1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Microsoft word 1 bia 1

95 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Phú Hưng
Tác giả Trần Thị Tuyến
Người hướng dẫn Đoàn Thanh Hà, PGS.TS.
Trường học Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2013
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word 1 bia 1 doc BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH TRẦN THỊ TUYẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN PHÚ[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ TUYẾN

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN PHÚ HƯNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ TUYẾN

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN PHÚ HƯNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành: Kinh tế tài chính- Ngân hàng

Mã số : 60 31 12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.; TS Đoàn Thanh Hà

Trang 3

mình, cụ thể:

Tôi tên là: Trần Thị Tuyến

Sinh ngày 28 tháng 3 năm 1984 – Tại: Thái Bình Quê quán: Tiền Hải- Thái Bình

Hiện công tác tại: Trường Cao đẳng bán công Công nghệ và Quản trị doanh nghiệp

Là học viên cao học khóa 13 của Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi

TP.HCM ngày… tháng … năm…

Tác giả

Trần Thị Tuyến

Trang 4

TTCK Thị trường chứng khoán CTCK Công ty chứng khoán

OTC Thị trường phi tập trung NYSE Thị trường cổ phiếu New York PHS Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng

TMCP Thương mại cổ phần

VCBS Công ty Trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Thương mại cổ phần

Ngoại thương Việt Nam TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán NHCĐTT Ngân hàng chỉ định thanh toán

HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội ĐTTC Đầu tư tài chính

Trang 5

1 Hình 1.1: Mô hình viên kim cương của Michael Porter 27

3 Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty PHS 41

4 Hình 2.1 : Quy trình tóm tắt hoạt động môi giới tại công ty PHS 42

5 Bảng 2.1 : Biểu phí môi giới của công ty PHS 44

6 Bảng 2.2 : Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của công ty PHS (2010-2012) 46

7 Bảng 2.3: Doanh thu hoạt động chứng khoán của công ty PHS (2011-2012) 47

8 Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản của PHS năm 2011, 2012 48

9 Bảng 2.5: Cơ cấu tài khoản khách hàng tại PHS tính đến tháng

10 Bảng 2.6: 10 công ty chứng khoán có thị phần lớn nhất trên sàn giao dịch 53

11 Bảng 2.7: Tình hình lao động của công ty PHS tại 31/12/2012 55

12 Bảng 2.8: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty PHS 56

13 Bảng 2.9: Bảng thống kê vốn điều lệ, doanh thu, lợi nhuận trước thuế của một số các công ty chứng khoán năm 2012 56

Trang 6

Danh mục các bảng, biểu, hình

Mở đầu

CHƯƠNG 1: NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1 Công ty chứng khoán 1

1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán 1

1.1.2 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán 2

1.2 Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán 9

1.2.1 Cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 9

1.2.2 Năng lực cạnh tranh và vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh 12

1.2.3 Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán 14

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 16

1.2.5 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của CTCK 23

1.2.6 Công cụ đánh giá năng lực cạnh tranh 27

1.3 Bài học kinh nghiệm để nâng cao năng lực cạnh tranh 32

1.3.1 Kinh nghiệm của một số công ty chứng khoán 32

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng 35

Kết luận chương 1 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN PHÚ HƯNG 2.1 Khái quát về Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng 37

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng 37

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ cấu nhân sự Công ty PHS 40

2.1.3 Các lĩnh vực hoạt động của Công ty PHS 42

2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty PHS 46

2.2.1 Đánh giá kết quả kinh doanh 46

2.2.2 Một số chỉ tiêu tài chính 48

2.3 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty PHS 49

Trang 7

2.4.2 Những tồn tại 59

2.4.3 Những nguyên nhân hạn chế 60

Kết luận chương 2 65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN PHÚ HƯNG 3.1 Định hướng phát triển của Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng 66

3.1.1 Chiến lược phát triển trung và dài hạn 66

3.1.2 Các mục tiêu đối với xã hội và cộng đồng 67

3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty PHS 67

3.2.1 Nâng cao chất lượng dịch vụ 68

3.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 68

3.2.3 Không ngừng nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin 69

3.2.4 Xây dựng chính sách khách hàng hợp lý 70

3.2.5 Phát triển các hệ thống đại lý nhận lệnh 71

3.2.6 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu 72

3.2.7 Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ 72

3.2.8 Nâng cao tiềm lực tài chính 73

3.2.9 Đẩy mạnh chiến lược marketing 73

3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 74

3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 74

3.3.2 Kiến nghị với Ủy ban chứng khoán 77

3.3.3 Kiến nghị với Hiệp hội kinh doanh chứng khoán 78

Kết luận chương 3 78

Kết luận 79

Tài liệu tham khảo 80

Phụ lục 1 82

Phụ lục 2 83

Trang 8

năm 2000 Qua hơn 12 năm hoạt động với nhiều thăng trầm và thử thách, thị trường chứng khoán (viết tắt là TTCK) Việt Nam cũng đạt được một số thành tựu đáng khích lệ Quy mô thị trường ngày một mở rộng thể hiện ở sự gia tăng số lượng các công ty niêm yết, tỷ lệ vốn hoá thị trường, sự gia tăng số tài khoản của các nhà đầu

tư Cùng với sự phát triển của thị trường, số lượng công ty chứng khoán (viết tắt là CTCK) ra đời cũng ngày một nhiều hơn Cho đến nay đã có hơn 100 công ty chứng khoán được cấp phép thành lập và đi vào hoạt động tại Việt Nam Nhưng đến thời điểm này có tới 71 công ty chứng khoán lỗ lũy kế, trong đó có cả công ty lớn Sự cạnh tranh giữa các CTCK đang ngày càng trở nên quyết liệt hơn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế hiện nay Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển thì các CTCK không còn cách nào khác là phải tự mình nâng cao năng lực cạnh tranh bằng việc đa dạng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ phục vụ khách hàng

Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng (viết tắt là PHS) được thành lập vào 12/2006 với tên gọi ban đầu là Công ty cổ phần chứng khoán Âu Lạc Năm 2008, PHS đã ký kết hợp tác với đối tác chiến lược là Công ty CX Technology, Đài Loan

Qua quá trình tìm hiểu về PHS, tôi thấy công ty đã đạt được một số thành tựu nhất định từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay Tuy nhiên, trong thời buổi kinh

tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, năng lực cạnh tranh của công ty PHS còn tồn tại một số hạn chế, chưa phát huy hết thế mạnh của mình Vì vậy, tôi

chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần chứng khoán

Phú Hưng” làm luận văn Thạc sĩ kinh tế

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Hệ thống những vấn đề cơ bản về CTCK, năng lực cạnh tranh của CTCK làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

Trang 9

Các giải pháp và kiến nghị để nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng

Phạm vi nghiên cứu là kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng trong hai năm 2011, 2012

4 Phương pháp nghiên cứu

Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như thống kê, phân tích, tổng hợp Đề tài phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán, khảo sát kinh nghiệm các công ty chứng khoán khác

ở Việt Nam Từ đó rút ra những bài học có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, đảm bảo cho việc cạnh tranh lành mạnh, vững chắc của Công ty cổ phần Chứng khoán Phú Hưng

5 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài

Hệ thống hóa những luận điểm chủ yếu về CTCK, nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCK rút ra những kinh nghiệm có liên quan đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng trong điều kiện hội nhập

Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng Khẳng định những thành tựu, phân tích những tồn tại cần khắc phục

Đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty

cổ phần chứng khoán Phú Hưng trong thời gian tới (2012-2015)

6 Những đóng góp của đề tài

Về mặt khoa học: cung cấp các số liệu và thông tin cần thiết về năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh của Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng Đánh

Trang 10

Những đóng góp liên quan đến phát triển công ty: Góp phần hỗ trợ hoạch định chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng giai đoạn 2012-2015

7 Những điểm mới của đề tài

Hệ thống hoá lý luận về năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh

Đưa ra các phân tích đầy mới mẻ về thực trạng năng lực cạnh tranh của Công

ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng

Đề xuất một hệ thống các nhóm giải pháp có thể vận dụng hoặc làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng nói riêng và công ty kinh doanh chứng khoán nói chung

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có 03 chương sau:

Chương 1: Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng

Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng

Trang 11

CHƯƠNG 1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán (viết tắt là CTCK) là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán (theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24 tháng 4 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)

Công ty chứng khoán là một khâu tài chính trung gian, được thành lập khi có

sự cho phép của Ủy ban chứng khoán Nhà nước (viết tắt là UBCKNN) Điều kiện

để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, CTCK phải đảm bảo các yêu cầu:

Quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu một năm, trong đó diện tích làm sàn giao dịch phục vụ nhà đầu tư tối thiểu 150 m2 ; Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh, bao gồm: sàn giao dịch phục vụ khách hàng, thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính cùng các phần mềm thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, trang thông tin điện tử, bảng tin để công bố thông tin cho khách hàng, hệ thống kho, két bảo quản chứng khoán, tiền mặt, tài sản có giá trị khác và lưu giữ tài liệu, chứng từ giao dịch đối với công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán; Có mức vốn điều lệ thực góp tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo từng loại hình kinh doanh và nhân viên công ty phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán,

Công ty chứng khoán là một khâu tài chính trung gian, có vai trò là chiếc cầu nối, kênh dẫn vốn từ nơi có vốn nhàn rỗi đến nơi đang cần vốn Nó góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán (viết tắt là TTCK) nói riêng

Trang 12

1.1.2 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán

1.1.2.1 Môi giới chứng khoán

Là một hoạt động kinh doanh của CTCK trong đó CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường phi tập trung (viết tắt là OTC) mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, CTCK phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa khách hàng và Công ty Trong trường hợp khách hàng của CTCK mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại tổ chức lưu ký là Ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, CTCK có trách nhiệm hướng dẫn các thủ tục giao dịch, mua bán cho khách hàng và phải ký hợp đồng bằng văn bản với tổ chức lưu ký Tiền hoa hồng môi giới thường được tính phần trăm trên tổng giá trị của một giao dịch Tùy theo quy định của mỗi nước, cách thức hoạt động của từng Sở giao dịch chứng khoán mà người ta có thể phân chia thành nhiều loại nhà môi giới khác nhau như sau:

- Môi giới dịch vụ (Full Service Broker): Là loại môi giới có thể cung cấp đầy đủ dịch vụ như mua bán chứng khoán, giữ hộ cổ phiếu, thu cổ tức, cho khách hàng vay tiền, cho vay cổ phiếu để bán trước, mua sau và nhất là có thể cung cấp tài liệu, cho ý kiến cố vấn trong việc đầu tư

- Môi giới chiết khấu (Discount Broker): Là loại môi giới chỉ cung cấp một

số dịch vụ như mua bán hộ chứng khoán Đối với môi giới loại này thì khoản phí và hoa hồng nhẹ hơn môi giới toàn dịch vụ vì không có tư vấn, nghiên cứ thị trường

- Môi giới ủy nhiệm hay môi giới thừa hành: Đây là những nhân viên của một CTCK thành viên của một Sở giao dịch, làm việc hưởng lương của một CTCK

và được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các CTCK hay cho khách hàng của công ty trên sàn giao dịch Vì thế họ có tên chung là môi giới trên sàn (Floor Broker) Các lệnh mua bán được chuyển đến cho các nhà môi giới thừa hành này có thể từ văn phòng công ty, cũng có thể từ các môi giới đại diện (Registered Reprensentative)

Trang 13

- Môi giới độc lập hay môi giới 2 đô la: Môi giới độc lập (Independent Broker) chính là các môi giới làm việc cho chính họ và hưởng hoa hồng hay thù lao theo dịch vụ Họ là một thành viên tự bỏ tiền ra thuê chỗ tại Sở giao dịch (sàn giao dịch) giống như các CTCK thành viên Họ chuyên thực thi các lệnh cho các công ty thành viên khác của Sở giao dịch Sở dĩ có điều này là tại các Sở giao dịch nhộn nhịp, lượng lệnh phải giải quyết cho khách hàng của các CTCK đôi khi rất nhiều, các nhân viên môi giới của các công ty này không thể làm xuể hoặc vì một lý do nào đó vắng mặt Lúc đó, các CTCK sẽ hợp đồng với các nhà môi giới độc lập để thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho người môi giới này một khoản tiền nhất định Ban đầu các nhà môi giới độc lập được trả 2 đô la cho một lô tròn chứng khoáng (100 cổ phiếu) nên người ta quen gọi là “môi giới 2 đô la” Môi giới độc lập cũng được gọi là môi giới trên sàn (Floor Broker), họ đóng vai trò không khác gì một môi giới thừa hành, chỉ khác là họ có tư cách độc lập- tức họ không đại diện cho bất kỳ một CTCK nào cả

- Nhà môi giới chuyên môn: Các Sở giao dịch chứng khoán thường quy định mỗi loại chứng khoán chỉ được phép giao dịch tại một điểm nhất định gọi là quầy giao dịch (Post), các quầy này được bố trí liên tiếp quanh sàn giao dịch (Floor)

Trong quầy giao dịch có một số nhà môi giới được gọi là nhà môi giới chuyên môn hay chuyên gia Các chuyên gia này chỉ giao dịch một số loại chứng khoán nhất định Nhà môi giới chuyên môn thực hiện 2 chức năng chủ yếu là thực hiện các lệnh giao dịch và lệnh thị trường

1.1.2.2 Tự doanh chứng khoán

Là nghiệp vụ mà trong đó CTCK thực hiện mua và bán chứng khoán cho chính mình CTCK thực hiện nghiệp vụ tự doanh nhằm mục đích thu lợi hoặc đôi khi nhằm mục đích can thiệp điều tiết giá trên thị trường Chứng khoán tự doanh có thể là chứng khoán niêm yết hoặc chưa niêm yết trên TTCK Ngoài ra CTCK có thể

tự doanh chứng khoán lô lẻ của khách hàng, sau đó tập hợp lại thành lô chẵn để giao dịch trên TTCK Theo Điều 20 Quy chế hoạt động và tổ chức của Công ty chứng

Trang 14

khoán số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2004 quy định về hoạt động tự doanh của CTCK như sau:

- CTCK phải đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán để thanh toán các lệnh giao dịch của chính mình

- Khi tiến hành nghiệp vụ tự doanh, CTCK không được: Đầu tư vào cổ phiếu của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của CTCK; Đầu tư vượt quá 20% tổng

số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức niêm yết; Đầu tư quá 15% số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêm yết Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các CTCK tại Việt nam trong việc nâng cao lợi nhuân Tuy nhiên, do nghiệp vụ tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi ích nên các nước thường quy định các CTCK phải tổ chức thực hiện hai nghiệp vụ ở hai bộ phận riêng biệt nếu CTCK đó được thực hiện cả 2 nghiệp vụ

1.1.2.3 Nghiêp vụ quản lý danh mục đầu tư

Là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán, và nắm giữ các chứng khoán vì quyền lợi khách hàng theo hợp đồng được ký kết giữa CTCK và khách hàng Nghiệp vụ này đươc thực hiện khi một số nhà đầu tư tổ chức hoặc cá nhân muốn tham gia TTCK nhưng họ không có đủ điều kiện về thời gian hoặc kiến thức chuyên môn để quyết định đầu tư Vì vậy, họ ủy thác cho CTCK đầu

tư kèm theo thỏa thuận lãi, lỗ Người ủy thác đầu tư thường không can dự vào việc đầu tư của CTCK và trả một khoản phí cho CTCK theo thỏa thuận Các CTCK khi thực hiệp nghiệp vụ này ngoài việc được hưởng phí quản lý, họ còn có thể nhận được những khoản tiền thưởng nhất định khi mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư

Khi thực hiện quản lý danh mục đầu tư, CTCK phải quản lý tiền và chứng khoán cho từng khách hàng ủy thác và sử dụng tiền trong tài khoản theo đúng các điều kiện quy định trong hợp đồng đã ký kết Hợp đồng phải xác định rõ mức độ ủy quyền của khách hàng cho CTCK và điều quan trọng nữa là phải xác định khách hàng phải chịu mọi rủi ro của hoạt động đầu tư Để đảm bảo quyền lợi của khách

Trang 15

hàng, định kỳ, CTCK phải gửi báo cáo giá trị các khoản đầu tư theo giá thị trường tại thời điểm báo cáo cho khách hàng

1.1.2.4 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành

Là việc bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định nên số tiền thu được từ đợt phát hành Hiện nay trên thế giới có một số hình thưc bảo lãnh phát hành sau:

- Bảo lãnh cam kết chắc chắn: Là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối hết hay không

- Bảo lãnh cố gắng tối đa: Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng tối đa Số chứng khoán còn lại nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành Như vậy, kết quả của việc bán chứng khoán của tổ chức phát hành tùy thuộc và khả năng, uy tín và sự lựa chọn nhà đầu tư của tổ chức bảo lãnh

