Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp, vì vậy yêu cầu phải mở rộng quan hệ đối ngoại, trước hết là phát triển kinh tế đối ngoại nhằm tranh thủ các nguồn lực từ bê
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
……….o0o………….
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG
DUY VẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên : Trần Nguyễn Tuấn Bách : 2213530008
Số thự tự Lớp tín chỉ
Giảng viên hướng dẫn
: 7 : TRIH114
: TS Đào Thị Trang
Hà Nội,2022
Trang 2Mục lục
I TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 3
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục đích của bài tiểu luận 3
II CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1 Phương pháp biện chứng duy vật 4
2.2 Quan điểm toàn diện của phép biện chứng duy vật 4
2.3 Khái niệm kinh tế đối ngoại 6
2.4 Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại 6 2.5 Vai trò của kinh tế đối ngoại 6
III CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
3.1 Hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới 8 3.2 Những thành tựu đã đạt được 10
3.3 Giải pháp 12
3.3.1 Mô hình chính phủ kiến tạo, liêm chính, vì nhân dân phục vụ 12 3.3.2 Thách thức trong việc xây dựng mô hình chính phủ kiến tạo, liêm chính, phục vụ nhân dân 12
IV KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3I TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài.
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp, vì vậy yêu cầu phải mở rộng quan hệ đối ngoại, trước hết là phát triển kinh tế đối ngoại nhằm
tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển đất nước Phát triển kinh tế đối ngoại trở thành một trong những định hướng lớn của nền kinh tế nước ta
Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những
không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra.Vì vậy,đất nước ta phải luôn kiên định, tin tưởng vào
sự thành công của công cuộc xã hội chủ nghĩa vĩ đại Xuất phát từ nhận thức trên,
và từ việc bản thân đang học tập, nghiên cứu môn Triết học, em lựa chọn đề tài
“Vận dụng phép biện chứng duy vật trong hoạt động kinh tế đối ngoại”.
1.2 Mục đích của bài tiểu luận
Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lí luận và thực
tiễn, phân và tích tổng hợp, bài tiểu luận này sẽ nhằm giúp bạn đọc
hiểu thêm về thành tựu cũng như hạn chế, nguyên nhân cũng như
giải pháp cho hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay.
Do sự hiểu biết và vận dụng lý luận của Mác – Lê-nin còn hạn chế nên bài tiểu luận này của em không tránh khỏi những sai sót Kính mong quý thầy cô giúp
đỡ, đóng góp ý kiến để em hoàn thành bài tiểu luận này.
Trang 4II CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Phương pháp biện chứng duy vật.
Phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp tổng quát của triết học Mác
- Lênin; là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa trong lịch sử phát triển của phương pháp biện chứng từ thời cổ đại và được bổ sung bởi những thành tựu của khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội và thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới từ giữa thế kỷ XIX
Phương pháp biện chứng duy vật dựa trên phép biện chứng duy vật - khoa học về
những quy luật vận động và phát triển phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy; là học thuyết tổng quát nhất về sự phát triển.
2.2 Quan điểm toàn diện của phép biện chứng duy vật.
Tuy nhiên, theo V.I.Lênin: “Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần
thiết phải xem xét tất cả mọi vật sẽ đề phòng cho chúng ta
không phạm sai lầm và sự cứng nhắc” Sở dĩ chúng ta
không làm được điều đó một cách đầy đủ là với hai lý do:
Một là, sự vật trong quá trình tồn tại phải trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau, trong mỗi giai đoạn tồn tại và phát triển không phải bao giờ sự vật cũng bộc
lộ tất cả các mối quan hệ và liên hệ của nó cũng như các quan hệ
của sự vật với các sự vật khác, hơn nữa tất cả những mối quan hệ
và liên hệ ấy chỉ được biểu hiện ra trong những điều kiện nhất định.
