TÊN ĐỀ TÀISỰ KHÁC NHAU GIỮA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CUỘC CHIẾN CHỐNG COVID-19 HIỆN NAY Tiểu luận cuối kỳ Môn
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI
SỰ KHÁC NHAU GIỮA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM VÀ
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CUỘC CHIẾN CHỐNG COVID-19 HIỆN NAY
Tiểu luận cuối kỳ
Môn học: Triết học Mác Lênin
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 1
3 Phương pháp thực hiện đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: SỰ KHÁC NHAU GIỮA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 3
1.1 Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng3 1.1.1 Phương pháp siêu hình 3
1.1.2 Phương pháp biện chứng 3
1.2 Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng 4
1.2.1 Phép biện chứng tự phát 4
1.2.2 Phép biện chứng duy tâm 6
1.2.3 Phép biện chứng duy vật 7
1.3 Sự khác biệt của phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm trong lịch sử triết học 7
1.3.1 Sự khác nhau những đặc trưng cơ bản 7
1.3.2 Sự khác nhau nội dung của phép biện chứng 11
1.3.3 Sự khác biệt và ảnh hưởng lẫn nhau trong sự hình thành lịch sử triết học 12
Trang 42.1 Dịch COVID đã gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng 142.1.1 Ảnh hưởng của dịch COVID đối với thế giới 142.1.2 Nước ta cũng phải chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch 152.2 Sự khác nhau giữa các phép biện chứng duy tâm và phép biệnchứng duy vật ảnh hưởng đến phương pháp luận và tầm nhìn trong cuộcchiến ngăn chặn Covid-19 152.3 Ý nghĩa sự khác nhau giữa phép biện chứng duy tâm và phép biệnchứng duy vật đối với cuộc chiến chống Covid-19 hiện nay 17PHẦN KẾT LUẬN 18TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại dịch Covid-19 nổ ra trên toàn thế giới trong năm nay là một sự kiện gây ảnhhưởng lớn đến cuộc sống của nhiều người Dịch bệnh đã làm đảo lộn mọi mặtcủa cuộc sống của người dân trên thế giới Thất nghiệp tăng lên, các công ti nhỏ
lẻ rơi vào phá sản, và ảnh hưởng nặng nề nhất là thiệt hại trên một triệu ngườitrên toàn thế giới Tuy nhiên có những quốc gia bị ảnh hưởng ít như khu vực cácquốc gia Đông Nam Á, như Việt Nam vừa có thể ngăn chặn được dịch bệnhđồng thời có thể phát triển kinh tế hợp lý Mặt khác cũng có những quốc giachịu ảnh hưởng nặng nề như Mỹ, Ý, Brazil,… Sự ảnh hưởng của dịch Covid-19
đã làm các quốc gia trì truệ kinh tế, dễ gây biểu tình bạo động và đồng thời sốngười chết cao nhất toàn cầu Để có được sự khác nhau giữa các nước như vậynhờ vào nhiều yếu tố trong đó có sự dẫn dắt lãnh đạo của nhà nước chính phủ,
mà trong đó ta thấy được những chiến lược và tư duy của bộ máy lãnh đạo thểhiện rõ mối quan hệ và sự khác nhau giữa phép biện chứng duy vật và phép biệnchứng duy tâm Vì thế, nhóm em đã chọn đề tài SỰ KHÁC NHAU GIỮA PHÉPBIỆN CHỨNG DUY TÂM VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONGLỊCH SỬ TRIẾT HỌC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CUỘC CHIẾNCHỐNG COVID HIỆN NAY để làm rõ hơn vấn đề này
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu của bài tiểu luận này là tìm hiểu sự khác nhau giữa phép biệnchứng duy vật và phép biện chứng duy tâm trong lịch sử triết học để từ đó tìmđược mối liên hệ cũng như ý nghĩa của nó trong cuộc chiến chống dịch Covid-
19 hiện nay
Để đạt được mục tiêu này, tiểu luận tập trung vào các nhiệm vụ sau:
Trang 6- Trình bày phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật theoquá trình phát triển của lịch sử triết học và so sánh sự khác biệt giữa chúng.