- Bảo lãnh tất cả hoặc không: Là phương thức bảo lãnh mà theo đó, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán hết số chứng khoán dự định phát hành, nếu không phân phối hết sẽ hủy bỏ đợt phát hành Theo phương thức này, không có một sự bảo đảm đợt phát hành có thành công hay không, nên UBCKNN thường quy định số chứng khoán mà nhà đầu tư đã mua trong thời gian chào bán sẽ được giữ bởi một người thứ ba để chờ kết quả cuối cùng của đợt phát hành Nếu đợt phát hành không thành công thì nhà đầu tư sẽ được trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc

- Bảo lãnh với hạn mức tối thiểu: Là phương thức kết hợp giữa phương thức bảo lãnh cố gắng tối đa và phương bảo lãnh tất cả hoặc không Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định Nếu số lượng chứng khoán bán ra dưới hạn mức này thì đợt phát hành sẽ

Trang 16

được hủy bỏ và toàn bộ tiền đặt cọc mua chứng khoán sẽ được trả lại cho nhà đầu

tư Đây là phương thức bảo lãnh tương đối hiệu quả, vừa bảo vệ lợi ích cho tổ chức phát hành, vừa hạn chế rủi ro cho tổ chức bảo lãnh

Riêng tại Việt Nam hiện nay chỉ áp dụng hình thức bảo lãnh với cam kết chắc chắn nhằm mục đích bảo vệ các nhà đầu tư và gắn kết trách nhiệm của các CTCK Điều này gây ra một số khó khăn cho các CTCK trong việc triển khai nghiệp vụ này

1.1.2.5 Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán

Là dịch vụ mà CTCK cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực tư vấn đầu tư chứng khoán; Tư vấn tái cơ cấu tài chính, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp; Tư vấn cho doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yết chứng khoán

Đây là nghiệp vụ mà vốn của nó chính là kiến thức chuyên môn, kinh nghiệp nghề nghiệp của đội ngũ chuyên viên tư vấn của CTCK

- Tư vấn tài chính (Tư vấn cho người phát hành): Đây là một mảng hoạt động quan trọng mang lại nguồn thu tương đối cao cho CTCK Thực hiện nghiệp vụ này

sẽ góp phần hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp và tạo ra những hàng hóa có chất lượng cao trên thị trường Khi thực hiện nghiệp vụ này, CTCK phải ký hợp đồng với tổ chức được tư vấn và liên đới chịu trách nhiệm về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết Hoạt động này tương đối đa dạng bao gồm:

+ Xác định giá trị doanh nghiệp: Là việc định giá các tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp trước khi chào bán chứng khoán Đây là khâu quan trọng trước khi phát hành chứng khoán vì nó dùng để đánh giá chứng khoán phát hành, đặc biệt là khi doanh nghiệp mới phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu

+ Tư vấn về loại chứng khoán phát hành: Tùy theo điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp như tình hình tài chính, chiến lược phát triển của công ty… mà xác định loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu hay trái phiếu

+ Tư vấn chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp,…: Khi một doanh nghiệp muốn thâu tóm hay hợp nhất với một doanh nghiệp khác, họ tìm đến các

Trang 17

CTCK để nhờ trợ giúp về các vấn đề kỹ thuật, phương pháp tiến hành sao cho phù hợp và đỡ tốn chi phí…

- Tư vấn đầu tư chứng khoán: Là việc các chuyên viên tư vấn sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để tư vấn cho nhà đầu tư về thời điểm mua bán chứng khoán, loại chứng khoán mua bán, thời gian nắm giữ, tình hình diễn biến thị trường,

xu hướng giá cả… Đây là hoạt động phổ biến trên thị trường thứ cấp, diễn ra hàng ngày, hàng giờ với nhiều hình thức khác nhau Việc tư vấn có thể bằng lời nói, hoặc

có thể thông qua những bản tin, các báo cáo phân tích… khách hàng có thể gặp gỡ nhà tư vấn hoặc thông qua các phương tiện truyền thông như điện thoại, fax… để nhờ tư vấn trực tiếp hoặc có thể gián tiếp thông qua các báo cáo phân tích, các ấn phẩm mà nhà tư vấn phát hành Nhà tư vấn phải luôn là người thận trọng khi đưa ra những lời bình luận, những báo cáo phân tích của mình về giá trị các loại chứng khoán, vì những phát ngôn của các chuyên viên tư vấn có tác động rất lớn đền tâm

lý của các nhà đầu tư và thường dễ có thể trở thành lời tiên đoán, định hướng cho toàn bộ thị trường Bởi vì, các nhà đầu tư tin rằng các nhà tư vấn là những chuyên gia trong lĩnh vực này, họ có nhiều thông tin và kiến thức hơn những người khác và

họ có thể đánhgiá tình hình chính xác hơn Điều này có thể mang lại lợi nhuận cho người được tư vấn nhưng cũng có thể gây thiệt hại cho họ và làm ảnh hưởng đến TTCK Theo quy định tại Việt Nam, khi thực hiện tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng, các CTCK và nhân viên kinh doanh phải:

- Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp

- Bảo đảm tính trung thực, khách quan và khoa học của hoạt động tư vấn

- Không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của bất kỳ loại chứng khoán nào

- Không được có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật để dụ dỗ hay mời gọi khách hàng mua bán một loại chứng khoán nào đó

- Bảo mật các thông tin nhận được từ người sử dụng dịch vụ tư vấn trừ trường hợp đươc khách hàng đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác

Trang 18

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động tư vấn và bồi thường thiệt hại cho người sử dụng dịch vụ tư vấn khi vi phạm cam kết trong hợp đồng tư vấn

Tuy nhiên, các nhà tư vấn thường đánh giá tình huống theo kiến thức, kinh nghiệm và tư duy chủ quan của họ, do vậy việc đánh giá tình huống của mỗi nhà tư vấn là khác nhau Tính khách quan và chính xác của các bản phân tích sẽ mang lại

uy tín cho nhà tư vấn

1.1.2.6 Các nghiệp vụ hỗ trợ khác

Nhìn chung, các nghiệp vụ hỗ trợ giao dịch nhằm mục đích tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

- Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán: Là công việc đầu tiên để các chứng khoán

có thể giao dịch trên thị tường tập trung- việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán- được thực hiện thông qua các thành viên lưu ký của thị trường giao dịch chứng khoán

- Lưu ký chứng khoán là một hoạt động rấ cần thiết trên TTCK Bởi vì trên TTCK tập trung, việc thanh toán các giao dịch diễn ra tại Sở giao dịch chứng khoán

Vì vậy, lưu ký chứng khoán một mặt giúp cho quá trình thanh toán tại Sở giao dịch đươc diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, dễ dàng Mặt khác, nó hạn chế rủi ro cho người nắm giữ chứng khoán như rủi ro bị hỏng, rách, thất lạc chứng chỉ chứng khoán…

- Cho vay cầm cố chứng khoán: Là một hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay dùng số chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình làm tài sản cầm cố để vay kiếm tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng…

- Cho vay bảo chứng: Là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để mua chứng khoán, sau đó dùng số chứng khoán mua được từ tiền vay để làm tài sản cầm cố cho khoản vay

- Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: Là việc CTCK ứng trước tiền bán chứng khoán của khách hàng được thực hiện tại trung tâm giao dịch chứng khoán

Trang 19

1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.2.1 Cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh

1.2.1.1 Cạnh tranh

Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể hiện đại trên thị trường với nhau nhằm giành giật những điều kiện sản xuất thuận lợi và nơi tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển

Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa vì nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hóa Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa nhiều để đạt được lợi nhuận cao nhất Ở góc

độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ

Như vậy, khi nói đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thể hiểu:

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng về năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý thức, ý chí trên thị trường cạnh tranh đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội Cạnh tranh tạo ra môi trường tốt cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lợi, có doanh nghiệp bị hủy diệt do không có khả năng cạnh tranh, có doanh nghiệp sẽ thực sự phát triển nếu họ biết phát huy tốt những tiềm lực của mình Nhưng cạnh tranh không phải là sự hủy diệt

mà là sự thay thế, thay thế các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn

Trang 20

lực xã hội bằng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển

Hiện nay, người ta đã tính toán được rằng để đảm bảo cho yêu cầu nêu trên thì tỷ lệ lợi nhuận đạt được phải ít nhất bằng tỷ lệ cho việc tài trợ cho những mục tiêu của doanh nghiệp Vì thế, nếu một doanh nghiệp tham gia thị trường mà không

có khả năng cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh yếu thì sẽ không thể tồn tại được

Quá trình duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệp phải là một quá trình lâu dài, nếu không nói vĩnh viễn như là quá trình duy trì sự sống

Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất ở mức thấp, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn,…để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng Cạnh tranh là tiền đề của hệ thống free-enterprise vì càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ có chất lượng tốt hơn Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật

Một doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường có thể cạnh tranh với nhau dưới nhiều hình thức :

- Cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ: Cạnh tranh về sản phẩm là cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, phục vụ, sự đa dạng hoá của các dịch vụ giá trị gia tăng và tính độc đáo của nó Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp tìm mọi cách để hoàn thiện sản phẩm dịch vụ của mình như: bao bì đóng gói, quảng cáo tư vấn, giao hàng, lưu kho…Cải tiến các thông số chất lượng kỹ thuật, nghiên cứu đưa những sản phẩm mới vào thị trường, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm

- Cạnh tranh về giá: Giá cả là một vũ khí lợi hại để doanh nghiệp tiến hành cạnh tranh Doanh nghiệp nghiên cứu thị trường, đối thủ cạnh tranh để xác định mức giá hợp lý Doanh nghiệp áp dụng linh hoạt những chính sách: chính sách giá

Trang 21

phân biệt nhằm khai thác triệt để độ co giãn của các mức nhu cầu như giá thay đổi theo số lượng sử dụng sản phẩm, theo thời gian sử dụng sản phẩm Giảm giá cho các tầng lớp xã hội, đối tượng ưu tiên, các vùng ưu tiên và giảm giá tạm thời

- Cạnh tranh về phân phối sản phẩm dịch vụ: Để sản phẩm đến được tay người tiêu dùng đòi hỏi doanh nghiệp phải có hệ thống phân phối rộng, hiệu quả

Các doanh nghiệp phát triển mạng lưới đại lý, giao hàng, chọn kênh phân phối hiệu quả

- Cạnh tranh về xúc tiến bán hàng: Quảng cáo và khuyến mãi đã trở nên không thể thiếu trên thị trường cạnh tranh gay gắt Thông qua truyền thông, hình thức cạnh tranh này tỏ ra hiệu quả đối với những doanh nghiệp hiện nay: giúp gia tăng sự quan tâm, chú ý của khách hàng trong điều kiện thị trường đa dạng chủng loại, sản phẩm, dịch vụ v.v.v

- Hình thức cạnh tranh khác: Ngoài những hình thức cạnh tranh trên, những doanh nghiệp còn cạnh tranh với nhau về phương thức thanh toán như bán chịu, trả chậm, trả góp cho khách hàng, chiết khấu thanh toán

1.2.1.2 Lợi thế cạnh tranh

Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được

để nắm bắt cơ hội, để kinh doanh có lãi Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, chúng ta nói đến lợi thế, những năng lực riêng biệt mà một doanh nghiệp đang có và có thể có được thị trường chấp nhận, đánh giá cao, thông qua đó doanh nghiệp có thể tạo ra được tính trội hơn hay ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh của họ Năng lực riêng biệt: là điểm mạnh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác mà điểm mạnh này giúp cho doanh nghiệp có thể sản xuất được sản phẩm có tính khác biệt hoá hay sản xuất với chi phí thấp hơn và giúp cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể xây dựng cho mình năng lực riêng biệt Bởi vì để có thể xây dựng được năng lực riêng biệt thì doanh nghiệp cần phải có 2 điều kiện cần thiết đó là: Nguồn lực: là cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, nguồn lực về vốn, tài chính, con người, công nghệ v.v ; Năng lực: là khả năng sử dụng các nguồn lực có hiệu quả

Trang 22

Một công ty được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành Và công ty có một lợi thế cạnh tranh bền vững khi

nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài Hai yếu tố cơ bản hình thành tỷ lệ lợi nhuận của một công ty, và do đó biểu thị nó có lợi thế cạnh tranh hay không, đó là: Lượng giá trị mà các khách hàng cảm nhận về hàng hoá hay dịch vụ của công ty; Chi phí sản xuất của nó

Về dài hạn, cạnh tranh có thể coi như một quá trình được dẫn dắt bằng sự cải tiến Mặc dù không phải tất cả các cải tiến đều thành công, nhưng cải tiến là nguồn lực chủ yếu của lợi thế cạnh tranh Bởi vì, theo định nghĩa, nó tạo ra cho công ty những thứ độc đáo- những thứ mà đối thủ cạnh tranh của nó không có (ít ra cho đến khi nào họ bắt chước thành công) Tính độc đáo giúp công ty tạo ra khác biệt so với đối thủ và đòi hỏi một mức giá tăng thêm cho sản phẩm của nó, hoặc giảm chi phí đáng kể so với đối thủ

Để có được lợi thế cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải hoạt động tốt trên bốn phương diện cơ bản: Hiệu quả cao hơn; Chất lượng cao hơn; Đổi mới nhanh hơn; Đáp ứng cho khách hàng nhanh nhạy

1.2.2 Năng lực cạnh tranh và vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững

Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hoá cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường Doanh nghiệp có chi phí càng thấp, lợi nhuận và thị phần càng cao thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó càng lớn và ngược lại

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh không

Trang 23

chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh

Khi nghiên cứu tìm biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp cần đặt doanh nghiệp trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường xung quanh để xác định được vị thế của doanh nghiệp, từ đó xây dựng được chiến lược thích hợp

Như ta đã biết trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu khách quan

Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường cần phải chấp nhận cạnh tranh, tuân theo quy luật cạnh tranh cho dù đôi khi cạnh tranh cũng trở thành con dao hai lưỡi

Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có chi phí cao, chất lượng sản phẩm tồi, tổ chức tiêu thụ kém, mặt khác nó buộc các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu giảm chi phí để giảm giá bán sản phẩm, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, tổ chức hệ thống tiêu thụ sản phẩm Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển, kinh tế phát triển nên nhu cầu tiêu dùng nâng lên

ở mức cao hơn rất nhiều, để đáp ứng kịp thời nhu cầu này các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua các yếu tố trực tiếp như giá

cả, chất lượng, uy tín Hay các yếu tố gián tiếp như hoạt động quảng cáo, hội chợ, các dịch vụ sau bán Hơn nữa trong một nền kinh tế mở như hiện nay các đối thủ cạnh tranh không chỉ là các doanh nghiệp trong nước mà còn là các doanh nghiệp, công ty nước ngoài có vốn đầu tư cũng như trình độ công nghệ cao hơn hẳn thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp là một tất yếu khách quan cho

sự tồn tại và phát triển

Nâng cao năng lực cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển góp phần vào sự phát triển kinh tế Sự cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay

Trang 24

nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào hoạt động sản xuất kinh doanh,… Bởi vậy, mỗi doanh nghiệp trong thị trường đều không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh để đứng vững hơn, phát triển hơn trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay

1.2.3 Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán

Năng lực cạnh tranh của CTCK có thể được định nghĩa như là khả năng của một CTCK tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, lợi tức hoặc chất lượng các dịch vụ cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới Năng lực cạnh tranh của một CTCK là một hàm số của các nhân tố như:

- Các nguồn lực chính của công ty (nguồn nhân lực, vốn, cơ sở vật chất)

- Sức mạnh thị trường của công ty

- Thái độ của công ty đối với các đối thủ cạnh tranh và các đại lý kinh tế khác

- Năng lực của công ty để thích ứng với những tình huống thay đổi

- Năng lực của công ty để tạo ra thị trường mới

- Môi trường định chế được cung cấp một cách rộng rãi bởi Chính phủ bao gồm cơ sở hạ tầng vật chất và chất lượng của các chính sách của Chính phủ

Năng lực cạnh tranh có thể bao gồm năng lực cạnh tranh ngắn hạn và năng lực cạnh tranh dài hạn Năng lực cạnh tranh ngắn hạn được biểu thị bởi: giá cả, chất lượng, và chức năng của sản phẩm, thị phần, khả năng sinh lợi, lợi tức trên tài sản

và giá cổ phiếu Năng lực cạnh tranh dài hạn thể hiện việc một công ty hoạt động tốt như thế nào so với các CTCK khác trong việc phát triển công nghệ mới để tạo ra các dịch vụ mới, quá trình mới, thị trường hoàn toàn mới

Khả năng cạnh tranh của CTCK còn được hiểu là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với một mức lợi nhuận nhất định Có một quan điểm khác cho rằng khả năng cạnh tranh của CTCK được hiểu là tích hợp các khả năng

và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế

Trang 25

cạnh tranh của mình trong mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm năng trên cùng một thị trường mục tiêu