Hai là, bản thân chúng ta - những chủ thể nhận thức - những phẩm chất và năng lực của chúng ta luôn bị chế ước bởi những điều kiện xã hội lịch sử, do đó không bao giờ có thể bao quát được hết những mối liên hệ và quan hệ của sự vật với các sự vật khác.Ví dụ, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà
Trang 5chúng ta đang thực hiện còn sơ khai, các yếu tố của thị trường mới được tạo lập
chưa đồng bộ, các quan hệ thị trường đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, còn đang biến động, do đó, nhận thức về kinh tế thị trường của chúng ta còn chưa đầy đủ Do đó quan điểm toàn diện cần gắn chặt với quan điểm lịch sử-cụ thể.
Tuy nhiên về mặt nguyên tắc, trong những điều kiện cho phép, cần phải nắm được thông tin đầy đủ nhất về sự vật để
có nhận thức toàn diện nhất và đúng đắn nhất về sự vật.
Như vậy xem xét toàn diện nhưng không bình quân dàn đều mà có trọng tâm, trọng điểm; phải tìm ra vị trí từng mặt, từng yếu tố, từng mối liên hệ
ấy trong tổng thể của chúng; phải từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên
hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái chủ yếu nhất, bản chất nhất, quan trọng nhất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật.
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện Quan điểm phiến diện chỉ
thấy một mặt mà không thấy mặt khác, hoặc giả chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét tràn lan, dàn đều, không thấy được bản chất của sự vật Quan điểm này cuối
cùng rơi vào thuật nguỵ biện và chủ nghĩa chiết trung Chủ nghĩa chiết trung cũng
tỏ ra chú đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật nhưng lại không biết
cách rút ra mặt bản chất, mối liên hệ căn bản của sự vật, xem xét mộtcách bình quân, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, tạo thành một mớ
hỗn tạp các sự kiện, cuối cùng sẽ lúng túng, mất phương
hướng và bất lực trước chúng.
Từ nguyên tắc toàn diện trong nhận thức, chúng ta đi đến nguyên tắc đồng bộ trong hoạt động thực tiễn Nguyên tắc này đòi hỏi muốn cải tạo sự vật, hiện tượng
phải áp dụng đồng bộ một hệ thống các biện pháp, các phương tiện khác nhau để
tác động làm thay đổi các mặt, các mối liên hệ tương ứng của sự vật Song trong
Trang 6từng bước, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu trọng tâm,
then chốt Nghĩa là phải kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách
dàn đều” và “chính sách có trọng điểm” trong cải tạo sự vật.
2.3 Khái niệm kinh tế đối ngoại
Kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế giữa hai hay nhiều
nước, là tổng thể quan hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế.
Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc tế,
là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia này với các quốc gia khác hoặc với các tổ chức kinh tế quốc
tế, được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên
cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế 2.4 Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Sau Chiến tranh lạnh, hội nhập quốc tế trở thành một xu thế vừa khách quan, vừa chủ quan đối với các quốc gia - dân tộc Các quốc gia - dân tộc đều có những mục đích cụ thể khác nhau trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nhưng hội nhập là yêu cầu chung Vì vậy, hội nhập quốc tế là vấn đề tất yếu và cấp bách đối với các quốc gia Để hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế, tất yếu phải đẩy
mạnh và phát triển kinh tế đối ngoại.
Do tính chất quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự phát triển lực lượng sản xuất ngày càng mạnh mẽ, phân công lao động và trao đổi nhanh chóng vượt khỏi phạm
vi quốc gia, chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất trở thành yêu cầu của sự phát triển nên mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại trở thành xu hướng tất yếu và
có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
2.5 Vai trò của kinh tế đối ngoại.
Trước hết , phát triển kinh tế đối ngoại góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi quốc tế, nối liền thị trường trong nước với thị
Trang 7trường thế giới và khu vực Hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần đẩy mạnh quá trình đổi mới và mở cửa hội nhập quốc tế, là phương thức hữu hiệu và cầu nối quan trọng trong việc đưa hàng hóa của các quốc gia thâm nhập vào thị trường nước ngoài; là điều kiện quan trọng để quốc gia tiếp cận và hợp tác với nhiều quốc gia khác, nhiều tổ chức khu vực và quốc tế, các trung tâm kinh tế, công nghệ thế giới; góp phần nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy thị trường trong nước tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu.
