Microsoft Word 1 BIA 1 doc BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN CHÍ NGHĨA QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN[.]
LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
Khái niệm về rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, hiểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng
Tại sao cần phải quan tâm tới rủi ro tín dụng? Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng là bảo vệ tiền gửi của khách hàng Bên cạnh đó, ngân hàng phải có trách nhiệm với các cổ đông cũng như bảo đảm mức lương nhất định cho các nhân viên ngân hàng Khi có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng, dù chỉ một ngân hàng và ở một mức nhất định nào đó cũng sẽ đe dọa đến sự an toàn và ổn định của toàn hệ thống và nền kinh tế đặc biệt ở các nước thị trường chứng khoán còn chưa thực hiện đầy đủ chức năng cung cấp vốn cho nền kinh tế như Việt Nam
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Phân loại rủi ro tín dụng
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Hình 1.1: Các bộ phận rủi ro tín dụng
Nguồn: Commercial Banking – The Management of Risk, Willey [17]
+ Rủi ro danh mục tín dụng: Rủi ro liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng Nó có thể phát sinh do đặc thù cá biệt của từng loại tín dụng, chẳng hạn cho vay không có đảm bảo thì rủi ro hơn là cho vay có đảm bảo Hoặc phát sinh do thiếu đa dạng hóa danh mục tín dụng Chẳng hạn, do cạnh tranh lãi suất khiến ngân hàng tăng lãi suất huy động làm cho lãi suất cho vay
(Rủi ro liên quan đến một khoản cho vay)
(Rủi ro liên quan đến danh mục các khoản cho vay)
(liên quan đến việc đánh giá một khoản cho vay)
(liên quan đến việc theo dõi khoản cho vay)
(liên quan đến từng loại cho vay)
Rủi ro tập trung cho vay
(liên quan đến kém đa dạng hóa cho vay)
(liên quan đến chính sách và hợp đồng cho vay) tăng theo Kết quả là, các dự án có mức rủi ro thấp có suất sinh lợi thấp bị đánh bật ra, chỉ còn các dự án có suất sinh lợi cao kèm theo rủi ro cao mới vay được vốn ngân hàng Tình hình này khiến cho danh mục tín dụng của ngân hàng thiếu đa dạng hóa mà chỉ tập trung vào các dự án rủi ro cao.
- Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro + Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách
+ Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác
- Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng + Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay
+ Rủi ro do không có khả năng trả nợ: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng chi trả, ngân hàng phải thanh lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp để thu nợ [5]
1.1.3 Chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
- Nhóm chỉ tiêu đo lường nợ quá hạn: Nợ quá hạn (NQH) là thước đo quan trọng nhất đánh giá sự lành mạnh thể chế, tác động tới tất cả các hoạt động chính của ngân hàng [1], [3]
Tỷ lệ nợ quá hạn (% ) = - x 100 Tổng dư nợ
Mọi tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam phải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng [14]
Việc phân loại nợ của TCTD được tiến hành như sau:
+ Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) + Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) + Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) + Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)
+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
Tỷ lệ nợ xấu: nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng
Tỷ lệ nợ xấu (%) = - x 100 Tổng dư nợ Đây là chỉ tiêu đánh già rủi ro tín dụng cũng như chất lượng tín dụng tại ngân hàng Giới hạn tối cho phép tại một NHTM đối với tỷ lệ nợ quá hạn là ≤ 5%, tỷ lệ nợ xấu ≤ 3%, chỉ tiêu này càng lớn thể hiện chất lượng tín dụng càng kém và ngược lại
- Nhóm chỉ tiêu đo lường rủi ro mất vốn
Dự phòng RRTD được trích lập
Tỷ lệ dự phòng RRTD (%) = - x 100
Dư nợ cho kỳ báo cáo
Vốn cho vay đã xóa kỳ báo cáo
Dư nợ cho kỳ báo cáo
- Nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng bù đắp rủi ro
Dự phòng RRTD đã trích lập
Hệ số bù đắp các khoản CV bị mất (lần) = -
Dự phòng RRTD đã trích lập
Hệ số khả năng bù đắp RRTD (lần) = -
Nợ quá hạn khó đòi
Tùy từng ngân hàng cụ thể, sẽ có sự chọn lựa và sử dụng khác nhau đối với nhóm chỉ tiêu nêu trên hoặc chủ động thêm một số chỉ tiêu đánh giá mức độ cho vay tập trung ngành nghề, theo khách hàng vay… mà bản thân các Ngân hàng thấy cần thiết Đối với Việt Nam, các chỉ tiêu thuộc nhóm đánh giá rủi ro mất vốn và khả năng bù đắp rủi ro ít được quan tâm Thể hiện trong các văn bản quy định về giới hạn chỉ số đo lường rủi ro tín dụng của Việt Nam, những chỉ số này không được đề cập cụ thể Do đó, hầu hết các NHTM trong nước vẫn chưa xây dựng hoàn chỉnh và đánh giá tổng quan về bức tranh rủi ro tín dụng
