Dạy học lịch sử lớp 11 trung học phổ thông chương trình chuẩn, GV có thể khai thác được nhiều nguồn tư liệu khác nhau trên mạng Internet để phục vụ cho thiết kế giáo án điện tử, tổ chức
Trang 1Đề tài: Sử dụng hiệu quả Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” ở trường Trung học phổ thông
GVHD: TS Nguyễn Mạnh Hưởng SVTH: Nguyễn Thị Thảo
Lớp: K57 CLC
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, toàn cầu hóa đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu của mọi
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó việc “lấy sức mạnh từ công nghệ, năng lượng từ thông tin và chèo lái bằng kiến thức”[58; 5] là một yêu
cầu bức thiết Sự hội nhập của nền kinh tế toàn cầu đã ngầm khẳng định một cách nghiêm túc về vai trò, tính chất và mục đích của giáo dục và đào tạo, mà
theo cách gọi của nhà tương lai học Alvin Toffler “Những người mù chữ của thể kỷ 21 sẽ không phải là những người không biết đọc, biết viết mà chính là những người không biết cách học, cách quên và cách học lại”[49; 5]
Công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông được coi là những công cụ tiềm năng có tác động tích cực tới cách dạy của thầy và cách học của trò, làm thay đổi cho cải cách giáo dục Ở các nước tiên tiến trên thế giới như Mĩ, Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc… việc sử dụng những thành tựu của khoa học công nghệ trong nhà trường đã có từ rất sớm, khẳng định được tính hiệu quả, nhất là những ứng dụng liên quan đến CNTT
Ở Việt Nam, nền giáo dục trong những năm gần đây đã được quan tâm,
đầu tư với phương châm: “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, là
động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước, phải coi giáo dục là một hướng chính của đầu tư phát triển
Như vậy, nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục và đào tạo là vô cùng to lớn Trong xu thế toàn cầu hóa của nền giáo dục thế giới, nền giáo dục Việt Nam
muốn phát triển thì phải không ngừng áp dụng CNTT Bởi vì “nước nào đi đầu trong sử dụng CNTT, nước đó sẽ đi đầu về giáo dục” [32; 10]
Ở trường phổ thông, môn Lịch sử giống như nhiều môn học khác có nhiệm vụ cung cấp cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản, rèn luyện các năng lực học tập, qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm để phục vụ cho xã hội, dân
Trang 3tộc Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” [13; 498] Trong Nghị quyết các Đại hội Đảng
Cộng sản Việt Nam, nhất là Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã nhấn mạnh đến
việc giáo dục cho học sinh, sinh viên phải có “bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại” [15; 207] Lịch sử là một bộ môn thuộc
chuyên ngành khoa học xã hội - nhân văn, hệ thống kiến thức đề cập tới những hoạt động khác nhau của đời sống xã hội loài người trong tiến trình lịch sử từ trước tới nay, nên nó có nhiều ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ
Từ thời cổ đại, người ta đã sớm nhận thức được vai trò của sử học đối với đời
sống con người Pôlibi gọi “lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, là tấm gương
của muôn đời [24; 174] Môn lịch sử cũng sớm được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường ở phương Đông và phương Tây, không chỉ cung cấp cho người học kiến thức, mà còn để giáo dục con người những quan điểm ở mỗi thời đại Đối với nhà trường chúng ta hiện nay, môn lịch sử cần được xã hội coi trọng hơn nữa
Thực tiễn việc dạy – học lịch sử ở trường phổ thông những năm gần đây
luôn khiến cho dư luận xã hội và người trong cuộc phải “giật mình”, bởi hàng
năm, số thí sinh tham dự các kì thi có môn Lịch sử đạt điểm dưới trung bình rất lớn Ví như kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2009, trong 3 môn thi
khối C thì Lịch sử đứng ở vị trí “đội sổ” có điểm thấp nhất Số thí sinh bị
điểm dưới 5 chiếm tỉ lệ cao, trong đó điểm từ 0 đến 2 rất nhiều Tại Đại học
Sư phạm Đà Nẵng, điểm từ 5 trở lên chỉ đạt 5%, Đại học Đà Lạt là 4%, Đại học Văn hoá TP Hồ Chí Minh là 3,7%…[65] Những số liệu trên cho thấy, việc dạy – học lịch sử ở các trường trung học phổ thông (THPT) hiện nay đáng báo động, cần phải khắc phục
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, như quan niệm của xã
hội, tư tưởng học sinh (HS) coi lịch sử là “môn phụ” và “thi gì thì học đấy”
Song chủ yếu vẫn do phương pháp tổ chức dạy của thầy và việc học của trò Nhiều ý kiến cho rằng giáo viên (GV) chậm đổi mới, không tích cực hưởng
Trang 4ứng và vận dụng các biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh vào dạy học Việc trang bị thiếu đồng bộ về cơ sở vật chất ở phần lớn các trường THPT (máy tính, máy chiếu, internet, tư liệu điện tử…) cũng được coi là nguyên nhân lớn dẫn đến tình trạng chất lượng bộ môn suy giảm
Chúng ta biết rằng, chất lượng dạy và học lịch sử sẽ được nâng lên nếu
có sự tham gia tích cực của các yếu tố hợp thành quá trình dạy học như mục tiêu, nội dung, phương tiện, hình thức tổ chức, kiểm tra đánh giá,…Trong đó, hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò đóng vai trò quyết định nhất, bởi mọi yếu tố khác như sách giáo khoa, phương tiện, nội dung đều phải thông qua 2 yếu tố này mới phát huy tác dụng Những năm gần đây, việc đưa CNTT vào nhà trường đã hỗ trợ GV rất nhiều trong công tác giảng dạy, nhờ
có nối mạng Internet nên việc khai thác thông tin trở nên quen thuộc với GV Internet chính là nguồn kiến thức thông tin vô tận, phong phú cho cả thầy và trò với nhiều thể loại như các văn bản, tranh ảnh, các đoạn video được cập nhật từng ngày, từng giờ Thông qua Internet, GV có thể trao đổi chia sẻ thông tin trực tiếp với nhau cho dù cách xa về khoảng cách địa lý Dựa trên Internet, người ta có thể xây dựng các Website để đưa bài giảng lên mạng, giúp cho nhiều GV ở các vùng miền khác nhau có cơ hội tiếp cận học hỏi kinh nghiệm Như vậy, việc dạy học không còn bó gọn trong phạm vi từng lớp học, mà nó có thể đáp ứng các tiêu chí giáo dục mới: học mọi lúc, học mọi nơi, học theo sở thích và học suốt đời
Dạy học lịch sử lớp 11 trung học phổ thông chương trình chuẩn, GV có thể khai thác được nhiều nguồn tư liệu khác nhau trên mạng Internet để phục
vụ cho thiết kế giáo án điện tử, tổ chức dạy học trên lớp với sự hỗ trợ của CNTT, góp phần đổi mới phương pháp và từng bước nâng cao chất lượng bộ môn Tuy nhiên, nếu không nắm vững những nguyên tắc và phương pháp luận, yêu cầu của bộ môn thì không đảm bảo giá trị khoa học, giáo dục và phát triển kĩ năng của người học
Trang 5Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, em chọn vấn đề “Sử dụng hiệu quả Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” ở trường Trung học phổ thông” làm Khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành Lý luận và
Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xuất phát từ việc khẳng định các tư liệu điện tử trong dạy học cũng là một loại tài liệu tham khảo, là đồ dùng trực quan hỗ trợ việc dạy – học, em xin khái quát các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài gồm 2 nhóm chính:
2.1 Tài liệu nước ngoài
Nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Cômenxki với tác phẩm “Phép dạy học vĩ đại” (1670), là người đầu tiên đặt nền móng cho lý luận dạy học trong nhà
trường Ông đã đưa ra hệ thống các nguyên tắc dạy học, mà trong đó, nguyên
tắc về tính trực quan được coi là “nguyên tắc vàng ngọc”: “Cái gì HS nhìn được thì cho nhìn, nghe được thì cho nghe, ngửi được thì cho ngửi Cái gì
HS tri giác được bằng tất cả các giác quan thì cho họ tri giác bằng tất cả các giác quan” [55; 151]
Sau J.A.Cômenxki, các nhà giáo dục như K.Đ.Usinxki, A.A.Vaghin, M.N.Sacđacôp, N.G.Đairi, I.F.Kharlamop,…đã kế thừa và phát triển nguyên tắc trên, làm cho nó sâu sắc và hoàn thiện hơn
K Đ Usinki - nhà giáo dục lỗi lạc Nga khẳng định: “Sự học tập nào mà không có hứng thú gì cả và chỉ biết hoạt động bằng cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của cá nhân” [57; 33]
Cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của A.Vaghin
nêu rõ: Có phương tiện trực quan, HS sẽ nắm vững khái niệm một cách chính xác HS bằng thị giác thông qua đồ dùng trực quan dễ nhận thức được kiến thức sâu sắc hơn [59]
Với nhan đề “Tư duy của học sinh”, M.N.Sacđacôp nhận định: “Tư duy diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ với tri giác… nhờ tri giác mà ta thu nhận
Trang 6được thuộc tính và phẩm chất bản chất hoặc không bản chất bên ngoài, nhìn thấy được những sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan hay những mối liên hệ và quan hệ giữa chúng với nhau Nhận thức cảm tính là nội dung cụ thể của tư duy” [41; 20]
N.G.Đairi trong cuốn“Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” đã nhấn mạnh “tính cụ thể , tính hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao, bởi vì chúng cho phép hình dung lại quá khứ” [12; 25]
