1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THUYẾT MINH QUY HOẠCH THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG THỜI KỲ 2021 - 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 205

361 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuyết minh quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Trường học Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự
Chuyên ngành Quy hoạch khoáng sản, Vật liệu xây dựng
Thể loại Dự thảo quy hoạch
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 361
Dung lượng 4,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết lập quy hoạch Công tác lập quy hoạch QH nói chung và quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng VLXD nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của quả

Trang 1

BỘ XÂY DỰNG

THUYẾT MINH QUY HOẠCH

THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG THỜI KỲ

2021 - 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050

HÀ NỘI, THÁNG 9 NĂM 2022

DỰ THẢO

Trang 2

BỘ XÂY DỰNG

THUYẾT MINH QUY HOẠCH

THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG THỜI KỲ

2021 - 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050

CƠ QUAN CHỦ TRÌ CƠ QUAN TƯ VẤN

HÀ NỘI, THÁNG 9 NĂM 2022

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Sự cần thiết lập quy hoạch 6

2 Các căn cứ pháp lý lập quy hoạch 7

3 Tên, phạm vi và kỳ quy hoạch 10

4 Quan điểm, nguyên tắc và mục tiêu lập quy hoạch 11

5 Các phương pháp lập quy hoạch 14

PHẦN 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC QUY HOẠCH THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG 16

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG 16

1.1 Đặc điểm tự nhiên và tổng quan tài nguyên thiên nhiên khu vực phân bố khoáng sản làm VLXD 16

1.2 Tổng quan đặc điểm phân bố tài nguyên thiên nhiên tại các vùng 27

1.3 Đặc điểm phân bố tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng 31

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG 39

2.1 Khái quát về tài nguyên các loại khoáng sản làm VLXD trên thế giới 39

2.2 Tiềm năng tài nguyên các loại khoáng sản làm VLXD ở Việt Nam đã điều tra, khảo sát, thăm dò 46

2.3 Lập bản đồ phân bố tài nguyên khoáng sản 49

CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG 51

3.1 Đánh giá hiện trạng hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, tiềm năng khoáng sản làm vật liệu xây dựng 51

3.2 Đánh giá hiện trạng hoạt động khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng 59 3.3 Đánh giá hiện trạng hoạt động chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng 62

3.4 Đánh giá về tình hình sử dụng tài nguyên khoáng sản làm VLXD 76

3.5 Lập bản đồ hiện trạng trên nền bản đồ hành chính quốc gia 88

CHƯƠNG 4 HIỆN TRẠNG VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 90

4.1 Các vấn đề môi trường phát sinh trong công tác thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD 90

Trang 4

4.2 Hiện trạng công tác bảo vệ môi trường trong các hoạt động khai thác, chế

biến và sử dụng của từng nhóm/loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng 93

4.3 Tình hình chấp hành pháp luật về công tác bảo vệ môi trường 95

4.4 Đánh giá về kết quả đã đạt được, còn tồn tại và hạn chế 106

CHƯƠNG 5 HIỆN TRẠNG VỀ CÔNG NGHỆ, NGUỒN NHÂN LỰC, HẠ TẦNG GIAO THÔNG, CUNG CẤP ĐIỆN, CUNG CẤP NƯỚC, CẢNG BIỂN VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG ĐẤT 108

5.1 Công nghệ thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng 108

5.2 Nhân lực trong thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng 136

5.3 Đánh giá thực trạng đầu tư, khoa học và công nghệ, lao động và các nguồn lực phát triển khác trong lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản 139

5.4 Tình hình đáp ứng hạ tầng giao thông, cung cấp điện, cung cấp nước, cảng biển và sử dụng đất 143

CHƯƠNG 6 ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC QUY HOẠCH KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRƯỚC NĂM 2021 152

6.1 Hiện trạng quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng 152

6.2 Kết quả thực hiện kỳ quy hoạch khoáng sản trước năm 2021 154

6.3 Các vấn đề về tranh chấp, chồng lấn, vướng mắc của quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng với các quy hoạch khác 155

6.4 Các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân 165

6.5 Bài học kinh nghiệm 169

PHẦN 2 ĐÁNH GIÁ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN, SỬ DỤNG 172

CHƯƠNG 7 TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐẾN CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ - XÃ HỘI 172

7.1 Tác động đến phát triển kinh tế - xã hội 172

7.2 Tác động đến quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự xã hội 175

7.3 Tác động đến nguồn tài nguyên thiên nhiên khác 175

7.4 Tác động đến môi trường, đa dạng sinh học, cảnh quan, dịch vụ hệ sinh thái 178

7.5 Tác động của các sự cố môi trường do thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng các nhóm/loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng 200

7.6 Tác động đến quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông, điện, nước 201

Trang 5

7.7 Tác động của tiến bộ khoa học, công nghệ 209

CHƯƠNG 8 CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐẾN HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG 215

8.1 Các chủ trương, chính sách định hướng phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường, quy định pháp luật có liên quan 215

8.2 Tác động của phát triển kinh tế-xã hội tới nhận thức của cộng đồng về bảo vệ và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản 216

8.3 Tác động của tiến bộ khoa học công nghệ tới việc thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng tài nguyên khoáng sản 222

8.4 Một số giải pháp cần tiếp tục hoàn thiện 225

PHẦN 3 QUY HOẠCH THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN, SỬ DỤNG CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050 228

CHƯƠNG 9 DỰ BÁO NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG TRONG KỲ QUY HOẠCH 228

9.1 Dự báo nhu cầu sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng 228

9.2 Phân tích các dự báo và khả năng đáp ứng trong kỳ quy hoạch 236

CHƯƠNG 10 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG CÁC NHÓM/LOẠI KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRONG KỲ QUY HOẠCH 241

10.1 Quan điểm 241

10.2 Mục tiêu tổng quát 244

10.3 Mục tiêu cụ thể 244

CHƯƠNG 11 PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG KHOÁNG SẢN LÀM VLXD TRONG KỲ QUY HOẠCH; KHOANH ĐỊNH KHU VỰC CẤM, KHU VỰC HẠN CHẾ, KHU VỰC KHUYẾN KHÍCH THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG 248

11.1 Xây dựng các đề xuất quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng 248

11.2 Tổng hợp và lựa chọn các kịch bản phát triển tối ưu theo từng giai đoạn 266 11.3 Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng 270

Trang 6

11.4 Xác định khu vực cấm, khu vực hạn chế, khu vực khuyến khích thăm dò,

khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng 295

11.5 Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư các dự án 312

CHƯƠNG 12 ĐỊNH HƯỚNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ HẠ TẦNG CƠ SỞ 316

12.1 Định hướng phát triển khoa học và công nghệ 316

12.2 Định hướng phát triển đồng bộ hạ tầng cơ sở 319

CHƯƠNG 13 ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG 324

13.1 Dự báo và đề xuất biện pháp ngăn ngừa các nguy cơ suy thoái, ô nhiễm môi trường, những tác động tiêu cực lên khu vực cộng đồng dân cư do hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản gây ra 324

13.2 Đề xuất các biện pháp phục hồi môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu 340

13.3 Đề xuất các biện pháp áp dụng tiến bộ KHCN nhằm nâng cao hiệu quả và giảm thiểu tác động tiêu cực 343

13.4 Định hướng và kiến nghị về bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện Quy hoạch 346

PHẦN 4 GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 350

1 Giải pháp về cơ chế, chính sách 350

2 Giải pháp tài chính, đầu tư 351

3 Giải pháp khoa học, công nghệ, môi trường 351

4 Giải pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng 352

5 Giải pháp về đào tạo, tăng cường năng lực 352

6 Giải pháp về hợp tác quốc tế 352

7 Giải pháp về tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch 353

8 Khả năng cân đối nguồn lực thực hiện quy hoạch 355

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 357

1 KẾT LUẬN 357

2 KIẾN NGHỊ 358

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết lập quy hoạch

Công tác lập quy hoạch (QH) nói chung và quy hoạch thăm dò, khai thác

và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng (VLXD) nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước, là cơ sở để cấp phép hoạt động khoáng sản, quản lý việc khai thác, chế biến khoáng sản làm VLXD phù hợp với tiềm năng của từng loại khoáng sản, từng giai đoạn phát triển của đất nước trong xu thế hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, đảm bảo phát triển ngành VLXD hiệu quả và bền vững Các khoáng sản làm VLXD đã được tổng hợp và quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng tại 03 Quy hoạch, và đã được Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương phê duyệt tại 05 Quyết định1, gồm:

- Quyết định số 152/QĐ-TTg ngày 28/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020;

- Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt bổ sung Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020;

- Quyết định số 105/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm nguyên liệu xi măng ở Việt Nam đến năm 2020;

- Quyết định số 1065/QĐ-TTg ngày 09/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ

về việc Phê duyệt Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và

sử dụng khoáng sản làm xi măng ở Việt Nam đến năm 2020;

- Quyết định số 47/2008/QĐ-BCT ngày 17/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng nhóm khoáng chất nguyên liệu đá vôi trắng (đá hoa), felspat, cao lanh và magnezit đến năm 2015, có xét đến năm 2025;

Các QH khoáng sản nêu trên đã góp phần đáng kể trong việc định hướng các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản, xây dựng các nhà máy sản xuất VLXD gắn với nguồn nguyên liệu; góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp VLXD, đáp ứng yêu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội và quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta trong thời gian qua

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện các Quy hoạch nêu trên đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, như: Một số thông tin về vị trí, tọa độ,

1 Không tính các QĐ, VB được các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận bổ sung vào các QH đơn lẻ trong suốt kỳ QH vừa qua

Trang 9

diện tích, địa danh và tiềm năng khoáng sản làm VLXD chưa đầy đủ; Kỳ quy hoạch, diện tích, quy mô, công suất có nơi không còn phù hợp; Một số khu vực khoáng sản (như đá trắng, sét xi măng, cát trắng, ) đã được quy hoạch/cấp phép nay thuộc vào vùng cấm/tạm cấm HĐKS hay có sự chồng lấn với các quy hoạch KTXH khác (như khu đô thị, khu công nghiệp, du lịch sinh thái,…) hay bị khoanh định đưa vào đối tượng rừng tự nhiên theo quy định pháp luật về lâm nghiệp và không thể thực hiện theo Chỉ thị số 13-CT/CT ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Công tác phối hợp giữa các cơ quan về quản lý đầu

tư, quản lý khoáng sản, quản lý sản xuất sản phẩm VLXD chưa thực sự đồng bộ

Theo quy định của Luật Quy hoạch (được Quốc hội Khóa 14 thông qua tại

Kỳ họp 4 ngày 24/11/2017 và có hiệu lực từ 01/01/2019), Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thuộc nhóm quy hoạch ngành quốc gia thuộc lĩnh vực sử dụng tài nguyên thuộc đối tượng phải lập lại theo quy định mới với thời kỳ quy hoạch là 10 năm, tầm nhìn 30-50 năm Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD cần được xây dựng mới theo quy định của Luật và đồng bộ, thống nhất với các quy hoạch khác liên quan Thời kỳ tổ chức lập các quy hoạch trước đây, GDP tăng trưởng 8,5-8,6%, tuy vậy, bối cảnh KTXH nước ta hiện nay đã có nhiều thay đổi, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước được Đảng và Nhà nước

đề ra nhiều mục tiêu và định hướng mới

Từ nội dung nêu trên, Nhiệm vụ lập Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 là cần thiết và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành

2 Các căn cứ pháp lý lập quy hoạch

Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được xây dựng trên các cơ sở pháp lý sau:

2.1 Các Chủ trương, Chính sách (Văn kiện, Nghị quyết, Chiến lược và tài liệu khác có liên quan) của Đảng, Nhà nước

- Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII;

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030;

- Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm

2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 22/7/2022 của Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị;

- Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Nghị quyết số 124/NQ-CP ngày 3/9/2020 của Chính phủ

Trang 10

Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị;

23 Nghị quyết số 2423 NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên

và bảo vệ môi trường;

- Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế;

và Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 12/3/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị;

- Kết luận số 56-KL/TW ngày 23/8/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;

- Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư;

- Nghị quyết số 61/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch và một số giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ lập và nâng cao chất lượng quy hoạch thời kỳ 2021 - 2030;

- Nghị quyết số 108/NQ-CP ngày 26/8/2022 của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết số 61/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội;

- Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 20/5/2021 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII;

- Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu;

- Nghị quyết số 110/NQ-CP ngày 02/12/2019 của Chính phủ về việc ban hành Danh mục các quy hoạch được tích hợp vào quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 59 Luật Quy hoạch;

