Khieu Vu Sai Son docco Trang 2 C ó thể nói Khiêu Vũ Sài Gòn là tên gọi cuối cùng hiện nay của khiêu vũ Salon Việt Nam Sau hiệp định Geneve năm 1954, đất nước bị chia cắt ra làm hai miền Hơn một triệu[.]
Trang 2C ó thể nói Khiêu Vũ Sài
Gòn là tên gọi cuối
cùng hiện nay của
khiêu vũ Salon Việt Nam Sau
hiệp định Geneve năm 1954,
đất nước bị chia cắt ra làm hai
miền Hơn một triệu người Bắc,
đa số là thành phần thượng lưu
giàu có di cư vào Nam, và
khiêu vũ cũng theo chân những
người này Miền Bắc thì đi vào
cuộc kháng chiến cứu nước,
năm 1958 thực hiện chiến dịch
cải tạo tư bản, phong trào khiêu
vũ từ đó lụi tàn Miền Nam với Tranh kh ắc gỗ dân gian làng Đông Hồ
chế độ Cộng Hòa theo hiện một xã hội tư bản và khiêu vũ được tiếp tục phát triển ở đây Sài Gòn
từ đó trở thành cái nôi của khiêu vũ salon Việt Nam
Nói về lịch sử khiêu vũ Việt Nam, cho tới giờ chưa thấy có một tài liệu nghiên cứu nào viết rõ về
nguồn gốc hình thành và sự phát triển của nó Tuy nhiên có một điều chắc chắn rằng Khiêu vũ Sài Gòn (Khiêu Vũ Salon Việt Nam) là do người Pháp mang vào trong thời Pháp thuộc Trong khoảng thời gian này, nền văn hóa Việt nam chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp
Thời Pháp thuộc thì khá dài, nó bắt đầu từ năm 1883 (năm ta ký kết Hòa ước Quý Mùi chấp nhận làm thuộc địa Pháp) cho đến năm 1945 khi Pháp bị Nhật đuổi khỏi Đông Dương Nhưng mãi đến
năm 1930 thì nền âm nhạc hiện đại Việt Nam mới được hình thành và phát triển, và chỉ trên cơ sở
có nền tân nhạc này thì Khiêu Vũ Salon Việt Nam mới có thể hình thành và phát triển được Do
vậy sẽ không sai lệch nhiều cho lắm nếu ta nói rằng Khiêu vũ Sài Gòn (Khiêu Vũ Salon Việt
Nam ) được hình thành đầu tiên tại Hà Nội và phát triển từ năm 1930 trở về sau
Sau năm 1930 cũng là thời kỳ nền tân nhạc Việt Nam nở rộ với những tên tuổi lớn như Văn Cao,
Phạm Duy, Đặng Thế Phong, Lê Thương Đã xuất hiện những bài hát Tango đầu tiên của Việt Nam, nổi tiếng thời đó (và cả đến bây giờ) là bài "Phút Chia Ly" và "Tiếng đàn tôi" của Hoàng
Trọng, bài Rumba "Lửa Rừng Đêm" của Nguyễn Hữu Ba, những bản Valse nổi tiếng như "Thu Cô Liêu" hoặc "Cung đàn xưa" của Văn Cao, "Thu vàng" hoặc "Hoài cảm" của Cung Tiến, v.v
Trang 3Trong các nhạc sĩ thời ấy phải nói nhạc sĩ Hoàng Trọng viết rất nhiều ca khúc tân nhạc có giai điệu
và tiết tấu phù h ợp với khiêu vũ Sài Gòn: Tango (Phút Chia Ly, Tiếng Đàn Ai, Thu Qua, Cánh Hoa Xưa, Bên Sông Đưa Người, Lá Rụng, Mộng Ngày Hồi Hương, Thương Về Quê Cha, Tình
Trăng, Bóng Trăng Xưa, Hương Yêu, ), Rumba (Gió Mùa Xuân Tới, Nhớ Thương, Đường Về Dĩ Vãng, Thôi Đừng Lưu Luyến, Say Say Say, Vui Cảnh Mùa Hè, Trăng Lên, Nhịp Võng Ngày Xanh, Hương Đời Đẹp Tươi ) Slow (Nhạc Sầu Tương Tư, Buồn Nhớ Quê Hương - được giải thưởng Âm Nhạc Bắc Việt 1952), Bên Bờ Đại Dương, Tiếng Lòng, Nhớ Về Đà Lạt, Khóc Biệt Kinh Kỳ, Mộng Đẹp Ngày xanh ), Pasodoble (Dừng Bước Giang Hồ, Chiều Về Thôn Xưa, Khúc Hát Mùa Chiêm, Hồn Thanh Niên)