I.F.Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh”
cũng nhấn mạnh đến vai trò của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy
học lịch sử Theo ông “việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động, nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho các em nhìn thấy bản chất của sự kiện, ẩn sau các hình thức và biểu hiện bên ngoài, kích thích tính ham hiểu biết cho các em” [23; 105-106]
Như vậy, từ rất sớm, các nhà giáo dục nói chung và giáo dục lịch sử nói riêng đã nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa của tính trực quan trong dạy học
2.2 Tài liệu trong nước
Từ những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà giáo dục lịch sử nước ta bước đầu nghiên cứu về lý luận và phương pháp dạy học bộ môn, coi trọng tính hình ảnh trực quan và sử dụng các loại thiết bị, phương tiện kĩ thuật trong dạy
học Có thể kể đến: “ Đồ dùng trực quan trong DHLS ở trường phổ thông cấp II” của Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ Tá [25]; “Phương pháp dạy học lịch sử”,
tập 1,2 do Phan Ngọc Liên chủ biên [29],[30]; …
Cuốn “Hệ thống thao tác sư phạm trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học” của tác giả Kiều Thế Hưng đã làm nổi bật tính trực quan trong dạy học lịch sử Theo tác giả: “HS chỉ có thể dựa vào hình ảnh tái tạo của các sự kiện qua một bức tranh, một hiện vật, qua phim ảnh, qua hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh ” [16; 17]
Cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” do GS.TS
Nguyễn Thị Côi (chủ biên) dành một chương khá chi tiết viết về rèn luyện kĩ
Trang 7năng xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan, trong đó có sử dụng CNTT Sách nêu rõ các bước tiến hành, kĩ năng khai thác từ các kênh hình có trong sách giáo khoa và kênh hình ngoài sách giáo khoa bằng CNTT [7; 86 - 93]
Năm 2009, tập thể giảng viên tổ PPDH khoa Lịch sử, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội xuất bản cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử lớp 11 THPT” [8] Bộ sách này đã cung cấp cho GV nội dung và
phương pháp sử dụng của từng kênh hình trong từng bài Khi đề xuất phương pháp sử dụng từng kênh hình, tác giả đã kết hợp nêu câu hỏi gợi mở vấn đề để hướng dẫn HS tự tìm hiểu và rút ra kết luận, nhằm phát huy hoạt động tích cực, gây hứng thú cho HS trong quá trình học tập
Những quan điểm khẳng định về vai trò, ý nghĩa, kỹ năng xây dựng và
sử dụng các công cụ hỗ trợ đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng hiện
đại cũng được đề cập đến trong một số tài liệu như: “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt; “Tâm lý học” của Hồ Ngọc Đại, “Lý luận dạy học đại cương” của Nguyễn Ngọc Quang, “Giáo dục học hiện đại” của Thái
- “Một số biện pháp gây hứng thú cho HS trong học tập lịch sử vận
dụng qua dạy chương I “Những cuộc cách mạng tư sản thời cận đại” lớp 10 THPT” [17]
- “Sử dụng đồ dùng trực quan nhằm phát huy tính tích cực của HS trong
dạy học lịch sử các cuộc cách mạng tư sản đầu thời cận đại” [50]
Trang 8- “Xây dựng và sử dụng bản đồ trên phần mềm Microsoft Power point trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX ở lớp 10 THPT (chương trình chuẩn)” [51]
- “Xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu điện tử trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945 ở lớp 12 THPT (chương trình chuẩn)” [48],… Trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Giáo dục,… có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau:
Nguyễn Thị Côi với bài viết “Kênh hình - một nguồn cung cấp kiến thức quan trọng trong dạy học” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 2/2002
Trịnh Đình Tùng, Kiều Thế Hưng với “Xây dựng và sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục
số 6/1994
Lại Đức Thụ, Nguyễn Văn Phong với “Cần có nhiều bản đồ trong dạy học lịch sử ở trường THPT” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số
6/1994
Trong Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5/1999, Dương Trung Quốc có bài
viết “Ảnh - một nguồn sử liệu cần được khai thác trong nghiên cứu giảng dạy
và truyền bá lịch sử”
Đặc biệt, đi sâu vào nghiên cứu mảng đề tài nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử ở trường phổ thông với sự hỗ trợ của CNTT là tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng, với nhiều tài liệu và bài viết như:
- “Thiết kế và trình diễn trực quan bài giảng bằng Microsft Power point trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên,
Trang 9- “Đặc trưng của việc dạy - học lịch sử và con đường hình thành kiến thức cho HS với sự hỗ trợ của CNTT” (Tạp chí Giáo dục số 235/2010)
- “Nâng chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” (Luận án tiến sĩ) [22]…
Nhìn chung, các công trình, bài viết trên đã góp phần làm phong phú sâu sắc hơn cơ sở lí luận của việc tạo biểu tượng và sử dụng kênh hình trong dạy học Các trang Website trên Internet cũng cung cấp nhiều nguồn tư liệu lịch
sử hỗ trợ cho GV và HS trong quá trình dạy học như:
- http://www.menagerie.net/lyceum (Lịch sử văn hoá thế giới cổ đại)
- http://www.academic.marist.edu/history/hiseuro (Lịch sử Châu Âu)
- http://www.fordham.edu/halsall/sbook (Lịch sử thế giới trung đại)
- http://www.cinet.vnn.vn (website của Bộ VHTT về lịch sử, đất nước, con người Việt Nam)
- http://saigon.vnn.vn/lichsu (Giới thiệu về đất nước, con người và truyền thống VN)
- http:// www edu.net.vn (Website của Bộ GD-ĐT)
Trang 103 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình sử dụng Website học
liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11 ở trường THPT, góp phần nâng cao hiệu quả bài học
3.2 Đề tài không đi sâu vào lĩnh vực kĩ thuật, mà trên cơ sở khẳng định
vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử, chúng tôi đề xuất các biện pháp sử dụng hiệu quả hệ thống học liệu điện tử (gồm bài viết, tranh ảnh, phim tài liệu…) trên website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” (chương trình chuẩn) Đồng thời, đề tài cũng chỉ rõ một số vấn đề về yêu cầu và phương pháp luận khi sử dụng nguồn học liệu điện tử trên website này Cuối cùng, tác giả thực nghiệm sư phạm loại bài học nghiên cứu kiến thức mới nhằm khẳng định tính khả thi của các biện pháp đã nêu
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4.1 Đề tài khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng website học liệu
điện tử trong dạy học lịch sử, trọng tâm là đề xuất các biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn học liệu điện tử trên website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” (chương trình chuẩn), góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
4.2 Từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ của đề tài là:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng website học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
- Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa lịch sử lớp 11 THPT (chương trình chuẩn) để xác định vị trí, mục tiêu, kiến thức cơ bản; khai thác nội dung lịch sử có thể ứng dụng CNTT khi dạy học
- Đề xuất các biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn học liệu điện tử trên website “Học liệu điện tử môn Lịch sử 11” (chương trình chuẩn), góp phần nâng cao hiệu quả các bài học
- Thực nghiệm sư phạm loại bài học nghiên cứu kiến thức mới để khẳng định tính khả thi của đề tài
Trang 115 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên quan điểm, nhận thức
của chủ nghĩa, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đổi mới giáo dục và những vấn đề liên quan đến lý luận dạy học, phương pháp dạy học lịch sử
5.2 Bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc nghiên cứu khoa học nói
chung, do nội dung và tính chất của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục sau:
- Nghiên cứu các nguồn tài liệu Tâm lý học, Giáo dục học… đặc biệt là
lý luận dạy học bộ môn liên quan đến sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử nói riêng
- Nghiên cứu thực tiễn thông qua phiếu điều tra, khảo sát, dự giờ, phỏng vấn… về tình hình ứng dụng CNTT, về việc khai thác và sử dụng các tư liệu điện tử trên website trong dạy học lịch sử
- Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm theo các biện pháp đề xuất trong khóa luận
- Tổng kết, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm và rút ra kết luận, kiến nghị
6 Ý nghĩa của đề tài
6.1 Thực hiện đề tài này sẽ giúp em hiểu rõ được vai trò, ý nghĩa của
việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, đặc biệt là việc xây dựng và sử dụng Website học liệu điện tử hỗ trợ quá trình đổi mới
phương pháp dạy học có ứng dụng CNTT của GV
6.2 Đề tài giúp em vận dụng những kiến thức, kết quả nghiên cứu của