- Từ sự khác biệt đã so sánh trên ta chỉ ra được mối liên hệ giữa chúng vớitình hình phòng chống dịch bệnh Covid-19 trên toàn thế giới và rút ra được ýnghĩa chung
3 Phương pháp thực hiện đề tài
Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một số phươngpháp cụ thể như: lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch…từ đó
so sánh được sự khác nhau giữa phép biện chứng duy tâm và phép biện chứngduy vật trong lịch sử triết học, đồng thời thể hiện ý nghĩa của sự khác nhau đótrong đại dịch Covid-19 hiện nay
Trang 7Phương pháp siêu hình là phương pháp:
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi cácđối tượng khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại, nếu có sự biến đổi thì chỉ là sựbiến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng
Phương pháp siêu hình làm cho con người "chỉ nhìn thấy những sự vậtriêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìnthấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêuvong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy màquên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấyrừng".1
Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượngnào thì việc đầu tiên con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mốiliên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thờigian xác định Tuy vậy phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm
vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp nàyquan niệm
1.1.2 Phương pháp biện chứng
Phương pháp biện chứng là phương pháp:
1 “Lược sử triết học”, Thư viện học liệu mở online của Việt Nam Voer, được truy cập tại đường link:
https://voer.edu.vn/c/giao-trinh-triet-hoc-mac-lenin/9b944484, ngày truy cập 28/12/2020
Trang 8- Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau,ràng buộc nhau.
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynhhướng chung là phát triển Đó là quá trình thay đổi về chất của sự vật, hiệntượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giảiquyết mâu thuẫn hiện hữu bên trong chúng Như vậy phương pháp biện chứngthể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa nhận trong những trường hợp cầnthiết thì bên cạnh cái "hoặc là hoặc là " còn có cả cái "vừa là vừa là "; thừanhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cáikhẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau
Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại Nhờvậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con ngườinhận thức và cải tạo thế giới
1.2 Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng
Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đãqua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sửcủa nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứngduy vật
1.2.1 Phép biện chứng tự phát
Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biệnchứng trong lịch sử triết học Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thốngtriết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Tiêu biểu cho những tưtưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” và “ngũ hànhluận” của Âm dương gia Trong triết học Ấn Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tưtưởng biện chứng là triết học phật giáo, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”,
‘nhân duyên”,… Đặc biệt, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện một cách sâu sắctinh thần của phép biện chứng tự phát Ăngghen viết: “Những nhà triết học HyLạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và Aristote, bộ ócbách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thái
Trang 9căn bản nhất của tư duy biện chứng… Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ,
nhưng xét về thực chất là đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp
cổ đại và lần đầu tiên đã được Heraclite trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đềutồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều khôngngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong”.2 Dẫu thế,những tư tưởng biện chứng đó về căn bản vẫn còn mang tính ngây thơ, chấtphác, tự phát và trừu tượng Ăngghen nhận xét rằng: “Trong triết học này, tưduy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần túy tự nhiên, chưa bị khuấy đục bởinhững trở ngại đáng yêu… Chính vì người Hy Lạp chưa đạt tới trình độ mổ xẻ,phân tích giới tự nhiên, cho nên họ hãy còn quan niệm giới tự nhiên là một
chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thể ấy Mối liên hệ phổ biến giữacác hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh về chi tiết; đối với họ, mối liên
hệ đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp”.3 Phép biện chứng chất phác cổ đạinhận thức đúng về tính biện chứng nhưng bằng trực kiến thiên tài, bằng trựcquan chất phác, ngây thơ, không phải dựa trên những thành tựu phát triển củakhoa học tự nhiên
Từ cuối thế kỷ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đi sâu vàophân tích, nghiên cứu từng yếu tố riêng biệt của thế giới tự nhiên, dẫn tới sự rađời của phương pháp siêu hình Cho đến thế kỷ XVIII, phương pháp siêu hìnhtrở thành phương pháp thống trị trong tư duy triết học và nghiên cứu khoa học.Tuy nhiên, khi khoa học tự nhiên chuyển từ việc nghiên cứu đối tượng riêng biệtsang nghiên cứu quá trình thống nhất của các đối tượng đó trong mối liên hệ thìphương pháp tư duy siêu hình không còn phù hợp mà phải chuyển sang mộthình thức tư duy mới cao hơn là tư duy biện chứng
2 Bộ giáo dục và đào tạo: (2009),Giáo trình Những Nguyên lý Cơ bản của Chủ nghĩa Mác Leenin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 20.