- Nghị quyết số 119/NQ-CP ngày 27/9/2021 của Chính phủ về các nhiệm

vụ và giải pháp để nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ lập các quy hoạch thời kỳ 2021-2030

- Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 879/QĐ-TTg ngày 09/6/2014;

- Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 18/8/2020;

Trang 11

- Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020;

- Chiến lược quốc gia phòng chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021;

- Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1388/QĐ-TTg ngày 13/8/2013; và dự thảo “Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050” do Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xây dựng

2.2 Các văn bản Luật và các văn bản khác có liên quan:

- Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 17/11/2010;

- Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày 21/11/2017;

- Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018 về sửa đổi, bổ sung 37 Luật liên quan đến Luật Quy hoạch;

- Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020;

- Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 (văn bản hợp nhất ngày 10/12/2018);

- Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 ngày 15/11/2017;

- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014; và Luật sửa đổi sửa đổi, bổ sung một số điều số 62/2020/QH14 ngày 17/6/2020;

- Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản;

- Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07/5/2019 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quy hoạch;

- Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường;

- Nghị định số 09/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý vật liệu xây dựng;

- Nghị định số 51/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ về Quản lý khoáng sản tại các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia;

- Quyết định số 450/QĐ-TTg, ngày 13/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;

- Quyết định số 645/QĐ-TTg ngày 06/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia;

- Quyết định số 259/QĐ-TTg ngày 22/2/2017 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 12

Phê duyệt “Đề án đổi mới và hiện đại hóa công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2025”

- Quyết định số 995/QĐ-TTg ngày 09/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ: Giao nhiệm vụ cho các Bộ tổ chức lập quy hoạch ngành quốc gia thời kỳ 2021 -

2030, tầm nhìn đển năm 2050;

- Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 17/01/2020 về việc phê duyệt nhiệm vụ lập “Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050”;

- Chỉ thị số 38/CT-TTg ngày 29/9/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước đổi với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản;

- Quyết định số 215/QĐ-BXD ngày 08/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng

về việc phê duyệt Dự toán chi phí Đề án lập Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

- Hợp đồng số 03/2021/HĐTV/BQLQH-VIMLUKI-VIGMR ngày 15/11/2021 giữa Ban Quản lý Quy hoạch – Bộ Xây dựng và Liên danh Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim và Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản về việc

tư vấn lập “Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm Vật liệu xây dựng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050”;

- Các Quy hoạch, dự thảo Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Quy hoạch tổng thể Quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch hạ tầng… có liên quan;

- Kết quả điều tra địa chất, thăm dò các loại khoáng sản làm VLXD đã thực hiện; Báo cáo của các địa phương, cơ quan và doanh nghiệp liên quan về tình hình khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD; Các kết quả nghiên cứu, ứng dụng KH&CN, dự án đầu tư, các tài liệu và báo cáo có liên quan đến thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD

3 Tên, phạm vi và kỳ quy hoạch

Thực hiện Luật Quy hoạch, Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018 về sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch, Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07/5/2019 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quy hoạch, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt nhiệm vụ lập “Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050” tại Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 17/01/2020, giao Bộ Xây dựng chủ trì lập Quy hoạch, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, theo đó:

3.1 Tên quy hoạch: Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng

các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng

3.2 Thời kỳ quy hoạch: Thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

Trang 13

3.3 Phạm vi ranh giới của quy hoạch:

- Phạm vi quy hoạch: Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được lập cho tất cả các nhóm/loại khoáng sản làm VLXD (trừ khoáng sản làm VLXD thông thường và khoáng sản phân tán nhỏ lẻ theo quy định của pháp luật

về khoáng sản)

- Ranh giới: Các khu vực phân bố khoáng sản và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên diện tích đất liền, hải đảo và thềm lục địa của cả nước

3.4 Đối tượng của quy hoạch bao gồm:

Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản cho các nhóm khoáng sản được phân theo mục đích sử dụng làm nguyên liệu cho các chủng loại VLXD, cụ thể như sau:

- Nhóm khoáng sản làm xi măng: Đá vôi làm xi măng; sét làm xi măng; cát kết, bazan, laterit, puzolan, làm phụ gia xi măng;

- Nhóm khoáng sản làm đá ốp lát, mỹ nghệ: Đá vôi, đá đôlômit, đá hoa, đá granit, đá gabro, đá bazan, đá metacarbonat, ;

- Nhóm khoáng sản làm gốm sứ, vật liệu chịu lửa: Cao lanh, felspat, đất sét trắng, đất sét chịu lửa, thạch anh, quắczit, ;

- Nhóm khoáng sản làm kính xây dựng: Cát trắng, felspat, đá vôi, đôlômit;

- Nhóm khoáng sản làm vôi công nghiệp: Đá vôi, đôlômit

4 Quan điểm, nguyên tắc và mục tiêu lập quy hoạch

4.1 Quan điểm

- Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 phải dựa trên quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển bền vững ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, phù hợp với đặc điểm tự nhiên, tiềm năng của mỗi loại khoáng sản, điều kiện phát triển KTXH hiện tại và lâu dài;

- Phù hợp với các chiến lược: khoáng sản, phát triển công nghiệp, phát triển VLXD; các quy hoạch: tổng thể quốc gia, sử dụng đất quốc gia, không gian biển quốc gia, các quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh có liên quan;

- Thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoảng sản làm VLXD gắn với phát triển bền vững, bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; bảo đảm an ninh, quốc phòng; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích quốc gia, địa phương và doanh nghiệp;

- Thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD phải đồng bộ, đảm bảo cân đối cung - cầu trên cơ sở đáp ứng nhu cầu khoáng sản làm nguyên liệu cho sản xuất VLXD trong nước; cân đối sử dụng để bảo đảm dự trữ tài nguyên khoáng sản phục vụ nhu cầu phát triển ngành VLXD trước mắt và lâu dài;

Trang 14

- Thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD phải sử dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến; phù hợp với quy mô và chủng loại khoáng sản; tiết kiệm tài nguyên, tiết kiệm năng lượng Khai thác khoáng sản gắn với chế biến, tạo sản phẩm có hiệu quả kinh tế cao;

- Cân đối xuất khẩu đối với các loại khoáng sản làm VLXD sau khi chế biến để đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường; khoáng sản có trữ lượng lớn nhưng nhu cầu trong nước chưa sử dụng hết Chỉ xuất khẩu các sản phẩm khoáng sản đã qua chế biến với các tiêu chuẩn phù hợp;

- Thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ trong khai thác và chế biến các loại khoáng sản làm VLXD

4.2 Nguyên tắc

- Phù hợp với các quan điểm lập quy hoạch

- Trên cơ sở kết quả điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, khảo sát đánh giá tiềm năng khoáng sản, kết quả thăm dò, khai thác, số liệu tài nguyên trữ lượng các loại khoáng sản làm VLXD được cập nhật đến thời điểm lập quy hoạch; hiện trạng về các mỏ khoáng sản, các dự án đã cấp giấy phép thăm dò, khai thác; các

dự án khai thác, chế biến khoáng sản đã, đang hoặc chuẩn bị đầu tư;

- Phân tích, đánh giá hiện trạng, kết quả đã đạt được trong kỳ quy hoạch; những vướng mắc, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân (khách quan, chủ quan); dự báo triển vọng và nhu cầu phát triển trong thời kỳ quy hoạch; tiến bộ khoa học công nghệ của thế giới; các kết quả nghiên cứu trong nước và các vấn đề khác có liên quan; lợi thế cạnh tranh của khoáng sản qua chế biến Nghiên cứu xây dựng

03 kịch bản tăng trưởng (thấp, cao và cơ sở) đối với từng loại khoáng sản Phân tích, lựa chọn kịch bản cơ sở có tính khả thi, hiệu quả để quy hoạch phát triển, đồng thời có dự phòng cho các kịch bản thấp và cao khi nền kinh tế có biến động tích cực hoặc tiêu cực;

- Đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch cụ thể đối với từng loại khoáng sản, phù hợp với cung - cầu thị trường cho từng giai đoạn của quy hoạch;

- Đảm bảo tính kế thừa trong việc thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản đã và đang thực hiện ở giai đoạn trước

4.3 Mục tiêu

4.3.1 Mục tiêu tổng quát

- Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 phải bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản, đáp ứng tối đa nhu cầu nguyên liệu sản xuất VLXD của nền kinh tế cho các giai đoạn đến năm 2030, đến năm 2040 và đến năm 2050;

- Tổng hợp số liệu về tiềm năng tài nguyên, trữ lượng, chất lượng khoáng sản;

Trang 15

hiện trạng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD trên toàn quốc trong những năm qua và định hướng phát triển trong những năm tới;

- Ứng dụng khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính;

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về khoáng sản, cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản làm VLXD phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và làm căn cứ cho các nhà đầu tư trong việc xây dựng kế hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD trong kỳ quy hoạch

4.3.2 Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu cụ thể của Quy hoạch đối với từng nhóm khoáng sản bao gồm từ thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng được đề xuất cho các giai đoạn cụ thể trong kỳ quy hoạch; Mỗi giai đoạn sẽ khoanh định các mỏ để đưa vào thăm dò, khai thác; Ưu tiên phát triển mỏ đối với các vùng nguyên liệu tập trung, các mỏ nguyên liệu gắn với nhu cầu sản xuất trong nước hoặc các loại khoáng sản chất lượng thấp nhưng đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xuất khẩu và có thể mang lại giá trị kinh tế cao Cụ thể như sau:

- Mục tiêu thăm dò: Thăm dò đánh giá chất lượng, trữ lượng bảo đảm đủ trữ khoáng sản huy động vào khai thác và các yêu cầu kỹ thuật khác

- Mục tiêu khai thác: Khai thác với sản lượng hợp lý, sử dụng công nghệ hiện đại, bảo vệ môi trường và tài nguyên khoáng sản bảo đảm phù hợp với từng loại khoáng sản làm VLXD và từng dự án cụ thể

- Mục tiêu chế biến: Sản lượng, chủng loại sản phẩm được chế biến bảo đảm các yêu cầu về công nghệ hiện đại, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu và năng lượng, giảm thiểu phát thải, bảo vệ môi trường đối với từng loại khoáng sản, từng

Trang 16

5 Các phương pháp lập quy hoạch

Các phương pháp được sử dụng trong quá trình lập quy hoạch, gồm:

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Phương pháp nhằm thu thập thông tin

liên quan đến ranh giới, hiện trạng, đặc điểm dân cư xung quanh khu vực mỏ đang hoạt động; xác định vị trí, tọa độ các khu vực phân bố khoáng sản làm VLXD; nắm bắt hiện trạng khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản; cùng với nhiều yếu tố, vấn đề liên quan khác… Kết quả của phương pháp điều tra, khảo sát

là các thông tin, số liệu, tài liệu thực tế để xử lý lập quy hoạch

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này nhằm thu thập và xử lý các số

liệu khí tượng thủy văn, KTXH tại các khu vực quy hoạch; thống kê, tổng hợp và phân tích nhu cầu từ các ngành kinh tế và dân sinh; chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp lớn về khai thác, chế biến khoáng sản làm VLXD; thống kê các

số liệu về tài nguyên trữ lượng khoáng sản, trữ lượng khai thác, chế biến, sử dụng

và các số liệu liên quan khác Từ các kết quả thống kê có thể xử lý theo các cách khác nhau để có thể nhận thức chính xác về các vấn đề, yếu tố, đối tượng, các mối liên hệ,… cần quan tâm

- Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến khác nhau của các chuyên gia

trong các lĩnh vực liên quan như chuyên gia môi trường, chuyên gia địa chất, khai thác mỏ, chuyên gia quy hoạch, chuyên gia về VLXD, …, các nhà khoa học và quản lý thông qua việc hội thảo lấy ý kiến phục vụ cho nghiên cứu đánh giá, hoàn chỉnh báo cáo

- Phương pháp tổng quan tài liệu, kế thừa: Nghiên cứu, xử lý và kế thừa

số liệu nghiên cứu, tổng hợp từ trước đã được thẩm định, báo cáo, tạo kế thừa logic toàn diện và cơ sở dữ liệu về đối tượng một cách hệ thống, tin cậy; trên cơ

sở đó sẽ giải quyết các vấn đề tiếp theo về đối tượng một cách hợp lý

- Phương pháp dự báo: Xây dựng luận cứ và đưa ra các kịch bản phát triển

để định hướng cho các quyết định quy hoạch Đây là phương pháp quan trọng đối với công tác xây dựng quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 Phương pháp dự báo được áp dụng như sau: Cân đối cung - cầu của thị trường khoáng sản và các loại VLXD được chế biến từ khoáng sản; Tổng hợp và phân tích các kết quả dự báo về tăng trưởng kinh tế - xã hội có liên quan tác động trực tiếp, gián tiếp đến khoáng sản trong quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch vùng; các quy hoạch ngành có liên quan; Tổng hợp, phân tích các sổ liệu dự báo của các tổ chức có uy tín trên thế giới