mình vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông sau khi tốt nghiệp ra trường,
phổ biến với bạn bè, đồng nghiệp cũng như những người quan tâm
Trang 131.1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài
Công nghệ thông tin và truyền thông:
Từ những năm 90, thuật ngữ “công nghệ thông tin” (tiếng Anh là
Information Technology) xuất hiện và ngày càng trở nên thân thuộc trong thời
đại của nền kinh tế tri thức Nó được hiểu là “ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin”, là “ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin” [61]
Hiểu theo cách này, những người làm việc trong ngành sẽ được gọi là
“chuyên gia CNTT” (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp
(Business Process Consultant) Trong hệ thống giáo dục phương Tây, CNTT sớm được tích hợp vào chương trình học tập từ bậc phổ thông đến đại học và đem lại hiệu quả rõ rệt Vì vậy, người ta nhanh chóng nhận ra rằng việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp để nâng cao chất lượng giáo dục là cần thiết, có thể áp dụng cho mọi môn học
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết
số 49/CP của Chính phủ, kí ngày 04/08/1993: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại
- chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [37]
Trang 14Từ năm 2000, thế giới bắt đầu sử dụng thuật ngữ “công nghệ thông tin
và truyền thông” (Information and Commu nication Technology - ICT) Theo
đó, CNTT và truyền thông được hiểu là tập hợp các cách thức, kĩ thuật, công cụ,… và phương pháp có thể áp dụng để nhập, lưu giữ, truy cập và truyền thông tin cho nhau một cách có hiệu quả với sự trợ giúp của máy vi tính và các phương tiện truyền thông
Internet và Website:
- Nguồn gốc đầu tiên của Internet xuất phát từ hệ thống máy tính của Bộ quốc phòng Mĩ, gọi là mạng ARPAnet Mạng này nêu cao triết lí truyền thông bình đẳng (peer – to – peer), trong đó mỗi máy tính của hệ thống trong Bộ
quốc phòng nước này đều có khả năng “nói chuyện” với bất kì máy tính
thành viên nào khác Bất kì máy tính nào dựa trên cơ sở thiết kế của ARPAnet đều được mô tả như một tập hợp các trung tâm điện toán tự quản, mang tính
địa phương và tự điều hành Chúng được liên kết dưới dạng “vô chính phủ nhưng có điều tiết” [61]
Như vậy, Internet là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên những phạm vi khác nhau (ở phạm vi hẹp là giữa các vùng trong một lãnh thổ, rộng hơn là giữa các khu vực, châu lục và toàn cầu), tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ truyền thông dữ liệu như đăng nhập từ xa, truyền các tệp tin, thư tín điện tử và các nhóm thông tin Mạng Internet ban đầu được thiết kế nhằm cung cấp thông tin cho giới khoa học, nên công nghệ của nó cho phép mọi hệ thống liên kết thông qua một cổng điện tử Bất kì tổ chức hay cá nhân nào muốn đều có thể tự lập ra các Website để cung cấp các thông tin của mình, hoặc sử dụng địa chỉ Email để liên lạc, lấy thông tin Đây
chính là lí do khiến Internet trở thành “kho thư viện điện tử” lớn nhất trong
lịch sử loài người chỉ sau hơn 10 năm phát triển [22; 21]
- Website là phương tiện chính để cung cấp thông tin trên mạng Internet
và là tổ hợp của các loại tài liệu (văn bản, âm thanh, phim ảnh,…) được đại diện bởi một địa chỉ Người sử dụng máy tính có kết nối mạng truyền thông
Trang 15trên toàn cầu đều có thể đọc, tìm kiếm và lưu giữ được các loại tài liệu đó thông qua địa chỉ này Mỗi trang tài liệu trong website được gọi là một trang Web (Web - pape) Mỗi Web - pape lại có thể gồm nhiều thông tin khác nhau dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh và các địa chỉ kết nối mới (hyper-link) biểu hiện dưới hình bàn tay (khi người sử dụng di chuyển con chuột trên màn hình) Nhờ có các địa chỉ kết nối này, người sử dụng có thể dễ dàng truy cập đến các web khác
Hiện nay, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và truyền thông, trên thế giới đã có hàng tỉ Website, hỗ trợ rất nhiều cho GV và HS trong đổi mới phương
pháp dạy – học GV coi đây là “thư viện điện tử” để khai thác, tìm kiếm nguồn tài liệu về văn bản, hình ảnh, âm thanh hỗ trợ cho thiết kế “bài giảng điện tử”
của mình Các Website nhiều GV tìm kiếm là video.google.com.vn; google.com.vn; yahoo.com.vn; dayhoclichsu.net; edu.net.vn,…
Thư viện điện tử:
Theo ý nghĩa truyền thống, thư viện là một kho sưu tập sách, báo và tạp chí Tuy nhiên, trong thời đại CNTT, trang giấy không còn là phương tiện duy nhất để lưu giữ thông tin, xuất hiện thêm hàng loạt những phương tiện lưu trữ khác: micrôphim (tiếng Anh: microfilm), băng cassette, CD, LP, băng video
và DVD,…thuật ngữ “thư viện điện tử” cũng theo đó mà ra đời
Trong cuốn “Từ điển dành cho công tác thư viện và khoa học thông tin”
của Nhà xuất bản Libraries Unlimited (2005), tác giả Joan M.Reitz đã khẳng
định “thư viện điện tử chính là thư viện số” Có nhiều định nghĩa về khái
niệm này, nhưng có thể hiểu:
Thứ nhất, theo Từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia: Thư viện điện tử
là thư viện mà ở đó các bộ sưu tập được lưu trữ dưới dạng số (tương phản với các định dạng in, vi dạng, hoặc các phương tiện khác) và có thể truy cập bằng máy tính Nội dung số có thể được lưu trữ cục bộ hoặc truy cập từ xa qua mạng máy tính Thư viện này là một loại hệ thống truy hồi thông tin
Trang 16Thứ hai, theo Thư viện điện tử DELOS Digital Library Reference
Model: Thư viện điện tử là một tổ chức, có thể là một tổ chức ảo, tập hợp, quản lý và bảo quản các ấn phẩm điện tử trong thời gian dài, và cho phép cộng đồng người dùng có những quyền đặc biệt trên nội dung đó tùy theo các quy định đặt ra
Dù định nghĩa theo cách nào, chúng ta cũng thấy thư viện điện tử là một thành tựu của việc ứng dụng công nghệ hiện đại phục vụ hiệu quả trong giáo
dục và đào tạo Nó đáp ứng yêu cầu học tập “mọi lúc, mọi nơi” và nhanh
chóng Tận dụng được những công nghệ đa truyền thông của máy tính, thư viện điện tử không còn là những trang giấy chứa những kênh thông tin khô khan, mà đa dạng hơn, sôi động hơn: những nội dung số – những kênh hình, kênh chữ, kênh tiếng,… đã mang đến một phương pháp dạy – học mới Khả năng này sẽ giúp cho việc sử dụng thư viện điện tử hiệu quả hơn và lôi cuốn người đọc nhiều hơn, phục vụ hiệu quả hơn trong công tác đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn
Học liệu điện tử và Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11”:
- Học liệu điện tử là nguồn học liệu mở được xây dựng bằng phần mềm tin học Thuật ngữ Học liệu điện tử mở (OpenCourseWare) được Viện Công nghệ Massachusetts - MIT (Mỹ) khai sinh vào năm 2002 khi MIT quyết định đưa toàn bộ nội dung giảng dạy của mình lên web và cho phép người dùng Internet ở mọi nơi trên thế giới truy nhập hoàn toàn miễn phí, bao gồm bài giảng, lịch học, danh mục tài liệu tham khảo, bài tập về nhà, bài thi, bài thí nghiệm để người dùng có thể tham khảo cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu của mình
Với tiêu chí “Tri thức là của chung của nhân loại và tri thức cần phải được chia sẻ”, rất nhiều trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới đã
tham gia phong trào học liệu mở và lập Hiệp hội Học liệu mở (OpenCourseWare Consortium) để chia sẻ nội dung, công cụ cũng như
Trang 17phương thức triển khai học liệu mở sao cho đạt được hiệu quả cao nhất, tạo điều kiện cho giảng viên, sinh viên và người tự học được chia sẻ
Như vậy, học liệu điện tử môn Lịch sử chính là những tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy (của GV) và học tập (của HS), những người quan tâm về lịch sử cũng có thể tìm hiểu Nó bao gồm các bài viết lịch sử, kênh hình lịch
sử (lược đồ, tranh ảnh, video…), giáo án điện tử, khái niệm lịch sử, đề thi… được xây dựng bằng phần mềm tin học Học liệu điện tử môn Lịch sử sẽ hỗ trợ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học để nâng cao chất lượng bộ môn
- Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” là một tổ hợp siêu liên
kết các trang web chứa các học liệu điện tử, phục vụ cho việc dạy – học môn Lịch sử lớp 11 THPT Mỗi trang web của học liệu điện tử sẽ chứa nhiều thông tin liên quan đến từng bài học như lược đồ, tranh, ảnh, video, bài viết,…chúng được gọi chung là học liệu phục vụ cho quá trình dạy học bộ môn
Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” được tác giả xây dựng năm 2010, đã tham dự Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học và đạt giải nhất cấp Trường
Giáo án điện tử và Bài giảng điện tử:
- “Giáo án” trong tiếng Anh là Lesson Plan (nghĩa là Kế hoạch giảng dạy) Cần phải hiểu rằng, giáo án là “bản kế hoạch của một tiết lên lớp, trong
đó nêu rõ các bước chủ yếu trong công việc của thầy giáo và HS ở trên lớp, đồng thời cũng nêu được một cách vắn tắt nội dung và phương pháp của công việc đó nhằm đạt được mục đích cụ thể và rõ ràng mà thầy giáo xác định trước theo yêu cầu của chương trình học”[30; 154] “Giáo án điện tử” chính