Chính nhờ sự phát triển của nền tân nhạc Việt Nam trong khoảng thời gian này mà Khiêu Vũ Salon Việt Nam mới có dịp phát triển mạnh Thanh niên thành thị bắt đầu chịu khó học hỏi bộ môn
nghệ thuật mới mẻ này
gi ễu cợt khi đứng xem những người khác đang cố gắng học "nhảy đầm
Trang 4Không những ở thành thì, cái món "nhảy đầm" này cũng được phát triển đến cả các vùng nông thôn
nh ảy múa với tiếng nhạc ầm ỉ của các nhạc công cổ truyền
Không riêng gì ở Việt Nam, trong thập niên 1930 này, khiêu vũ trên thế giới cũng được phát triển
mạnh mẽ Đây là thời kỳ thịnh hành của nhạc jazz và các điệu nhảy của nó Điệu Bebop cũng được hình thành và phát triển trong khoảng thời gian này
Trang 5Tuy nhiên đối với đại đa số dân ta ở thời kỳ này thì thật sự khiêu vũ còn là một cái gì đó ngoại lai
và xấu xa Người dân dùng từ "nhảy đầm" để nói lên môn nghệ thuật này, "đầm" là một cái gì đó
của người Pháp ("ông Tây bà đầm") chứ không phải của dân mình Năm 1934, tờ Ngọ báo, một tờ báo của Hà Nội thời bấy giờ, vào ngày 10-5-1934, đã đăng bức tranh châm biếm mô tả cảnh say sưa nhảy đầm của ông bà chủ trong tiếng nhạc phát ra từ chiếc máy quay đĩa hiện đại thời bấy giờ,
có lời bình phẩm với nhau của hai nhân vật là con Sen và đầu bếp: "Này Sen ơi, có lẽ cậu mợ bất bình gì, tao thấy đang đánh vựt nhau!" Bức biếm họa của tờ báo này cho thấy phần nào cái nhìn
của đại đa số dân ta về khiêu vũ thời đó
Ta hãy xem một bài viết về Phố nhảy đầm Khâm Thiên để thấy phong trào khiêu vũ được phát
triển thế nào ở miền Bắc trong khoảng thời gian 1930-1954:
Năm 1884, Tòa Lãnh sự Pháp được khánh thành ở khu nhượng địa Đồn Thủy (nay là 33
Phạm Ngũ Lão) gồm nhiều tòa nhà lớn nhất vào thời điểm đó tại Hà Nội Tòa nhà này không
chỉ là nơi làm việc mà còn là địa điểm diễn ra vũ hội vào những ngày cuối tuần cho đám sĩ quan cùng vợ con họ, các viên chức và một số ít dân di cư từ Pháp sang Khiêu vũ diễn ra đều đặn dịp cuối tuần phần vì đó là văn hóa của người Pháp, phần khác ở xứ thuộc địa không trò
Trang 6giải trí nào phù hợp Chơi nhạc cho các đêm vũ hội là đội kèn đồng của Tiểu đoàn Khinh binh
số 2 và họ thường chơi các bản valse hay polka
Người Hà Nội đến với khiêu vũ muộn hơn, dù trước đó, vào đầu thế kỷ XX, khách sạn Metropole (phố Ngô Quyền), Coq d'or (Gà Vàng - phố Tràng Tiền), Grand (Lê Thái Tổ) đã
mở khiêu vũ vào tối thứ bảy Năm 1930, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Hữu Hiếu, Nguyễn
Văn Diệp từng học ở Trường Viễn Đông Nhạc viện (mở năm 1927, đóng cửa năm 1930 vì không có kinh phí) đã đi đánh đàn cho Tây khiêu vũ tại nhiều khách sạn tại Hà Nội Từ "nhảy đầm" ra đời trong thời gian này vì khiêu vũ bao giờ cũng có các bà đầm (dame) Và chỉ đến khi xuất hiện phong trào "vui vẻ trẻ trung", khiêu vũ mới được những trí thức cấp tiến, thanh niên du h ọc về tổ chức tại tư gia Nhu cầu muốn khiêu vũ tại quán bar khi khách đã "lâng lâng" vì rượu xuất hiện và phòng nhảy đầu tiên ra đời ở phố Khâm Thiên vào năm 1936
Tại sao nhà hát khiêu vũ lại ở phố Khâm Thiên mà không phải các phố khác ở khu trung tâm?