Năng lực cạnh tranh của CTCK là thể hiện thực lực và lợi thế của công ty so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranh của CTCK trước hết phải được tạo ra từ thực lực của công ty Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi công ty, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, trình độ quản lý, thị phần, khả năng sinh lời, chất lượng dịch vụ, thương hiệu,… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đỏi hỏi công ty phải tạo ra và có được các lợi thế cho riêng mình Nhờ lợi thế này, công ty có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh Vậy, năng lực cạnh tranh của CTCK là một khái niệm động được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vĩ mô và vi mô Một CTCK có thể năm nay được đánh giá

có năng lực cạnh tranh cao nhưng năm sau lại không có khả năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế của mình

Như vậy, trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về khả năng cạnh tranh của CTCK trên nhiều giác độ khác nhau Tuy nhiên, khi tiếp cận đến năng lực cạnh tranh của CTCK, ta thấy được một số nội dung cơ bản sau:

+ Trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu của khách hàng (thị trường) phải trở thành chuẩn mực đánh giá sức cạnh tranh của công ty Điều này xuất phát từ khách quan là yêu cầu của khách hàng vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển dịch vụ

Yếu tố chính yếu tạo nên sức mạnh trong việc thu hút khách hàng đó là thực lực của công ty Thực lực này phải xuất phát từ yếu tố nội tại của CTCK, được thể hiện ở uy tín của CTCK

Trang 26

+ Khả năng cạnh tranh của CTCK, tự thân nó đã hàm ý nói đến việc so sánh với các đối thủ cạnh tranh cùng hoạt động trên một thị trường Để tạo nên sức mạnh cạnh tranh thực sự, CTCK phải tạo ra lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh để

có thể lôi kéo được khách hàng

+ Các biểu hiện khả năng cạnh tranh của CTCK luôn có quan hệ ràng buộc

Một CTCK có sức cạnh tranh mạnh khi nó đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách tốt nhất Tuy nhiên trên thực tế, việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của khách hàng là khó có thể thực hiện bởi vì có khi có CTCK có lợi thế điểm này nhưng lại yếu về một số mặt khác Chính vì vậy, việc tìm ra và đánh giá đúng các điểm mạnh, điểm yếu của CTCK có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán

Trong nền kinh tế thị trường có mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt thì CTCK gia tăng đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, gia tăng thị phần nhằm từng bước hoàn thiện hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh Nhưng hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán thì không đơn giản, các hoạt động của CTCK chịu tác động của nhiều nhân tố vì các nhân tố này có thể là vi

mô và vĩ mô, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp

- Sự phát triển của TTCK: Một TTCK phát triển khi nó được vận hành trong một môi trường pháp lý thống nhất, các hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường đều được điều chỉnh theo quy định của pháp luật và thị trường phải có nhiều hàng hóa để giao dịch để nó thực sự là một kênh huy động vốn thực sự có hiệu quả của nền kinh tế Sự tác động của TTCK và CTCK luôn có hai chiều, sự phát triển của TTCK ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của các CTCK và ngược lại các CTCK là một chủ thể phục vụ đắc lực vì mục tiêu phát triển của mình

và của cả thị trường Thêm vào đó việc TTCK phát triển sẽ tạo điều kiện cho các CTCK có một địa bàn đủ lớn để ra sức đầu tư công nghệ, đội ngũ nhân viên có trình

độ cao, hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ nhằm mở rộng thị phần

Trang 27

- Môi trường kinh tế: Là một thực thể của nền kinh tế vì vậy CTCK cũng chịu sự chi phối của môi trường kinh tế Bất cứ sự biến động nào như biến động của lạm phát, tỷ giá hối đoái hay tốc độ tăng trưởng kinh tế… đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của TTCK và CTCK Những biến động này ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư khiến giá, chỉ số giá thay đổi và ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh và các hoạt động khác của CTCK Chẳng hạn như khi nền kinh tế tăng trưởng, phát triển thì lượng vốn trong nền kinh tế gia tăng sẽ làm tăng vốn đổ vào TTCK Đồng thời các hoạt động của công ty niêm yết sẽ tốt hơn khiến giá chứng khoán cao, thị trường quan tâm nhiều hơn đến hoạt động kinh doanh chứng khoán, quy mô thị trường được mở rộng tạo cơ hội cho các CTCK tăng doanh thu, tăng hiệu quả hoạt động Nhờ vậy, năng lực cạnh tranh của CTCK cũng sẽ được tăng cao

- Môi trường chính trị, pháp lý và chính sách của Nhà nước: Sự ổn định về chính trị sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư bên ngoài, mở rộng hợp tác quốc tế tạo cơ hội kinh doanh cho các CTCK Ngược lại bất kỳ sự bất ổn nào cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của TTCK nói riêng và CTCK nói chung Thị trường chứng khoán là một hình thức thị trường đặc biệt nơi diễn ra các giao dịch hàng hóa

là các tài sản tài chính Thị trường chứng khoán có cấu trúc và cơ chế giao dịch phức tạp thể hiện sự khăng khít và liên hoàn của toàn thị trường Chính vì điều này

mà thị TTCK cần có một trình độ tổ chức cao và chịu sự quản lý giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ Khi có một môi trường pháp lý hoàn thiện và đồng bộ, thống nhất sẽ thúc đẩy các chủ thể tham gia thị trường yên tâm hơn, điều này là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các CTCK Khi tham gia TTCK, các CTCK, tổ chức phát hành

và các định chế tài chính khác cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật

về chứng khoán quy định như vấn đề về vốn, về hoạt động kinh doanh có lãi đối với

tổ chức phát hành… Nhờ có các quy định chặt chẽ và thống nhất đồng bộ của pháp luật tạo điều kiện cho CTCK hoạt động có hiệu quả hơn, đồng thời ngăn cản các CTCK không đủ tiêu chuẩn được tham gia thị trường nhằm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư và các CTCK đủ tiêu chuẩn Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước

Trang 28

cũng quy định chặt chẽ về chế độ công bố thông tin của các chủ thể phát hành cũng như các CTCK như việc cuối năm tài chính các tổ chức phát hành tiến hành báo cáo tài chính và tổ chức họp Đại hội cổ đông thông báo kế hoạch của công ty và tỷ lệ chia cổ tức… Điều này đang tạo ra một cơ chế giám sát, kiểm soát các chủ thể tham gia TTCK và tạo ra cho các hoạt động được lành mạnh đảm bảo nguyên tắc của TTCK là công khai, công bằng và minh bạch Các chính sách vĩ mô khác cũng tác động mạnh mẽ đến hoạt động của TTCK và gián tiếp tác động đến các CTCK Vì các tổ chức tham gia niêm yết trên TTCK hoạt động trên nhiều ngành và lĩnh vực nên chính sách nới lỏng hay thắt chặt đều làm cho các nhà đầu tư không yên tâm

- Môi trường công nghệ: Mỗi một sự tiến bộ của khoa học công nghệ đều đưa đến việc loại bỏ các công nghệ ra đời trước đó với một công nghệ mới vượt trội hơn Việc áp dụng công nghệ mới sẽ tạo cho công ty đó có một lợi thế hơn công ty khác trong kinh doanh như có thể giảm chi phí, tăng năng suất lao động, tiết kiệm thời gian trong các quy trình làm việc Chẳng hạn như việc phát minh ra Internet đã làm cho mọi thông tin được truyền tải một cách nhanh nhất, làm thay đổi toàn bộ quy trình làm việc của các CTCK thời đó Tuy nhiên, nhân tố này đòi hỏi các CTCK phải chủ động nắm bắt xu thế mới trong hoạt động kinh doanh chứng khoán cũng như chủ động tiếp cận công nghệ mới vào lĩnh vực kinh doanh chứng khoán,

có kế hoạch phát triển các công nghệ mới, các dịch vụ mới…

- Môi trường văn hóa xã hội: Các yếu tố trong môi trường văn hóa xã hội có thể kể đến là yếu tố phong tục tập quán, thị hiếu, thói quen, độ tuổi, trình độ dân trí, văn hóa truyền thống… Các yếu tố này ảnh hưởng đến TTCK nói chung và hoạt động kinh doanh chứng khoán của các CTCK nói riêng Các yếu tố văn hóa xã hội thường biến đổi chậm nên khó nhận biết Văn hóa xã hội còn ảnh hưởng đến việc hình thành văn hóa doanh nghiệp, văn hóa nhóm cũng như thái độ cư xử, cách ứng

xử của các nhà quản trị, nhân viên khi tiếp xúc với các đối tác, khách hàng Chẳng hạn như yếu tố về độ tuổi ảnh hưởng đến cách thức tham gia và phong cách đầu tư của khách hàng trên TTCK Các nhà đầu tư trẻ thường ưa thích các chiến lược đầu