- Tiến hành dự báo về tình hình cung, cầu và giá thị trường:

+ Đối với trong nước: Dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội có tác động đến nhu cầu sử dụng khoáng sản làm VLXD; dự báo của các ngành kinh tế

và dân sinh sử dụng đối với các sản phẩm khoáng sản và VLXD chế biến từ

Trang 17

khoáng sản làm VLXD trong nước; các chính sách mới có tác động đến tăng trưởng của một số loại khoáng sản làm VLXD

+ Đối với quốc tế: Dự báo về tình hình và xu thế sử dụng các sản phẩm khoáng sản và VLXD chế biến từ khoáng sản làm VLXD; dự báo nhu cầu thế giới

về các sản phẩm khoáng sản và VLXD chế biến từ khoáng sản làm VLXD

- Dự báo tiến bộ khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế - xã hội tác động tới việc thăm dò, khai thác, chế biển, sử dụng tài nguyên khoáng sản làm

VLXD trong kỳ quy hoạch

- Dự báo tác động của phát triển kinh tế - xã hội tới nhận thức của cộng đông về bảo vệ và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên khoảng sản

- Tổng hợp các phương pháp trên: Tổng hợp xây dựng báo cáo, phân tích,

tổng hợp các tác động của dự án đến các thành phần về điều kiên tự nhiên và KTXH khu vực thực hiện điều tra khảo sát; tổng hợp số liệu, kết quả phân tích …

để lập báo cáo trình phê duyệt

Trên cơ sở các nội dung theo Đề cương nhiệm vụ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và nội dung Hợp đồng số 03/2021/HĐTV/BQLQH-VIMLUKI-VIGMR ngày 15/11/2021 ký với Ban Quản lý Quy hoạch – Bộ Xây dựng, Liên danh Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện kim và Viện Khoa học Địa chất

và Khoáng sản đã tổ chức triển khai các hạng mục công việc và xây dựng Quy hoạch đáp ứng yêu cầu chất lượng và tiến độ theo quy định Sản phẩm chính của

Hồ sơ Quy hoạch gồm các tài liệu sau:

1 Báo cáo chính và báo cáo tóm tắt: Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế

biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050

2 Các phụ lục: Tổng hợp các mỏ tài nguyên khoáng sản làm VLXD cả

nước; Tổng hợp các cơ sở chế biến khoáng sản làm VLXD; Danh mục các khu vực khoáng sản làm VLXD Quy hoạch thăm dò, khai thác thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

3 Các tập Bản đồ và cơ sở dữ liệu, về: Hiện trạng, Quy hoạch khoáng sản

làm VLXD; các khu vực cấm/tạm cấm hoạt động khoáng sản

4 Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của Quy hoạch thăm dò, khai

thác, chế biến và sử dụng các khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

5 Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch

thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD ở Việt Nam đến

năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” và các phụ lục kèm theo

Trang 18

PHẦN 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN VÀ TÌNH

HÌNH THỰC HIỆN CÁC QUY HOẠCH THĂM DÒ, KHAI THÁC,

CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN

LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ

KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG 1.1 Đặc điểm tự nhiên và tổng quan tài nguyên thiên nhiên khu vực phân bố khoáng sản làm VLXD

1.1.1 Vùng trung du và miền núi phía Bắc

Bao gồm 14 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Lai Châu, điện Biên, Sơn La, Hòa Bình; là vùng có các loại khoáng sản phong phú, đa dạng, như: sắt, đồng, vàng, đá quý, niken, thiếc, antimon, bôxit, chì-kẽm, graphit, apatit, đất hiếm, cao lanh, đất sét trắng, đôlômit, barit, felspat, đá vôi, đá ốp lát,…

- Điều kiện địa hình, địa chất, thổ nhưỡng: Đây là vùng núi và trung du với

nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất Khu vực phân cắt bởi các dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam (dãy Hoàng Liên Sơn, dãy Sông Mã,

…) Lịch sử địa chất của vùng khá phức tạp và có nhiều biến động Toàn vùng nằm trong địa mảng Đông Dương, địa mảng tái sinh trên nền đá móng kết tinh cổ

bị nứt vỡ, sụt lún sâu Địa tầng đá gốc trong vùng khá đồng nhất gồm các đá biến chất và đá mác ma xâm nhập

- Điều kiện khí hậu: Tuy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm

nhưng vì địa hình cao, lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, vào mùa Đông có gió Bắc thổi mạnh, rất lạnh, còn mùa

hè mát mẻ, do đó vùng này có khí hậu cận nhiệt ẩm Vùng núi ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thể có lúc nhiệt độ xuống dưới 0°C và có băng giá, đôi khi có tuyết rơi Các vùng ở đuôi các dãy núi cánh cung cũng rất lạnh do gió mùa

- Điều kiện kinh tế: Từ thời Pháp thuộc, các ngành khai thác và chế biến

khoáng sản thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc đã được hình thành và hoạt động., Ngoài khai thác và chế biến khoáng sản, kinh tế trong vùng chủ yếu phụ thuộc vào nông, lâm nghiệp Trong những năm gần đây, các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, ô tô, và công nghiệp dân dụng khác đã dần thay đổi

cơ cấu kinh tế của vùng, đặc biệt là các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Hòa Bình

- Công nghiệp: Công nghiệp trong vùng có sự chuyển biến mạnh mẽ, số các

khu công nghiệp với quy mô lớn đang ngày càng phát triển

Trang 19

+ Công nghiệp mỏ: Công nghiệp mỏ trong vùng phát triển mạnh, đa dạng chủng loại sản phẩm, các khoáng sản chính là than, sắt, đồng, thiếc, chì-kẽm, pyrit, apatit, cao lanh, đất sét trắng, đôlômit, felspat, đá vôi, đá khối và sét làm xi măng

+ Điện: Trong vùng có các nhà máy thủy điện như Hòa Bình 1.920 MW, Sơn La 2.400 MW, Tuyên Quang 320 MW, Nho Quế - Hà Giang 300MW,… cung cấp điện cho mạng điện lưới Quốc gia Ngoài ra, vùng này còn có rất nhiều nhà máy nhiệt điện như: Cao Ngạn (Thái Nguyên) 116 MW, Na Dương (Lạng Sơn) 110 MW, …

+ Du lịch, dịch vụ: Đây là vùng có tiềm năng phát triển ngành du lịch với nhiều di tích lịch sử, đền chùa, hang động và thắng cảnh tự nhiên như cao nguyên

đá Đồng Văn, ngành thương mại phát triển ở khu vực cửa khẩu biên giới như Hữu Nghị, Tân Thanh ở Lạng Sơn Tuy nhiên, vùng còn nhiều hạn chế về giao thông liên vùng, liên tỉnh nên cũng gây trở ngại đáng kể cho phát triển kinh tế

+ Đường bộ: Các tuyến đường trọng điểm kết nối vùng như: Hà Nội - Cao Bằng (Quốc lộ 3), Hà Nội - Lạng Sơn (Quốc lộ 1), Phú Thọ - Hà Giang (Quốc lộ 2) và 3 tuyến vành đai: Vành đai 1 (Quốc lộ 4, 4A, 4B, 4C, 4D, 4H), Vành đai 2 (Quốc lộ 279), Vành đai 3 (Quốc lộ 37) Đồng thời, còn có các tuyến đường cao tốc giúp thúc đẩy KTXH liên vùng như: Hà Nội - Thái Nguyên; Hà Nội – Lào Cai; Hà Nội – Lạng Sơn, …

+ Đường sắt: Hệ thống đường sắt gồm các tuyến: Hà Nội - Thái Nguyên và

Hà Nội - Đồng Đăng nối với ga Bằng Tường (Trung Quốc) Đây là tuyến đường sắt quan trọng trong việc tạo ra các mối liên hệ qua một số khu vực kinh tế và quốc phòng xung yếu Bắc Giang - Chi Lăng - Lạng Sơn

- Đa dạng sinh học: Vùng trung du và miền núi phía Bắc, là vùng có nguồn

đa dạng sinh học phong phú với các hệ sinh thái rừng tự nhiên lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Gâm; hệ sinh thái núi đá vôi tại Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng

1.1.2 Vùng đồng bằng sông Hồng

Bao gồm 11 tỉnh, thành phố: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên,

Hà Nam, Ninh Bình, Nam định, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình Tài nguyên khoáng sản chính, có giá trị của vùng bao gồm: than đá, than nâu, khí

tự nhiên, đá vôi, sét, cao lanh, …

- Điều kiện địa hình, địa chất, thổ nhưỡng: Vùng đồng bằng sông Hồng

nằm trên một lớp đá kết tinh cổ, loại nền đá ở vùng Đông Bắc Phía trên là lớp phù sa được bồi tụ bởi hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Thái Bình, chiều dày lớp phù sa từ 80 đến 100 mét ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng,

và càng xa trung tâm thì càng mỏng dần Địa hình của vùng thấp, tương đối bằng

Trang 20

phẳng và có nhiều ô trũng tự nhiên Theo độ dốc địa hình, cao ở phía Tây, Tây Bắc và thấp dần về phía biển (Đông, Đông Nam) Một số khu vực trong vùng có đồi núi, cấu tạo cacxtơ đá vôi dọc hai cánh Tây Nam và Đông Bắc

- Điều kiện khí hậu: Đặc trưng khí hậu của vùng là có 4 mùa: xuân, hạ, thu

và đông Khí hậu của vùng đặc trưng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa khô, thời tiết giá lạnh và mùa mưa thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,5 - 23,5oC Lượng mưa trung bình là 1.400 - 2.000 mm/năm

- Điều kiện thủy văn: Mạng lưới sông ngòi trong vùng tương đối dày, dựa

vào đó, đã xây dựng tương đối đầy đủ hệ thống đê sông, đê biển, để ngăn lũ và nước mặn, phát triển hệ thống tưới tiêu, thuỷ nông Hệ thống đê còn kết hợp với hệ thống đường bộ, hệ thống giao thông đường thuỷ tạo mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và xã hội

- Điều kiện kinh tế: khu vực đồng bằng sông Hồng luôn đóng vai trò quan

trọng, là đầu tàu tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Là nơi có

vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi, mạng lưới giao thông phát triển (cả về đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường hàng không) Khu vực có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, dân cư đông đúc, mặt bằng dân trí cao, có các ngành du lịch, dịch vụ phát triển

- Công nghiệp: Là vùng có các ngành công nghiệp phát triển, có nhiều khu,

cụm công nghiệp có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển KTXH của vùng và cả nước, như các KCN ở Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, v.v…

+ Công nghiệp chế biến khoáng sản làm VLXD: Với lợi thế có tài nguyên

đá vôi phân bố từ Thủy Nguyên - Hải Phòng đến Kim Môn - Hải Dương và dải

đá vôi từ trải từ Hà Nội đến Ninh Bình, chiếm 5,4% trữ lượng đá vôi cả nước, ngoài ra, còn có tiềm năng lớn về cát từ hệ thống sông ngòi dày đặc và các mỏ đất sét trắng chất lượng cao ở Hải Dương, Quảng Ninh, đã phát triển lĩnh vực sản xuất xi măng với nhiều nhà máy lớn, cũng như các nhà máy, cơ sở sản xuất gốm,

sứ, VLXD khác Nhìn chung, khoáng sản làm VLXD của vùng đồng bằng Sông Hồng không phong phú về chủng loại, nên việc phát triển công nghiệp sản xuất VLXD phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu từ các tỉnh khác (trừ đá vôi, sét và cát trắng)

+ Điện: Trong vùng có nhà máy nhiệt điện Phả Lại tổng công suất 1.000MW; Nhiệt điện Thái Bình tổng công suất 600MW; Nhiệt điện Quảng Ninh 1200MW, …

+ Du lịch: Đồng bằng sông Hồng có một vùng biển lớn, với bờ biển kéo dài

từ Thuỷ Nguyên - Hải Phòng đến Kim Sơn - Ninh Bình Bờ biển có bãi triều rộng

và phù sa dày là cơ sở nuôi trồng thuỷ hải sản, v.v… Ngoài ra, một số bãi biển, đảo