1.1.4 Các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
- Những nguyên nhân thuộc về ngân hàng cho vay
+ Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó
+ Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý: Tồn tại thực tế ngân hàng thực hiện “việc phân tích từ xa” mà không tiến hành xác minh thực tế người đi vay, đánh giá tính pháp lý, tiềm năng của khách hàng còn nhiều sai sót… điều đó tất yếu khiến các rủi ro tín dụng xảy ra từ những khoản vay có vấn đề
+ Thị trường tín dụng có tính cạnh tranh ngày càng cao: Các ngân hàng mong muốn có tỷ trọng, thị phần cao hơn các ngân hàng khác
Các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
- Những nguyên nhân thuộc về ngân hàng cho vay
+ Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó
+ Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý: Tồn tại thực tế ngân hàng thực hiện “việc phân tích từ xa” mà không tiến hành xác minh thực tế người đi vay, đánh giá tính pháp lý, tiềm năng của khách hàng còn nhiều sai sót… điều đó tất yếu khiến các rủi ro tín dụng xảy ra từ những khoản vay có vấn đề
+ Thị trường tín dụng có tính cạnh tranh ngày càng cao: Các ngân hàng mong muốn có tỷ trọng, thị phần cao hơn các ngân hàng khác
+ Chưa tuân thủ qui trình cho vay: Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay CBTD yếu kém về trình độ nghiệp vụ; CBTD vi phạm đạo đức kinh doanh
+ Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
+ Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng: Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức
Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới
+ Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay: Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu [22]
- Các nguyên nhân thuộc về người đi vay + Sử dụng vốn sai mục đích: Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác
+ Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
+ Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng
+ Không loại trừ các trường hợp khách hàng cố tình lừa dối ngân hàng: đây là nguyên nhân hàng đầu khiến phát sinh rủi ro tín dụng, ngay từ đầu ngân hàng khó thể biết và kiểm soát được ý đồ của khách hàng Rủi ro tín dụng phát sinh từ những trường hợp này, việc xử lý sẽ vô cùng khó khăn và khả năng thất thoát vốn là rất lớn Để tránh được rủi ro dạng này, đòi hỏi ngân hàng phải đào tạo đội ngũ cán bộ về chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm để có thể thực hiện các bước thẩm định chính xác và an toàn [22]
- Các nguyên nhân khách quan + Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới:
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem đến nhiều rủi ro tất yếu Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, khiến nhiều khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguycơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bịcác ngân hàng nước ngoài thu hút
+ Sự tấn công của hàng lậu, nhái: Với mức giá rất cạnh tranh hàng nhập lậu làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến các ngân hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men, đường cát, vải vóc, quần áo, hàng mỹ phẩm… là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng lậu ở nước ta
+ Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi: Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật,văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập
- Nguyên nhân bất khả kháng khác: Trong hoạt động kinh doanh những tai hoạ và rủi ro do thiên tai nhiều khiquá lớn mà con người đành bó tay Nhưng những biến động của thiên nhiên có tính chất chu kỳ hoặc theo mùa thì đối với nhà kinhdoanh có sự quan tâm nghiên cứu dự báo đều có thể tránh hoặc hạn chế thiệt hại
LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị RRTD là yêu cầu cấp thiết đối với ban lãnh đạo ngân hàng nói chung và từng nhân viên tín dụng nói riêng Quản trị rủi ro khác về mặt ý nghĩa với quản lý rủi ro Quản lý rủi ro là việc sử dụng các công cụ, biện pháp, quy trình cần thiết nhằm hạn chế tối đa khả năng xảy ra tổn thất, vì vậy chỉ cần né tránh rủi ro thông qua lựa chọn khách hàng hoặc danh mục đầu tư an toàn hơn Trong khi quản trị rủi ro là việc sử dụng các biện pháp để xác định và đo lường rủi ro, lựa chọn, chấp nhận, quản lý, kiểm soát rủi ro nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả và an toàn
Quản trị RRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược chính sách quản lý, kinh doanh tín dụng, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả, nâng cao chất lượng và phát triển bền vững đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng [3], [17].