Có lẽ do Khâm Thiên vốn là phố ăn chơi nổi tiếng với gần 40 nhà hát cô đầu và hơn 200 cô đầu, những người vì nhiều lý do không bị ràng buộc bởi hủ tục Nhiều nhà văn, nhà báo nổi danh thời đó như Ngô Tất Tố, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân, Thâm Tâm, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng thường xuyên đến đây để hát, uống rượu Cho đến hôm nay, không ít người
vẫn nghĩ cô đầu không chỉ hát mà sẵn sàng "đi" với khách Sự thực không phải như vậy, các
cô chỉ tiếp chuyện, lả lơi, càng khéo càng được khách cho nhiều tiền, còn "đi" khách là ở nhà
săm (nhà cho thuê theo giờ) Nhà văn Vũ Bằng viết: "Phùng Bảo Thạch, Vũ Đình Chi, Nguyễn Triệu Luật, Lưu Văn Phụng, Hy Sinh, Vũ Liên, Ngô Tất Tố lúc làm cho các báo Việt
nữ, Công Dân, Vịt Đực mỗi khi bàn về số báo ra kỳ tới vẫn thường hội ý và kẻ ma két ở nhà hát vào đêm khuya trong lúc im ắng tiếng đàn giọng ca" Sau này Văn Cao gọi chốn Khâm Thiên là phường Dạ lạc
Nhà hát cô đầu có phòng khiêu vũ đầu tiên là của Cô Đốc Sao (số nhà 96) Ai hát cô đầu, ai uống rượu có cô đầu phục vụ, ai thích nhảy đầm sang phòng riêng có vũ nữ làm bạn nhảy Váy áo của các cô do sinh viên tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương chưa có việc làm thiết kế Khách khiêu vũ mời ai thì sẽ "boa" cho vũ nữ ấy khi hết điệu Ban đầu chỉ có khách Pháp và một số ít người Việt biết môn nghệ thuật này Do mới mẻ nên phòng nhảy không có
nhạc sống Người có công lớn nhất trong việc ra đời phòng khiêu vũ Cô Đốc Sao là nhà báo Hoàng Tích Chu, chủ của tờ Đông Tây và là người tình của Đốc Sao Anh này học ở Pháp về,
có tâm hồn lãng mạn "hơn cả những người hoạt động nghệ thuật thời đó cộng lại" Hoàng Tích Chu đã huấn luyện các cô đầu hiếu động trở thành vũ nữ
Cô Đốc sinh năm 1890, quê ở Hưng Yên, Đốc có thân hình phốp pháp, da trắng, đôi mắt biết nói và đặc biệt khuôn mặt phồn thực Một tờ báo thời đó mô tả "nhìn mặt Đốc Sao người ta không thể nghĩ những điều tốt đẹp hơn" Vì lấy bác sỹ người Hoa tên là Lầu Màn Sầu (Lưu Nam Sao) nên cô có tên là Đốc Sao Trước khi mở khiêu vũ, Đốc Sao là chủ nhà hát cô đầu nổi tiếng nhất phố Khâm Thiên Khách vào đây hầu hết là kẻ có chức sắc trong chính quyền hay đám có thế lực trong xã hội, kẻ có tiền vào đây để khỏi mang tiếng là không biết ăn biết
chơi Đốc Sao tuyển chọn các gái ở quê tuổi từ 16-17 có khuôn mặt xinh xẻo, vóc dáng đẹp
rồi cho học tí ca, tí phách, dạy ít tiếng Pháp bồi, dạy tiếp khách và lấy lòng khách Cô đầu nhà
Trang 7Đốc Sao đi ra ngoài có xe tay riêng, phần vì sợ các cô trốn, phần là làm sang
Nhà hát cô đầu và khiêu vũ Cô Đốc Sao ra đời làm nổ ra bút chiến trong báo giới Hà thành Một phe cho rằng khiêu vũ là đồi phong, bại tục, là công khai "dâm đứng" Có tờ còn nói
thẳng "khiêu vũ làm cho dân ta quên đi mình đang là kiếp nô lệ" Phe cổ xúy lại biện minh, khiêu vũ là thiền ở dạng động, bởi khi khiêu vũ cũng giống như thiền, người ta không nghĩ đến bất cứ chuyện gì, chỉ có xoay, quay tay chân như lên đồng Lại có tờ báo ngợi ca k hiêu