là bản thiết kế của bài giảng điện tử, khi gọi xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một loạt hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử”[7; 148]
- “Bài giảng điện tử” là một sản phẩm điện tử, được số hóa (giáo trình
điện tử, giáo án điện tử, hồ sơ dạy học, học liệu điện tử,…) được thiết kế, tổ chức theo ý đồ, mục tiêu sư phạm nhất định Sản phẩm này có thể dùng một
Trang 18cách độc lập hoặc tích hợp với các bài giảng truyền thống hiện nay,nó là một
“quá trình” dạy học được điện tử hóa, số hóa Quá trình dạy học “không truyền thống” này cho phép người học, người dạy và nội dung tri thức tương
tác với nhau trong một môi trường số hóa (thường là mạng Internet, đĩa
CD-Rom) ở mọi nơi, mọi lúc “Bài giảng điện tử” về bản chất là “hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hóa do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra” [7; 148]
- “Giáo án điện tử” và “bài giảng điện tử” là hai khâu của quá trình dạy
học ở trường phổ thông, đều có sự hỗ trợ của máy vi tính và các công cụ đa phương tiện Trong đó, để thực hiện một tiết dạy trên lớp với sự hỗ trợ của CNTT, GV phải có sự chuẩn bị từ trước (ở nhà), phải thiết kế toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của mình trên các Slide trình chiếu (Slide show) của
máy vi tính, đó là “giáo án điện tử” Khi tổ chức cho HS học tập trên lớp, GV
sử dụng bản kế hoạch ấy với toàn bộ hoạt động giảng dạy của mình đã được chương trình hóa một cách uyển chuyển, linh hoạt và sinh động nhờ sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện cùng với năng lực tổ chức, nghiệp vụ sư
phạm vốn có, góp phần nâng cao hiệu quả bài học, đó là “bài giảng điện tử”
Hai khái niệm này cần được phân biệt rõ ràng, tránh gây ngộ nhận cho nhiều
GV khi cho rằng “giáo án điện tử” chính là “bài giảng điện tử” có thể thay thế hoàn toàn “giáo án truyền thống”, thậm chí thay cho phấn trắng – bảng
đen, các loại đồ dùng trực quan khác và cả vai trò của GV trong khâu tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS [22; 27 – 28]
1.1.2 Sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo
Vấn đề đổi mới phương pháp để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
có sự hỗ trợ của CNTT đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm Nhiều Văn kiện được thông tại các kì Đại hội khóa VII (1991), VIII (1996),
Trang 19IX (2001), X (2006) của Đảng Cộng sản Việt Nam; Nghị quyết của Bộ Chính trị; các Chỉ thị, Công văn của Chính phủ và Bộ GD - ĐT,… đã thể hiện rõ điều này Chúng ta có thể chia ra làm ba giai đoạn:
* Giai đoạn trước năm 2000:
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) nêu: “Phát triển giáo dục và khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu” [36; 97]
Nhằm thể chế hóa về mặt Nhà nước, ngày 4/8/1993, Chính phủ ban hành
Nghị quyết số 49/CP về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90” Đây được xem là văn bản pháp lí, chính thức để thực hiện
chiến lược ứng dụng CNTT và truyền thông thời kì công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước và “xã hội hóa” giáo dục Để nền giáo dục, đào tạo của nước ta được “đổi mới” cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, Nghị quyết Trung ương IV của Đảng (1993) tiếp tục yêu cầu “áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng học sinh năng lực thực hành tư duy sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề” [10; 5]
Tại Đại hội lần thứ VIII (1996), Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lại nhấn mạnh: Phương pháp giáo dục và đào tạo cần phải
áp dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình đào tạo, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp
Trước thực trạng chất lượng giáo dục, đào tạo của một số môn học có biểu hiện chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII của Đảng nêu rõ: phải
“đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,… Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học” [13; 41]
Như vậy, ở giai đoạn này, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng lộ trình và bước đầu ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo vào thực tiễn Tuy nhiên, tính hiệu quả và phổ biến chưa cao do điểm xuất phát của nước ta còn thấp,
Trang 20do sự nhận thức của đội ngũ GV và hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất, trang
thiết bị dạy học Song, những định hướng trên được xem như “khâu đột phá”
đối với nền giáo dục Việt Nam trước thiên niên kỉ mới
* Giai đoạn 2000 - 2010:
Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được ở giai đoạn trước, Đảng và Nhà nước ta quan tâm hơn nữa đến việc ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, gắn liền với thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế,
xã hội giai đoạn 2000 – 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp
Sự quan tâm ấy trước tiên thể hiện trong Chỉ thị 58 – CT/TW của Bộ Chính trị (ngày 17/10/2000) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2000 - 2005
Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, Chỉ thị nêu rõ: “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học… Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo” [4]
Cụ thể hóa cho Chỉ thị 58 – CT/TW, ngày 24/5/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 81/2001/QĐ – TT phê duyệt chương trình hành động
triển khai Chỉ thị 58 – CT/TW, vì CNTT chính là “phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước” [40; 7]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Báo cáo Chính trị của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) một lần nữa xác định: “tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học,… Từng bước xúc tiến việc nối mạng Internet ở trường học, tạo điều kiện học tập, nghiên cứu trên mạng” [14; 108 – 112]
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28/12/2001 đưa ra yêu cầu cho nền giáo dục Việt Nam lúc này
phải: “Hiện đại hóa trang thiết bị giảng dạy và học tập, phòng thí nghiệm, cơ
sở thực hành Nhanh chóng áp dụng công nghệ thông tin vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lí” Tiếp đó, Chỉ thị số 40/CT/TW của
Trang 21Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX yêu cầu mỗi GV phải tích cực hơn nữa trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy – học
Đặc biệt, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) xác định phải coi trọng hơn nữa việc ứng dụng CNTT gắn liền với các nhiệm
vụ, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước: “Phát triển mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và phát triển kinh tế tri thức” [15; 210]
Những quan điểm, sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo giai đoạn trước năm 2000 và từ năm 2000 đến năm 2010 nêu trên đã nhanh chóng được Ngành giáo dục triển khai ở các cấp
Từ năm học 2001 – 2002, Bộ GD - ĐT liên tiếp gửi nhiều Chị thị, Công văn, Báo cáo cho các Sở GD – ĐT, các trường đại học, cao đẳng sư phạm và phổ thông yêu cầu đẩy mạnh phong trào ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Ví như: Chỉ thị số 49/CT – BGDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học trong năm
2006 – 2007 yêu cầu chấm dứt tình trạng “đọc – chép”, sử dụng CNTT và
truyền thông trong quá trình; Công văn số 9584/BGDĐT – CNTT của Bộ
GD – ĐT gửi cho các Sở GD – ĐT, các trường đại học, cao đẳng sư phạm, các khoa sư phạm hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007 – 2008 về
CNTT và quyết định phát động năm học 2008 – 2009 là năm học “công nghệ thông tin” [3; 1 – 8],…
Đặc biệt, với tầm nhìn chiến lược cho nền giáo dục Việt Nam đến năm
2020, ngày 28/12/2008, Bộ GD – ĐT đã đưa ra bản Dự thảo lần thứ 14 Chiến
lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 – 2020 với mục tiêu “xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc” Để thực hiện mục tiêu
này, bản dự thảo xác định 11 giải pháp quan trọng, trong đó có giải pháp số 5:
Trang 22GV từ mầm non đến đại học đều phải “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học Đến năm 2015, có 80% giáo viên phổ thông, 100% giáo viên, giảng viên các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học sử dụng thành thạo công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học, … Đảm bảo đến năm 2020 có 100% giáo viên, giảng viên từ mầm non đến đại học áp dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học mới” [2; 18]
* Năm 2011 – năm bản lề cho CNTT:
Những kết quả đạt được trong năm 2010 của ngành CNTT nói chung và ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo nói riêng được đánh giá là cơ sở