tư mạo hiểm hơn các nhà đầu tư có tuổi Cách thức tham gia thị trường của các nhà

Trang 29

đầu tư trẻ cũng đa dạng và phong phú hơn nhiều Trình độ dân trí cũng ảnh hưởng đáng kể đến chiến lược kinh doanh của công ty, nếu trình độ dân trí thấp, các CTCK

sẽ khó triển khai các dịch vụ mới như đặt lệnh qua điện thoại, fax, internet…

- Nguồn lực: Hiện nay, trong xu thế hội nhập đòi hỏi sự phát huy nội lực đến mức cao nhất của từng thành viên của TTCK trong đó có CTCK Phát triển nội lực tại CTCK là việc xây dựng một hệ thống quản lý chuyên nghiệp cùng với hoạt động hiệu quả của Ban Giám đốc điều hành Trong thực tế có nhiều công ty vẫn chưa trọng đến việc thay đổi hệ thống quản lý trong sự phát triển của công ty mình nên vẫn chưa huy động hết các nguồn lực nhằm phát triển mở rộng quy mô Nguồn lực của CTCK bao gồm vốn, nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật Vốn là nguồn lực cần phải có trước tiên vì chỉ khi có vốn thì mới đáp ứng điều kiện để thành lập và đưa công ty vào hoạt động Một công ty có năng lực cạnh tranh là công ty có vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý và khi có vốn thì công ty cần có kế hoạch sử dụng vốn đó đi đầu tư vào con người, vào cơ sở vật chất một cách có hiệu quả Nhân lực là một nguồn lực cũng quan trọng vì nó vận hành các nguồn lực khác Khi có được một nguồn nhân lực có trình độ, có tâm với nghề thì việc thu hút và tiếp cận khách hàng được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu làm tăng hình ảnh của công ty trong mắt của khách hàng Hoạt động kinh doanh của CTCK phụ thuộc rất nhiều vào các nhân viên trong CTCK Trên TTCK, những nhân viên thực hiện kinh doanh chứng khoán phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp Cụ thể là phải qua các trường lớp đào tạo, tốt nghiệp các kỳ thi do UBCKNN hoặc Hiệp hội Quốc gia tổ chức Ngoài ra, họ còn phải đăng ký hoạt động với UBCKNN

để được hoạt động kinh doanh Ở các TTCK phát triển, để tham gia giao dịch trên

Sở Giao dịch Chứng khoán, các nhân viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chuyên môn của riêng Sở Giao dịch Chứng khoán đó, như ở Mỹ để được phép kinh doanh trên thị trường cổ phiếu New York (viết tắt là NYSE), các nhân viên phải thực hiện

kỳ thi do NYSE tổ chức Sở dĩ phải có sự đòi hỏi khắt khe như vậy vì khả năng chuyên môn của các nhân viên có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giao dịch của

Trang 30

thị trường Hơn thế nữa, kết quả hoạt động kinh doanh của CTCK do khả năng chuyên môn của các nhân viên quyết định Các quy định về đạo đức nghề nghiệp được quy định rất chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và quy định riêng của từng thị trường Các quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư Một cách gián tiếp, quy định này để bảo vệ uy tín của CTCK Cơ sở vật chất

kỹ thuật trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính luôn được đầu tư lớn, vì khi khách hàng đến với các dịch vụ của doanh nghiệp việc tạo sự tin tưởng là rất quan trọng, cơ sở vật chất tốt chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng về tài chính và

có nhiều tiện ích hơn thỏa mãn yêu cầu của khách hàng Để hoạt động kinh doanh, các CTCK cũng cần phải có đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc kinh doanh chứng khoán như: trụ sở, các phòng giao dịch, quầy giao dịch chứng khoán

và đặc biệt là các trang thiết bị điện tử cần thiết, bảng điện tử hay nói cách khác

là hệ thống thông tin phục vụ hoạt động kinh doanh Hệ thống thông tin gần như là

cơ sở vật chất quan trọng nhất của công ty chứng khoán Hệ thống thông tin này bao gồm các phần mềm quản lý khách hàng, hệ thống thanh toán, yết giá, lưu ký Ngoài

ra, hệ thống tin học của các CTCK còn có sự kết nối chặt chẽ với các cơ quan có

liên quan như UBCKNN, ngân hàng chỉ định thanh toán Hệ thống này càng phát

triển thì càng đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh của thị trường do giảm được các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến các giao dịch Hệ thống này giúp cho CTCK có thể thu hút nhiều khách hàng hơn Các CTCK ngày càng hiện đại hóa hệ thống thông tin của mình nhằm tăng tốc độ giao dịch, giảm chi phí giao dịch, đảm bảo an toàn cho các chứng khoán của khách hàng, quản lý có hiệu quả các rủi ro trong giao dịch Tuy nhiên ở các TTCK mới đi vào hoạt động, hệ thống thông tin chỉ đóng vai trò như một cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu để đưa thị trường vào hoạt động nhiều hơn là một công cụ cạnh tranh của các CTCK

- Chiến lược kinh doanh của CTCK: Công ty chứng khoán căn cứ vào diễn biến các yếu tố vĩ mô đặc biệt là TTCK và nguồn lực của công ty để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả Mỗi CTCK có các đặc điểm riêng và vì vậy

có những chiến lược kinh doanh khác nhau Tuy nhiên các chiến lược này đều có

Trang 31

vai trò giống nhau là tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh và con đường phát triển trong tương lai của CTCK Các chiến lược kinh doanh thường được xây dựng

và việc tổ chức thực hiện các mục tiêu chiến lược là biện pháp đảm bảo tính cạnh tranh của công ty một cách lâu dài và ổn định Trong các điều kiện khác nhau của thị trường thì công ty cũng xây dựng các biện pháp đối diện với các biến động đó

Vì vậy, nhìn chung mọi hoạt động của CTCK đều hướng tới các mục tiêu đã định

và kiên định theo nó Như vậy, năng lực cạnh tranh của CTCK luôn phục vụ các chiến lược phát triển của công ty trong dài hạn Nếu đạt được như vậy thì công ty sẽ tránh được tình trạng không thống nhất các hoạt động của các bộ phận, ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của toàn công ty

- Đối thủ cạnh tranh: Một quy luật tất yếu trong sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh, đây chính là động lực của sự phát triển trong tương lai Môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, gay gắt khi TTCK phát triển Điều này đòi hỏi các CTCK phải nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển Các CTCK không ngừng đưa ra các dịch vụ sản phẩm tốt nhất để phục

vụ nhằm thu hút khách hàng Các CTCK mới ra đời phải cạnh tranh với các công ty

đã và đang hoạt động trong cùng lĩnh vực vì thực tế các công ty này đã có được một thị phần đáng kể và kinh nghiệm hoạt động Bên cạnh đó, các CTCK mới cũng là một đối thủ cạnh tranh được chú ý đối với các CTCK đang hoạt động vì đa phần các công ty này luôn có các chính sách ưu đãi nhằm thu hút người tài của các công ty khác tới làm việc cho mình Trong một môi trường cạnh tranh như vậy thì vừa tạo

ra khó khăn nhưng cũng thúc đẩy các CTCK không ngừng nâng cao tiềm lực nội tại trong quá trình hoạt động, nếu công ty nào không tuân thủ theo quy luật này sẽ sớm

bị đào thải ra khỏi thị trường và một công ty khác lại ra đời với các cơ hội và thách thức mới

- Nhân tố khách hàng: Nhân tố khách hàng đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đối với CTCK thì công chúng đầu tư là trọng tâm sự cạnh tranh và là động lực thúc đẩy các CTCK phải nâng cao năng lực cạnh tranh Để tiếp cận khách hàng thì yêu cầu đối với các CTCK là cung cấp cho

Trang 32

khách hàng các dịch vụ tốt nhất Đối tượng khách hàng của CTCK là khá đa dạng,

họ có thể là cá nhân hoặc tổ chức với kiến thức về chứng khoán là khác nhau Vì vậy, bộ sản phẩm dịch vụ của CTCK không chỉ giúp họ tiếp cận với thị trường để ra quyết định chính xác mà còn giảm rủi ro trong quyết định đầu tư của mình Một nguyên tắc trong hoạt động CTCK là cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời cho khách hàng đối với các hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán; Sớm nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ, đảm bảo diện tích Phòng giao dịch phục vụ khách hàng

- Năng lực quản trị kinh doanh: Trong điều kiện hiện nay, được sự giúp đỡ của công nghệ thông tin, dưới sức ép từ nhiều phía, hoạt động kinh doanh chứng khoán ngày càng trở nên phức tạp Vì thế, một CTCK muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải có một bộ máy quản trị kinh doanh đủ mạnh giúp nó sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực trong quá trình kinh doanh, ứng phó một cách linh hoạt trước những biến động của môi trường và thị trường để nâng cao hiệu quả kinh doanh Có thể nói rằng năng lực quản trị kinh doanh là yếu tố đặc biệt quan trọng tác động đến khả năng cạnh tranh của CTCK

