1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội: Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nhập cư người Khmer tại xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

126 13 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của luận văn Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nhập cư người Khmer tại xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nhằm nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho LĐNC người Khmer; vận dụng kiến thức và kỹ năng của CTXH thông qua mô hình CTXH cá nhân để hỗ trợ một trường hợp thân chủ trong việc thực hiện chính sách việc làm, giúp họ ổn định cuộc sống nơi nhập cư. Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer.

Trang 1

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

VÕ THỊ BÍCH THẢO

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO

LAO ĐỘNG NHẬP CƯ NGƯỜI KHMER TẠI

XÃ PHƯỚC HÕA, HUYỆN PHÖ GIÁO,

Trang 2

ii

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

VÕ THỊ BÍCH THẢO

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO LAO

ĐỘNG NHẬP CƯ NGƯỜI KHMER TẠI

XÃ PHƯỚC HÕA, HUYỆN PHÖ GIÁO,

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện,

Các số liệu, kết quả nghiên cứu, các kết luận đƣợc trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực, khách quan và chƣa đƣợc công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

Học viên

Võ Thị Bích Thảo

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể thầy cô giáo Trường đại học Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đặc biệt các thầy cô giáo khoa Công tác xã hội đã tận tình dạy bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm cũng như lòng yêu mến, tâm huyết với nghề nghiệp của các thầy cô, Xin trân trọng cảm ơn Cô PGS,TS Đỗ Hạnh Nga người đã hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài, Nhờ có sự chỉ bảo giúp đỡ của Cô, tôi đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu

Trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Đảng ủy - HĐND – UBND - UBMTTQ Việt Nam, Công an xã, ban lao động thương binh, hội liên hiệp phụ nữ, đoàn thanh niên và các ban ngành đoàn thể của xã Phước Hòa cùng các cô chú ban điều hành các ấp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn đặc biệt là lãnh đạo công ty gạch tuynel Phước Hòa, công đoàn công ty và chi hội thanh niên, phụ nữ công nhân xa quê đã hợp tác với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Dù bản thân đã rất cố gắng và tâm huyết dành công sức cho nghiên cứu này nhưng do kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu chưa được chuyên sâu, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ phía các thầy cô giáo để luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn

Trân trọng cảm ơn!

Phước Hòa, ngày tháng năm 2019

Học viên

Võ Thị Bích Thảo

Trang 5

iii

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam Giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới [17].Nhận thức rõ được tầm quan trọng của vấn đề, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về lao động việc làm như nghị quyết của các kỳ đại hội của Đảng, Hiến pháp, các Bộ luật Nhằm từng bước hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trong lĩnh vực lao động - việc làm, tạo môi trường bình đẳng cho tất cả lực lượng lao động trong mọi thành phần kinh tế, giai cấp và dân tộc

Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho LĐNC người Khmer; vận dụng kiến thức và kỹ năng của CTXH, phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu về thực trạng chính sách việc làm của lao động nhập cư người Khmer Tác giả lựa chọn và phân tích các đề tài nghiên cứu có liên quan và thực hiện làm khung ma trận tổng quan và từ đó phân chia theo hai chủ đề chính đó là những nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ đối với đời sống của người Khmer và thực trạng đời sống của LĐNC người Khmer Vận dụng lý thuyết nhu cầu và lý thuyết hệ thống để đánh giá thực trạng và nhu cầu đối với LĐNC người Khmer trong quá trình nghiên cứu thực tiễn Áp dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, để tiếp cận và thu thập thông tin một cách tốt nhất

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉnh Bình Dương đã có nhiều chính sách hỗ trợ học nghề đối với lao động nông thôn và LĐNC Tuy nhiên, với điều kiện thời gian và thu nhập của LĐNC người Khmer đang làm việc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ xã Phước Hòa, thì họ khó có thể tiếp cận được các chương trình đào tạo này nếu không được chính quyền địa phương và các doanh nghiệp hỗ trợ Mặc khác, đa phần LĐNC người Khmer xuất phát điểm ở trình độ học vấn thấp,