vũ còn là một dạng luyện tập nhu quyền hấp dẫn hơn cả môn võ Vịnh Xuân hay Thái Cực,
"vào những thời điểm tuyệt vời, khiêu vũ còn có thể đưa người ta vào những khoảnh khắc
nhập đồng siêu thoát và như thấy mình gần hơn với thần tiên" Song dù biện minh hay lên án thì việc khiêu vũ ra đời là đòn giáng vào quan niệm "Nam nữ thụ thụ bất thân" của Nho giáo vốn dĩ cắm rễ hàng trăm, hàng nghìn năm trên đất An Nam thuở đó
Trong bài viết "Le pérlil vénérien à Hà Nội" của Đốc lý Hà Nội Virgitti đăng trên tờ báo Pháp
năm 1938, thì năm 1936 là năm bùng nổ và chỉ từ năm 1936 đến 1938, phố Khâm Thiên có 6 sàn nhảy gồm: Casino (hí trường), Etoile (Minh tinh), Féeric (Cảnh tiên), Déesse (Nữ thần), Pagode (Cảnh chùa) và Tanaka do m ột người Nhật làm chủ gần chùa Linh Ứng với khoảng hai chục gái nhảy Đông nhất là Pagode và sàn này trang trí gần như cảnh chùa Khâm Thiên
có hai nhà chuyên dạy nhảy và nếu Hoàng Tích Chu dù sao cũng chỉ là người hướng dẫn thì
người được "phong" là vũ sư đầu tiên là Đỗ Đình Khang; anh này từng du học ở Pháp, đam
mê khiêu vũ và vừa lúc phòng nhảy Đốc Sao ra đời, Khang nhanh chóng mở lớp Để thu hút học viên, Khang lấy tên rất Mỹ: Jean Dod K Thời kỳ tạm chiếm (1946-1954), đầu phố Bà Triệu có tiệm khiêu vũ Liszt (nay là Công ty Du lịch Hà Nội) Sàn này có một vị khách đặc
biệt, mỗi khi cô đến mọi cặp mắt đều đổ dồn về phía cô vì không chỉ đẹp, cô nhảy rất lả lơi và
"nóng bỏng" Song cô được chú ý bởi cô là người tình của vua Bảo Đại Đó là Lý Lệ Hà Lý
Lệ Hà quen biết ông vua nổi tiếng ăn chơi này ở Sài Gòn rồi sống với với nhau một thời gian
ở Hà Nội Lý Lệ Hà từng sang Hồng Công chung sống với Bảo Đại khi nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ra đời đã xóa bỏ chế độ quân chủ Đến Liszt, Lý Lệ Hà thường nhảy với một thanh niên tên là Hạnh Hạnh là thợ may có tiếng ở số 10 phố Hàng Bông, mê nhảy đến mức
30 tuổi vẫn không lấy vợ Ông Nguyễn Bắc (Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội (từ 1954-1979),
người hoạt động bí mật ở Hà Nội và là người chắp nối liên lạc giữa các trí thức với chiến khu
là bạn của Hạnh kể, có lần đang nhảy điệu valse với Hà, có hai mật thám đến, ghé vào tai
Hạnh bảo: "Tiên sư mày, muốn yên thân thì dừng ngay để bọn tao đưa cô lên hầu cụ (Bảo Đại)" Khi bộ đội vào tiếp quản Thủ đô, Hạnh bảo Nguyễn Bắc: "Chắc là Hà Nội không còn sàn nhảy và cô đầu nên tôi phải đi" Và năm sau, Hạnh xuống Hải Phòng di cư vào Nam
Năm 1952, ban ngày Thủy Tạ là quán bar nhưng tối trở thành nơi khiêu vũ Nếu các t iệm khác đa phần là ban nhạc người Philippines hay người Nga trắng thì chơi nhạc tại Thủy Tạ là ban nhạc Lúa Vàng, có khi là nhóm của Hoàng Trọng Trong một đêm các vũ điệu đang sôi động thì có vụ nổ xảy ra làm bị thương một lính Pháp Người ta chỉ biết gây ra vụ nổ là em bé
bán thuốc lá, thuốc nổ và kíp nhồi vào điếu thuốc Craven
