TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MÂU THUẪN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - -
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MÂU THUẪN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Anh Thư
Mã sinh viên: 2211560048
Lớp Anh 01, Kinh doanh số, Khóa 61
Lớp tín chỉ: TRIE114.7
Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Trần Huy Quang
Hà Nội, tháng 11 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Kết cấu tiểu luận 4
I Lý luận phép biện chứng về mâu thuẫn 5
1 Khái niệm về mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn .5
1.1 Khái niệm về mâu thuẫn 5
1.2 Tính chất chung của mâu thuẫn 5
2 Quá trình vận động của mâu thuẫn 5
2.1 Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 5
2.2 Các giai đoạn phát triển của mâu thuẫn 5
3 Ý nghĩa phương pháp luận 6
II Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay .6
1 Kinh tế thị trường và những đặc điểm 6
1.1 Khái niệm 6
1.2 Đặc trưng 7
2 Kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam 8
2.1 Khái niệm 8
2.2 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển KTTT định hướng XHCN 8
III Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay 9
1 Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 9
1.1 Khái niệm về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 9
1.2: Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 10
1.3 Thực trạng mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay 11
2 Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và việc bảo vệ môi trường 12
2.1 Các khái niệm 12
2.2 Mâu thuẫn biện chứng giữa xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc bảo vệ môi trường 12
2.3 Thực trạng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở nước ta 12
3 Đề xuất giải pháp để giải quyết mâu thuẫn 13
3.1 Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 13
3.2 Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3Danh mục chữ viết tắt
XHCN CNXH
QL
DV TBCN KTTT LLSX QHSX NSLD CNH-HĐH CSVC
Xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội Quy luật
Dịch vụ
Tư bản chủ nghĩa Kinh tế thị trường Lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất Năng suất lao động Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
Cơ sở vật chất
Danh mục bảng biểu
Mô hình 1: Lực lượng sản xuất 10
Mô hình 2: Biểu đồ các lĩnh vực sử dụng năng lượng sạch ở VN giai đoạn 2010-2030
……… 13
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hình thành và phát triển của bất kỳ quốc gia nào, đều xuất hiện mâu thuẫn, trong bất kì lĩnh vực tự nhiên, xã hội, hay tư duy con người nào, cũng tồn tại những mâu thuẫn Mâu thuẫn là điều tất yếu và phổ biến trong cuộc sống của chúng
ta Trong hoạt động kinh tế, những mâu thuẫn đó được thể hiện ở mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường,
…
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã giành được nhiều thắng lợi bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong những chuyển biến đó đã đạt được nhiều thành công to lớn, nhưng trong những thành công đó luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới
Với mong muốn tìm hiểu thêm về phép biện chứng mâu thuẫn, cũng như vận dụng kiến thức vào việc phân tích những mâu thuẫn có ảnh hưởng như thế nào đối với
nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, em đã chọn đề tài này Tên đề tài: “Biện
chứng về mâu thuẫn và vận dụng phân tích mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Hiểu rõ hơn về nguyên nhân, quá trình hình thành và phát triển cũng như
thực trạng của những mâu thuẫn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra những hướng giải quyết mâu thuẫn để nền kinh
tế phát triển thuận lợi
Nhiệm vụ nghiên cứu: Chỉ ra những mâu thuẫn, phân tích khách quan về nguyên
nhân, thực trạng và hậu quả của những mâu thuẫn đó, điều đó kìm hãm những phương diện nào của nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay Vận dụng những nền tảng về
lí luận về mâu thuẫn biện chứng và thực tiễn để đưa ra những hướng giải quyết phù hợp và có tính ứng dụng cao
3 Đối tượng nghiên cứu