Thứ hai, hoạt động kinh tế đối ngoại thúc đẩy thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA), chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại phục vụ phát triển kinh tế đất nước Thông qua kinh tế đối ngoại, chính phủ các nước tăng cường hoàn thiện pháp luật, chính sách đầu tư, kết cấu hạ tầng kinh tế nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn, thúc đẩy hợp tác kinh tế với các quốc gia, các tổ chức quốc tế.
Thứ ba, hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần tích lũy vốn phục vụ phát triển đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển từ một nước nông nghiệp lạc hậu Nhờ nguồn vốn FDI, ODA và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII), tình trạng thiếu vốn của các nước đang phát triển được điều hòa, các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đóng góp quan trọng cho nguồn thu ngân sách thông qua nộp thuế, góp phần gia tăng nguồn vốn đầu tư xã hội, thúc đẩy hình thành vòng tuần hoàn phát triển của kinh tế đất nước.
Thứ tư, hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo
ra nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Không chỉ tạo ra nhiều ngành nghề sản xuất mới, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở trong nước, hoạt động kinh tế đối ngoại còn thúc đẩy xuất khẩu lao động, thu hút khách du lịch nước ngoài mang lại lợi ích trước mắt và
lâu dài.
III CƠ SỞ THỰC TIỄN.
Trang 83.1 Hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam trong từng thời kỳ cách mạng luôn thực hiện đường lối đối ngoại và kinh tế đối ngoại linh hoạt, sáng tạo để góp phần phát triển kinh tế, xây dựng đất nước Trong giai đoạn 1945 - 1986, Đảng lãnh đạo dân tộc Việt Nam
thực hiện cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc (1945 - 1954), đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955 - 1975), xây dựng
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước (1976-1986) Đảng thực hiện đường lối phát triển kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, bao cấp; kinh tế đối ngoại chủ yếu diễn ra trong khối các nước xã hội chủ nghĩa trên tinh thần viện trợ dựa theo nguyên tắc hàng đổi hàng
Đại hội VI (năm 1986) của Đảng đã khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trước hết thực hiện đổi mới về kinh tế, đưa ra quan điểm đổi mới kinh tế
đi đôi với đổi mới về chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm, xác định vai trò và
vị trí quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại trong nền kinh tế quốc dân Chủ trương sử dụng tốt khả năng thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật với bên ngoài; thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, mở rộng, nâng cao hiệu quả đối ngoại, đẩy mạnh công tác đổi mới chính sách và cơ chế xuất, nhập khẩu để phát triển kinh tế đất nước Đây là một chủ trương mới về kinh tế đối ngoại của
Đảng, là cơ sở quan trọng cho những chính sách kinh tế tiếp theo.
3.2 Những thành tựu đã đạt được.
Từ khi tiến hành đổi mới, kinh tế Việt Nam có bước phát triển mới Trong 20 năm đầu (1986 - 2006), bước đầu hình thành các ngành sản xuất hướng về xuất khẩu, xuất hiện hai mặt hàng xuất khẩu quan trọng làm thay đổi đáng kể cán cân thương mại là dầu thô và gạo, lần đầu tiên có dự trữ ngoại tệ (tuy không lớn), thu hút được vốn FDI của nước ngoài Từ năm 1989, Việt Nam thực hiện chính sách tự
do hóa thương mại, mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu và cải thiện cán cân
Trang 9thương mại Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI trong GDP tăng dần từ 13,3% năm 2000 lên 13,8% năm 2001, 16% năm 2005, 17,1% năm 2006; tiến hành hợp tác khoa học, kỹ thuật và chuyển giao công nghệ với nhiều nước trên thế giới; hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ đạt được nhiều thành tựu nổi bật.