3 Nguyễn Linh An, “Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng”, Hoa Tiêu, được truy cập
tại đường link: https://hoatieu.vn/phep-bien-chung-va-cac-hinh-thuc-co-ban-cua-phep-bien-chung-171701, ngày 28/12/2020.
Trang 101.2.2 Phép biện chứng duy tâm
Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Kant và hoànthiện ở Hegel Theo Ăngghen: “Hình thức thứ hai của phép biện chứng, hìnhthức quen thuộc nhất với các nhà khoa học Đức, là triết học cổ điển Đức, từKant đến Hegel”.4
Các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhấtcủa phép biện chứng duy tâm một cách có hệ thống Tính chất duy tâm trongtriết học Hegel biểu hiện ở chỗ ông coi biện chứng là quá trình phát triển khởiđầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứngkhách quan Theo Hegel, “ý niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “thahóa” thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần “Tinhthần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản saochép của ý niệm” Các nhà triết học duy tâm Đức, mà đỉnh cao nhất là Hegel, đãxây dựng phép biện chứng duy tâm với hệ thống phạm trù, quy luật chung, cólogic chặt chẽ của ý thức, tinh thần Lênin cho rằng: “Hegel đã đoán được mộtcách tài tình biện chứng của sự vật trong biện chứng của khái niệm” 5Ăngghencũng nhấn mạnh tư tưởng của Mác: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đãmắc phải trong tay Hegel tuyệt nhiên không ngăn cản Hegel trở thành người đầutiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chungcủa phép biện chứng Ở Hegel, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất.Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng saucái vỏ thần bí của nó”.6
4 Bộ giáo dục và đào tạo: (2009),Giáo trình Những Nguyên lý Cơ bản của Chủ nghĩa Mác Leenin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 21.
5 Bộ giáo dục và đào tạo: (2009),Giáo trình Những Nguyên lý Cơ bản của Chủ nghĩa Mác Leenin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 21.
6 Bộ giáo dục và đào tạo: (2009),Giáo trình Những Nguyên lý Cơ bản của Chủ nghĩa Mác Leenin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 21.
Trang 11Tính chất duy tâm trong phép biện chứng cổ điển Đức, cũng như trongtriết học Hegel là hạn chế cần phải vượt qua Mác và Ăngghen đã khắc phục hạnchế đó để sáng tạo nên phép biện chứng duy vật Đó là giai đoạn phát triển caonhất của phép biện chứng trong lịch sử triết học, là sự kế thừa trên tinh thần phêphán đối với phép biện chứng cổ điển Đức.
có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triếthọc duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịchsử”.7
1.3 Sự khác biệt của phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm trong lịch sử triết học
1.3.1 Sự khác nhau những đặc trưng cơ bản
Phép biện chứng duy tâm của chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức đặc biệt nổi trội và hoàn thiện là tư tưởng của Hegel.
Tư tưởng về nguồn gốc thế giới:
- Hegel là nhà duy tâm khách quan, ông cho rằng khởi nguyên của thếgiới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới”.Ông coi tinh thần thế giới là cái có trước, vật chất với tính cách dường như là sự
7 Bộ giáo dục và đào tạo: (2009),Giáo trình Những Nguyên lý Cơ bản của Chủ nghĩa Mác Leenin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 21.
Trang 12thể hiện, sự biểu hiện cụ thể của tinh thần thế giới, là cái có sau; tinh thần làđấng sáng tạo ra vật chất Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kếtquả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Tinh thần thế giới – ýniệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn và chứa đựng dưới dạng tiềm năng tất cả củamọi hiện tượng tự nhiên và xã hội Nó là nguồn gốc và động lực của mọi hiệntượng tự nhiên và xã hội.