Trang 21

có thể phát triển thành khu du lịch như du lịch tâm linh Yên Tử, thắng cảnh Vịnh

Hạ Long

+ Dịch vụ: Là trung tâm thương mại lớn nhất của cả nước, Đồng bằng sông Hồng đã đảm nhận chức năng phân phối hàng hoá trên phạm vi các tỉnh phía Bắc và một phần cho các tỉnh ven biển miền Trung Đồng bằng sông Hồng là một trung tâm dịch vụ lớn cho cả nước

+ Dịch vụ hàng không: Giao thông hàng không trong vùng tương đối phát triển, với sân bay quốc tế Nội Bài và Gia Lâm ở TP Hà Nội, Cát Bi ở TP Hải Phòng và Vân Đồn ở tỉnh Quảng Ninh, tạo điều kiện cho tăng cường liên kết với các vùng, miền trong cả nước và đi quốc tế, vùng được coi là cửa khẩu hàng đầu của cả nước

+ Giao thông đường bộ: Hệ thống giao thông đường bộ trong vùng phát triển rất nhanh trong những năm gần đây, các tuyến liên tỉnh từ Hà Nội như: Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Tây Bắc, Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng hay giữa các tỉnh trong vùng như: Hải Phòng - Thái Bình - Nam Định, Thái Bình

- Hưng Yên… Nhiều tuyến đường cao tốc kết nối các khu kinh tế trọng điểm của vùng được đưa vào vận hành như Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; Hà Nội - Ninh Bình, hay liên vùng như Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Hòa Bình

+ Đường sắt: Hệ thống đường sắt trong vùng quy tụ tại Hà Nội có tổng chiều dài là 1.000 km, chiếm 1/3 tổng chiều dài đường sắt toàn quốc Bao gồm các hướng: Hà Nội - Đồng Giao (qua Phủ Lý - Nam Định - Ninh Bình); tuyến Hà Nội - Hải Phòng Ngoài ra, còn các tuyến liên vùng như: Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội - Lạng Sơn

+ Cảng biển: Cảng quốc tế Hải Phòng, là cửa mở vào - ra của toàn vùng Bắc

Bộ và có thể của cả khu vực Tây Nam Trung Quốc

- Đa dạng sinh học: Vùng Đồng bằng sông Hồng, có khu dữ trữ sinh

quyển châu thổ sông Hồng là một khu dự trữ sinh quyển thế giới do UNESCO công nhận tại Việt Nam cho các vùng đất phía Nam vùng duyên hải Bắc Bộ, nằm

ở cửa sông Đáy, sông Hồng và sông Thái Bình Đây là khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước ven biển thuộc 3 tỉnh châu thổ sông Hồng là Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình Khu dự trữ sinh quyển thế giới này chứa đựng những hoạt động kiến tạo địa chất và đa dạng sinh học có giá trị nổi bật toàn cầu với các kiểu sinh cảnh chủ yếu như: bãi bùn, bãi cát ngập triều, trảng cỏ, sậy, rừng ngập mặn cùng các cồn

cát phi lao

1.1.3 Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

Bao gồm 14 tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,

Trang 22

Quảng Trị, Thừa Thiện Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hòa Là vùng có tài nguyên khoáng sản khá phong phú và đa dạng như: Titan, cromit, vảng, sắt, thiếc, cát trắng, cao lanh, đôlômit, felspat, đá vôi, đá ốp lát, …

- Điều hiện địa hình, địa chất, thổ nhưỡng

+ Vùng Bắc Trung Bộ: Địa hình vùng có độ dốc khá lớn, địa hình chia cắt

phức tạp bởi các dãy núi Mùa mưa thường gây lũ lụt bất ngờ Phía đông của vùng là các dải cát, cồn cát ven biển

+ Vùng Duyên Hải miền Trung: Địa hình vùng gồm các nhánh núi chia nhỏ phần duyên hải thành các đồng bằng nhỏ hẹp, tạo nên hàng loạt các đảo, các vũng vịnh và nhiều bãi biển đẹp Thổ nhưỡng gồm đất feralit, đất phù sa, đất ba dan, đất xám trên phù sa cổ, đất mặn, đất phèn

- Điều kiện khí hậu: Vào mùa đông, do gió mùa thổi theo hướng Đông Bắc

mang theo hơi nước từ biển vào nên toàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kèm theo mưa Đây là điểm khác biệt với thời tiết khô hanh vào mùa Đông vùng Bắc Bộ Đến mùa Hè không còn hơi nước từ biển vào nhưng có thêm gió mùa Tây Nam (còn gọi là gió Lào) thổi ngược lên gây nên thời tiết khô nóng, vào thời điểm này nhiệt độ ngày có thể lên tới trên 40 độ C, trong khi đó độ ẩm không khí lại rất thấp Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, gió mùa Đông Bắc khi thổi đến đây thường suy yếu đi do bị chặn lại bởi dãy Bạch Mã Vì vậy khi về mùa hè khi xuất hiện gió mùa Tây Nam thổi mạnh từ vịnh Thái Lan và tràn qua dãy núi Trường Sơn sẽ gây ra thời tiết khô nóng cho toàn bộ khu vực và ảnh hưởng rất nặng nề bởi bão, kéo theo lũ lụt lớn và ngập úng nghiêm trọng

- Điều kiện kinh tế: Kinh tế vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền trung

với sự tập trung phát triển kinh tế biển kết hợp với bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển, nhất là đánh bắt và nuôi trồng hải sản xa bờ Cơ cấu lại nông, lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản gắn với công nghiệp chế biến, bảo đảm phát triển bền vững và hiệu quả cao Nâng cao hiệu quả phát triển các khu kinh

tế, khu công nghiệp lọc hóa dầu, luyện kim, sản xuất, lắp ráp ô tô Phát triển nhanh, đồng bộ năng lượng sạch, năng lượng tái tạo Tăng cường liên kết vùng, tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống đô thị ven biển, các trung tâm du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm khu vực và quốc tế Phát huy hiệu quả các hành lang kinh tế Đông - Tây; phát triển các cảng biển và dịch vụ cảng biển, hạ tầng và các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Nâng cao năng lực phòng, chống, giảm thiểu thiệt hại của thiên tai, bão lũ, hạn hán, chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, chống sa mạc hóa, sạt lở bờ sông, bờ biển

- Công nghiệp: Trong những năm qua, công nghiệp trong vùng luôn có sự

chuyển biến tích cực, các khu công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm mới được

Trang 23

đầu tư xây dưng

+ Các khu công nghiệp: Trong khu vực đã và đang xây dựng các trung tâm công nghiệp lớn chủ yếu gồm các ngành cơ khí, chế biến nông – lâm – thủy sản, sản xuất hàng tiêu dùng Với việc hình thành vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, nhất là khu kinh tế Nghi Sơn (Thanh Hóa), khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh), khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên Huế)

+ Điện: Hệ thống lưới điện quốc gia cấp điện cho khu vực qua đường dây 500kV Hiện nay, trong khu vực các dự án điện gió và điện mặt trời công suất lớn

đã và đang được đầu tư xây dựng, ngoài ra trong vùng còn có các nhà máy thủy điện trung bình và nhỏ

+ Du lịch: đến với các vương quốc của hang động, Vũng chùa -Đảo Yến; bãi biển nhật lệ, (tỉnh Quảng Bình); Khu du lịch suối khoáng Thanh Tân, Vườn quốc gia Bạch Mã (Huế), Đảo Cồn Cỏ, cửa Tùng (Quảng Trị),…; có nhiều vũng, vịnh, bãi tắm đẹp tầm cỡ quốc tế và các khu bảo tồn thiên nhiên… là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành du lịch

+ Dịch vụ hàng hải: Vị trí địa lý khá thuận lợi do có nhiều cảng biển lớn + Đường bộ: Hệ thống giao thông đường bộ khu vực Bắc Trung Bộ khá phát triển với nhiều tuyến quốc lộ chạy dọc đất nước gồm: Quốc lộ số 1, 1A, 7,

10, 45, 46, 48, 8A,217, 8B, đường Hồ Chí Minh,… Các hệ thống đường ngang nối đồng bằng ven biển qua các huyện trung du miền núi của khu vực đến biên giới Việt – Lào và các tỉnh Tây Nguyên Hệ thống đường bộ của khu vực trong tương lai gần sẽ nối liền với hệ thống đường xuyên Á thuộc hành lang Đông Tây tạo vị trí thuận lợi cho khu vực về giao lưu kinh tế với khu vực Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan

+ Đường sắt: Tuyến đường sắt quốc gia Bắc – Nam chạy dọc toàn bộ các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ

+ Cảng biển: Vùng này có khoảng 31 cảng và cầu cảng lớn nhỏ

+ Đường hàng không: Trong khu vực có các sân bay như: Vinh (Nghệ An), Phú Bài (Thừa Thiên- Huế), Cam Ranh (Khánh Hòa), Đà Nẵng, Phù Cát (Bình Định)

- Đa dạng sinh học: Khu vực có địa hình phức tạp, tạo nên nhiều hệ sinh

thái: Rừng núi cao (chiếm gần 50% diện tích); vùng gò đồi (gần 30% diện tích);

và các dải đồng bằng nông nghiệp, đất cát ven biển, rừng ngập mặn, đảo ven bờ… có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái của Việt Nam Đặc biệt ở Quảng Bình có hệ sinh thái núi đá vôi cacxtơ rộng lớn, khổng lồ, có nhiều hang động đẹp nổi tiếng như động Phong Nha (Bố Trạch) rộng và dài vào bậc nhất thế giới lại nằm tiếp giữa hai vùng địa lý sinh học Bắc và Nam, là nơi có cấu tạo địa chất đặc biệt của vùng cacxtơ trẻ, là địa bàn có tính đa dạng sinh học cao Vùng Bắc Trung

Trang 24

Bộ được đánh giá là một trong 4 vùng có tính đa dạng sinh học cao của Việt Nam, là vùng được đề xuất ưu tiên cao nhất về bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn cầu, là một trong 200 vùng sinh thái ưu tiên bảo tồn trên thế giới

1.1.4 Vùng Tây Nguyên

Bao gồm 5 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng Là vùng có tiềm năng khoáng sản không đa dạng, nhưng có loại khoáng sản có tài nguyên - trữ lượng lớn là quặng bôxit và cao lanh - felspat, ngoài ra, còn có một

số khoáng sản, như: vàng, đá ốp lát, các loại đá quí, các mỏ sét, than bùn và than nâu

- Điều kiện địa hình, địa chất, thổ nhưỡng: Vùng nằm trọn trong hai đới

kiến tạo lớn là đới Kon Tum và đới Ðà Lạt Ranh giới giữa hai đới này là hệ thống đứt gãy Ea Sup - Krông Pach Mỗi đới kiến tạo có các đặc điểm khác nhau

về thành phần, cấu trúc Địa hình đặc trưng của vùng là cao nguyên, đồi núi thoải dần về phía Tây, Tây Nam và bị chia cắt khá phức tạp

- Điều kiện khí hậu: Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa

mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng khô và nóng nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400-500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, thì cao nguyên cao trên 1000 m có khí hậu mát mẻ quanh năm, đặc trưng của khí hậu núi cao

- Điều kiện thủy văn: Tây Nguyên có một hệ thống sông suối khá dày,

nhiều ghềnh thác; là nơi khởi nguồn của bốn hệ thống sông chính gồm: hệ thống sông Pô Kô-Sê San ở Kon Tum đổ vào sông Mê Kông, hệ thống sông Ba-Yaun ở Gia Lai đổ vào sông Đà Rằng chảy ra biển Đông Trữ lượng thủy năng của các hệ thống sông này chiếm đến 22% nguồn thủy năng của cả nước, có thể sản xuất được 15-16 tỉ kWh điện mỗi năm

- Điều kiện kinh tế: So với các vùng khác trong cả nước, điều kiện kinh tế -

xã hội của Tây Nguyên còn gặp nhiều khó khăn, như là thiếu lao động lành nghề,

cơ sở hạ tầng kém phát triển Tuy nhiên, Tây Nguyên có nhiều lợi điểm về tài nguyên thiên nhiên, có 2 triệu ha đất bazan màu mỡ, chiếm đến 60% diện tích đất bazan trên cả nước, thích hợp cho trồng và phát triển các loại cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu, ca cao, dâu tằm, chè Diện tích cà phê của Tây Nguyên hiện nay là 290 nghìn ha, chiếm 80% diện tích cà phê của cả nước

- Công nghiệp:

+ Các khu công nghiệp: Tây Nguyên chủ yếu phát triển về ngành nông lâm sản nên ở đây có các khu công nghiệp phát triển như: khu chế biến lâm sản của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, khu chế biến nông sản của Đà Lạt - Lâm Đồng