Trang 6

iv

không biết tiếng Việt, mù chữ nên khó có thể tham gia học tập nâng cao trình độ học vấn và trình độ tay nghề

Với đặc thù công việc đòi hỏi người lao động trong các lĩnh vực này phải

có sức khỏe và chấp nhận làm những công việc nặng nhọc, làm việc ngoài trời với mọi điều kiện thời tiết Đây cũng là ưu điểm lớn nhất của họ mà các chủ cơ

sở sản xuất nhỏ trên địa bàn rất cần Do xu hướng di dân cùng gia đình và người thân nên họ thường làm việc theo đại gia đình, để đảm bảo thu nhập, họ phải thường xuyên làm thêm giờ, nhưng chủ doanh nghiệp không phải chi trả tiền tăng

ca và các chế độ khác cho người lao động Đa phần cách nhìn của LĐNC người Khmer họ chấp nhận đánh đổi sức khỏe để mưu sinh, là tầng lớp kiếm sống

“bằng sức lao động” một trong những mong đợi gần gũi và thiết thực nhất đối với

họ là có sức khỏe để làm việc Với họ, sức khỏe có lẽ là thứ vốn mà họ có ưu thế

so với người khác

Bên cạnh đó, tác giả đã vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân để

hỗ trợ, giúp đỡ đối với trường hợp thân chủ là LĐNC người Khmer của công ty gạch tuynel Phước Hòa Đây là trường hợp mẹ đơn thân nuôi con khuyết tật vận động, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chưa tiếp cận được các chính sách hỗ trợ việc làm và và một số chính sách khác

Tóm lại, việc tiếp cận được các chính sách hỗ trợ việc làm còn rất hạn chế , từ đó đời sống vật chất tinh thần của những lao động nhập cư này còn tồn tại nhiều khó khăn Họ rất cần sự quan tâm của doanh nghiệp, của chính quyền địa phương nơi cư trú Nhưng nhiều doanh nghiệp chỉ chú trọng đến doanh thu, đến lợi nhuận mà ít quan tâm đến, thậm chí không quan tâm đến quyền lợi chính sách

mà họ được hưởng, đến thu nhập, sức khỏe, tinh thần của người lao động Bên cạnh đó, công đoàn chưa thực sự phát huy hết vai trò của mình trong việc chăm

lo bảo vệ quyền lợi cho công nhân Vì thế, rất nhiều người lao động không biết đến tổ chức công đoàn, hay việc công ty có tổ chức công đoàn hay không và họ cũng không hiểu được chức năng, nhiệm vụ của công đoàn như thế nào đối với người lao động Từ đó, tác giả đưa ra những kiến nghị đối với cơ quan ban hành chính sách, chính quyền địa phương, ngành công tác xã hội, doanh nghiệp và lao động nhập cư người Khmer

Trang 7

v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

2.1 Mục đích nghiên cứu 3

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 9

6.1 Ý nghĩa khoa học 9

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

7 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11

1.1 Tình hình nghiên cứu 11

1.1.1 Nghiên cứu các chính sách hỗ trợ đối với đời sống của người Khmer 11

1.1.2 Nghiên cứu về thực trạng đời sống lao động nhập cư người Khmer 15

1.2 Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 22

1.1.3 Cách tiếp cận lý thuyết hệ thống 22

Trang 8

vi

1.1.4 Cách tiếp cận lý Thuyết nhu cầu của A,Maslow 24

1.3 Một số khái niệm có liên quan 27

1.3.1 Lao động 27

1.3.2 Lao động nhập cư 29

1.3.3 Lao động nhập cư là người Khmer 30

1.3.4 Chính sách xã hội 31

1.4 Chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nhập cư 33

1.5 Công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm và thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động khmer nhập cư 41

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NHẬP CƯ NGƯỜI KHMER TẠI XÃ PHƯỚC HÒA, HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG 47