- Tinh thần thế giới hay ý niệm tuyệt đối trong quá trình phát triển của nódiễn ra qua các giai đoạn khác nhau, ngày càng thể hiện đầy đủ nội dung bêntrong nó Đầu tiên nó phát triển trong bản thân nó, sau đó thể hiện dưới hìnhthức tự nhiên – thế giới vô cơ, hữu cơ và con người, tiếp nữa thể hiện dưới hìnhthức nhà nước, nghệ thuật, tôn giáo và triết học Theo hệ thống của Hegel, toàn
bộ thế giới muôn màu, muôn vẻ là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên của ýniệm với tính cách là lực lượng sáng tạo, là tổng hòa của mọi hình thức khácnhau của sự biểu hiện ý niệm Bởi vậy, học thuyết của Hegel coi tính thứ nhất làtinh thần, tính thứ hai là vật chất do ý niệm tuyệt đối và tinh thần thế giới sinh ra
và quyết định, là một sự “tồn tại” khác của tinh thần sau khi trải qua giai đoạn
“tồn tại khác” ấy, ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giới mới trở lại “bản thânmình” và đó là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng, được Hegel gọi là “tinhthần tuyệt đối” Đó cũng chính là sự thể hiện riêng về mặt triết học những lờikhẳng định của tôn giáo rằng Thượng đế sáng tạo ra thế giới
- Có thể nói, trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, Hegel chỉlặp lại những điều mà các nhà duy tâm trước đó đã nói, song cái mới trong họcthuyết của ông chính là chỗ ông xem xét tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối làmột quá trình phát triển không ngừng, và ông là một nhà triết học hoàn chỉnhphép biện chứng duy tâm, phép biện chứng của ý niệm tuyệt đối, tinh thần thếgiới với tính cách là cơ sở đầu tiên và nguồn gốc của mọi tồn tại
Tư tưởng về biện chứng của Hegel:
- Thành tựu lớn nhất của nền triết học cổ điển Đức là phép biện chứng.Phép biện chứng duy tâm khách quan của triết học cổ điển Đức bắt đầu từ Kant,
Trang 13qua Fichte, Schelling và đỉnh cao là Hegel.
- Theo Hegel, triết học là sự xem xét đối tượng một cách có suy nghĩ Đốitượng của triết học, theo ông, là trùng với đối tượng của tôn giáo, đó là kháchthể tuyệt đối vô hạn Thượng đế Còn tư duy nói chung là cái làm cho con ngườikhác động vật Thành tựu quan trọng về triết học Hegel là phương pháp biệnchứng mà hạt nhân hợp lý của nó là tư tưởng về sự phát triển
- Phương pháp biện chứng của Hegel là phương pháp suy ngẫm về thếgiới Kết quả của phương pháp này là hình ảnh suy tư chỉnh thể về thế giới chứkhông phải là bức tranh thế giới thu được nhờ kết quả của khoa học cụ thể Đểsuy ngẫm về thế giới, Hegel đã bao trùm lên nó một hệ thống phạm trù hay đúnghơn là quan niệm lý trí về thế giới Phương pháp biện chứng được thể hiệnxuyên qua toàn bộ hệ thống triết học của ông từ logic học, triết học tự nhiên đếntriết học tinh thần
- Trong tác phẩm Logic học, khi trình bày “ý niệm tuyệt đối” vận động vàphát triển, Hegel cho rằng đó là sự tự vận động nội tại của “ý niệm tuyêt đối”
Tự vận động tức là sự thay đổi các hình thức khác nhau của “ý niệm tuyệt đối”.Lenin tìm thấy hạt nhân hợp lý trong phương pháp biện chứng của Hegel là sự
tự vận động Nội dung hợp lý sâu sắc trong quan điểm trên của Hegel là mối liên
hệ tất yếu, là nguồn gốc nội tại của những sự khác nhau Khi trình bày “ý niệmtuyệt đối” phát triển, Hegel thừa nhận tồn tại, bản chất, khái niệm là ba sự quyđịnh, ba hình thức chủ yếu trong quá trình phát triển ở lĩnh vực logic Hạt nhânhợp lý trong logic của Hegel là sự phù hợp với quá trình suy nghĩ của con người:mới nhìn vào sự vật thấy tồn tại, đi sâu vào sự vật tìm ra bản chất, khi nắm bảnchất ta rút ra khái niệm
- Trong tác phẩm Logic học, ở phần tồn tại, Hegel cũng đã diễn đạt cácphạm trù chất, lượng, độ và tư tưởng biện chứng về sự chuyển hóa lượng – chất
Ở phần bản chất, Hegel diễn đật các phạm trù bản chất, hiện tượng, quy luật,khả năng và hiện thực, nguyên nhân và kết quả, trình bày học thuyết mâu thuẫn