Trang 25

+ Khoáng sản: Tây Nguyên không giàu tài nguyên khoáng sản như các vùng khác nhưng có trữ lượng bôxit rất lớn

+ Điện: Hiện nay trên các hệ thống sông chính của Tây Nguyên đã có 11 nhà máy điện lớn đang vận hành với tổng công suất hơn 4.500 MW chiếm khoảng 25% tổng công suất điện của cả nước Một số nhà máy thủy điện điển hình như:

Đa Nhim trên sông Đa Nhim công suất 160.000 kW, Đray H’inh công suất 12.000 kW, thủy điện Yaly công suất 700.000 kW,…và một số nhà máy đang được xây dựng

+ Du lịch: Tây Nguyên có hệ thống các buôn, bon, làng, plây cổ truyền của các dân tộc thiểu số, nơi còn giữ được những đặc điểm cấu trúc, văn hóa truyền thống Nhìn chung, Tây Nguyên là nơi lý tưởng để phát triển du lịch vì có những điều kiện để phát triển những sản phẩm đặc trưng, riêng biệt, hấp dẫn thông qua khai thác cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa và di sản văn hóa tộc người

+ Đường bộ: Trong 5 tỉnh ở Tây Nguyên, 4 tỉnh có đường biên giới giáp với Lào và Campuchia dài tổng cộng 554 km Có 5 cửa khẩu chính đi sang hai nước Lào và Campuchia Hệ thống giao thông rộng khắp, vừa liên kết 5 tỉnh trong vùng, vừa liên kết Tây Nguyên với tuyến hành lang Đông-Tây Trong đó, có 10 tuyến quốc lộ như: 14, 14C, 19, 19C, 20, 25, 26, 27, 28, 29 với tổng chiều dài

2000 km, 59 tuyến tỉnh lộ đã được nhựa hóa và cứng hóa

+ Đường sắt: Chính phủ đã có chủ trương mở các tuyến đường sắt từ Bảo Lộc, Gia Nghĩa đi cầu cảng Thị Vải và từ Tuy Hòa - Phú Yên đi Buôn Ma Thuột

+ Cảng hàng không: Trong khu vực có 3 sân bay đang hoạt động (Buôn Ma Thuật, Plâyku, Liên Khương) được đầu tư, nâng cấp nối với các trung tâm kinh tế lớn trong nước như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng

1.1.5 Vùng Đông Nam Bộ

Bao gồm 6 tỉnh: Bình Phước, Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu Tài nguyên khoáng sản cùng có một số loại, như: Dầu khí, cát, vàng, titan, cao lanh, đất sét, đá vôi, đá ốp lát, puzzolan,

- Điều kiện địa hình, địa chất, thổ nhưỡng: Đông Nam Bộ có địa hình bán

bình nguyên, trung du và đồi núi thấp dưới 1000m, bề mặt thoải Độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có độ cao bề mặt dao động từ khoảng 500 - 700m (H Bù Gia Mập, Bình Phước - phần rìa phía Nam cao nguyên Mơ Nông) xuống 1m (H Bình Chánh, TP.HCM - giáp ranh đồng bằng sông Cửu Long) Hơn 70% diện tích của vùng có độ cao trên 50m, chủ yếu là các đồi thấp xen bàu trũng, địa hình cao và lượn sóng mạnh ở phía Bắc, giảm dần về phía Nam Khu vực có cấu tạo địa chất chủ yếu là đất đỏ bazan và đất phù sa cổ

- Điều kiện khí hậu: Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt

Trang 26

đới gió mùa và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao Biên độ nhiệt ngày, đêm giữa các tháng trong năm thấp và ôn hòa Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80 - 82% Khí hậu có hai mùa trong năm là mùa khô và mùa mưa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 Do đặc điểm khí hậu, về mùa vụ sản xuất có khác với khu vực Đồng bằng Bắc Bộ Lượng mưa hàng năm dao động từ

966 - 1.325mm và góp trên 70 - 82% tổng lượng mưa trong cả năm trên toàn quốc Mưa phân bố không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống khu vực phía Tây và Tây Nam, ở khu vực Đông Nam có lượng mưa thấp nhất Khi xuất hiện cường độ mưa lớn xảy ra trên một số khu vực trong vùng, thường gây hiện tượng xói mòn ở những vùng gò cao, khi mưa kết hợp với cường triều và lũ sẽ gây ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân

cư trong vùng

- Điều kiện thủy văn: Vùng có nguồn nước mặt đa dạng, hai hệ thống sông

lớn nhất trong vùng là sông Đồng Nai và sông Cửu Long Ngược với dòng Sông Đồng Nai có lượng phù sa thấp, dòng sông Cửu Long có lượng nước đổ về trung bình khoảng 4.000 tỷ mét khối và hàng năm vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù

sa, giữ vai trò rất quan trọng đối với đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 39.734 km² Cho đến nay, đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là một vùng đất thấp, độ cao trung bình so với mặt biển chỉ vào khoảng 5 mét Một số khu vực như tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười và phía tây sông Hậu đang tồn tại ở mức thấp hơn mặt biển, chính vì vậy mà hàng năm có tới 1 triệu ha bị ngâp nước mặn trong thời gian từ 2 đến 4 tháng Khu vực đồi núi chủ yếu tập trung ở phía Đông Nam Bộ như núi Bà Rá (Bình Phước) cao 736m, núi Chứa Chan (Đồng Nai) cao 839m, núi Bao Quan (Bà Rịa - Vũng Tàu) cao 529m, núi Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu) cao 461m, núi Bà Đen (Tây Ninh) cao 986m

- Điều kiện kinh tế: Đông Nam Bộ là vùng kinh tế phát triển nhất Việt

Nam, dân số đông và dẫn đầu cả nước về xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, nổi bật là các tỉnh như: Bình Dương, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, GDP cũng như một số chỉ số KTXH khác Vùng kinh tế có nhiều tiềm năng, lợi thế, năng động, sáng tạo, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tạo động lực phát triển kinh

tế chung của Việt Nam Với giải pháp cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, là khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế của toàn vùng để phát triển ổn định và bền vững, là cầu nối để hội nhập, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực

- Công nghiệp:

+ Các khu công nghiệp: Một số ngành công nghiệp chủ chốt của vùng là dầu khí, công nghiệp điện tử, cơ khí, tin học, luyện thép, hoá chất, dệt, may, da giầy, giấy, nhựa, sành sứ, thuỷ tinh, chế biến thực phẩm Phát triển các khu công

Trang 27

nghiệp tập trung như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vũng Tàu, Bình Dương

+ Điện: Vùng Đông Nam Bộ có các công trình thủy điện đang hoạt động như: nhà máy thủy điện Trị An trên sông Đồng Nai với công suất 400.000 kW, công trình thủy điện Thác Mơ có công suất 150.000 kW trên sông Bé và các công trình thủy điện khác trên sông Đồng Nai và sông La Ngà Phát triển điện tuốc bin khí gồm các nhà máy điện tuốc bin khí Phú Mỹ, Bà Rịa, Thủ Đức,… tổng công suất thiết kế hơn

3 triệu kW Một số nhà máy nhiệt điện chạy bằng dầu, phục vụ cho các khu chế xuất Ngoài ra, còn có đường dây tải điện quốc gia 500 kV Bắc Nam chuyển điện từ Hòa Bình vào cung cấp cho vùng Từ năm 2018 trở lại đây, năng lượng tái tạo như điện mặt trời và điện gió đã và đang được phát triển với tốc độ cao ở khu vực

+ Du lịch: Du lịch cũng là một thế mạnh của vùng, trong vùng có rất nhiều khu vui chơi giải trí như Công viên Suối Tiên, Đầm Sen, bến cảng Nhà Rồng (TP

Hồ Chí Minh), khu du lịch Đại Nam (Bình Dương), Tp biển Vũng Tàu Một số địa điểm du lịch tâm linh khác như: Côn Đảo, chiến khu Đ, Bà Đen, Núi Sam…

+ Dịch vụ hàng hải: Vị trí địa lý khá thuận lợi do có nhiều cảng biển lớn + Đường bộ: Các tuyến đường bộ bao gồm quốc lộ 1, 22 đi Campuchia, quốc lộ 13 nối với quốc lộ 14 đi Tây Nguyên, Lào; quốc lộ 20 đi Đà Lạt; quốc lộ

51 nối thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu; quốc lộ 50 đi Gò Công,

Mỹ Tho và nối với Đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, còn các đường tỉnh lộ, đường liên xã và đường đô thị Đặc biệt trong những năm gần đây, các tuyến đường cao tốc kết nối trung tâm kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh đã được đầu tư xây dựng để đưa vào vận hành

+ Đường sắt: Hệ thống đường sắt bao gồm tuyến Bắc-Nam, tuyến Hồ Chí Minh - Lộc Ninh

+ Cảng biển: Hệ thống đường sông với cảng sông ở TP Hồ Chí Minh, Biên Hòa Đường biển với các cảng biển (cảng Sài Gòn) và các tuyến đường biển đi quốc tế, TP Hồ Chí Minh đi Hồng Kông, Singapo, Tokyo, Băng Cốc; đi các vùng trong nước Bến Thuỷ, Cần Thơ, Rạch Giá, Hà Tiên, Hải Phòng, bến cảng khá phát triển và có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế của vùng và của

cả nước

+ Đường không: Hệ thống đường hàng không sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hơn 20 tuyến bay quốc tế và trong nước; sân bay Vũng Tàu làm dịch vụ cho ngành dầu khí Hiện nay, sân bay quốc tế Long Thành có quy mô lớn nhất cả nước đang được đầu tư xây dựng

1.1.6 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Lấy theo tên 9 nhánh sông (Cửu Long) đổ ra biển từ hai dòng sông Tiền Giang và Hậu Giang (hạ lưu sông Mê kông), bao gồm 13 tỉnh, thành phố: Cần

Trang 28

Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang Đồng bằng sông Cửu Long là vùng không giàu khoáng sản, một số loại chủ yếu như: Đá khối, đá vôi, đất sét, than bùn, nước khoáng,

- Điều kiện địa hình, địa chất, thổ nhưỡng: Đặc điểm địa chất vùng bao

gồm các tầng trầm tích đồng bằng dày, phủ trên nền đá mắc ma, đá biến chất có tuổi khác nhau Địa tầng trong vùng có tồn tại một số diện tích hẹp đá vôi phân

bố trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và Tây Ninh

Địa hình toàn vùng khá bằng phẳng với thổ nhưỡng trên mặt chủ yếu là đất phù sa mới Ngoài ra, vùn có một số núi thấp ở khu vực miền tây tỉnh An Giang, miền Tây tỉnh Kiên Giang

- Điều kiện khí hậu: Khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng

bởi cả gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, gồm hai mùa chính là mùa mưa và mùa khô, mùa khô thì từ tháng 12 đến tháng 4 trong khi mùa mưa thì từ tháng 5 đến tháng 11 Nhiệt độ trung bình hàng năm 24 -27oC, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm thấp, ít có bão hoặc nhiễu loạn thời tiết Vào mùa mưa, khoảng 50% khu vực đồng bằng bị ngập lụt (1.900 Km2) Vào mùa khô, nguồn nước ở khu vực sông Cửu Long không đủ để ngăn ngừa sự xâm nhập mặn và sự xâm nhập mặn này sẽ lan rộng theo đường thủy tới những khu vực thấp hơn Toàn bộ khu vực bán đảo

Cà Mau thuộc phía Đông Nam đồng bằng bị ngập mặn suốt 6 tháng mùa khô khi

mà không đủ lượng nước sạch chảy vào sông Cửu Long để thay thế sự xâm nhập mặn từ khu vực phía Tây Nam của đồng bằng Như vậy, lũ lụt và xâm nhập mặn

là hai vấn để lớn liên quan đến khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long

- Điều kiện thủy văn: Hạ lưu sông Mê Kông chảy qua lãnh thổ Việt Nam là

hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, có tổng lượng nước lưu thông hàng năm khoảng 500 tỷ mét khối, trong đó sông Tiền chiếm 79% và sông Hậu chiếm 21% lượng nước Chế độ nước ngầm khá phức tạp, phần lớn ở độ sâu từ 100 mét, nếu khai thác quá nhiều có thể làm nhiễm mặn trong vùng

- Điều kiện kinh tế: Đồng bằng sông Cửu Long có lợi thế trong phát triển

kinh tế - xã hội, đặc biệt về lĩnh vực phát triển nông nghiệp trồng lúa, cây ăn trái

và du lịch Đây là vùng được gọi là vựa lúa lớn nhất của cả nước, nông nghiệp là ngành chủ yếu của vùng