Định hướng phát triển kinh tế đối ngoại trên đã đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần đưa kinh tế nước ta vượt qua ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế, tiếp tục phát triển, trở thành điểm sáng ở khu vực và trên thế giới Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006 - 2019 của Việt Nam đạt 6,26% (bình quân thế giới là 3,69%), quy mô GDP từ 66,4 tỷ USD năm
2006 tăng lên 261,6 tỷ USD năm 2019, GDP theo đầu người từ 797 USD năm 2006 tăng lên 1.154 USD năm 2008, đưa Việt Nam bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình, năm 2019 đạt 2.740 USD.
Đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 189 nước (trong đó có 3 đối tác chiến lược toàn diện, 13 đối tác chiến lược, 14 đối tác toàn diện) và có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn trên thế giới, có quan hệ thương mại với 224 đối tác, trong đó có hơn 70 nước là thị trường xuất khẩu của ta, có quan hệ hợp tác với hơn 500 tổ chức quốc tế; đã ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều hiệp định hợp tác khác với các nước và tổ chức quốc tế.
Các lĩnh vực kinh tế đối ngoại đạt kết quả rất ấn tượng, dòng vốn FDI vào Việt Nam tuy có nhiều biến động nhưng tổng vốn có xu hướng tăng lên theo thời gian, tính đến ngày 20-2- 2020, có 31.434 dự án còn hiệu lực của 136 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký đạt 370 tỷ USD (vốn thực hiện đạt khoảng 50%), trong đó chủ yếu đầu tư vào ngành công nghiệp chế tạo, chế biến (58,5%), bất động sản (15,9%), điện, khí, nước, điều hòa (7,5%), dịch vụ ăn uống, lưu trú (3,3%) và từ
Trang 10các nền kinh tế lớn trong khu vực như Hàn Quốc (18,5%), Nhật Bản (16,1%), Xin-ga-po (14,6%), phần lớn vốn chưa giải ngân của thời kỳ trước được chuyển tiếp sang thực hiện của giai đoạn 2016 - 2020.
Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân
3.3 Giải pháp.
3.3.1 Mô hình chính phủ kiến tạo, liêm chính, vì nhân dân phục vụ.
Kinh nghiệm phát triển của các nước trên thế giới và thực tiễn của Việt Nam cho thấy, trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, không một quốc gia nào muốn phát triển lại có thể đứng ngoài xu hướng hội nhập; để đạt mục tiêu phát triển, chính phủ đóng vai trò rất quan trọng, có lúc mang tính quyết định.
Để tiếp tục quản lý, điều hành nền kinh tế hiệu quả, phát triển bền vững, đúng hướng theo mục tiêu Đại hội XII của Đảng xác định, điều kiện tiên quyết, cấp
bách hiện nay là, đẩy mạnh xây dựng một chính phủ “liêm chính và hành động”, chính phủ thực sự là “của dân, do dân và vì dân”; khắc phục triệt để
và xóa bỏ những yếu kém của bộ máy hành chính nước ta trong quản lý và điều hành kinh tế thời gian qua, thể hiện qua sự cồng kềnh và chồng chéo
về chức năng, nhiệm vụ của bộ máy từ Trung ương đến địa phương, tính minh bạch và hiệu quả thực thi chính sách chưa cao, tình trạng tham nhũng, lãng phí ở mức báo động, công tác phối hợp kém hiệu quả.
Từ những năm 1980, khi nghiên cứu về sự phát triển kinh tế “thần kỳ” của Nhật Bản, Cha-mơ Giôn-xơn đã đưa ra thuật ngữ chính phủ kiến tạo phát triển, nhà nước kiến tạo phát triển Cha-mơ Giôn-xơn chỉ ra có ba mô hình chính phủ là: chính phủ điều chỉnh (chính phủ của các nước theo mô hình thị trường tự do, tiêu biểu là Mỹ); chính phủ kế hoạch hóa tập trung, quan liêu (chính phủ của các nước phủ nhận
vai trò của thị trường, tiêu biểu là Liên Xô) và chính phủ kiến tạo phát triển (chính