Quản trị rủi ro tín dụng theo ủy ban Basel
Trước tiên, dựa theo nguyên tắc quản trị rủi ro của Basel, tóm tắt sơ bộ như sau:
Bảng 1.1 Tóm tắc 17 nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng theo Basel Nhóm Nội dung tóm tắt các nguyên tắc
Nguyên tắc 1 Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và định kỳ xem xét chiến lược về rủi ro tín dụng và các chính sách về quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng Chiến lược này nên phản ánh mức độ chịu đựng rủi ro của ngân hàng với mức sinh lời kỳ vọng khi rủi ro tín dụng xảy ra
Thiết lập môi trường rủi ro tín dụng phù hợp
Nguyên tắc 2: Ban điều hành có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chiến lược rủi ro tín dụng được Hội đồng quản trị phê duyệt và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro tín dụng Các chính sách và thủ tục này cần nhằm vào rủi ro nợ xấu phát sinh trong mọi hoạt động của ngân hàng, ở cấp độ từng khoản tín dụng cũng như toàn bộ danh mục đầu tư Các thủ tục, quy trình, văn bản cần được xây dựng, triển khai cũng như các trách nhiệm phê duyệt, xem xét khoản cho vay cần được phân định rõ ràng và phù hợp
Nguyên tắc 3 Các ngân hàng cần xác định và quản trị rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm và hoạt động của mình Đối với các sản phẩm và hoạt động mới, ngân hàng cần xây dựng biên pháp quản trị rủi ro và kiểm soát phù hợp trước khi được đưa vào sử dụng hoặc triển khai và phải được Hội đồng quản trị phê duyệt hoặc Ủy ban được Hội đồng quản trị chỉ định Điều quan trọng là Ban điều hành cần xác định các nhân viên liên quan trong bất kỳ hoạt động nào có rủi ro tín dụng, cho dù là đã thực hiện hay là hoạt động mới, cơ bản hay phức tạp, đều phải có đủ năng lực thực hiện với những tiêu chuẩn cao nhất và tuân thủ các chính sách và thủ tục của ngân hàng.
Nguyên tắc 4: Các ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh được xác định rõ ràng
Những tiêu chí này cần chỉ rõ thị trường mục tiêu của ngân hàng và đồng thời ngân hàng phải hiểu biết rõ về khách hàng vay vốn cũng như mục đích và cơ cấu của khoản tín dụng
Hay nói cách khác các tiêu chí cần chỉ rõ đối tượng khách hàng đủ tiêu chuẩn được cấp tín dụng, các loại hình tín dụng và các điều khoản, điều kiện cấp tín dụng
Hoạt động theo một quy trình cấp tín dụng lành mạnh
Nguyên tắc 5: Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng tổng thể cho từng loại khách hàng và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trong sổ sách kế toán của ngân hàng và sổ sách kế toán kinh doanh, nội bảng và ngoại bảng
Cần xây dựng giới hạn đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế, khu vực địa lý và các sản phẩm cụ thể Cũng như các giới hạn rủi ro trong mọi lĩnh vực họat động của ngân hàng mà có liên quan đến rủi ro tín dụng hoặc rủi ro đối tác của một ngân hàng Để có hiệu quả, các giới hạn này cần mang tính ràng buộc và không đi theo nhu cầu của khách hàng
Nguyên tắc 6: Để có được danh mục đầu tư tín dụng lành mạnh, ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như điều chỉnh, gia hạn và tái tài trợ các khoản tín dụng hiện tại
Ngân hàng cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, kiến thức nhằm đưa ra nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi ro tín dụng
Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên Đặc biệt, các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân có liên quan phải được phê duyệt tại quy định riêng cần theo dõi cẩn thận và triển khai các bước cần thiết để kiểm soát nhằm loại trừ rủi ro
Việc gia hạn tín dụng cần được thực hiện theo các tiêu chí và trình tự cụ thể và rõ ràng Việc này, tạo ra hệ thống hồ sơ và chứng từ nhằm tăng cường việc ra quyết định tín dụng đúng đắn
Nguyên tắc 8: Các ngân hàng phải có hệ thống theo dõi, quản lý thường xuyên các danh mục đầu tư chứa đựng rủi ro tín dụng khác nhau
Nguyên tắc 9: Ngân hàng cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng, bao gồm việc xác định mức độ đầy đủ tỷ lệ dự phòng và quỹ dự phòng
Nguyên tắc 10: Ngân hàng nên xây dựng và sử dụng hệ thống đánh giá nội bộ để quản trị rủi ro tín dụng Hệ thống đánh giá cần phù hợp với bản chất, quy mô và sự phức tạp trong các hoạt động của ngân hàng
Nguyên tắc 11: Ngân hàng phải có hệ thống thông tin và công cụ phân tích giúp ban lãnh đạo đo lường rủi ro tín dụng.