- Mạng lưới và quy mô hoạt động: Việc mở rộng mạng lưới là hướng đi tốt nhất hiện nay của CTCK để mở rộng thị phần Khi mạng lưới khách hàng mở rộng thân thiện với nhà đầu tư sẽ giúp cho TTCK càng đáp ứng tốt nhu cầu của công chúng, tạo khả năng cho CTCK mở rộng quy mô hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Để đứng vững được trên thị trường, các CTCK phải mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ chính,…

- Thương hiệu: Thương hiệu của doanh nghiệp là tên tuổi của doanh nghiệp

đó trên thị trường Thương hiệu là một lợi thế cạnh tranh, là một tài sản vô hình không thể nào ước tính hết được giá trị của nó Những thương hiệu lâu đời có uy tín cao thì giá trị càng cao Theo tập đoàn Interbrand, giá trị thương hiệu có thể được tính như sau:

Giá trị thương hiệu = Thu nhập ròng x Hệ số sức mạnh thương hiệu của công ty

Trang 33

Sở hữu thương hiệu nổi tiếng đồng nghĩa với việc CTCK có được sự ưu ái của khách hàng, sự công nhận của đối tác Để có được thương hiệu của mình trong thị trường thì công ty cần phải tập trung xây dựng hình ảnh của mình qua chất lượng dịch vụ, tạo niềm tin và uy tín với khách hàng

1.2.5 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán

Căn cứ vào các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của CTCK để đề

ra các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của CTCK, đây chính là tiêu chí mà hiện nay các CTCK sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của mình và đưa ra các giải pháp Cụ thể các tiêu chí đánh giá như sau:

1.2.5.1 Thị phần của công ty

Thị phần là phần thị trường mà CTCK cung cấp dịch vụ và có xu hướng phát triển trong tương lai Thị phần càng lớn chứng tỏ sản phẩm dịch vụ của công ty đã được khách hàng sử dụng, năng lực cạnh tranh cao Để phát triển thị phần, ngoài chất lượng, giá cả thì công ty còn phải tiến hành công tác xúc tiến thương mại, tổ chức các dịch vụ đi kèm

1.2.5.2 Số lượng và chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp

Một CTCK có năng lực cạnh tranh thì một trong những yếu tố quan trọng là các sản phẩm do công ty cung cấp phải có khả năng cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của khách hàng Mỗi sản phẩm dịch vụ đều có nhiều đặc tính, và các sản phẩm dịch vụ này đóng vai trò quyết định tới sự tồn tại phát triển và năng lực cạnh tranh của CTCK trên thương trường Sản phẩm chủ yếu của CTCK là các dịch vụ nhằm phục

vụ tốt nhất cho khách hàng khi tham gia TTCK

Một dịch vụ được đánh giá có chất lượng và tiện ích có chi phí thấp sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn Điều này đã tạo ra sự khác biệt và tính ưu việt của

bộ sản phẩm dịch vụ mà công ty cung cấp so với các sản phẩm dịch vụ do CTCK khác cung cấp

Trong tài chính một nguyên tắc bất di bất dịch đó là “không bỏ trứng vào một giỏ” Tiếp thu nguyên tắc này thì việc tạo ra sự đa dạng các sản phẩm dịch vụ

sẽ làm cho CTCK chủ động hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh, thêm vào đó

Trang 34

khách hàng sẽ có cơ hội tham gia lựa chọn hình thức sản phẩm dịch vụ phù hợp với mục tiêu đã định

Các bộ sản phẩm dịch vụ của CTCK sẽ được phát triển tùy theo tính chất các nghiệp vụ hoạt động của công ty Hoạt động tư vấn có các dịch vụ: Tư vấn niêm yết

và đăng ký giao dịch, tư vấn phát hành chứng khoán, tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp, tư vấn cổ phần hóa, tư vấn thu xếp vốn Với nghiệp vụ môi giới, CTCK cung cấp các dịch vụ như ứng trước tiền bán, cầm cố chứng khoán,…

1.2.5.3 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực của CTCK là vốn quý nhất vì nó tạo ra các nguồn khác

Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm dịch vụ có chất lượng tốt và hàm lượng chất xám cao Trong lĩnh vực chứng khoán đòi hỏi công việc có hàm lượng chất xám, có tinh thần trách nhiệm, có khả năng phân tích nhanh chóng các thông tin Có thể nói rằng để có năng lực cạnh tranh thì nguồn nhân lực được thể hiện ở trình độ đào tạo nghiệp vụ, sự chuyên nghiệp, mức độ cam kết gắn bó với công ty Khi CTCK có đội ngũ cán bộ có trách nhiệm và giỏi về nghiệp vụ điều này

sẽ góp phần tạo hình ảnh của công ty trong mắt của khách hàng càng tốt hơn Nhận thức được điều này nên các CTCK liên tục mở ra các khóa đào tạo cho cán bộ nhân viên, ngoài ra công ty còn cử nhân viên của mình đi học nhằm nâng cao nghiệp vụ

1.2.5.4 Vốn và Cơ sở vật chất kỹ thuật- công nghệ

Vốn là một điều kiện mà CTCK phải đáp ứng đầu tiên vì nếu CTCK không

có vốn thì công ty không thể thành lập và tiến hành hoạt động Một CTCK có năng lực cạnh tranh là công ty có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, ngoài ra công ty cần có

kế hoạch sử dụng đồng vốn có hiệu quả để tăng lợi nhuận Lĩnh vực kinh doanh chứng khoán được pháp luật quy định phải có một mức vốn pháp định tối thiểu mới được phép hoạt động kinh doanh và những ràng buộc này yêu cầu các CTCK phải cân đối quy mô vốn cho từng nghiệp vụ Để mở rộng thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCK phụ thuộc vào quy mô của nguồn vốn Vì vậy, trong thời gian

Trang 35

gần đây các CTCK đã tham gia cổ phần hóa làm gia tăng quy mô vốn của công ty trước yêu cầu mới

Cơ sở vật chất kỹ thuật- công nghệ là yếu tố cơ bản góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh của CTCK, bao gồm mạng thông tin, các phòng giao dịch nhận lệnh, phần mềm nhập lệnh,… Quy mô nguồn vốn gia tăng giúp công ty không chỉ nâng cao chất lượng nghiệp vụ của mình thông qua việc đầu tư vào cơ sở vật chất mà còn

mở nhiều chi nhánh và đại lý nhận lệnh Nhiều đại lý và chi nhánh được mở ra thì

sẽ làm tăng tính tiện lợi hơn trong giao dịch và thu hút được nhiều đối tượng khách hàng trên một địa bàn rộng lớn CTCK có mạng lưới chi nhánh rộng lớn thể hiện sự trưởng thành của công ty về tầm nhìn chiến lược trong tương lai Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ ngày nay đặc biệt là công nghệ thông tin đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để các CTCK nâng cao hiệu quả trong quản lý kinh doanh Nhờ khoa học công nghệ thông tin, các CTCK có thể tiết kiệm được chi phí quản lý, chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán từ đó giảm phí cung cấp dịch vụ cho khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của CTCK Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi các CTCK phải chủ động nắm bắt được xu thế mới trong hoạt động kinh doanh chứng khoán do những thay đổi của khoa học công nghệ mang lại như:

chủ động trong việc tiếp nhận khoa học công nghệ mới vào mở rộng các hình thức nhận lệnh từ xa, có kế hoạch phát triển các sản phẩm chứng khoán phái sinh, các dịch vụ mới

1.2.5.5 Phương thức phục vụ

CTCK phải quản lý tốt môi trường bên trong và bên ngoài Điều này góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của công ty Trong một môi trường làm việc năng động sáng tạo con người sẽ được phát triển toàn diện cống hiến hết mình, chính vì vậy mà các CTCK luôn phải làm mới mình không ngừng phát triển hoàn thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ Để có được một sản phẩm dịch vụ có chất lượng thì khâu quan trọng đó là có phương thức phục vụ tốt Phương thức phục vụ tốt phải thể hiện được tính chuyên nghiệp và văn hóa kinh doanh của CTCK Điều này càng

Trang 36

trở nên quan trọng trong nền kinh tế thị trường tính cạnh tranh ngày càng gay gắt, một thái độ phục vụ tận tình, niềm nở, có trách nhiệm là một yếu tố không thể thiếu