Một số mâu thuẫn xuất hiện trong nền kinh tế thị trường của nước ta từ khi bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới (1980) cho đến nay
4 Kết cấu tiểu luận
Bài tiểu luận gồm 3 phần chính:
Phần I: Lí luận phép biện chứng về mâu thuẫn
Phần II: Vận dụng phân tích mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay
Phần III: Giải pháp
Trang 5NỘI DUNG
I Lý luận phép biện chứng về mâu thuẫn
1 Khái niệm về mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn
1.1 Khái niệm về mâu thuẫn
Trong phép biện chứng duy vật, mâu thuẫn là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất và đấu tranh, chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau Đây là quan niệm biện chứng về mâu thuẫn,
khác căn bản với quan niệm siêu hình về mâu thuẫn Theo quan niệm siêu hình: Mâu
thuẫn là cái đối lập phản logic, không có sự thống nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập
1.2 Tính chất chung của mâu thuẫn
Tính khách quan và phổ biến: Mâu thuẫn có tính chất khách quan vì nó là cái vốn
có trong sự vật, hiện tượng, là bản chất chung của mọi sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn có tính phổ biến vì nó tồn tại trong tất cả mọi sự vật hiện tượng, mọi giai đoạn, mọi quá trình, tồn tại trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy
Tính đa dạng và phong phú: Tính đa dạng mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Đó là: mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản…Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn với những tính chất khác nhau tạo nên tính đa dạng, phong phú trong sự biểu hiện của mâu thuẫn
2 Quá trình vận động của mâu thuẫn
2.1 Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với
nhau Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ , ràng buộc, không
tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại
Sự thống nhất của các mặt đối lập cũng bao hàm sự đồng nhất của nó
Khái niệm đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại,
bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng
Quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa
chúng Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập diễn ra hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào
tính chất của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử, cụ thể
Theo Lênin: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập, bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”
2.2 Các giai đoạn phát triển của mâu thuẫn
Sự tác động qua lại dẫn đến chuyển hóa giữa các mặt đối lập là một quá trình Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt và phát triển thành hai mặt đối lập Bắt đầu từ sự khác biệt không bản chất, mâu thuẫn sau đó chuyển sang giai đoạn khác biệt bản chất Những khác biệt bản chất trong những điều kiện phù hợp đều phát triển thành sự đối lập Tiếp tục phát triển, chúng chuyển thành các thái cực xung đột với nhau trong một mâu thuẫn “chuyển hóa vào nhau”, bằng cách nào đòi hỏi được giải quyết Sau khi mâu thuẫn được giải quyết, đối tượng chuyển sang trạng thái chất mới và lại hình thành các mâu thuẫn mới.Quá trình đó sẽ
Trang 6luôn diễn ra cùng với sự phát triển và hình thành của sự vật hiện tượng Mâu thuẫn cũ được giải quyết, mâu thuẫn mới được hình thành, làm cho sự vật hiện tượng luôn vận động và phát triển Do đó sự liên hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển trong thế giới
Ví dụ, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản đã hình thành từ thời hợp tác giản đơn nhất, sản xuất công xưởng tồn tại dưới dạng không bản chất giữa hai đối tượng, một bên là thợ cả, bên kia là thợ bạn và thợ học việc Sau một thời gian, người học việc có thể trở thành thợ bạn khi tích lũy đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm, và tương tự, người thợ bạn sau khi