quan trọng đầu tiên cho một chiến lược phát triển lâu dài Trong đề án: “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin” đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt, có 6 mục tiêu được nhấn mạnh, trong đó, vấn đề phát triển nguồn nhân lực được đặt lên hàng đầu [67] Những nhiệm vụ đặt ra trong năm công nghệ số 2011 là tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học: triển khai áp dụng CNTT trong dạy và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục Phát huy tính tích cực
tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của người học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xóa
bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại Khuyến khích GV, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện tử và giáo
án trên máy tính Khuyến khích GV, giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy qua website của các cơ sở Giáo dục và Đào tạo và qua Diễn đàn giáo dục trên website bộ Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning) Tổ chức cho GV, giảng viên soạn bài giảng điện tử e-Learning trực tuyến; tổ chức các khóa học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội học tập cho người học…[67]
Trang 23Như vậy, toàn bộ những Văn kiện, Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị, Công
văn, Báo cáo của Đảng, Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu trên được coi như những cơ sở pháp lí, mang tính pháp lệnh, là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước về tính cấp thiết phải ứng dụng CNTT vào phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nói riêng trước xu thế phát triển và hội nhập của nền kinh tế, giáo dục thế giới Các văn bản nêu trên vừa thể hiện tính đúng đắn,
kịp thời của Đảng, Nhà nước trong tình hình mới, vừa góp phần thúc đẩy phong trào ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy - học, góp phần nâng cao chất lượng nền giáo dục Việt Nam [22; 44 – 45]
1.1.3 Xu thế ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo trên thế giới
Con người đang sinh sống trong biển cả thông tin, từng giây, từng phút chúng ta đều tiếp xúc với tin tức một cách tự giác hoặc không tự giác Và xã hội càng phát triển thì cách thức con người tiếp xúc với tin tức càng thay đổi theo hướng tích cực Với những bước tiến như vũ bão từ thập kỉ cuối của thế
kỉ XX, công nghệ thông tin đã và đang tạo nên một diện mạo mới cho cuộc sống con người, mở ra cho nhân loại một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên công nghệ thông tin Có thể khẳng định công nghệ thông tin đang giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của loài người
Máy vi tính từ khi ra đời (những năm 40 của thế kỉ XX) đến nay đã được
sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, trở thành lực lượng trực tiếp sản xuất ra mọi của cải vật chất, trong đó có hoạt động giáo dục Những thành tựu của khoa học máy tính ứng dụng vào giáo dục từ những năm 70 của thế kỉ XX (trước hết ở các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp,…), đã đáp ứng được yêu cầu, mục đích dạy học đặt ra
Nền giáo dục Mỹ sớm đặt ra mục tiêu “chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin tri thức”, phải “xây dựng các trường đại học và các khóa đào tạo trên mạng” [31; 46]
Trang 24Ở châu Á, Nhật Bản là quốc gia đi đầu quan tâm đến phát triển khoa học
và công nghệ, vì đây là “một trong những chìa khóa thành công giúp Nhật Bản tiếp tục đảm nhiệm vị trí siêu cường về kinh tế, kĩ thuật khi bước vào thế
kỉ XXI”[43; 48] Nền giáo dục Trung Quốc cũng xác định: Giáo viên ứng
dụng CNTT là một tiêu chí quan trọng để đánh giá tiết học đó có sự đổi mới
về PPDH [60]
Riêng về giáo dục lịch sử, Nghị viện châu Âu thông qua bản “Khuyến nghị số 1283”(22/1/1996), khẳng định sự cần thiết phải sử dụng CNTT vào
dạy học lịch sử và bồi dưỡng nghiệp vụ, kĩ năng ứng dụng công nghệ cao cho
GV [26; 65 – 66] Ở Anh, chương trình quốc gia về giáo dục môn Lịch sử ở
trường phổ thông đã nhấn mạnh: “HS nên được tạo cơ hội để phát triển và vận dụng năng lực CNTT của mình vào học tập lịch sử” [9; 4]
Sang thế kỉ XXI, khoa học máy tính và những ứng dụng của nó càng tác
động mạnh mẽ tới nền giáo dục thế giới, quá trình “quốc tế hóa” về giáo dục
cũng vậy Đứng trước bối cảnh trên, nhiều hội thảo, hội nghị quốc tế về CNTT được tổ chức, như:
- Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước thành viên APEC lần thứ hai
(7/4/2000) xác định nhiệm vụ chiến lược “CNTT mang đến sự đổi mới về cách học cho mọi cấp học…,CNTT trong giáo dục là giải pháp chiến lược đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tri thức” [56; 3] và hiện thực hóa nhiệm vụ này bằng cách “tiếp cận và khai thác tiềm năng của CNTT và truyền thông để nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy, khuyến khích học tập suốt đời” [56; 6]
- Hội nghị quốc tế về thiết kế và sử dụng giáo án điện tử trong giáo dục phổ thông ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Brunây (2003 – 2004)
- Hội nghị quốc tế về môi trường dạy học đa phương tiện, tổ chức tại Italia (2005)
- Hội nghị quốc tế về phát triển thiết bị dạy học và giáo án điện tử, tổ chức ở Philíppin (2005)
Trang 25- Hội nghị cấp cao lần thứ 11 của Cộng đồng các nước sử dụng tiếp Pháp
tổ chức tại Rumani (9/2006) với chủ đề “CNTT trong giáo dục” Trong bài phát biểu diễn văn khai mạc của Thủ tường Rumani đã khẳng định: “ứng dụng CNTT trong giáo dục là xu thế tất yếu, bới ngày nay CNTT đã đi vào mọi mặt của đời sống xã hội và sẽ còn phát triển hơn nữa trong tương lai” [63]
Đặc biệt, vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo với sự hỗ trợ của CNTT đã trở thành chủ đề lớn của tổ chức UNESCO Ngay từ năm 1988,
UNESCO đã tổ chức Hội nghị quốc tế “Tầm nhìn và hành động” (tại Pháp)
bàn về những ứng dụng và tác động của CNTT và truyền thông trong giáo dục
[44; 1] và đưa ra dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ XXI do ảnh hưởng của CNTT” [38; 24] Mới đây, trong Báo cáo về “Tình hình ứng dụng CNTT và truyền thông của hệ thống giáo dục một số nước châu Á, châu Úc”, UNESCO đã phân chia thành 3 nhóm nước
và đưa ra những giải pháp chiến lược về ứng dụng CNTT và truyền thông ở mỗi nhóm nước này
Việc đưa CNTT và truyền thông vào trường học đã được tiến hành và thu được những kết quả hết sức khả quan Nếu năm năm 1993, nước Mỹ chỉ
có khoảng 3% lớp học được nối mạng Internet, thì đến năm 2001 đã có trên 90% trường học có máy nối mạng [22; 32] Ở Anh, Tin học trở thành một môn học bắt buộc, số lượng máy vi tính trên đầu HS giữa các vùng miền từ 1/2 đền 1/20 [9; 4],… Những nước ở Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Inđônêxia…) cũng đang đầu tư cơ sở vật chất về CNTT như áp dụng khóa học trực tuyến, xây dựng thư viện điện tử, cung cấp máy tính xách tay giá rẻ cho HS,… góp phần đổi mới PPDH ở nhà trường
Trong những năm qua, nhiều trường đại học trên thế giới đã bước đầu xây dựng nền tảng cho đại học số hoá Một số trường đại học đã triển khai thành công mô hình này như Ukeu (Đại học số hoá của Anh), CyberUniversity (Đại học số hoá của Hàn Quốc), Đại học USQ (Queensland, Úc), Đại học MIT (Mỹ)… [62] Theo thống kê của CyberUniversity, khoảng
Trang 2670% các trường Đại học hàng đầu của Mỹ có kế hoạch phát triển theo hướng đại học số hoá Tại châu Âu, Hàn Quốc, Singapore có khoảng 80% các trường đại học định hướng phát triển theo mô hình đại học số hoá [62]
Như vậy, với ưu thế về kĩ thuật và tiềm năng sư phạm, ứng dụng CNTT trong dạy học là xu thế tất yếu của nền giáo dục hiện đại
1.1.4 Đặc trưng của việc dạy học lịch sử và con đường hình thành kiến thức cho HS với sự hỗ trợ của CNTT
Mỗi môn học đều có
đặc trưng riêng với những
chức năng, nhiệm vụ cụ
thể để góp phần thực hiện
nhiệm vụ chung của hệ
thống giáo dục quốc dân
Điểm khác biệt nhất giữa
việc nhận thức lịch sử so
với các sự kiện, hiện tượng
của tự nhiên là “tính quá khứ” Trong học tập lịch sử, HS không thể trực tiếp quan sát được các sự kiện, hiện tượng, mà chỉ có thể “nhận thức một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại” [21; 41], GV cũng không thể
thực hiện thí nghiệm lịch sử để dựng lại quá khứ cho HS quan sát, bởi mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra duy nhất một lần, gắn với một khoảng thời gian, không gian và nhân vật cụ thể Nhưng nhiệm vụ tiên quyết của bộ môn
là phải làm thế nào để giúp HS biết, hiểu những chuyện đã xảy ra trong xã hội
loài người, nghiên cứu cái “đã từng tồn tại” nhưng nay “không hiện có”
Để ghi nhớ và phản ánh được thế giới khách quan vào bộ óc của mình
một cách tốt nhất, bao giờ quá trình nhận thức của con người cũng đi từ “gần đến xa”: cái gì xảy ra càng gần chúng ta thì nhớ càng lâu, càng xa thì càng
nhanh quên Thế nhưng chương trình lịch sử ở trường phổ thông lại được xây
Trang 27dựng theo nguyên tắc “đồng tâm kết hợp với đường thẳng” Theo đó, kiến thức lịch sử mà HS học đều phải đi từ “xa đến gần”, tức là cái gì xảy ra trước