- Công nghiệp: Chủ yếu là công nghiệp chế biến lương thực và thực phẩm

với hơn 20% giá trị gia tăng công nghiệp của vùng Tuy nhiên, chủ yếu mới là sơ chế nên chất lượng và hiệu quả còn chưa cao Các ngành khác như dệt, may, sản xuất VLXD (chiếm 15% giá trị công nghiệp của vùng), hoá chất đã tăng trưởng nhanh trong thời gian qua Công nghiệp của vùng phân bố chủ yếu ở các đô thị lớn như Cần Thơ, các thị xã, tỉnh lỵ

Trang 29

+ Điện: Nguồn điện ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là nhiệt điện than, khí Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long có các nhà máy nhiệt điện Cần Thơ, nhà máy nhiệt điện Ô Môn; nhà máy nhiệt điện Cà Mau; Điện gió Bạc Liêu và 9 nhà máy điện sinh khối với công suất là 2.000 MW

+ Du lịch: Với hệ thống kênh rạch chằng chịt cùng rừng và biển đảo đã hình thành cho ĐBSCL một hệ sinh thái đa dạng, tạo nên những cảnh quan đặc sắc, hấp dẫn Nơi đây có những vườn quốc gia, sân chim, vườn cò với vô số chim muông và động thực vật quý ĐBSCL còn hấp dẫn du khách với rất nhiều vườn hoa rực rỡ sắc màu và vườn cây ăn trái bạt ngàn, trĩu quả

+ Dịch vụ hàng hải: Phát triển mạnh do vị trí thuận lợi, hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc cùng chiều dài bờ biển khoảng 732 km, có nhiều cảng lớn

+ Các khu công nghiệp: vùng đồng bằng sông Cửu Long rất nhiều các khu công nghiệp tập trung chủ yếu ở Thành phố Cần Thơ, Long An, Tiền Giang

+ Đường bộ: Hệ thống đường bộ quan trọng nhất là quốc lộ 1A Ngoài ra,

+ Hàng không: Đường hàng không với sân bay Trà Nóc (Cần Thơ), Rạch Giá và Phú Quốc đang được khai thác

1.2 Tổng quan đặc điểm phân bố tài nguyên thiên nhiên tại các vùng

1.2.1 Vùng Trung du và miền núi phía Bắc

Trung du và miền núi phía Bắc có vị trí địa lý khá đặc biệt, lại có mạng lưới giao thông vận tải đang được đầu tư, nâng cấp, nên ngày càng thuận lợi cho việc giao lưu với các vùng khác trong nước và xây dựng nền kinh tế mở Vùng có tài nguyên thiên nhiên đa dạng như:

- Tài nguyên nước: một số nguồn nước khoáng được khai thác sử dụng như nước khoáng Kim Bôi (Hòa Bình), Phong Thổ, Tuần Giáo (Lai Châu), Mường

La, Bắc Yên, Phù Yên, Sông Mã (Sơn La)

- Tài nguyên đất: Trung du và miền núi phía Bắc có phần lớn diện tích là đất feralit trên đá phiến, đá vôi và các đá mẹ khác, ngoài ra còn có đất phù sa cổ (ở trung du) Đất phù sa có ở dọc các thung lũng sông và các cánh đồng ở miền núi như Than Uyên, Nghĩa Lộ, Điện Biên, Trùng Khánh

- Tài nguyên rừng: Lúc trước, đây là khu vực có nguồn tài nguyên rừng vô

Trang 30

cùng phong phú, nhưng do việc khai thác không kế hoạch kèm với bừa bãi khiến cho tài nguyên rừng bị cạn kiệt

- Tài nguyên khoáng sản: Vùng trung du và miền núi phía Bắc là vùng giàu tài nguyên khoáng sản như: sắt, chì - kẽm, vàng, đồng, apatit, than đá thiếc, niken, một số mỏ lớn như mỏ quặng đồng - niken (Sơn La), đất hiếm (Lai Châu)

Ở Đông Bắc có nhiều mỏ kim loại, đáng kể hơn là mỏ sắt (Yên Bái), thiếc và bôxit (Cao Bằng), Kẽm - chì (Chợ Điền - Bắc Kạn), đồng - vàng (Lào Cai), thiếc

ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), apatit (Lào Cai), đá vôi và sét làm xi măng, gạch ngói, gạch chịu lửa

- Tài nguyên rừng của vùng diện tích không còn nhiều chỉ có một số ít ở tỉnh Vĩnh Phúc, Ninh Bình, rừng tự nhiên không nhiều nhưng có ý nghĩa rất quan trọng về bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn sự đa dạng sinh học

- Tài nguyên khoáng sản: Vùng có nhiều tài nguyên Khoáng sản như than nâu, khí thiên nhiên, tài nguyên khoáng sản làm VLXD khá phong phú, đá vôi ở Thuỷ Nguyên - Hải Phòng đến Kim Môn - Hải Dương và phía Tây sông Đáy từ Kim Bảng đến Thanh Liêm (Hà Nam) Các mỏ đá vôi lại phân bố khá gần các mỏ sét xi măng và puzolan dùng làm phụ gia cho xi măng như ở Tùng Thiện (thị xã Sơn Tây), Pháp Cổ (Thủy Nguyên, Hải Phòng), đất sét (đặc biệt là đất sét trắng ở Hải Dương), sét làm gạch ngói Tam Dương, Vĩnh Phúc, khu vực Ba Vì tập trung khoáng sản như vàng, đồng,

1.2.3 Vùng Bắc Trung bộ và Duyên Hải miền Trung

Vùng Bắc trung bộ và Duyên Hải Miền Trung là một trong các vùng kinh

tế trọng điểm của Việt Nam, là vùng có cả loại hình trung du, miền núi và hải đảo, có thể hình thành cơ cấu kinh tế đa dạng phong phú, vùng có tài nguyên thiên nhiên đa dạng như:

Trang 31

- Tài nguyên đất: Diện tích đất cát, sỏi, đất bạc màu chiếm tỷ lệ lớn, đất

trồng trọt có 3 loại đất chính là đất đỏ vàng phân bố ở vùng trung du miền núi, thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày và khai thác lâm nghiệp, trồng cây

ăn quả; đất phù sa ven sông thích hợp cây lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày; đất cát hoặc cát pha ven biển chất lượng thấp chỉ trồng một số loại cây hoa màu, trồng rừng phi lao, bạch đàn chống gió, cát

- Tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng của vùng chỉ đứng sau Tây Nguyên và chính nó đã cung cấp một phần quan trọng về gỗ và lâm sản hàng hoá trong cả nước, đáp ứng một phần xuất khẩu của nước ta

- Tài nguyên biển:

+ Chiều dài bờ biển khoảng hơn 1.000 km, biển vùng này khá sâu ở sát bờ, nhiều eo biển, cửa sông, vũng, vịnh thuận lợi cho phát triển kinh tế biển du lịch, giao thông biển, đánh bắt cá, phát triển các hải cảng lớn

+ Ven biển có nhiều đồng muối chất lượng tốt, khả năng khai thác lớn như đồng muối Sa Huỳnh - Quảng Ngãi, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh

+ Biển có nhiều đảo và quần đảo; ngoài khơi có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có ý nghĩa chiến lược về an ninh quốc phòng và là nơi cư ngụ của tàu thuyền, là bình phong chắn gió, cát biển cho ven bờ

+ Vùng biển có nhiều loài cá có giá trị như cá trích, mòi, nhồng (tầng nổi)

cá thu (tầng trung), cá mập, mối (tầng đáy), tạo điều thuận lợi cho phát triển khai thác đánh bắt hải sản

- Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoảng sản của vùng khá phong phú

và đa dạng, so với cả nước, Bắc Trung Bộ và duyên hải Miền Trung chiếm 100% trữ lượng crômit, 20% trữ lượng sắt, 44% trữ lượng đá vôi xi măng Các khoáng sản có giá trị kinh tế trong vùng gồm: Đá vôi xây dựng, quặng sắt, cát thuỷ tinh, sét làm gạch, ngói, đá vôi xi măng, titan, nhôm, ngoài ra, còn một số khoáng sản khác như đá ốp lát, cao lanh

1.2.4 Vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên Nằm ở ngã 3 biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia thuận lợi giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các vùng và giữa các nước trong tiểu vùng sông Mê Công Tây Nguyên có ý nghĩa chiến lược trong an ninh - quốc phòng của Tổ quốc Bên cạnh những đặc điểm về vị trí địa lý, Tây Nguyên còn có các điều kiện tự nhiên đặc trưng tạo nhiều thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, văn hóa của vùng và là vùng có tài nguyên thiên nhiên đa dạng như:

- Tài nguyên đất: Nhắc tới vùng đất Tây Nguyên là người ta nghĩ đến đất bazan bởi diện tích lớn của nó (chiếm ⅔ đất bazan cả nước) Đất này thích hợp trồng cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, hồ tiêu… Cao

Trang 32

nguyên Mơ Nông, Play ku, Di Linh… là nơi trồng nhiều cây này

- Tài nguyên nước: rất phong phú như nước khoáng, nhất là tài nguyên nước ngầm rất quan trọng cho các vùng chuyên canh cây công nghiệp và mùa khô, trữ năng thủy điện và thủy lợi trên các sông Xe Xan, Xrê Pôk và thượng nguồn sông Đồng Nai tương đối lớn

- Tài nguyên rừng: Có diện tích gần 3 triệu ha (chiếm 29,3% diện tích rừng

cả nước)

- Tài nguyên khoáng sản: như vàng, đồng, pyrit, sắt, bentonite, cao lanh, Felspat, đá khối nhiều nhất là bôxit với trữ lượng đứng đầu cả nước (hơn 3 tỉ tấn), phân bố tập trung tại 4 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai và Kon Tum

1.2.5 Vùng Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ là khu vực tập trung nhiều đô thị nằm giữa các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ là đầu mối giao lưu quan trọng của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế, là những vùng giàu tài nguyên đất đai, rừng và khoáng sản như:

- Tài nguyên đất: Đất nông nghiệp là một thế mạnh của vùng Có 12 nhóm đất với 3 nhóm đất rất quan trọng là Đất nâu đỏ trên nền bazan, đất nâu vàng trên nền bazan, đất xám trên nền phù sa cổ Ba nhóm đất này có diện tích lớn và chất lượng tốt thuận lợi cho nhiều loại cây trồng phát triển như cao su, cà phê, điều, lạc, mía, đỗ tương và cây lương thực

- Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt đa dạng, đáng kể là hệ thống sông Đồng Nai là 1 trong 3 con sông lớn của Việt Nam Lượng nước mưa trung bình 1.500 - 2.000 mm tương ứng với 183 tỷ m3 Ngoài ra còn có một số hồ ở phía Đông, tổng dung tích khoảng 300 triệu m3 Với lượng nước mặt này đủ cung cấp nước cho vùng bao gồm cả cho phát triển công nghiệp Nguồn nước Khoáng, nước ngầm có trữ lượng khá lớn, nhưng mực nước sâu từ 50 - 200 mét phân bố chủ yếu khu vực Biên Hoà- Long An, thành phố Hồ Chí Minh

- Tài nguyên biển: Bờ biển dài 350 km với vùng biển Ninh Thuận- Bà Rịa Vũng Tàu là một trong bốn ngư trường trọng điểm của nước ta với trữ lượng cá khoảng 290-704 nghìn tấn chiếm 40% trữ lượng cá của vùng biển phía Nam Diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là khoảng 11,7 nghìn ha Thiên nhiên

ưu đãi cho Đông Nam Bộ bãi biển Vũng Tàu, Long Hải phát triển ngành du lịch trong vùng

- Tài nguyên rừng: Diện tích rừng của Đông Nam Bộ không lớn, còn khoảng 532.200 ha chiếm 2,8% diện tích rừng cả nước và phân bố không đều ở các tỉnh Rừng trồng tập trung ở Bình Dương, Bình Phước với 15,2 nghìn ha; Bà Rịa - Vũng Tàu 14,3 nghìn ha Rừng Đông Nam Bộ có ý nghĩa quan trọng trong

Trang 33

việc cung cấp gỗ dân dụng, phòng hộ cho cây công nghiệp, giữ nước, cân bằng sinh thái cho toàn vùng Đặc biệt rừng quốc gia Cát Tiên là một cơ sở cho nghiên cứu lâm sinh và thắng cảnh