có đủ các điều kiện cần thiết, có thể trở thành thợ cả (chủ xưởng) Tuy nhiên, trong quá trình phát triển sản xuất, trình tự mối quan hệ đó giữa thợ cả, thợ bạn và thợ học việc đã bị thay thế bởi trình tự mới Ở đó, thợ bạn và người học việc sẽ luôn dừng lại ở vị trí người làm thuê Sự khác biệt không bản chất giữa các đối tượng trên đã chuyển hóa sang sự khác biệt bản chất Tiếp đó, sự khác biệt bản chất tiếp tục biến đổi theo thời gian và trở thành sự đối lập Nếu trước đó, thợ cả có thể cùng làm việc với thợ bạn và thợ học việc thì sau này, người thợ cả- chủ xưởng sản xuất sẽ không làm cùng nữa mà đã sống trên lao động của người làm thuê Lợi ích của người chủ và người làm thuê nay đã trở nên đối lập nhau Nếu người làm thuê lao động để được trả tiền lương thì người chủ kiếm tiền nhờ sức lao động đó
Sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển thì mâu thuẫn đó càng gia tăng gay gắt và đạt tới điểm chín muồi, đòi hỏi được giải quyết thông qua cách mạng vô sản (tiêu biểu là cách mạng Tháng 10 Nga 1917 Sau cách mạng, từ giai cấp bị áp bức trở thành giai cấp nắm quyền, còn giai cấp tư sản trở thành giai cấp phục tùng Kết quả là thủ tiêu trạng thái xã hội cũng hình thành trạng thái xã hội mới và chuẩn bị cho những mâu thuẫn mới
Như vậy, mâu thuẫn không hề bất động mà luôn vận động, chuyển hóa từ hình thức thấp lên hình thức cao hơn và ngược lại Mâu thuẫn cũng là nguồn gốc của mọi sự vận động
và phát triển
3 Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận
động, phát triển, do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động và phát triển Lênin cho rằng: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó…đó là thực chất…của phép biện chứng”
- Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và phương pháp giải quyết phù hợp trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất
II Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
1 Kinh tế thị trường và những đặc điểm
1.1 Khái niệm:
Xã hội loài người luôn phát triển từ thấp đến cao, từ hình thái kinh tế ban đầu là kinh tế tự nhiên với đặc trưng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, gia đình hay còn gọi là kinh tế tự cung tự cấp Trải qua thời gian lâu dài, khi lực lượng sản xuất phát triển và có sản phẩm thặng dư, quan hệ trao đổi mua bán sản phẩm xuất hiện và trở nên phổ biến, kinh tế hàng hóa ra đời Tuy nhiên ở giai đoạn này dù xuất hiện các
Trang 7hoạt động trao đổi mua bán nhưng các hoạt động này vẫn mang tính tự phát, chưa theo nguyên tắc thị trường – Kinh tế hàng hóa giản đơn Khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, quan hệ kinh tế được thực hiện thông qua thị trường và quan hệ hàng hóa tiền
tệ phát triển đến một trình độ nhất định, sẽ đạt đến kinh tế thị trường
Như vậy, khái niệm kinh tế thị trường dùng để chỉ trình độ phát triển cao của
kinh tế hàng hóa, được đặc trưng bởi phương thức phân bổ các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế không tuân theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, đó là kiểu tổ chức kinh tế được định đoạt theo cơ chế thị trường – tức cơ chế phân bổ nguồn lực tự do trên thị trường theo nguyên tắc kích thích các nhân tổ sáng tạo trong việc huy động và phát huy các nguồn lực cho quá trình sản xuất và kinh doanh, nhờ đó, cơ chế này có thể huy động được tối đa và sử dụng hiệu quả nhất các lực lượng sản xuất hiện có của
xã hội vào việc tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.2 Đặc trưng
- KTTT đòi hỏi sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, các
chủ thể kinh tế bình đẳng trước pháp luật (nhà nước, tập thể, tư nhân, nước ngoài, liên doanh,…)
- Thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội thông qua hoạt động của các thị trường bộ phận (thị trường DV, thị trường sức lao động, thị trường tài chính,…)
- Giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường cạnh tranh vừa là môi trường thúc đẩy vừa là động lực thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển (QL giá trị,
QL cạnh tranh, QL cung cầu)
- Động lực trực tiếp của các chủ thể sản xuất kinh doanh là lợi ích kinh tế xã hội
+ Chủ thể nhà nước: Lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội
+ Chủ thể doanh nghiệp tư nhân: Lợi ích kinh tế - lợi nhuận
- Nhà nước là chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các quan