1.2.5.6 Chiến lược Marketing

Danh tiếng, uy tín của CTCK là yếu tố mang tính tổng hợp vì uy tín, danh tiếng này được hình thành không phải trong một chốc một lát mà là bằng cả một quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trì, theo đuổi mục tiêu, chiến lược đúng đắn của mình Trong đó, một trong những hoạt động nhằm quảng bá thương hiệu của CTCK không kém phần quan trọng là hoạt động marketing nghiên cứu thị trường và quảng cáo, điều này sẽ giúp mọi người biết tới công ty với các tiện ích sản phẩm dịch vụ của công ty cung cấp, vì sản phẩm thực sự tốt mà không quảng cáo thì các nhà đầu

tư sẽ không biết để sử dụng

1.2.5.7 Năng lực quản lý

Thực tế cho thấy có nhiều CTCK hoạt động không hiệu quả đi đến thua lỗ phá sản là do trình độ quản lý yếu kém Chính vì thế, một CTCK muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải có một bộ máy quản lý kinh doanh đủ mạnh giúp cho nó có khả năng sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực trong quá trình kinh doanh Như vậy, vai trò của nhà quản trị cấp cao là rất quan trọng đối với các CTCK, nhà quản trị cấp cao phải biết tổ chức phối hợp để các bộ phận trong công ty hoạt động một cách nhịp nhàng, hiệu quả, phải biến sức mạnh của cá nhân thành sức mạnh chung của cả tập thể Như vậy, sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh của CTCK

1.2.5.8 Lợi nhuận

Lợi nhuận là phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi tất cả các khoản chi phí dùng vào các hoạt động kinh doanh của công ty Bởi vậy, lợi nhuận được coi là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty Tuy nhiên, lợi nhuận không những là thu nhập mặc nhiên của vốn đầu tư, mà còn là phần thưởng cho những ai dám chấp nhận rủi ro và mạo hiểm, cho những ai dám đổi mới và dám chịu trách nhiệm về sự đổi mới của mình Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận góp phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả, đồng thời nó là tiêu chí tổng

Trang 37

hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty Nếu lợi nhuận cao thì khả năng cạnh tranh cao, năng lực cạnh tranh càng mạnh và ngược lại

1.2.6 Công cụ đánh giá năng lực cạnh tranh

1.2.6.1 Mô hình kim cương của Michael Porter trong năng lực cạnh tranh

Trong tác phẩm lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “viên kim cương” Ông cho rằng không quốc gia nào có lợi thế cạnh tranh ở tất cả các ngành hay hầu hết các ngành Mỗi quốc gia chỉ có thể thành công ở những ngành nhất định có lợi thế cạnh tranh bền vững khi tham gia vào thương trường kinh doanh quốc tế Các yếu tố quyết định của mô hình bao gồm:

điều kiện về các nhân tố, điều kiện về cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan, chiến lược và cấu trúc cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài ra có hai biến bổ sung là vai trò của nhà nước và các yếu tố thời cơ

Hình 1.1: Mô hình kim cương của Michael Porter

sản xuất

Trang 38

Qua mô hình kim cương, Michael M Porter đưa ra 4 yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và 2 yếu tố chi phối các yếu tố quyết định của một ngành bao gồm:

- Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngành:

+ Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa Những điều kiện kinh

tế, chính trị xã hội của một quốc gia ảnh hưởng quan trọng đến việc tổ chức và quản

lý doanh nghiệp cũng như đặc tính của cạnh tranh trong nước

+ Các điều kiện về phía cầu Thị trường trong nước với số cầu lớn và có những khách hàng đòi hỏi cao và những cạnh tranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ tạo

ra khả năng cạnh tranh cao hơn cho doanh nghiệp trên thị trường quốc tế

+ Điều kiện về các yếu tố sản xuất Bao gồm chất lượng lao động, vốn rẻ, cơ

sở hạ tầng mạnh và công nghệ cao trong khu vực hay quốc gia sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của ngành, của khu vực và của cả quốc gia

+ Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan Năng lực cạnh tranh của một ngành phụ thuộc vào các nhà cung cấp các hàng hoá và các dịch vụ hỗ trợ

- Các yếu tố chi phối các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngành:

+ Vai trò của chính phủ Chính phủ có thể tác động tới năng lực cạnh tranh của ngành thông qua cả 4 nhóm nhân tố: điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành Các tác động của chính phủ có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực

+ Đối với các yếu tố sản xuất và các ngành hỗ trợ và liên quan; chính phủ có thể tác động thông qua chính sách thuế, vốn, trợ cấp, quy hoạch phát triển ngành,…

+ Đối với nhu cầu trong nước, chính phủ tác động bằng những quy định mang tính chất định hướng nhu cầu như quy định tiêu chuẩn đối với từng mặt hàng trong ngành, các biện pháp kích thích hoặc kiềm hãm nhu cầu đối với một loại sản phẩm nhất định

+ Đối với cơ cấu và môi trường cạnh tranh, sự tác động của chính phủ thể hiện thông qua những quy định về thị trường tín dụng, chính sách thuế và các quy định về cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh của ngành hàng cụ thể

Trang 39

1.2.6.2 Ma trận hình ảnh cạnh tranh

Thiết lập ma trận này nhằm đưa ra những đánh giá so sánh công ty với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong cùng ngành, sự so sánh dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty trong ngành Qua đó nó cho nhà Quản trị nhìn nhận được những điểm mạnh và điểm yếu của công ty với đối thủ cạnh tranh, xác định lợi thế cạnh tranh cho công ty và những điểm yếu cần được khắc phục Để xây dựng một ma trận hình ảnh cạnh tranh cần thực hiện qua 05 bước:

- Bước 1: Lập một danh sách khoảng 10 yếu tố chính có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng cạnh tranh của công ty trong ngành

- Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 ( Không quan trọng) đến 1,0 ( Rất quan trọng) cho từng yếu tố Tầm quan trọng của mỗi yếu tố tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng của yếu tố đến khả năng cạnh tranh của công ty trong ngành Tổng điểm

số tầm quan trọng của tất cả các yếu tố phải bằng 1,0

- Bước 3: Xác định trọng số từ 1 đến 4 cho từng yếu tố, trọng số của mỗi yếu

tố tùy thuộc vào khả năng của công ty với yếu tố, trong đó 4 là tốt, 3 là trên trung bình, 2 là trung bình, 1 là yếu

- Bước 4: Nhân tầm quan trọng của từng yếu tố với trọng số của nó để xác định điểm số của các yếu tố

- Bước 5: Cộng số điểm của tất cả các yếu tố để xác định tổng số điểm của

ma trận

Đánh giá : So sánh tổng số điểm của công ty với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong ngành để đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty

Trang 40

Bảng ví dụ minh họa một số tiêu chí đánh giá cạnh tranh của công ty với đối thủ 1, 2

Các yếu tố

Mức

độ quan trọng

Đơn vị Đối thủ cạnh tranh 1 Đối thủ cạnh tranh 2 Phân

loại điểm

Tổng điểm

Phân loại điểm

Tổng điểm

Phân loại điểm

Tổng điểm

Thị phần marketting Khả năng cạnh tranh giá

Vị trí tài chính Chất lượng sản phẩm Lòng trung thành của khách hàng Tổng số điểm quan trọng

(Nguồn:

1.2.6.3 Ma trận SWOT

Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và

ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội), Threats (nguy cơ) SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một doanh nghiệp hay của một đề án kinh doanh

SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập

kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ,…

Ngày đăng: 23/11/2022, 08:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ủy ban chứng khoán nhà nước- Trung tâm nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ chứng khoán (2002), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Ủy ban chứng khoán nhà nước, Trung tâm nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ chứng khoán
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. TS. Bùi Thị Thanh Hương (2003), Vai trò công ty chứng khoán trong xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, 2003 (02), 16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò công ty chứng khoán trong xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hương
Nhà XB: Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
Năm: 2003
3. Quốc hội Việt Nam (2006), Luật chứng khoán, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật chứng khoán
Tác giả: Quốc hội Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2006
6. Thủ tướng chính phủ (2012), Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2012
7. Địa chỉ: http://p5media.vn/quan-tri-chien-luoc/cac-khai-niem/mo-hinh-kim-cuong-cua-michael-porter Link
8. Địa chỉ: http://www.doanhnhan.net/huong-dan-xay-dung-mot-so-ma-tran-p53a4313.html9. Địa chỉ:www.interserco.com.vn/include/view_newsdetail.php?NewsID=1790&lang=vn Link
4. Bộ Tài Chính (2007), Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán, Công Báo, Hà Nội Khác
5. Thủ tướng chính phủ (2007), 128/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 về việc phê duyệt đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam, Công báo, Hà Nội Khác