Nguyên tắc 12: Ngân hàng phải có hệ thống theo dõi tổng thể thành phần và chất lượng tín dụng
Duy trì việc cấp tín dụng hiệu quả
Nguyên tắc 13: Ngân hàng phải xem xét và đánh giá những thay đổi quan trọng về điều kiện kinh tế khi đánh giá từng khoản tín dụng, danh mục tín dụng
Nguyên tắc 14: Ngân hàng phải thiết lập một hệ thống đánh giá độc lập, thường xuyên quy trình quản lý rủi ro tín dụng và kết quả đánh giá nên được báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản trị và Ban điều hành
Hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
Kinh nghiệm về quản trị rủi ro tín dụng tại một số nước
Trong cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng khu vực châu Á thời kỳ 1997-
1998, và cuộc khủng hoảng tài chính-ngân hàng toàn cầu khởi đầu từ Mỹ những năm gần đây đã và đang cho thấy ngày càng nhiều ngân hàng trên thế giới công bố các khoản nợ xấu và thua lỗ lớn kỷ lục, trong đó có rất nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế giới bị phá sản, kể cả những ngân hàng lớn tầm cỡ thế giới với bề dày hoạt động hàng trăm năm [21]
Vì vậy, để rút ngắn khoảng cách về hoạt động rủi ro tín dụng thì việc học hỏi các kinh nghiệm của các NHTM trên thế thế giới và áp dụng vào Việt Nam là vô cùng quý báu Dưới đây là kinh nghiệm về quản trị rủi ro tại một số nước mà Việt Nam cần học hỏi:
- Tại Mỹ, các ngân hàng Mỹ nhấn mạnh vào lối ra cho các khoản nợ xấu và tránh việc thu hồi nợ hay nói cách khác là “nuôi nợ để thu nợ” như ở Việt Nam vẫn thường nhắc tới Việc tất toán khoản nợ xấu chỉ nên xem xét khi đó là cách cuối cùng, vì việc thu hồi có thể hiệu quả hơn thông qua cách tiếp tục trả nợ của một doanh nghiệp vẫn đang hoạt động hơn là phải tất toán tài sản, các biện pháp phổ biến là giảm lãi suất và giảm giá trị các khoản chi trả để người vay tiền vẫn chó thể trả nợ mà không phải bán tài sản thế chấp Cách khác nữa là NHNN bơm tiền vào các ngân hàng hoặc kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài để tăng vốn hoạt động, nhờ đó nhiều ngân hàng lớn đã mua lại các ngân hàng và TCTD nhỏ đang trên bờ vực phá sản, nhờ đó những chính sách hỗ trợ khách hàng của ngân hàng lớn đã được áp dụng luôn cho khách hàng của ngân hàng nhỏ
- Tại Thái Lan, khủng hoảng tài chính Tiền tệ Châu Á năm 1997 – 1998 đã nâng tỷ lệ nợ khó đòi tại Thái Lan ở mức báo động gần 36% tổng dư nợ Trước tình hình đó, Chính phủ và các NHTM Thái Lan đã thực hiện một số biện pháp tái cấu trúc lại hoạt động tín dụng như: Áp dụng các tiêu chuẩn kế toán thế giới xác định lại giá trị các khoản vay khó đòi; Thành lập các cơ quan xử lý nợ; Tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc trong hoạt động tín dụng (thông tin khách hàng, mục đích sử dụng vốn, nguồn trả nợ, kiểm soát sau giải ngân); Phân công tách bạch chức năng, nhiệm vụ các bộ phận đảm bảo tính độc lập và khách quan; Thực hiện việc phán quyết tín dụng theo thẩm quyền: một người, một nhóm người, hội đồng quản trị theo mức tăng dần; Tăng cường đào tạo nghiệp vụ, kỹ năng, cập nhật thông tin thường xuyên cho nhân viên; Áp dụng chính sách cho vay theo từng lĩnh vực ngành nghề, đặc biệt lĩnh vực BĐS Với những chính sách này đã giúp Thái Lan vượt qua khó khăn và phục hồi sau khủng hoảng