Trừ các tiệm ở Khâm Thiên có vũ nữ, còn lại những tiệm khác trong thành phố mở ra dành cho những người yêu bộ môn nghệ thuật này và hầu hết khách là người lịch lãm Các điệu
nhảy phổ biến trong giai đoạn đầu của khiêu vũ gồm: Valse (tiếng Anh là Waltz), Tango,
Trang 8Rumba và Chachacha
Sau năm 1954, cũng như những nhà hát cô đầu, chủ các tiệm khiêu vũ phố Khâm Thiên và ở các phố khác tự đóng cửa Một số vũ nữ Khâm Thiên trong đó có các cô nổi tiếng như: Xuyến, Lan, Hồng theo tình nhân vào Nam, số khác về quê, một số tìm việc mới Sau hơn
20 năm, Khâm Thiên trở lại yên ả, buổi tối không còn ánh đèn màu, không còn tiếng nhạc
xập xình và không còn cảnh xe tay chầu chực đón khách
Sau hiệp định Geneve năm 1954, đất nước bị chia cắt ra làm hai miền Hơn một triệu người Bắc,
đa số là thành phần thượng lưu giàu có di cư vào Nam, và khiêu vũ cũng theo chân những người này Sài Gòn từ đó trở thành cái nôi của khiêu vũ salon Việt Nam Miền Bắc thì đi vào cuộc kháng chiến cứu nước, năm 1958 lại thực hiện chiến dịch cải tạo tư bản, phong trào khiêu vũ từ đó lụi tàn
Miền Nam sau năm 1955, từ khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên xây dựng nền Đệ nhất Cộng hòa
Việt Nam, ông đã ra lệnh cấm các vũ trường hoạt động, người ta chỉ có thể sinh hoạt khiêu vũ lén lút tại nhà riêng Những năm sau đó là những năm tương đối hòa bình, cho phép người dân có thể quên đi chiến tranh và có thể hưởng thụ cuộc sống, các vũ trường cũng được phép hoạt động trở
lại Nổi cộm trong thời gian này là vũ trường Kim Sơn với vụ “nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung
bị tạt acid vào ngày 18-7-1961, phá hủy toàn bộ gương mặt xinh đẹp của cô Đây là một chấn động lớn trong giới ăn chơi Sài Gòn Vì vụ này mà bà Trần Lệ Xuân, vợ của cố vấn Ngu Đình Nhu, chỉ đạo phải đóng cửa tất cả các vũ trường Sài Gòn những ngày sau đó đìu hiu về đêm, khi mà hàng
trăm vũ trường thường khi nhộn nhịp giờ phải đóng cửa im lìm Không chỉ riêng các vũ trường, các nhà hàng sang trọng ở Sài Gòn sau đó cũng chịu chung cảnh ế ẩm, khi mà phong trào ăn chơi
của giới thượng lưu trở nên lắng xuống
Tháng 6 năm 1962, đạo luật Bảo Vệ Luân Lý ra đời Theo luật này thì chọi gà, đánh bạc, mê tín
dị đoan, đấu quyền Anh, ngừa thai, phá thai, mại dâm và cả khiêu vũ bị xếp chung một rọ là những hành vi làm bại hoại luân thường đạo lý Việc cấm khiêu vũ đã gây nhiều chú ý vì luật không phân biệt người ngoại quốc hay người Việt và được báo chí Tây phương loan tải rộng rãi nên nó còn được giới bình dân gọi là "luật cấm nhảy đầm” Không chỉ tiệm nhảy bị đóng cửa mà nhảy đầm ở nhà cũng là có tội Và không chỉ có người Việt Nam nhảy đầm bị trừng trị, người nước ngoài đến Việt Nam nhảy đầm cũng bị phạt nốt Bà Ngô Đình Nhu, tác giả của đạo luật Bảo Vệ Luân Lý, giải thích: “Người Á châu không quen thói dâm đãng giữa đàn ông và đàn bà, con trai và con gái…” và: “Người Mỹ đến Việt Nam là để giúp chúng tôi chứ không phải để nhảy đầm.”