2.1 Khái quát về mẫu nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu 47

2.1.1 Mẫu nghiên cứu 47

2.1.2 Địa bàn nghiên cứu 48

2.2 Thực trạng việc làm của lao động nhập cư người Khmer trên địa bàn xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương 49

2.2.1 Công việc đang làm 49

2.2.2 Trình độ tay nghề 51

2.2.3 Điều kiện làm việc 52

2.2.4 Thời gian làm việc 55

2.2.5 Mức thu nhập từ công việc 56

2.3 Thực trạng hỗ trợ việc làm và thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nhập cư người Khmer tại xã Phước Hòa 57

CHƯƠNG 3 CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NHẬP CƯ NGƯỜI KHMER VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 63

3.1 Tổ chức thực hiện công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ việc làm cho LĐNC người Khmer 63

3.1.1 Mục tiêu 63

Trang 9

vii

3.1.2 Thời gian thực hành 63

3.1.3 Kế hoạch thực hiện 63

3.2 Tiến trình công tác xã hội cá nhân 64

3.2.1 Tiếp cận thân chủ 64

3.2.2 Thu thập thông tin về thân chủ 65

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Kiến nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 10

viii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 11

ix

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: M tả mẫu nghiên c u 47

Bảng 2.2: M tả c ng việc 49

Bảng 2.3: Điều iện m việc c ảnh hưởng s c h e 53

Bảng 2 4: Điều iện m việc c ảnh hưởng s c h e 53

Bảng 2.5: Thời gian m việc 55

Bảng 2.6: Thu nhập t c ng việc chính 56

Bảng 2.7: Nguồn ực hỗ trợ việc m 58

Bảng 2.8: M c ộ thường uyên nhận hỗ trợ th ng tin về BHXH 58

Bảng 2.9: Nguồn hỗ trợ th ng tin về BHXH 58

Trang 12

x

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ phả hệ 69

Sơ đồ 3.2: Sơ đồ sinh thái 70

Sơ đồ 3.3: Sơ đồ mức độ vấn đề thân chủ đang gặp 74

Sơ đồ 3.4: Sơ đồ cây vấn đề 1 76

Sơ đồ 3.5: Sơ đồ cây vấn đề 2 78

Sơ đồ 3.6: Sơ đồ Cây mục tiêu 1 78

Sơ đồ 3.7: Sơ đồ Cây mục tiêu 2……… 84

Trang 13

Bình Dương kể từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến nay là một trong những địa phương có tốc độ phát triển nhanh, có nhiều khu công nghiệp nhất trong cả nước Tính đến cuối năm 2018, toàn tỉnh Bình Dương có 29 khu công nghiệp (27 khu công nghiệp đang hoạt động), thu hút trên 27 nghìn doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư Với hơn 718.000 công nhân làm việc và lao động ngoài tỉnh chiếm khoảng 81% [46] Địa phương này là điểm đến của không ít lao động là người Khmer đến từ những vùng quê nghèo ở miền Tây Nam Bộ để tìm kiếm việc làm [49] Song song với các văn bản pháp luật, Bình Dương đề ra nhiều chương trình, đề án về lao động, việc làm và các chính sách an sinh xã hội