- Tại Trung Quốc, học hỏi từ nguyên nhân xuất phát các khoản nợ xấu tại Trung Quốc: Dư nợ tín dụng tăng quá nhanh trong khi trình độ chuyên môn của CBTD chưa đạt tiêu chuẩn; Cho vay dựa chủ yếu vào tài sản thế chấp, người bảo lãnh, tỷ lệ cho vay trên giá trị tài TSĐB quá cao, tuy nhiên tình trạng giá BĐS giảm nghiêm trọng đã làm cho TSĐB không đủ bù đắp khoản vay, thanh khoản kém; Không thu thập đầy đủ thông tin khách hàng, hồ sơ pháp lý; không thu thập, xác minh và phân tích các BCTC trong suốt thời hạn hiệu lực khoản vay; Không giám sát các khoản cho vay xây dựng; Không nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo như chu kỳ luân chuyển tồn kho và khoản phải thu chậm, chu kỳ các khoản phải trả dài ra và phát sinh lỗ ròng trong kinh doanh Đối với việc mua bán nợ xấu từ năm 2001, Chính phủ Trung Quốc đã cho phép hình thành thị trường mua bán nợ xấu nga với sự tham gia của rất nhiều thành phần quốc doanh, tư nhân, trong nước và quốc tế nhằm tăng tính cạnh tranh quá trình định giá với hệ thống pháp lý hoàn hảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thị trường này phát triển
- Tại Nhật Bản, Ngân hàng chủ động trong việc đánh giá rủi ro khách hàng tiềm năng trong tương lai gần và xa, từ đó có biện pháp xử lý càng sớm càng tốt; Nếu mức lỗ vượt quá khả năng của các NHTM, NHNN sẽ dùng các nguồn quỹ quốc gia để can thiệp Hiện nay, tổ chức dịch vụ tài chính (The Financial Service Agency) tại Nhật đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các Ngân hàng thực hiện công tác dự phòng cần thiết cũng như xử lý những khoản nợ xấu khó thu hồi kéo dài nhiều năm
THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
KHÁI QUÁT VỀ SCB
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tiền thân là Ngân hàng TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992 theo Giấy phép hoạt động số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và giấy phép thành lập số 308/GP-UB ngày 26/06/1992 của UBND TP.HCM cấp, đến ngày 08/04/2003, chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài gòn (SCB)
SCB là một trong những Ngân hàng TMCP hoạt động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt nam Cụ thể, từ 27/12/2010 Vốn điều lệ đạt 4.184.795.040.000 VNĐ; đến 30/09/2011 tổng tài sản của SCB đạt 77.985 tỷ đồng, tăng gần 30% so với đầu năm Mạng lưới hoạt động gồm 132 điểm giao dịch trải suốt từ Nam ra Bắc
Thực hiện lộ trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tại Việt Nam của NHNN, nhằm phát huy thế mạnh, tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng, giảm bớt chi phí vận hành từ đó tạo ra một ngân hàng mới vững mạnh hơn và tăng khả năng tiếp cận thị trường Ngày 06/12/2011, NHNN chấp thuận chủ trương hợp nhất 3 ngân hàng là Ngân hàng TMCP Sài Gòn, Ngân hàng TMCP Đệ Nhất và Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn [19] với vốn điều lệ 10.583.801.040.000 