thì học trước, cái gì xảy ra sau thì học sau, chính vì thế các em dễ rơi vào tình
trạng “hiện đại hóa” lịch sử [21; 41]
Vấn đề khó khăn nhất của bộ môn Lịch sử là tái hiện những sự kiện, những hiện tượng và nhân vật lịch sử Để biết, hiểu và vận dụng kiến thức lịch sử yêu cầu các em phải tái hiện lịch sử một cách chính xác, sinh động, tránh hiện tượng hiện đại hoá lịch sử Nhưng làm được điều này cũng không đơn giản, hiện nay GV chủ yếu chỉ dựa vào thủ pháp trình bày miệng, tường thuật, tích cực hơn là có sự kết hợp với một số phương tiện tối thiểu như tranh ảnh, bản đồ (với số lượng không nhiều) Chính vì những lẽ đó cho nên hiệu quả của các tiết dạy vẫn chưa cao, thậm chí HS cảm thấy không có hứng thú khi tìm hiểu bộ môn Vậy để quá trình dạy học lịch sử đạt hiệu quả chúng ta cần có những hướng đi mới, những thủ pháp mới để kích thích khả năng nhận thức và hứng thú cho HS
Việc sử dụng các đồ dùng
trực quan, phương tiện kĩ
thuật, trong đó có công nghê
thông tin vào dạy học lịch sử
sẽ có tác dụng rất lớn Cũng
giống như những bộ môn khoa
học khác, việc tích hợp CNTT
vào dạy học lịch sử có thể ứng
dụng ở nhiều khâu, trong đó
thiết kế và trình chiếu các loại
kênh hình lịch sử, tổ chức cho HS tìm hiểu sự kiện được ví như “chiếc cầu nối” giữa quá khứ và hiện tại, có thể đưa HS vào con đường nhận thức biện
chứng để đạt tới chân lí khách quan [21; 42] Do được quan sát những hình ảnh lịch sử thiết kế sinh động, hấp dẫn với sự hỗ trợ của công nghệ
Trang 28Multimelia, kết hợp với phương pháp dừng lời của GV, HS sẽ tham gia quá trình nhận thức chủ động, tích cực Cùng một lúc, HS huy động nhiều giác quan để học tập, nên việc ghi nhớ tốt hơn, tái hiện lại quá khứ dễ dàng hơn Không có đồ dùng trực quan, dù GV có dạy hay đến đâu, lời nói có sống động, giàu hình ảnh đến mấy cũng khó có thể tạo cho HS biểu tượng cụ thể, chính xác về quá khứ Thậm chí, nếu GV có sử dụng đồ dùng trực quan theo phương pháp truyền thống (hình ảnh kém rõ ràng, chỉ ở dạng tĩnh, kích thước kênh hình bé,…) thì biểu tượng về quá khứ lịch sử được HS thu nhận vẫn hạn chế Khi ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử, chỉ với một vài thao tác đơn giản, cùng một lúc GV sẽ thực hiện được nhiều nhiệm vụ: cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng và hình thành khái niệm (Minh họa hình trên) [22; 47]
CNTT còn là một phương tiện quan trọng giúp GV và HS có thể khám phá những kiến thức hữu hiệu, hỗ trợ giáo dục mọi lúc, mọi nơi, giúp HS truy cập thông tin nhanh, chính xác qua các nguồn tài nguyên được chia sẻ, lưu trữ Ngoài ra, nó cũng là một công cụ hỗ trợ việc xây dựng kiến thức sáng tạo, biểu thị các ý tưởng, sự hiểu biết của HS, phát huy khả năng sáng tạo CNTT chính là xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức
1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng website học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Học tập lịch sử không chỉ để “biết” quá khứ, mà trên cơ sở “biết” các
em còn phải “hiểu” sâu sắc, ngọn ngành Sự hiểu biết sâu sắc và biện chứng
lịch sử góp phần tích cực vào việc đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đã đề ra Sự hiểu biết này phải được xây dựng trên cơ sở trang bị cho các em khả năng nắm vững kiến thức khoa học, năng lực độc lập tư duy, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Trong dạy học, lời nói có vai trò quan trọng để tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh Nhưng, dù lời nói có sinh động, có hình ảnh đến đâu cũng không thể thay thế cho việc sử dụng đồ dùng trực quan nhất là việc sử dụng công nghệ thông tin
Trang 29trong dạy học lịch sử Cho nên phương châm chống “dạy chay và học chay”
là đúng đắn và hợp lý Việc ứng dụng công nghệ thông tin, mà ở đây là sử dụng website học liệu điện tử môn lịch sử có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, góp phần bồi dưỡng nhận thức cho học sinh và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử
* Về vai trò:
- Đối với giáo viên:
Trước hết, website là “thư viện điện tử” quan trọng hỗ trợ GV khai thác
thông tin nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử Với chức năng là một kho tài liệu đa dạng và phong phú (kênh chữ, kênh hình, kênh hình + kênh tiếng,…), website học liệu điện tử sẽ khắc phục tình trạng thiếu thốn tư liệu giảng dạy của GV trong quá trình soạn giáo án điện tử, tiết kiệm thời gian và công sức cho GV khi tìm kiếm thông tin
Sử dụng website trong dạy
học lịch sử thường xuyên sẽ giúp
giáo viên nâng cao trình độ, kĩ
năng, kĩ xảo… sử dụng công nghệ
thông tin trong dạy học Bởi khi sử
dụng website, giáo viên sẽ được
tiếp xúc với máy tính, internet,…
sử dụng thêm nhiều thành tựu công
nghệ thông tin khác như các phần
mềm giáo dục Violet, Power Point,
… Càng sử dụng nhiều thì giáo
viên càng thành thục, trình độ càng
nâng cao
Hình 1: Tranh ảnh lược đồ
bài 9 “Cách mạng tháng Mười Nga
(1917 – 1921) và cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng”
Trang 30- Đối với học sinh:
Website là một nguồn kiến thức quan trọng, một kênh thông tin giúp HS học tập hiệu quả Vì trên website tích hợp nhiều nguồn tư liệu (kênh hình, bài viết tham khảo,…) nhằm mở rộng và trau dồi vốn tri thức cho HS
Dưới sự khai thác và hướng dẫn của GV thông qua sử dụng website, HS
sẽ được rèn luyện rèn luyện các kĩ năng học tập: quan sát kênh hình, tư duy lịch sử,…
Ngoài ra, website còn được sử dụng như một phương tiện để HS học tập trong quá trình tự học, tự kiểm tra, đánh giá, phát triển tư duy lý luận logic, làm chủ kiến thức, vận dụng kiến thức, tạo môi trường, tương tác để HS hoạt
động thích nghi với công nghệ mới: máy tính, website, Internet…
* Về ý nghĩa:
- Về kiến thức:
Xuất phát từ đặc trưng của bộ môn Lịch sử là HS không thể trực tiếp quan sát, tri giác với những điều mình đang học, GV cần phải huy động ngôn ngữ giàu hình ảnh, những tư liệu cụ thể sinh động để tạo ra được những biểu tượng cụ thể chính xác về hiện thực lịch sử như nó đã xảy ra trong quá khứ
Có được biểu tượng chân thực về quá khứ sẽ tránh cho HS khuynh hướng sai
lầm là “hiện đại hoá lịch sử”, tức là đem hình ảnh, hiểu biết, suy nghĩ của
người đời nay gắn cho sự kiện nhân vật lịch sử
Website đã cung cấp những nguồn tư liệu phong phú và hết sức cần thiết trong dạy học lịch sử, đặc biệt là việc sử dụng hệ thống kênh hình giúp các
em hình dung tưởng tượng quá khứ hiện thực Kênh hình lịch sử được biết
đến như những “dấu vết” hiện vật thật, nhưng chúng ta cũng không thể cho
học sinh tiếp xúc tất cả bản thân hiện thực lịch sử đã qua Bởi vì, chúng chỉ là
một phần “dấu vết” của quá khứ, nó chứng minh một thời đại lịch sử đã từng tồn tại nay không còn nữa Kênh hình chính là “những mảnh quá khứ” giúp
học sinh khôi phục lại hình ảnh lịch sử Nhìn một mảnh tước, một chiếc rìu
đá, mảnh gốm, khu di tích Đền Hùng, Cổ Loa,…học sinh có thể hình dung
Trang 31phần nào cuộc sống xã hội thời xưa, nay chỉ còn để lại một số dấu vết Hơn
nữa, việc tiếp xúc với các “dấu vết” ngày xưa không phải lúc nào và ở đâu
cũng có điều kiện tiến hành được Vì vậy, việc sử dụng website học liệu điện
tử khai thác kênh hình và nhiều nguồn học liệu khác là điều cần thiết trong dạy và học lịch sử
Song, thật sai lầm nếu chúng ta cho rằng ứng dụng CNTT chỉ đem lại cho học sinh những biểu tượng bên ngoài về sự kiện lịch sử Lí luận mácxít về
sự nhận thức đã chứng minh rằng không có giới hạn tuyệt đối giữa hiện tượng
và bản chất Cho nên, sử dụng những nguồn tư liệu trên website học liệu điện
tử trong dạy học lịch sử sẽ là chỗ dựa vững chắc cho HS hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện, là phương pháp hữu hiệu để hình thành khái niệm lịch sử, giúp các em nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội
Ví như, đối với bài 22 “Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp” ở lớp 11 THPT (chương trình chuẩn), Website cung
cấp một hệ thống tư liệu gồm kênh hình (đời sống của công nhân, nông dân Việt Nam, đời sống của phu xe,…đặc biệt là video tư liệu về cuộc sống nhân dân Việt Nam dưới thời thuộc Pháp và Pháp khai thác thuộc địa ở Nam Kì),
cùng tư liệu “Hồ Chí Minh viết về chính sách thống trị của Pháp ở Việt Nam”… Nội dung lịch sử càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm
mà HS nắm càng vững bấy nhiêu, HS nhớ lâu, hiểu sâu, hiểu bản chất kiến thức lịch sử
Thực tiễn dạy học lịch sử đã chứng minh rằng, dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ giúp học sinh nhận thức cảm tính quá khứ mà
tiến tới lĩnh vực tư duy - “nhận thức lí tính” Đây là hai giai đoạn nhận thức
trong học tập, có liên quan chặt chẽ với nhau Hình ảnh được tạo trong quá trình nhận thức bao giờ cũng bền chặt trong tư duy, đúng như một nhà tâm lí