- Tài nguyên khoáng sản: Dầu khí, Quặng bôxit, nước Khoáng, các khoáng sản khác như đá ốp lát Phú Túc (Đồng Nai), cao lanh phân bố ở Bình Dương, Bình Phước; mỏ cát thuỷ tinh phân bố ở Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu) cung cấp nguyên liệu cho nhà máy thuỷ tinh Biên Hoà và cho xuất khẩu

1.2.6 Đồng bằng sông Cửu Long

Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát (đất bằng) dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù

sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậu (khu vực ngã ba Hậu Giang, Bạc Liêu và Cà Mau) ở bán đảo Cà Mau, Vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu tài nguyên như:

- Tài nguyên đất: Vô cùng phong phú, với đất mặn, đất phèn có độc tố khá

cao, tính chất cơ lý yếu và dễ nứt nẻ và đất phù sa có nhiều ở ven và giữa 2 con sông Tiền và sông Hậu

- Tài nguyên nước: ĐBSCL là một bộ phận của sông Mê Công, cung cấp

nguồn nước vô cùng dồi dào, khi vào mùa mưa thì nước sẽ dâng cao, vào màu khô nước sẽ có hiện tượng nhiễm mặn, nơi đây còn có nguồn nước khoáng

- Tài nguyên biển: là nguồn cung cấp thuỷ hản sản phong phú, cùng nguồn

dầu khí lớn có trên vùng biển giúp vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển lĩnh vực khai thác, chế biến

- Tài nguyên khoáng sản: Nổi tiếng là đá vôi, cát sỏi, đá Granit, sét than

bùn… phân bố ở Hà Tiên, Kiên Lương, dọc sông Vàm Cỏ, sông Mê Công, ở U Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng, tứ giác Long Xuyên Ngoài ra còn có các khoáng sản suối khoáng,…

1.3 Đặc điểm phân bố tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng

Khoáng sản làm VLXD được phân bố trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, với nhiều mỏ, điểm khoáng sản làm VLXD được nghi nhận trên khắp các tỉnh, thành Theo điều kiện tự nhiên mỗi vùng sẽ có những loại khoáng sản làm VLXD khác nhau Hiện nay, hoạt động khai thác khoáng sản làm VLXD ở nước ta diễn ra tại 44/63 tỉnh, thành phố trong cả nước (tính đến ngày 31/12/2021) với khoảng 1.685

mỏ, điểm mỏ khoáng sản (trong danh mục khoáng sản quy hoạch, không tính khoáng sản làm VLXD thông thường và các mỏ phân tán nhỏ lẻ) được điều tra,

Trang 34

thăm dò và khai thác với quy mô khác nhau

1.3.1 Đá vôi xi măng

Đá vôi xi măng phân bố tương đối rộng rãi trong các vùng sau đây:

- Tại các tỉnh vùng Đông Bắc: đá vôi xi măng phân bố thành các khối núi lớn đẳng thước hoặc kéo dài

- Tại vùng Tây Bắc: đá vôi xi măng phân bố thành các dải núi kéo dài phương Tây Bắc- Đông Nam, từ Lai Châu, Điện Biên qua Sơn La, Hoà Bình

- Tại vùng Đồng bằng sông Hồng: đá vôi xi măng phân bố thành các dải núi ở Hải Dương, Hải Phòng; Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình

- Tại Bắc Trung Bộ: đá vôi xi măng phân bố nhiều ở Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, ít hơn ở Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế

- Tại Nam Trung Bộ: đá vôi xi măng phân bố trên các diện tích nhỏ ở Thạnh Mỹ, ASờ với trữ lượng không lớn

- Tại Tây Nguyên: Ở Gia Lai có hai chỏm núi đá vôi xi măng ở Chư Sê; tại Đăk Lăk có các thấu kính đá vôi, sét vôi ở Chư Minh huyện Buôn Đôn nhưng có chất lượng thấp và trữ lượng nhỏ

- Tại Đông Nam bộ: đá vôi xi măng phân bố ở Tà Thiết – Bình Phước và Sroc Con Trăng – Tây Ninh Tại vùng Tà Thiết, đá vôi phân bố chủ yếu dưới lớp phủ trầm tích Neogen, Đệ tứ có bề dày đến 20 - 30 m

- Tại Đồng bằng sông Cửu Long: đá vôi xi măng phân bố ở Hà Tiên - Kiên Giang có chất lượng tốt, điều kiện khai thác thuận lợi

Như vậy, đá vôi xi măng phân bố tương đối rộng rãi nhưng không đồng đều Một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ; các tỉnh miền Trung từ Quảng Ngãi đến Bà Rịa - Vũng Tầu, các tỉnh Nam bộ (trừ Kiên Giang) không có đá vôi làm xi măng Các tỉnh Tây Nguyên có trữ lượng nhỏ ở Gia Lai và Đắk Lắk

Đá vôi xi măng phân bố rộng, tính đến thời điểm hiện tại trên cả nước đã phát hiện hàng trăm điểm có đá vôi xi măng, tuy nhiên, công tác thăm dò, đánh giá mới chỉ được thực hiện một phần, trên các diện tích nhỏ Ngoại trừ các vùng

đá vôi không được khai thác thì tài nguyên đá vôi xi măng có thể khai thác được cũng đạt tới hàng trăm tỉ tấn, cung cấp đủ nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất xi măng để đáp ứng nhu cầu xi măng trong nước và có thể tham gia xuất khẩu trong thời gian dài

1.3.2 Sét xi măng

Sét xi măng tập trung chủ yếu ở các vùng Bắc Trung Bộ, Đồng bằng Sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc Các mỏ sét ở khu vực miền Bắc có điều kiện địa hình dạng đồi, nguyên liệu phân bố trên mức thoát nước tự chảy và chủ yếu

Trang 35

áp dụng hệ thống khai thác khấu theo lớp bằng và xúc bốc trực tiếp Đối với các

mỏ sét ở khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ có điều kiện phân bố nguyên liệu ở dưới mức thoát nước tự chảy, các lớp đất sét thường nằm xen kẽ giữa đất phủ, laterit và đá vôi nên công nghệ khai thác có thể vận tải trực tiếp tại tầng khai thác hoặc sử dụng các loại công nghệ khai thác bằng máy xúc nhiều gầu, xúc bốc theo từng lớp, vận tải bằng băng tải

Nguồn sét xi măng có 2 dạng: sét phong hoá và sét trầm tích Sét phong hoá còn được gọi là sét đồi là sản phẩm phong hoá từ các loại đá phiến sét Các mỏ sét đã phát hiện qua tìm kiếm thăm dò ở các vùng mỏ như: Khe Mo, Cúc Đường (Thái Nguyên), Hữu Lũng, Đồng Đăng (Lạng Sơn), Bỉm Sơn, Quyền Cây, Trường Xuân (Thanh Hoá), … Sét trầm tích thường là các thành tạo trẻ có tuổi Neogen, Đệ tứ các mỏ đặc trưng phân bố ở Hà Tiên, Hải Phòng, Hà Nam

1.3.3 Phụ gia xi măng (cát kết, bazan, laterit, puzolan, ….)

* Phụ gia điều chỉnh thành phần phối liệu

Thuộc nhóm khoáng sản làm phối liệu xi măng ở Việt Nam, phân bố ở nhiều khu vực khác nhau và được khai thác, sử dụng với quy mô hạn chế Mỏ khoáng sản làm phụ gia xi măng bao gồm: các mỏ quặng sắt limonit, laterit (phối liệu cho nguyên liệu thiếu sắt), mỏ bôxit (phối liệu cho các nguyên liệu thiếu nhôm), mỏ cát silic, đá phiến silic (phối liệu cho nguyên liệu thiếu silic) Ngoài

ra, còn thạch cao là loại phụ gia quan trọng để điều chỉnh thời gian ninh kết của

xi măng nhưng hiện nay chưa phát hiện được mỏ ở nước ta

* Phụ gia khoáng cho xi măng

Phụ gia khoáng cho xi măng bao gồm hai loại: phụ gia hoạt tính và phụ gia

đầy Các mỏ khoáng sản làm phụ gia hoạt tính (gọi chung là các mỏ puzolan gồm

bazan bọt, đá silic hoạt tính, đá bọt và từ núi lửa), phân bố ở các tỉnh Lạng Sơn, Hải Phòng, Hà Tây, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Phú Yên, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu; Các mỏ khoáng sản làm phụ gia đầy bao gồm các loại đá bazan,

đá vôi, đá đen, cát kết… Nhiều mỏ khoáng sản làm phụ gia xi măng đã được thăm dò, khai thác làm phụ gia cho các nhà máy xi măng đang hoạt động Theo

số liệu tổng hợp, số mỏ phụ gia đã được khảo sát, phát hiện trên phạm vi toàn quốc là 152 mỏ trong đó, số mỏ đã được thăm dò, khảo sát, tìm kiếm: 111 mỏ, số

mỏ chưa thăm dò, xác định trữ lượng là 41 mỏ Trong số mỏ đã được thăm dò, khảo sát có 17 mỏ thuộc khu vực cấm, tạm cấm hoạt động khoáng sản với tổng tài nguyên 190 triệu tấn

1.3.4 Đá ốp lát, mỹ nghệ

Đá ốp lát phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc

Trang 36

Ở các tỉnh miền Trung được phân bố tại các tỉnh như: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận và Gia Lai

Các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc tập trung chủ yếu tại Yên Bái Ngoài

ra các tỉnh có tiềm năng đá ốp lát trong vùng như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Sơn La, Hòa Bình

Một số mỏ có quy mô nhỏ, phân bố tại các khu vực như ở Hà Trung (Thanh Hoá), Đồng Văn (huyện Tân Kỳ, Nghệ An), Quảng Ngãi, Lâm Đồng, An Giang

1.3.5 Cao lanh – felspat

Đến nay đã ghi nhận khoảng 286 mỏ, khu vực và điểm mỏ cao lanh - felspat, có chất lượng và quy mô khác nhau

a Cao lanh

Cao lanh ở Việt Nam khá phong phú về chủng loại, chất lượng, phân bố rải rác ở nhiều vùng, miền, theo nguồn gốc, ở Việt Nam có 3 loại cao lanh như sau:

* Cao lanh trong vỏ phong hoá

- Cao lanh trong vỏ phong hoá các thân pegmatit phân bố trong các mỏ Hữu Khánh, Đồi Đao, Mỏ Ngọt và các điểm khoáng sản khác ở các huyện Thanh Sơn, Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ, các mỏ Trực Bình, Tân Thịnh tỉnh Yên Bái, Sơn Mãn, Bản Phiệt tỉnh Lào Cai Các thân quặng cao lanh có quy mô không lớn, hình dạng phức tạp, phân đới rõ, cao lanh có chất lượng cao, dễ thu hồi, làm giàu, thông thường, dưới cao lanh phong hoá là đới quặng felspat

- Cao lanh trong vỏ phong hoá các đá magma granit, aplit, riolit như tại các

mỏ Văn Bàn tỉnh Lào Cai; Định Trung tỉnh Vĩnh Phúc; vùng Bốt Đỏ tỉnh Thừa Thiên - Huế, Đèo Le tỉnh Quảng Nam; Trại Mát thuộc TP Đà Lạt; cao lanh phong hoá từ keratophia ở Bích Nhôi, Minh Tân tỉnh Hải Dương… Các đá gabro, gabro - pegmatit cũng tạo nên cao lanh như mỏ Núi Hồng tỉnh Thái Nguyên Các mỏ này có quy mô khác nhau, một số mỏ có quy mô lớn Bề dày vỏ phong hoá thay đổi trong khoảng rộng, đến 30 m, cao lanh ở thành tạo này thường có chất lượng tốt

- Cao lanh trong vỏ phong hoá các đá trầm tích giàu felspat: Điển hình là mỏ cao lanh Bắc Lý phân bố trong vỏ phong hoá tầng cuội sỏi giàu felspat Một số lớp bột kết, đá phiến sét trong các tầng đá tuổi Trias, Jura cũng tạo ra cao lanh trong vỏ phong hoá nhưng có chất lượng trung bình hoặc thấp Ngoại trừ mỏ Bắc Lý có quy

mô lớn, các mỏ, điểm khoáng sản khác có quy mô nhỏ, trung bình

* Cao lanh nguồn gốc trầm tích

Cao lanh thường phân bố trong tầng trầm tích tuổi Neogen, Đệ tứ Các mỏ cao lanh loại nguồn gốc này phân bố nhiều ở Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long Mỹ, Phù Cát ở Bình Định, Đăk Cấm tỉnh Kon Tum và Trúc Thôn, Phao Sơn ở Hải Dương Loại cao lanh này thường tạo các mỏ lớn, có diện phân