VNĐ và trở thành 1 trong 4 ngân hàng có qui mô tổng tài sản lớn nhất trong khối ngân hàng TMCP tại Việt Nam cùng với ACB, EIB, STB Mạng lưới hoạt động: 01 Sở giao dịch, 49 chi nhánh (chi nhánh) và 180 PGD/QTK/ĐGD Đến nay, sau hơn một năm hợp nhất với các chính sách linh hoạt và các sản phẩm dịch vụ toàn diện, đáp ứng được yêu cầu đa dạng của khách hàng là cơ sở vững chắc để SCB đạt được kết quả và hiệu quả kinh doanh ngày càng cao và luôn là người bạn đồng hành đáng tin cậy của các khách hàng, theo đúng phương châm “Hoàn thiện vì khách hàng”
2.1.2 Kết quả hoạt động của SCB
Qua gần 20 năm hoạt động, SCB đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc gia tăng huy động vốn và cho vay và các dịch vụ ngân hàng khác, là một trong những ngân hàng cổ phần qui mô tổng tài sản lớn nhất ở Việt Nam Tuy nhiên, SCB cũng gặp phải những khó khăn nhất định trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, lạm phát duy trì ở mức cao, thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
Bảng 2.1 Tổng tài sản và vốn CSH, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2009 -2012 Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tốc độ tăng trưởng 30- 09/2011 so với
*Giai đọan 2009-30/09/2011 được tổng hợp từ báo cáo của ba ngân hàng riêng lẻ;
**Giai đoạn 2011-2012 được tổng hợp từ báo cáo SCB hợp nhất
Nguồn: Báo cáo tài chính, báo cáo nội bộ của SCB, TNB, FCB từ 2009-2012, [11],[12],[13]
Tổng tài sản, chỉ tính riêng SCB năm 2009 tăng 41%, năm 2010 tăng 10% và đến 30/09/2011 tăng 29% Cuối năm 2011 SCB hợp nhất với TNB, FCB thành SCB mới với tổng tài sản là 147.151 tỷ đồng tăng so với năm 2010 tính cả SCB, TNB, FCB là 29%; năm 2012 tăng so với năm 2011 là 1,1%, thể hiện ở bảng 2.1
Vốn chủ sở hữu của SCB năm 2009 là 4.481 tỷ đồng tăng 60% so với năm
2008, năm 2010 tăng 5% so với năm trước và đến năm 2011 SCB thực sự gặp nhiều khó khăn do nợ quá hạn tăng cao ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của SCB, TNB và FCB với vốn CSH hợp nhất 11.585 tỷ đồng tăng 8% so với năm 2010; năm 2012 sau 1 năm hợp nhất cùng với sự nổ lực của Ban lãnh đạo cùng toàn thể CBNV, SCB gặt hái được nhiều thành quả đáng khích lệ, vốn CSH đến cuối năm 2012 đạt 11.868 tỷ đồng tăng 2,4% so với năm 2011, thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.2 : Tình hình huy động vốn, lợi nhuận trước thuế và tốc độ tăng trưởng của SCB, TNB,FCB từ 2009-2012 Đơn vị tính: Tỷ đồng Năm
Tốc độ tăng trưởng 30- 09/2011 so với
*Giai đọan 2009-30/09/2011 được tổng hợp từ báo cáo của ba ngân hàng riêng lẻ;
**Giai đoạn 2011-2012 được tổng hợp từ báo cáo SCB hợp nhất Nguồn: Tính toán từ BCTC, báo cáo nội bộ của SCB,TNB,FCB tư 2009-2012
Về huy động vốn, công tác huy động vốn của ngân hàng là một nhiệm vụ tiên quyết trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều muốn mở rộng hoạt động kinh doanh Muốn mở rộng hoạt động tín dụng của mình thì ngân hàng cần phải mở rộng hoạt động huy động vốn, vì thế bất kỳ ngân hàng nào cũng rất chú trọng đến hoạt động này Kết quả thực hiện được thể hiện ở bảng 2.2, năm 2009, tổng mức huy động của tính riêng SCB đạt 48.902 tỷ đồng, tăng so với năm 2008 là 41%; Năm 2010, tổng vốn huy động của SCB đạt 54.439 tỷ đồng tăng 11,32% so với năm 2009; tính đến cuối tháng 9/2011 tổng số dư huy động đạt 69.036 tỷ đồng tăng so với năm 2010 là 27% tương đương 14.597 tỷ đồng