học Xô Viết đã khẳng định “nội dung tình cảm luôn luôn bao gồm trong đó tư duy và dường như tạo nên nguyên nhân thật của nó” [34; 11]
Trang 32Sử dụng website học liệu điện tử trong dạy học lịch sử có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, kiến thức, tư tưởng
mà các em đã thu nhận, như K.Đ.Usinxki đã viết: “Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là những hình ảnh mà chúng ta thu nhận được bằng trực quan và những hình ảnh nào được khắc sâu vào trí nhớ chúng
ta thì cũng được chúng ta nhớ kĩ, hiểu sâu những tư tưởng của nó” [34; 13]
- Về tư tưởng, tình cảm:
Sử dụng công nghệ thông tin nói chung và nguồn học liệu điện tử môn Lịch sử trên website nói riêng cũng giúp học sinh hình thành và bồi dưỡng những quan điểm tư tưởng, tình cảm và cảm xúc thẩm mỹ Ngắm nhìn những bức ảnh, hiện vật, đồ phục chế, đoạn phim tư liệu, (sơ đồ, niên biểu, lược đồ, bản đồ…) về nền văn hóa rực rỡ của cha ông ta, học sinh sẽ thấy tự hào và thú
vị được thưởng thức cái đẹp của nghệ thuật, sự sáng tạo trong cuộc sống của nhân dân ta từ ngày trước
Ý nghĩa giáo dục tư tưởng của việc sử dụng website học liệu điện tử trong dạy học lịch sử lại càng quan trọng hơn vì nó có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ và sâu sắc, góp phần hình thành những phẩm chất đạo đức cần thiết cho con người Việt Nam mà nhà trường phải đào tạo, như yêu quý lao động sản xuất; biết ơn những người có công với đất nước, nhân dân; giáo dục lòng căm thù sâu sắc với bọn áp bức bóc lột; đồng tình với cuộc chiến tranh chính nghĩa và có tình cảm yêu nước đúng đắn Qua bài học lịch sử có sử dụng công nghệ thông tin, được nghe giáo viên trực tiếp mô tả, phân tích sự kiện, học sinh sẽ hiểu biết sâu sắc về quá khứ lịch sử
Ví như, trong bài 7 “Thành tựu văn hóa thời cận đại” ở lớp 11 THPT
(chương trình chuẩn), thông qua nguồn học liệu phong phú về các thành tựu văn hoá thế giới về cả văn học, âm nhạc, hội họa, triết học,… Website hỗ trợ giáo dục cho HS niềm tự hào, trân trọng những sáng tạo không ngừng của nhân loại, đồng thời giáo dục niềm say mê học tập, nghiên cứu và tìm hiểu những thành tựu văn hóa để từng bước làm giàu thêm tri thức của bản thân và
Trang 33vận dụng vào cuộc sống Hệ thống các dạng trò chơi đố vui lịch sử (ẩn số lịch
sử, nhận diện lịch sử, tiếp sức đồng đội, theo dòng lịch sử) với những câu hỏi lịch sử vừa mang tính chất giải trí, vừa kích thích sự hứng thú của HS học tập
và thêm yêu mến môn Lịch sử
- Về kĩ năng:
Sử dụng website học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông còn giúp HS phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ và rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn cho các em Nhìn vào bất cứ kênh hình nào các em cũng có biểu tượng lịch sử, từ đó phán đoán, hình dung quá khứ lịch sử, muốn suy nghĩ và diễn đạt bằng lời nói những cảm nhận của mình về bức tranh xã hội đã qua Chính vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ góp phần rèn luyện cho các em thói quen quan sát và khả năng diễn đạt, phát triển ngôn ngữ, giúp học sinh biết đọc kênh hình, phân tích các sự kiện lịch
sử Từ việc quan sát các hình ảnh lịch sử, giáo viên rèn luyện cho các em thói quen quan sát và khả năng quan sát kênh hình một cách khoa học để đi đến phân tích, so sánh, khái quát rút ra kết luận Khi ấy, các thao tác tư duy của học sinh càng được rèn luyện và phát triển hơn
Ví như, với bài 21 “Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX” ở lớp 11 THPT (chương trình chuẩn),
khi GV sử dụng Học liệu điện tử trên Website này sẽ giúp HS rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ, xác định vị trí các căn cứ khởi nghĩa Bãi Sậy, Ba Đình, Hương Khê,… và nhận diện lịch sử về lãnh tụ các nghĩa quân, đánh giá được nguyên nhân thất bại của phong trào yêu nước giai đoạn này Ngoài ra, Website còn giúp HS rèn luyện kỹ năng ứng dụng CNTT, làm quen với máy tính, Internet,
Với tất cả ý nghĩa bồi dưỡng nhận thức, giáo dục và phát triển nêu trên, việc sử dụng website hợp lý, nhuần nhuyễn, kết hợp các phương pháp dạy học khác vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông là biện pháp hiệu quả nâng cao chất lượng bộ môn
Trang 341.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực tiễn của việc dạy và học môn Lịch sử ở trường THPT
Trong vài năm gần đây, mặc dù còn những hạn chế nhất định, song chất lượng dạy học lịch sử không ngừng được nâng cao, điều đó thể hiện ở đội ngũ
GV và HS
* Về phía giáo viên:
Nhìn chung, đội ngũ GV giảng dạy lịch sử ở trường THPT hiện nay được đào tạo và bồi dưỡng một cách cơ bản Đầu vào của hệ Sư phạm Lịch sử (khối C) ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong những năm gần đây đều dao động từ 20,5 – 22,5 điểm (2006: 21,5 điểm, 2007: 21,5 điểm, 2008: 22 điểm, 2009: 22,5 điểm, 2010: 20,5 điểm) [61] Kết quả đầu ra cũng hết sức khả quan, tỉ lệ bằng khá và giỏi ngày càng nhiều, điều này khẳng định những bước tiến trong công tác đào tạo giáo viên
Nhiều hoạt động theo hướng đổi mới PPDH được đẩy mạnh như tăng cường biên soạn tài liệu làm việc cho GV và HS, chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng GV Các địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động chuyên môn, các sinh hoạt chuyên đề, hội thảo về đổi mới dạy học lịch sử, tập trung nhất là những kì thi GV dạy giỏi Trong các kì thi đó xuất hiện nhiều GV điển hình tiên tiến về đổi mới phương pháp dạy học có sử dụng CNTT Phần lớn GV đã nhận thức được vị trí của bộ môn Lịch sử trong việc giáo dục đạo đức, hình thành thế giới quan cho HS, cũng như việc nắm chắc nội dung, truyền đạt kiến thức của bộ môn Do vậy, họ rất tâm huyết và đã có những đầu tư, chuẩn
bị bài giảng chu đáo, vận dụng những phương pháp dạy học mới, ứng dụng
CNTT theo yêu cầu của từng bài học và đã có nhiều tiết “dạy tốt” Ở nhiều
trường THPT, có giáo viên đã tổ chức cho học sinh sưu tầm, sử dụng các nguồn tư liệu lịch sử khác nhau Trong nhiều tiết học, học sinh đã báo cáo lại cho các bạn về kết quả sưu tầm, nghiên cứu của mình về các đề tài của bài học, sau đó cả lớp cùng đánh giá, trao đổi về những điều đã trình bày
Trang 35Để đánh giá thực trạng giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT một cách khách quan, chính xác, chúng tôi đã điều tra GV dạy lịch sử ở 6 trường THPT thuộc tỉnh Hải Dương: THPT chuyên Nguyễn Trãi, THPT Kim Thành, THPT Gia Lộc, THPT Tứ Kì, THPT Chí Linh Trong tổng số 20 GV điều tra thì 100% GV cho rằng việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử ở trường THPT là rất cần thiết, hoặc cần thiết; 100% GV đã khẳng định bài học lịch sử
có ứng dụng CNTT là một nguồn kiến thức quan trọng, vừa minh họa nội dung sự kiện, vừa cung cấp sự kiện mới, giúp HS hiểu sâu sắc hơn bản chất của sự kiện lịch sử, làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn, gây hứng thú học tập cho các em Nhưng khi được đặt câu hỏi về mức độ sử dụng CNTT vào dạy học bộ môn thì chỉ có 65% GV thường xuyên sử dụng, 20% GV
thỉnh thoảng sử dụng và có đến 15% GV hiếm khi sử dụng (Xem số liệu cụ thể ở Phụ lục chương 1)
Như vậy, thực tiễn GV sử dụng CNTT dạy học môn Lịch sử còn rất hạn chế Hầu hết, GV chỉ sử dụng CNTT trong các giờ dạy mẫu, tiết học có GV
dự giờ, hội giảng vào dịp 20 - 11 hàng năm Đa số GV chỉ dạy những gì có trong sách giáo khoa theo lối truyền thụ một chiều, ít khi huy động được tính tích cực học tập của HS
Bên cạnh đó, có sự chênh lệch khá lớn về trình độ, khả năng nắm bắt và vận dụng đổi mới phương pháp dạy học lịch sử giữa GV ở các trường THPT khác nhau Ngoài ra, GV ở nhà trường xa trung tâm thì hệ thống máy chiếu, máy tính còn rất hạn chế: ngoài trường THPT chuyên Nguyễn Trãi có cơ sở vật chất hiện đại, phần lớn các trường trung học phổ thông chỉ có 1-2 phòng học máy chiếu chung cho toàn trường, nên không có điều kiện và không thường xuyên sử dụng CNTT vào trong các tiết học, nếu có sử dụng thì cũng chưa khai thác triệt để nội dung của CNTT phục vụ cho bài học
Một số GV chưa nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT nói riêng và sử dụng đồ dùng trực quan nói chung để tạo biểu tượng lịch sử cho HS Trong khi điều tra về việc sử dụng CNTT vào giảng
Trang 36dạy, chúng tôi thu được kết quả sau: 5% GV để HS tự khai thác, 15% GV theo phương pháp giáo viên tự tìm hiểu về nội dung, 80% GV theo phương pháp gợi mở cho học sinh tìm hiểu Như vậy, còn nhiều thầy cô chưa phát huy được tính tích cực của HS thông qua sử dụng CNTT trong dạy học Bởi thế,
trong số 200 HS khi được hỏi: “Em có hiểu nội dung kênh hình khi ứng dụng CNTT sau khi học không?” thì chỉ có 30% HS hiểu, còn lại 70% hiểu ít, rất ít
và không hiểu
Cũng phải nói rằng, lòng yêu nghề của một bộ phận GV đang là vấn đề
cần phải suy nghĩ Một số GV chưa thực sự “đầu tư” cho giờ dạy, chưa có ý
