/a đoàn thuyền nối đuôi nhau trở về, khoang nào khoang nấy chứa đầy cá Hàng triệu triệu mắt cá phản chiếu ánh mặt trời rực rỡ, lấp lánh huy hoàng trên biển cả Hàng triệu triệu gợn sóng cũng phản chiếu ánh bình minh rực rỡ giống

nh vô vàn mắt cá trên biển khơi Mắt cá huy hoàng nhấp nháy chào mặt trời, hoá thành triệu mặt trời nhỏ, rực rỡ, ấm áp khắp không gian Đó là vẻ đẹp bao là, hùng vĩ, giàu có, ấm no của nhân dân vùng biển

=> Đánh giá: Bằng giọng thơ khỏe khoắn, hình ảnh thơ đẹp tráng lệ, bút pháp lãng mạn khoa

trương cùng ngôn ngữ thơ giàu sức gợi, hai khổ thơ đã dùng lại cảnh kéo lưới và

cuộc đua tài tốc độ giữa đoàn thuyền và mặt trời, giữa con người và

vũ trụ Từ đó, ta thấy được tầm vóc con người trở nên lớn lao, cao rộng trước vũ trụ rộng lớn,

bao la; con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc sống Ta cũng thấy được tình yêu sâu nặng,

sự gắn bó với cuộc sống, với quê hương, đất nước, với con người của nhà thơ Thêm một lần người đọc hiểu rõ hơn sự chuyển mình trong phoang cách thơ HC từ trước đến sau Cách mạng tháng tám: từ một hồn thơ “ảo não” với nỗi “sầu vạn cổ”, nỗi “buồn thiên thu” trước cách mạng trở thành một hồn thơ yêu đời, yêu người

KẾT BÀI: Hai khổ thơ với bức tranh đẹp về cảnh kéo lưới và cảnh đoàn thuyền đánh cá trở

về đã trở thành những mảnh ghép để làm hoàn hảo cho bức tranh về cuộc sống lao động trong

những tháng năm xây dựng cuộc sống mới Bài thơ sẽ còn neo đậu lại mãi trong tâm trí bạn đọc với những cảm xúc mê say trước con người, trước cuộc đời và biển cả quê hương

BẾP LỬA (Bằng Việt)

1 Phân tích/ Cảm nhận đoạn thơ 2,3,4 (dòng hồi tưởng kỉ niệm)

MỞ BÀI: Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Thơ

ông thường trong trẻo, mượt mà, thiên về khai thác những kỉ niệm, uớc mơ tuổi trẻ “Bếp lửa” là bài thơ tiêu biểu cho mạch cảm xúc ấy Những dòng thơ tái hiện lại dòng hồi tưởng kỉ niệm bên

bà đã để lạ trong ta cảm xúc khó quên

Trang 10

THÂN BÀI:

Luận điểm 1: Trước hết, ta thật xúc động trước những kỉ niệm về năm “lên bốn tuổi” của cháu bên bà.

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Vẫn nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

- Giọng thơ trầm buồn, trĩu xuống khi nhắc đến bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945 “đói mòn đói mỏi” Đó là những năm tháng “Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy” Câu thơ tái hiện lại kỉ niệm về một thời đen tối, nghèo khổ Cảnh tượng bà nhóm lửa “khói hun nhèm mắt cháu” và

“khô rạc ngựa gầy” gợi lên cuộc sống thê thảm như thân trâ ngựa của nhân dân ta dưới ách cai trị của thực dân Pháp trước cách mạng tháng tám.Trong những năm tháng đó, cháu được bà chăm sóc, nuôi nấng Mùi khói bếp đã theo cháu suốt cả tuổi thơ Hình ảnh khói bếp được trở đi trở lại dày đặc trong đoạn thơ: “mùi khói”, “khói hun nhèm mắt cháu”, “sống mũi còn cay” Đó không phải là dấu hiệu ấm no mà là dấu hiệu của cuộc sống lầm than, cơ cực, đói nghèo Cái vị cay xè của khói nơi bếp lửa của mái tranh nghèo thuở ấy sẽ mãi mãi bám lấy tâm hồn tuổi thơ của cháu cũng như của bao người Cho dù năm tháng trôi qua nhưng kí ức ấy mãi trở thành một vết thương lòng

Luận điểm 2: Tiếp đến, kỉ niệm về những năm kháng chiến chống Pháp được tái hiện lại đầy xúc động

Luận cứ 1: Qua dòng hồi tưởng, ta thấy được tình cảnh đơn côi và lòng yêu thương sâu nặng bà dành cho cháu

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”

- Đoạn thơ đầy xúc động, nhắc lại những kỉ niệm bên bà về những ngày gian khổ Những năm chiến tranh bom đạn vẫn hằn sâu trong kí ức cháu Suốt tám năm ròng cháu ở cùng bà Mẹ và cha đi kháng chiến không về, cháu được bà chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ suốt cả quãng đờ tuổi thơ Cuộc sống gia đình thật hoang vắng, quạnh hiu, chỉ có hai bà cháu nương tựa vào nhau Đây cũng là hoàn cảnh chung của nhiều gia đình Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp

- Trong tám năm ròng ấy, bà và cháu đã nhen nhóm lên bếp lửa Đó là ngọn lửa của tình yêu thương mà bà đã sưởi ấm tâm hồn đứa cháu từ khi cháu lên bốn tuổi Những năm tháng đó, bà

đã cùng lúc đảm nhiệm cả ba vai trò: làm cha, làm mẹ, làm thầy để chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo ban cháu nên người

“Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”

Ngày đăng: 30/11/2022, 21:59

w