Trang 14

2

Xã Phước Hòa là một xã nằm phía nam của huyện Phú Giáo, trong vùng quy hoạch khu công nghiệp ven đô của tỉnh Bình Dương Tập trung các khu sản xuất gạch, gốm sứ, cưa xẻ gỗ và nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo [47] Địa phương đang trong quá trình phát triển và đô thị hóa mạnh mẽ, thu hút lượng lớn người nhập cư từ các tỉnh thành, trong đó có lao động nhập cư (LĐNC) người Khmer Theo số liệu điều tra của công an xã Phước Hòa tháng 6/2018 tổng LĐNC người Khmer đến địa bàn sinh sống và làm việc khoảng 150 người Tuy nhiên, do trình độ học vấn thấp, không biết chữ, không có tay nghề, thiếu kỹ năng và thiếu thông tin nên không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng đối với các công việc thuộc khu vực kinh tế chính quy, LĐNC người Khmer phải làm việc trong môi trường lao động nặng nhọc ở khu vực kinh tế phi chính quy, công việc mang tính chất bấp bênh, tạm thời, mức lương thấp và không có các chế độ bảo hiểm, an sinh xã hội Điều này, đặt ra cho các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể của địa phương những thách thức trước việc xác định các biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế những khó khăn, đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận các chính sách giáo dục nâng cao năng lực, giá trị của bản thân, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ tay nghề, các kỹ năng mềm và xóa mù chữ Tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho lao động nhập cư người Khmer tại địa phương

Vấn đề giải quyết việc làm cho LĐNC người Khmer đã có nhiều nghiên cứu từ góc độ kinh tế học và xã hội học Tuy nhiên, từ góc độ công tác xã hội, vẫn còn ít nghiên cứu về việc thực hiện chính sách hỗ trợ đối với lao động người Khmer, nhất là tại một địa phương cụ thể như xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo

Đó là lý do học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với

lao động nhập cư người Khmer tại xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ công tác xã hội Qua đó, tìm hiểu những lý

luận trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer Thực trạng của việc thực hiện chính sách việc làm đối với LĐNC người Khmer Vận dụng những kiến thức được học chuyên ngành công tác xã hội (CTXH), lên kế hoạch hỗ trợ, hỗ trợ những đối tượng này Đồng thời, đưa ra

Trang 15

3

những đề xuất kiến nghị các cấp ủy Đảng, chính quyền hoàn thiện chính sách hỗ

trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer

2 Mục ích v nhiệm vụ nghiên c u

2.1 Mục ích nghiên c u

Nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho LĐNC người Khmer; vận dụng kiến thức và kỹ năng của CTXH thông qua mô hình CTXH cá nhân để hỗ trợ một trường hợp thân chủ trong việc thực hiện chính sách việc làm, giúp họ ổn định cuộc sống nơi nhập cư Trên cơ

sở đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với

LĐNC người Khmer

2.2 Nhiệm vụ nghiên c u

Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

2.2.1 Làm rõ các khái niệm liên quan đến chính sách xã hội, chính sách

việc làm, lao động nhập cư và LĐNC người Khmer Thống kê các chính sách hỗ trợ việc làm, lao động, hỗ trợ dân tộc thiểu số của Đảng, nhà nước và chính quyền địa phương nơi nghiên cứu

2.2.2 Tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm

đối với LĐNC người Khmer tại xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu LĐNC người Khmer để tìm hiểu những vấn đề bất cập trong việc thực hiện chính sách và khó khăn họ đang gặp phải trong quá trình di cư tìm kiếm việc làm

2.2.3 Thiết lập mô hình công tác xã hội cá nhân đối với một trường hợp

LĐNC người Khmer, hỗ trợ một cách có hiệu quả trong việc thực hiện chính sách việc làm

2.2.4 Đề xuất, kiến nghị các cấp ủy Đảng, chính quyền hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer

3 Câu h i và giả thiết nghiên c u:

3.1 Câu h i nghiên c u

LĐNC người Khmer đang đối mặt với những khó khăn nào?

Trang 16

4

Việc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer tại

địa phương như thế nào?

Nhu cầu cấp bách và cần thiết của LĐNC người Khmer hiện nay là gì? Chính quyền địa phương đã có những hoạt động nào trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer? Công tác xã hội đối với LĐNC người Khmer tại địa phương như thế nào?