Cuối năm 2011, do những khó khăn nhất định về nợ quá hạn cũng như thanh khoản…SCB hợp nhất với TNB và FCB thành SCB, tổng vốn huy động hợp nhất là 128.635 tỷ đồng tăng so với năm 2010 tính cả SCB, TNB, FCB gộp lại là 46% và tăng 6,3% so vào thời điểm 30/09/2011 Trong năm đầu hợp nhất, SCB gặp muôn vàng khó khăn khách hàng đến rút tiền gửi ồ ạt, chỉ một ngày đầu tiên khách rút hơn 900 tỷ tiền gửi [11] Tuy nhiên, cùng với sự nổ lực, chỉ đạo sát sao của Ban lãnh đạo SCB cũng như sự giúp đỡ, hỗ trợ của NHNN, SCB đã vượt qua, nguồn vốn huy động tăng trở lại và đạt 124.263 tỷ đồng, so với năm 2011 mặc dù giảm 3,4% nhưng đây là một sự thành công đầy thách thức
Lợi nhuận trước thuế, riêng SCB năm 2009 đạt 423 tỷ đồng, giảm so với năm 2008 là 35% do nợ quá hạn bắt đầu tăng phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, năm 2010 đạt 447 tỷ đồng tăng 6% so với năm 2010 Cuối năm 2011, lợi nhuận hợp nhất của SCB đạt 707 tỷ đồng giảm 36% so với năm 2010 tính gộp cả 3 ngân hàng trước khi hợp nhất, thể hiện ở bảng 2.3 Và sau một năm hợp nhất, vượt qua nhiều khó khăn thử thách lợi nhuận trước thuế năm 2012 đạt 82 tỷ đồng là dấu hiệu khởi sắc mở đầu cho sự phục hồi trở lại của SCB
Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế/Tổng tài sản và tỷ lệ lợi nhuận trước thuế/Vốn CSH qua các năm tính gộp cả ba ngân hàng SCB, TNB, FCB và SCB hợp nhất lần lượt như sau: năm 2009 là 1,05%, 8,22%; Năm 2010 là 0,96%, 10,21%; Năm 2011 giảm xuống còn 0,48%, 6,1% và năm 2012 chỉ còn 0,06%, 0,69%, thể hiện ở bảng 2.3
Bảng 2.3 : Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế so với tổng tài sản và lợi nhuận trước thuế so với vốn chủ sở hữu của SCB, TNB,FCB từ 2009-2012 Đơn vị tính: % Năm
*Giai đọan 2009-30/09/2011 được tổng hợp từ báo cáo của ba ngân hàng riêng lẻ;
**Giai đoạn 2011-2012 được tổng hợp từ báo cáo SCB hợp nhất Nguồn: Tính toán từ BCTC, báo cáo nội bộ của SCB,TNB,FCB tư 2009-2012 [11],
Như vậy, trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012 SCB bên cạnh những khó khăn nhất định nhưng vẫn đạt được kết quả khá khả quan có tốc độ tăng tài sản, vốn chủ sở hữu và huy động vốn khá cao
2.1.3 Tình hình tín dụng tại SCB giai đoạn 2009-2012
2.1.3.1 Qui mô và t ố c độ t ă ng tr ưở ng
Cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống NHTM ở Việt Nam, SCB có những bước phát triển mạnh mẽ trong việc gia tăng huy động, các dịch vụ ngân hàng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ trong đó đặc biệt là công tác cho vay phát triển với tốc độ rất nhanh năm 2009 đạt 31.310 tỷ đồng với tốc độ tăng so với năm 2008 là 35%, thể hiện ở bảng 2.4 Đến năm 2010 và năm 2011, cuộc khủng hoảng tài chính chưa có dấu hiệu phục hồi, nền kinh tế trong nước lại phải tiếp