thức và trách nhiệm nâng cao trình độ bản thân Một số khác tuy có ý thức được tầm quan trọng việc khai thác và ứng dụng CNTT nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, lĩnh hội kiến thức của HS, nhưng họ lại chưa có phương
pháp sử dụng hiệu quả, vì thế việc dạy học theo lối mòn cũ “thầy đọc, trò chép” vẫn còn phổ biến
* Về phía học sinh:
Những năm gần đây, chất lượng và số lượng những HS giỏi môn Lịch sử trong các kì thi HS giỏi các cấp từng bước được nâng lên Trong số những HS
được chúng tôi hỏi “Em có thích học môn Lịch sử không?” 20% trả lời là rất
hứng thú, 30% HS trả lời là hứng thú, 45% là bình thường và 5% là không hứng thú
Tuy nhiên, thực tiễn việc dạy – học lịch sử ở trường phổ thông những
năm gần đây luôn khiến cho dư luận xã hội và người trong cuộc phải “giật mình”, bởi hàng năm, số thí sinh tham dự các kì thi có môn Lịch sử đạt điểm
dưới trung bình rất lớn Ví như kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2009,
trong 3 môn thi khối C thì Lịch sử đứng ở vị trí “đội sổ” có điểm thấp nhất
Số thí sinh bị điểm dưới 5 chiếm tỉ lệ cao, trong đó điểm từ 0 đến 2 rất nhiều Tại Đại học Sư phạm Đà Nẵng điểm từ 5 trở lên chỉ đạt 5%, Đại học Đà Lạt
là 4%, Đại học Văn hoá TP Hồ Chí Minh là 3,7%…[65] Số liệu trên cho thấy, việc dạy – học lịch sử ở các trường trung học phổ thông hiện nay đáng
Trang 37báo động, cần phải khắc phục Đến năm 2010 dù đã có những khởi sắc nhất định, nhưng Lịch sử vẫn là môn đội sổ trong các kì thi tốt nghiệp và đại học Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là phương pháp dạy
học lịch sử của GV chưa tốt Nhiều HS hiểu sai lệch “dạy lịch sử thật dễ, chỉ cần học thuộc sách giáo khoa là được” Đa số HS chưa hiểu đúng về vai trò,
vị trí của bộ môn Lịch sử Các em vẫn có quan niệm coi môn Lịch sử là “môn học phụ” nên không tập trung đầu tư thời gian, sức lực Do sự tác động của
nền kinh tế thị trường, nên nhiều em chỉ coi trọng việc học các môn Toán, Lý Hóa… thờ ơ với lịch sử Ngoài ra, phụ huynh HS cũng tác động rất lớn tới tư tưởng học tập của HS (không muốn con mình học lịch sử, chỉ muốn con theo
học các khối A, B, D), không đầu tư cho con học “môn phụ” (những môn học
dưới 3 tiết trên tuần)
Ở trường trung học phổ thông, vẫn tồn tại hiện tượng HS về nhà không
ôn lại bài cũ và không chuẩn bị tranh ảnh, tài liệu liên quan phục vụ cho bài mới Vì thế, khi đến lớp, thầy cô kiểm tra bài cũ có nhiều em mở vở, sách ra
nhìn vài dòng rồi trả lời Cũng có rất nhiều em ngang nhiên trả lời “em không thuộc bài” hoặc “em không học bài” Lại có HS cho rằng thầy cô dạy y như
sách giáo khoa không cần chép bài cũng nắm được nội dung của bài Chính vì thế các em không phải nghe giảng mà ngồi làm việc riêng gây mất trật tự, thậm chí ngủ gật làm ảnh hưởng tới cả lớp học
Vì thế, nhìn kết quả kiểm tra học kì, thi tốt nghiệp và đặc biệt là thi đại học hai năm gần đây cho thấy điểm liệt môn Lịch sử rất nhiều Đó là vấn đề lớn đặt ra cho Bộ Giáo dục - Đào tạo nói chung và GV giảng dạy lịch sử nói riêng
1.2.2 Thực tiễn ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung, khai thác học liệu điện tử môn lịch sử trên các website nói riêng
Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đổi mới phương pháp giáo dục Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chủ trương đưa CNTT vào nhà trường với việc
Trang 38thành lập Trung tâm CNTT để nghiên cứu xây dựng mô hình thực hiện đổi mới phương pháp và công nghệ dạy học ở các bậc học
Mô hình Trung tâm Vai trò người học Công nghệ
Truyền thông Người dạy Thụ động Bảng, TV, Radio
Thông tin Người học Chủ động Máy tính cá
nhân
Mô hình giáo dục trong thời đại CNTT
Các phương tiện nghe nhìn, phục vụ việc khai thác, xử lý, lưu trữ và trình diễn thông tin như máy chiếu đa năng, video, máy tính, Internet đã có rất nhiều ở các trường phổ thông Những công việc như soạn giáo án bằng máy vi tính, sử dụng phần mềm Powerpoint và một số phần mềm khác trong việc soạn giáo án điện tử đã đem lại hiệu quả rõ rệt đối với việc đổi mới phương pháp giảng dạy Không dừng lại ở đó, hiện nay rất nhiều trường phổ thông đã nối mạng Internet và việc khai thác thông tin trên Internet đã trở nên quen thuộc với nhiều GV Bởi vì Internet là nguồn thông tin vô tận, phong phú về các lĩnh vực, phong phú về thể loại từ các văn bản, các hình ảnh, các đoạn video , tin tức cập nhật từng ngày, từng giờ Tăng cường ứng dụng CNTT đã trở thành một xu thế phổ biến của dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử
CNTT đã được ứng dụng trong dạy học ở hầu hết các trường phổ thông, tuy nhiên, đem lại hiệu quả thực sự chỉ ở một số trường có điều kiện vật chất, vùng trung tâm, nắm bắt được công nghệ cao Trong số các trường phổ thông
mà chúng tôi điều tra, trường THPT chuyên Nguyễn Trãi – Hải Dương có 16 phòng máy phục vụ công tác giáo dục (nhà D), tất cả đều được kết nối internet chất lượng tốt, hầu hết giáo viên và học sinh đều được tiếp cận công nghệ mới; những trường còn lại, số phòng máy từ 1-4, kết nối internet còn hạn chế, chỉ có ở một số phòng bộ môn
Trang 39Kể từ những năm 2000, Website thực sự trở thành một phương tiện giáo dục hiệu quả, được đưa vào sử dụng ở một số trường: Amxtecđam (Hà Nội), Trần Phú (Hải Phòng), Nguyễn Trãi (Hải Dương),… Những trang web này có nhiều ưu điểm như: khai thác tốt chức năng cung cấp thông tin, có tác dụng thiết thực cho GV và HS Tuy nhiên, với giao diện khó dùng, thông tin đưa lên chưa được phân loại, nên sử dụng website gặp nhiều trở ngại Mặt khác, mục đích giáo dục của những website này chưa được chú trọng, chủ yếu là cung cấp tin tức, trao đổi, giải trí ít chú trọng vào phục vụ các hoạt động dạy
và học, chưa có chức năng tương tác giữa HS với quản trị website, giữa HS với HS để giúp đỡ nhau trong học tập
Hệ thống website cung cấp học liệu điện tử cũng phát triển rất mạnh, như tulieu.vn, dayvahoc.net,… tuy nhiên lại không cung cấp được thông tin đầy đủ và có tính chính xác cao, mà chủ yếu dưới hình thức trao đổi chia sẻ kinh nghiệm dạy và học
Năm 2010, chúng tôi đã xây dựng Website “Học liệu điện tử môn Lịch
sử lớp 11” hỗ trợ cho GV các trường phổ thông về tư liệu dạy học, đã đi vào hoạt động và đạt được những kết quả khích lệ: 100% GV và HS đều nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11”; nhận thức được những thuận lợi website đem lại: HS đều chuẩn bị chu đáo, nghiên cứu trước bài mới (kênh hình, bài viết), tích cực trong quá trình học tập… Tuy nhiên, sử dụng thường xuyên chỉ có 60% GV, thậm chí có 5% GV chưa bao giờ sử dụng website (mặc dù đã biết đến) Phần lớn GV và HS chưa khai thác triệt để nguồn học liệu trên website trong dạy – học bộ môn Nguyên nhân chủ yếu là do trang bị đắt tiền, trình độ tin học hạn chế, GV chưa được tập huấn về khai thác và sử dụng website; HS chưa được
GV bộ môn định hướng cách thức tìm kiếm, khai thác nội dung lịch sử trên website vào bài học,…
Như vậy, việc xây dựng website như một công cụ hỗ trợ công tác giảng dạy lịch sử luôn đi kèm yêu cầu sử dụng như thế nào là đúng cách và hiệu
Trang 40quả Thực trạng trên chính là cơ sở để chúng tôi tập trung đề xuất các biện
pháp giúp GV “Sử dụng hiệu quả website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” ở trường THPT”
1.3 Một số yêu cầu khi sử dụng website học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.3.1 Yêu cầu về nội dung
Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” được thiết kế giống như một hồ sơ lưu trữ dữ liệu, tập hợp một khối lượng tư liệu kiến thức cần và đủ
hỗ trợ quá trình giảng dạy của GV, quá trình nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực chủ động trong học tập của HS Với một khối
lượng kiến thức đồ sộ, website không chỉ có chức năng “cung cấp” mà còn
có chức năng “rèn luyện” năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS và “giáo dục” lòng ham mê nghiên cứu khoa học
Khi sử dụng website, GV phải lựa chọn thông tin phù hợp, bám sát nội dung sách giáo khoa (cụ thể hóa, mở rộng kiến thức), phải căn cứ vào mục tiêu, cấu trúc nội dung, phương pháp điều kiện giảng dạy của từng bài cụ thể
để lựa chọn các tư liệu, hình ảnh (cùng một nội dung lịch sử song chương trình cơ bản khác chương trình nâng cao; dạy truyền truyền thống lại khác với dạy máy…)
Trong quá trình lựa chọn, cần tránh tình trạng ôm đồm kiến thức (trên trang Web có rất nhiều học liệu (kênh hình, bài viết tư liệu tham khảo… nhưng chúng ta cần chọn lọc kĩ càng để sử dụng vào giảng dạy và khai thác thông tin cho HS), cần đảm bảo tính vừa sức, ngắn gọn, súc tích, cụ thể hóa được những kiến thức cơ bản, đơn giản hóa kiến thức phức tạp để HS có thể tiêp thu kiến thức một cách đầy đủ, nhanh gọn, và sâu sắc
Sau khi xác định được những nội dung cơ bản nhất phục vụ trực tiếp cho bài giảng, GV cần lưu ý tính thống nhất và hệ thống của nội dung các nguồn