Trang 9Sau năm 1963, khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đỗ, miền Nam đi vào giao đoạn rối ren Trong thời kỳ này, phong trào nhạc trẻ và nhạc kích động bắt đầu xâm nhập mạnh Thời gian 1963-
1970 được xem là thực gian cực thịnh của khiêu vũ Sài Gòn Trong thời gian này rất nhiều vũ
trường mọc lên Ngoài giới thượng lưu, thương gia và sĩ quan, miền Nam lúc này lại có thêm gần
nửa triệu quân đội viễn chinh Mỹ, sinh hoạt tại các bar và vũ trường về đêm tại Sài Gòn lại càng thêm cực kỳ nhộn nhịp
Nh ảy twist năm 1963 tại Sài Gòn
Thời đó không có các trung tâm dạy khiêu vũ như bây giờ, dân giàu có muốn học khiêu vũ thường tìm đến các lớp tại gia của một vũ sư có tiếng nào đó để học Họ đi học khiêu vũ chưa chắc đã thấy được cái đẹp cái hay của khiêu vũ, chỉ cốt biết nhảy để có điều kiện hòa mình vào giới ăn chơi thượng lưu Một vũ sư lão thành cho biết: thời đó làm vũ sư rất giàu, chỉ cần dạy kèm tại tư gia một vài năm là có thể dư của để sắm xe hơi mua nhà lầu Khiêu vũ trong giai đoạn này được phát triển tự phát, so với khiêu vũ thời kỳ trước 1954 thì cũng đã thay đổi rất nhiều Một vài phong cách
cũng đã thay đổi để phù hợp với văn hóa phong tục Việt Nam và nhiều bước mới được các vũ sư Sài Gòn sáng tác thêm vào
Trang 10Thời kỳ này các nhạc công những sàn nhảy thường sử dụng các bài hát Việt Nam hoặc những bài
nhạc ngoại nổi tiếng có lời Việt làm nhạc khiêu vũ Các vũ trường thường chơi theo nhạc tour để
tiện cho ban nhạc và người nhảy, tức là chơi các vũ điệu theo thứ tự như sau:
1 Pasodoble, 2 Rumba, 3 Cha cha cha, 4 Slow, 5 Bebop, 6 Tango, 7 Boston, 8 Valse
Bản Pasodoble thường được làm bài mở màn vì tiết tấu vui tươi của nó, nh ảy xong 3 điệu Pasodoble, Rumba, Cha cha cha thì không khí vũ trường lắng xuống, nhạc Slow nổi lên, các án h đèn màu tắt dần đi Vũ trường lúc này mờ tối dành riêng cho những những cặp tình nhân dìu nhau Sau vũ điệu tình yêu này, nhũng ánh đèn màu lại bật sáng và người ta lại tưng bừng trong các vũ điệu Bebop, Tango, Boston, Valse để kết thúc một tour Sau tour này là thời gian giải lao ngắn và
sau đó vào một tour khác
Giải Rumba Sài Gòn năm
1965