tục đối mặt với tình trạng lạm phát cao do đó chính sách của NHNN đưa ra trong giai đoạn này là hạn chế tăng trưởng tín dụng, kiềm chế lạm phát, trong khi bản thân SCB ra sức khắc phục những hệ lụy của thời kỳ tăng trưởng nóng (2008-2009) Do vậy, thay vì tập trung đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng, SCB đưa ra chính sách hạn chế tín dụng, đẩy mạnh công tác xử lý nợ quá hạn ngay từ đầu năm 2010, tốc độ tăng trưởng tín dụng có phần chậm lại thể hiện ở bảng 2.3, đầu năm 2011gặp nhiều khó khăn thật sự, riêng SCB đến thời điểm 30/09/2011 dư nợ tín dụng tăng so với cuối năm 2010 là 27%, cuối năm 2011 SCB đã hợp nhất với TNB, FCB với tổng dư nợ 69.683 tỷ đồng tốc độ tăng so với năm 2010 tính cả dư nợ của 3 ngân hàng hợp nhất là 12%
Bảng 2.4: Tổng dư nợ vay và tốc độ tăng trưởng của SCB, TNB, FCB từ 2009 –
2012 Đơn vị tính: Tỷ đồng Năm
Tốc độ tăng trưởng 30- 09/2011 so với
Tổng dư nợ cho vay 42.095 50 62.115 48 70.103 13 69.683 12 88.116 26,5
*Giai đọan 2009-30/09/2011 được tổng hợp từ báo cáo của ba ngân hàng riêng lẻ;
**Giai đoạn 2011-2012 được tổng hợp từ báo cáo SCB hợp nhất Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo nội bộ của SCB, TNB, FCB từ 2009-2012
Không chỉ SCB, qua khảo sát của tác giả, tốc độ tăng trưởng dư nợ của các ngân hàng thương mại như ACB, STB, EIB, MB, SHB cũng bị ảnh hưởng theo thể hiện ở bảng 2.5, điển hình là STB, giai đoạn 2009-2010, tốc độ tăng rất cao trên 30%, đến năm 2011, dư nợ không tăng mà còn giảm 2,4% so với năm 2010
Bảng 2.5: Tổng dư nợ và tốc độ tăng trưởng của ACB, STB, EIB, MB,
SHB, SCB, TNB, FCB giai đoạn 2009 - 2012 Đơn vị tính: Tỷ đồng Năm
MB 29.587 88,0 48.796 64,9 59.045 21,0 74.478 26,138 SHB 12.829 105,2 24.376 90,0 29.208 19,8 56.939 94,943 SCB + TNB + FCB 42.095 50,1 62.115 47,6 69.683 12,2 88.116 26,453
Nguồn: Tác giả tính toán từ BCTC hợp nhất của ACB, STB, EIB, MB, SHB, SCB,TNB, FCB giai đoạn 2009 – 2012 [6],[7],[8],[9],[10],[11],[12],[13]
Năm 2012, nền kinh tế tiếp tục gặp nhiều khó khăn Trước tình trạng này nhằm tháo gỡ những khó khăn ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát, NHNN đã thực hiện các biện pháp chế tài mạnh mẽ nhằm giảm dần mặt bằng lãi suất thị trường cùng với xu hướng giảm của tăng trưởng CPI: Ngày 13/03/2012, NHNN chính thức hạ trần lãi suất huy động từ 14%/năm xuống còn 13%/năm; tiếp tục đến ngày 06/04/2012 NHNN lần thứ 2 hạ lãi suất huy động xuống còn 12%/năm và đến cuối năm 2012 lãi suất huy động còn 8%/năm Ngày 04/03/2012, đề án “cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn năm 2011-2015” đã chính thức được phê duyệt, trong đó nợ xấu và thanh khoản là mục tiêu hàng đầu mà NHNN cần giải quyết Tiếp tục chủ trương trong năm 2011 là tập trung ưu tiên vốn phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, kết quả tốc độ tăng trưởng tín dụng cuối năm 2012 là 8,91% phù hợp với kế hoạch đặt ra của NHNN là từ 8%-10%
[11] Theo bảng số 2.5 thì ngoại trừ ACB, EIB có tốc độ tăng trưởng thấp nhất thì STB,
MB, SHB đều có tốc độ tăng trưởng khá cao trên 18%/năm