Trang 37

bố rộng đến nhiều km2, có bề dày thay đổi, thường mỏng, có chất lượng khác nhau Cao lanh ở Trúc Thôn và Đất Cuốc có chất lượng tốt, còn ở các mỏ khác cao lanh có chất lượng thấp hơn, chủ yếu là sét cao lanh

* Cao lanh - pyrophilit nguồn gốc biến chất trao đổi

Cao lanh- pyrophilit phân bố trong tầng đá núi lửa thành phần axit Hiện nay đã điều tra, thăm dò một số mỏ ở vùng Tấn Mài, Quảng Ninh Loại cao lanh tương tự còn có thể phát hiện ở một số nơi khác Quặng cao lanh - pyrophilit có thành phần khoáng vật gồm cao lanh, dickit, pyrophilit, serixit, alunit, thạch anh Quặng cao lanh - pyrophilit có chất lượng tốt, hiện đang khai thác để sử dụng trong nước và xuất khẩu

Về địa lý, quặng cao lanh phân bố tập trung trong các vùng sau đây:

Dải Lào Cai - Phú Thọ gồm các mỏ cao lanh nguồn gốc phong hoá từ các thân pegmatit hình thành trong các tầng đá biến chất cổ, ít hơn từ các khối đá granit sáng màu Một số thân quặng trong các mỏ này đang được khai thác, chế biến

Vùng mỏ cao lanh - pyrophilit Tấn Mài gồm nhiều thân quặng, một số thân

đã, đang được thăm dò, khai thác Đây là vùng quặng cao lanh - pyrophilit có chất lượng tốt, có tài nguyên lớn

Vùng mỏ cao lanh Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình gồm mỏ Bắc Lý và điểm khoáng sản Nam Lý có quy mô lớn, điều kiện khai thác thuận lợi, hiện đang được khai thác, chế biến Vùng A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế đã được điều tra và thăm

dò một số thân cao lanh trong vỏ phong hoá của các thể aplit, cao lanh có chất lượng tốt, hàm lượng oxyt sắt thấp, có tài nguyên lớn nhưng phân bố rải rác trong các thân có quy mô nhỏ, trung bình Hiện đang được khai thác, chế biến

Vùng Lâm Đồng có các mỏ Trại Mát, Bảo Lộc có quy mô lớn có chất lượng tốt và điều kiện khai thác thuận lợi Hiện đang được khai thác chế biến quy

mô nhỏ Trong vùng còn có nhiều điểm có triển vọng, có khả năng làm tăng đáng

kể nguồn tài nguyên

Vùng Bình Dương có nhiều thân cao lanh nguồn gốc trầm tích phân bố trên diện rộng, có tài nguyên lớn, có chất lượng thay đổi từ tốt đến trung bình Các mỏ của vùng này cùng với các điểm khoáng sản lân cận ở Bình Phước, Tây Ninh tạo nên nguồn nguyên liệu cao lanh quan trọng để phát triển công nghiệp sứ gốm và VLXD ở Đông Nam Bộ

Ngoài ra, cao lanh còn phân bố rải rác có quy mô, chất lượng khác nhau ở Vĩnh Phúc, Sóc Sơn (Hà Nội), Quảng Nam, Bình Định, Thanh Hoá…

b Felspat

Về địa lý, khoáng sản felspat phân bố tương đối tập trung trong các vùng sau đây:

Trang 38

- Vùng Lào Cai - Yên Bái gồm các mỏ, điểm quặng pegmatit phân bố kéo dài từ Lào Cai đến Bắc Phú Thọ gồm: Sơn Mãn, Bản Phiệt, Bảo Yên, Yên Thái, Phai Hạ, Yên Kiện, Dốc Kẻo Trong vùng này, phân bố các mạch pecgmatit dạng thấu kính Tại bờ phải sông Hồng, vùng Làng Mạ, Văn Bàn đang khai thác cao lanh và felspat từ khối granit sáng màu Pecgmatit thường có độ hạt trung bình đến lớn có hàm lượng thạch anh đến 20 - 25% và thường chứa biotit, granat

- Vùng Thạch Khoán có nhiều mỏ, điểm quặng cao lanh, felspat, tại đó trong vỏ phong hoá là cao lanh, phần chưa phong hoá là các thân pegmatit điển hình với các tinh thể felspat lớn dễ làm giàu thủ công để có nguyên liệu chất lượng cao

- Vùng Ma Drăk, Ea Kar thuộc tỉnh Đăk Lăk có nhiều thân pegmatit, phân

bố trong tầng đá biến chất cổ Các thân quặng có kích thước kéo dài đến hàng trăm mét, có bề dày thay đổi, nhìn chung là nhỏ, trung bình 4 - 6 m, có thế nằm tương đối dốc Chất lượng quặng thuộc loại trung bình

Ngoài ra, đã xác định một số thân pecgmatit phân bố trong tầng đá biến chất ở vùng Tiên Phước, Trà My, các mạch pecgmatit ở ngọai vi tiếp xúc khối granit Đại Lộc thuộc tỉnh Quảng Nam

1.3.6 Đất sét trắng

Đất sét trắng (sét - cao lanh) để làm gốm sứ xây dựng có trữ lượng không lớn; Có thành phần hoá học trung bình: SiO2: 58-64%, Al2O3: 15-26%, Fe2O3: 1,5-4% Điều kiện thành tạo của đất sét trắng tương tự như thành tạo cao lanh, chúng có 2 kiểu nguồn gốc: Phong hoá và trầm tích, trong đó, kiểu nguồn gốc trầm tích thường có quy mô và giá trị công nghiệp lớn hơn

- Sét thành tạo dạng trầm tích: phân bố rải rác ở các vùng: Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ Mỏ sét Chí Linh - Hải Dương đang được khai thác có trữ lượng lớn và chất lượng tốt nhất Ngoài ra, còn có một số mỏ sét như Yên Thọ, tỉnh Quảng Ninh, Hang Nai, tỉnh Đồng Nai, các mỏ sét ở tỉnh Bình Dương

- Sét thành tạo trong vỏ phong hoá tàn dư: mỏ Đồng Gianh, tỉnh Tuyên Quang, mỏ Núi Hồng, tỉnh Thái Nguyên Ngoài ra ở khu vực Hà Nội có một số

mỏ như Gò Chai, Gia Lông đều ở huyện Sóc Sơn

- Nguồn đất sét trắng tốt nhất hiện nay và có trữ lượng lớn được phân bố khu vực Chí Linh, tỉnh Hải Dương Ngoài ra còn một số mỏ khai thác có trữ lượng nhỏ và chất lượng không cao ở Quảng Ninh, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Sóc Sơn - Hà Nội, Thừa Thiên – Huế, Đồng Nai

1.3.7 Đất sét chịu lửa

Tài nguyên sét chịu lửa ở Việt Nam phân bố ở một số khu vực sau đây: Vùng Thái Nguyên có các thân sét chịu lửa là các ổ, thấu kính nhỏ, bề dày

Trang 39

đến 11 m, có chiều dài đến 130 m, rộng đến 50 m, sét có hàm lượng Al2O3 + TiO2

từ 32 đến hơn 42%, có độ chịu lửa thay đổi từ 1.650 đến 1.730oC, sét có chất lượng tốt Tại Nghiêm Sơn và Vinh Phú thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã điều tra, khoanh định các thân cao lanh phong hoá từ đá magma, hình dạng các ổ, thấu kính sét chịu lửa dài từ vài chục mét đến 190 m, dày từ 2 m đến 21m, có chất lượng tốt Tại Đáp Cầu, sét chịu lửa phân bố ở các khu Xóm Thượng, Bút Lê, Đáp Cầu, Dốc Đặng gồm các lớp đá phiến sét màu xám, xám trắng, có bề dày 2,8 - 4,6

m, sâu đến 3,5 m Sét có độ chịu lửa cao hơn 1.580oC Tại mỏ sét Trúc Thôn, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã thăm dò, xác định các lớp sét cao lanh, trong

đó có các lớp, thấu kính sét chịu lửa có độ chịu lửa 1.460 -1.530oC Ngoài ra, quặng cao lanh - pyrophilit vùng mỏ Tấn Mài - Quảng Ninh cũng là nguồn nguyên liệu chất lượng cao để sản xuất vật liệu chịu lửa Đến nay, đã thăm dò, xác định 21,64 triệu tấn cấp 121 + 122 ở vùng mỏ Tấn Mài, trong đó có khoảng 20% trữ lượng quặng đáp ứng yêu cầu làm nguyên liệu sản xuất vật liệu chịu lửa

1.3.8 Cát trắng

Cát trắng là nguyên liệu chính để sản xuất kính, đá nhân tạo và là khoáng sản có trữ lượng lớn ở Việt Nam, ước tính hàng tỷ tấn Cát trắng phân bố trên các tỉnh ven bờ biển Bắc Bộ và Trung Bộ như Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu… Tiềm năng cát trắng là rất lớn, song, mới chỉ ở mức độ điều tra, đánh giá còn thăm dò xác định trữ lượng hạn chế

Một số vùng đã được thăm dò trữ lượng lớn như Vân Hải (Quảng Ninh), Nam Ô, Thăng Bình, Hương An, Bình Tú, Khương Đại (Quảng Nam – Đà Nẵng), Thủy Triều, Đầm Môn (Khánh Hòa), Cây Táo, Hồng Liêm (Bình Thuận), Phong Điền (Thừa Thiên Huế)…

1.3.9 Đá vôi cho sản xuất kính, vôi công nghiệp

Đá vôi cho sản xuất kính, vôi công nghiệp được phân bố rộng rãi trong cả nước (tương tự như đá vôi làm xi măng), song quy mô tại mỗi vùng là khác nhau Tài nguyên đá vôi tập trung nhiều ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung Nguồn tài nguyên dồi dào, phân bố rộng khắp cả nướclà điều kiện thuận lợi để phát triển ngành sản xuất vôi công nghiệp

1.3.10 Đôlômit

Tài nguyên đôlômit ở Việt Nam ước khoảng hàng tỉ tấn, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, trong các tầng đá carbonat Theo thực tế điều tra, trong số các địa tầng carbonat thì hệ tầng Đồng Giao có tiềm năng, triển vọng nhất về nguyên liệu dolomit; trong đó đôlômit phân bố ở tập dưới của hệ tầng Đôlômit trầm tích có rải rác ở nhiều tỉnh như Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc

Trang 40

Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Sơn La, Ninh Bình, Thanh Hoá, Quảng Bình,

có trữ lượng ít hơn ở Quảng Nam,…

Đôlômit có nguồn gốc trầm tích biến chất được đã được phát hiện ở vùng Tây Nguyên tại các tỉnh như Kom Tum, Gia Lai có liên quan với các thành tạo lục nguyên carbonat biến chất thấp thuộc các hệ tầng Phong Hanh, Đăk Long, Đăk Uy, Chư Sê; và các trầm tích lục nguyên carbonat thuộc các hệ tầng Chư Brei, Chư Minh, Đray Linh

1.3.11 Khoáng sản khác (thạch anh, quắczit, )

- Thạch anh: Thạch anh là khoáng vật rất phổ biến trong tự nhiên và là thành phần của rất nhiều loại đá và khoáng sản quặng Thạch anh thường gặp ở dạng thành phần chính của nhiều loại đá magma axit xâm nhập và phun trào ở dạng hạnh nhân như mã não và onix, một số đá trầm tích cơ học như đá thạch anh, đá biến chất từ các loại đá trên như quắczit Trong các quá trình biến chất thạch anh hình thành do sự khử nước của các đá trầm tích chứa opal để thành tạo ngọc bích Trong các quá trình ngoại sinh thạch anh và conxedon thành tạo do

sự khử nước và tái kết tinh của keo silic Ngoài ra, còn gặp các tinh thể lớn của thạch anh trong các hỗng pegmatit cộng sinh với felspat, muscovit, topaz, beryl và một số khoáng vật khác và là khoáng vật phổ biến trong các khoáng sàng nhiệt dịch

- Quắczit: là loại đá đặc biệt được hình thành do sự biến chất không bong tróc của những loại đá khác, đa số là thạch anh Được hình thành ở phần giao nhau giữa các mảng kiến tạo hội tụ Khi kết cấu địa hình mảng hội tụ thay đổi sẽ hình thành nên những ngọn núi uốn gấp nếp, tại những ngọn núi này, người ta tìm thấy đá quắczit Với đặc điểm hình thành, ở Việt Nam quắczit được tìm thấy tại các tỉnh phía Bắc như tại Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang,…

- Các loại khoáng sản khác còn có đá phiến lợp tập trung ở vùng núi phía Bắc như tại Lai Châu

Ngày đăng: 26/11/2022, 23:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w