hệ kinh tế Nhà nước thực hiện khắc phục những khuyết tật thị trường thúc đẩy các yếu
tố tích cực, đảm bảo sự bình đẳng xã hội và sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế
- Kinh tế thị trường là nền kinh tế mở, thị trường trong nước gắn liền với thị trường quốc tế
Từ những đặc trưng trên, ta rút ra được những ưu và nhược điểm của nền kinh
tế thị trường như sau:
* Ưu điểm: Nhu cầu của người tiêu dùng được tự do thỏa mãn, sự năng động sáng tạo trong sản xuất được thúc đẩy, tránh gây tổn thất lãng phí, tận dụng hiệu quả nguồn lực sẵn có
* Nhược điểm: Bất bình đẳng xã hội, sự phân chia giai cấp, chênh lệch về cung cầu gây ra khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát,…
Bản thân cơ chế thị trường không mang tính giai cấp nhưng việc sử dụng kinh
tế thị trường theo mục đích nào thì lại mang tính giai cấp Trong thời kỳ đổi mới, đã có
sự nhận thức lại về bản chất vai trò của kinh tế thị trường trong quá trình thực hiện con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là một bước phát triển tư tưởng của Lê nin về việc sử dụng kinh tế nhiều thành phần, kinh tế hàng hóa trong tiến trình xây dựng XHCN thời kỳ quá độ
Trang 82 Kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam
2.1 Khái niệm
Sự ưu việt của kinh tế thị trường là động lực để phát triển kinh tế nên phần lớn các quốc gia trên thế giới đều hướng đến việc xây dựng nền kinh tế thị trường Tuy nhiên do sự khác biệt về chính trị, văn hóa, xã hội nên mỗi quốc gia hình thành nên mô hình kinh tế thị trường riêng Ví dụ như nền kinh tế thị trường tự do mới ở Hoa Kỳ, kinh tế thị trường xã hội ở Cộng hòa Liên bang đức hay kinh tế thị trường chủ nghĩa
xã hội ở Trung Quốc…
Ở Việt Nam, sau khi xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, trung thành với mục tiêu tiến lên CNXH, lấy CNXH là cái đích cần hướng tới, bởi vậy chúng ta quyết định chuyển sang nền KTTT định hướng XHCN
Như vậy, kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường đồng thời góp phần hướng tới việc xác lập một xã hội mà ở đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, có sự điều tiết của nhà nước do ĐCS Việt Nam lãnh đạo
Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng đã khẳng định mô hình nền kinh tế ở nước ta trong thời kì quá độ là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN Sự lựa chọn đó bắt nguồn
từ những lợi ích của mô hình này Đó là
- Xã hội hóa, chuyên môn hóa lao động
- Thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động
- Sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi người
- Đào tạo nhiều cán bộ quản lý và lao động có trình độ cao
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử Sự đổi mới ấy thường tới những mục tiêu cụ thể và mang tính cách mạng, đổi mới nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, cả về kinh tế và xã hội Không chỉ vậy, nó còn góp phần bảo vệ và phát triển cũng như khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong một giai đoạn hoàn toàn mới
2.2 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển KTTT định hướng XHCN
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật phát triển khách quan
Kinh tế hàng hóa khi phát triển lên một trình độ nhất định sẽ tất yếu chuyển sang nền kinh tế thị trường Việt Nam ta vốn đã hình thành nền kinh tế hàng hóa từ cuối thời phong kiến đến thời Pháp thuộc đến kháng chiến chống Mỹ Do đó, chúng ta
đã có nền tảng của kinh tế hàng hóa Chúng ta sẵn có những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế hàng hóa: thị trường cung cầu, thị trường lao động, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên Do đó việc hình thành KTTT sẽ là vấn đề tất yếu khách quan
Kinh tế thị trường ở mỗi hình thái KTXH cụ thể sẽ chịu sự chi phối của các QHSX thống trị Trong lịch sử, đã sớm có mô hình KTTT định hướng TBCN- là công
cụ phát triển kinh tế của các nước tư bản, phù hợp với quyền lợi của bộ phận giai cấp thống trị là giai cấp tư sản Việt Nam không phát triển theo con đường TBCN mà theo định hướng đi lên con đường CNXH với hệ tiêu chí: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh là mục tiêu cần hướng tới Sự lựa chọn mô hình kinh tế thị
Trang 9trường định hướng XHCN là phù hợp với xu hướng của thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc
- Kinh tế thị trường có tính ưu việt trong việc thúc đẩy và phát triển kinh tế:
(Dựa vào những đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường như đã đề cập ở mục 1.2)
Nước ta trong thời kỳ quá độ muốn phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất thì phải xã hội hóa, chuyên môn hóa lao động, quá trình ấy chỉ có thể diễn ra một cách thuận lợi trong nền kinh tế thị trường Sản xuất càng xã hội hóa, chuyên môn hóa thì càng đòi hỏi phát triển sự hợp tác và trao đổi kinh tế giữa các đơn vị sản xuất trong xã hội
KTTT là động lực thúc đẩy LLSX phát triển nhanh và hiệu quả cao: cải tiến kỹ thuật công nghệ, nâng cao NSLĐ Sử dụng KTTT là sử dụng quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu, buộc mỗi người sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về hàng hóa do mình làm ra Mỗi người sản xuất đều chịu sức ép và buộc phải quan tâm đến thị hiếu người tiêu dùng và những cải tiến về sản phẩm, từ đó họ mới giữ vững được vị thế của mình trên thị trường và có thu nhập
Từ đó, thị trường sẽ có khả năng đào thải nhanh và nhu cầu nhân lực chất lượng cao ngày càng lớn Theo đó, ngày càng có nhiều cán bộ và người lao động có trình độ sản xuất cao hơn để theo kịp với xu hướng thị trường
Ở nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội dung của công cuộc đổi mới mà hơn thế nữa còn là công cụ, là phương thức để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng CNXH
Tuy KTTT có nhiều điểm ưu việt như thế nhưng cũng gây ra nhiều mặt trái đối với sự vận động của đời sống xã hội Một trong những mục tiêu của phát triển xã hội
là tăng trưởng kinh tế, nó có khả năng tạo ra điều kiện vật chất để giải quyết các vấn
đề xã hội Nhưng tăng trưởng kinh tế không nhất thiết đi đôi với tiến bộ xã hội Do đó,
để thực hiện mục tiêu của chế độ XHCN: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng và nhà nước nhất định phải có những chính sách quản lý sát sao và phù hợp
III Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
1 Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.1 Khái niệm về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất phản ánh mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên trong quá trình sản xuất, nói lên trình độ chinh phục tự nhiên của con người
Lực lượng sản xuất bao gồm 2 bộ phận cơ bản là tư liệu sản xuất và người lao động
Trang 10Mô hình 1
Tạo ra, sử dụng
Mục đích của quá trình người lao động tạo ra, sử dụng tư liệu và đối tượng lao động là tạo ra sản phẩm
Quan hệ sản xuất: là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội)
Quan hệ sản xuất bao gồm:
+ Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất (quan hệ sở hữu): nói lên ai là chủ sở hữu đối với nhà máy, xí nghiệp, các thiết bị, các nguyên nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất
+ Quan hệ trong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất: nói lên ai là người tổ chức, quản
lý và điều hành quá trình sản xuất
1.2: Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất có vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối Do đó nó trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động
Tương ứng với một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có một quan hệ sản xuất phù hợp Sự tác động của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra theo hai hướng, hoặc là tích cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp hoặc tiêu cực, kìm hãm lực lượng sản xuất khi nó không phù hợp Lực lượng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất và phát triển Do đó, để tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển, cần thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mơí phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất tự phát triển phù hợp với lực lượng sản xuất là quy luật kinh tế chung cho sự phát triển cho nền kinh tế-xã hội
LLSX
Tư liệu sản xuất Người lao động
Chủ thể
Tư liệu lao Đối tượng