3.2 Giả thiết nghiên c u

Giả thiết 1: LĐNC người Khmer đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong

công việc và điều kiện sống của mình tại địa phương nơi cư trú Những khó khăn này xuất phát từ việc không tiếp cận được các chính sách hỗ trợ việc làm và chính sách ưu đãi đối với người dân tộc thiểu số

Giả thiết 2: Chính quyền địa phương và các doanh nghiệp chưa quan tâm đến

việc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmertheo đúng quy định của Pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên c u

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nhập cư người Khmer

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Về khách thể nghiên cứu: Chính sách hỗ trợ đối với lao động nhập

Về đối tượng khảo sát: Thu thập thông tin 120 LĐNC người Khmer,

Người làm công tác quản lý và đại diện công đoàn thuộc công ty trên địa bàn xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

4.2.2 Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho LĐNC người Khmer Vận dụng phương pháp CTXH cá nhân hỗ trợ một cách có hiệu quả việc thực hiện chính sách việc làm,

Từ đó, đề xuất kiến nghị các cấp ủy Đảng, chính quyền hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer (Lý do học viên vận dụng CTXH cá nhân vì đa số LĐNC người Khmer làm việc không theo thời gian cố định, không

Trang 17

5.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Tác giả nghiên cứu và phân tích một số quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương liên quan đến lao động việc làm, chính sách ưu đãi phát triển kinh tế đối với dân tộc thiểu số, dân tộc Khmer và vấn đề tiếp cận chính sách của LĐNC người Khmer

Phân tích các tài liệu trên sách, báo, tạp chí, internet, tài liệu chuyên ngành và các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan Qua đó, kế thừa có chọn lọc, vận dụng những thông tin phù hợp với đề tài, giúp học viên có cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu Đưa ra quan điểm mới, hướng nghiên cứu mới cho đề tài nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng là nghiên cứu sử dụng các phương pháp (chủ yếu là thống kê) để lượng hóa, đo lường, phản ánh và diễn giải mối quan hệ giữa các nhân tố (các biến) với nhau Mục đích đo các biến số theo từng mục tiêu và xem xét sự liên quan của chúng dưới dạng các số đo và số thống kê; tổng quát hóa kết quả nghiên cứu thông qua phân phối ngẫu nhiên và lấy mẫu đại diện, Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng các phương pháp của nghiên cứu định lượng như Phương pháp Bảng hỏi khảo sát, cụ thể như sau:

Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi là một phương pháp phỏng vấn viết, được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng theo

Trang 18

6

một quy ước nào đó Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng 120/150 bảng hỏi phỏng vấn áp dụng cho đối tượng lao động nhập cư người Khmer hiện có trên địa bàn xã Phước Hòa huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (số lao động Khmer còn lại

do thường xuyên thay đổi công việc và di chuyển nơi ở nên không thực hiện được khảo sát)

Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, hình thành nên bảng khảo sát, Bảng khảo sát bao gồm 3 phần, phần thứ nhất 20 câu hỏi tìm hiểu về thực trạng việc làm như: lý do di cư vào Bình Dương, cách tìm kiếm công việc, trình độ tay nghề, những thuận lợi, khó khăn, điều kiện và thời gian làm việc, ảnh hưởng của công việc đối với sức khỏe Phần thứ hai, gồm 18 câu tìm hiểu về thực trạng việc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm, hợp đồng làm việc, các chế độ BHXH, BHTN, mức độ tham gia và hiệu quả hỗ trợ của các tổ chức xã hội, việc tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ khi gặp khó khăn, những mong muốn của bản thân về chính sách hỗ trợ việc làm Phần thứ ba, tìm hiểu một số thông tin cá nhân như tuổi, giới tính, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, số lượng người đang sinh sống trong gia đình, trình độ học vấn, mức thu nhập hàng tháng, địa chỉ nơi thường trú, nơi cư trú của LĐNC người Khmer trên địa bàn xã Phước Hòa Kết quả của việc thu thập thông tin bằng bảng khảo sát giúp học viên có cái nhìn tổng quát về việc tiếp cận chính sách việc làm của LĐNC người Khmer, những khó khăn trong quá trình nhập cư và làm việc tại xã Phước Hòa, qua đó đề xuất mô hình can thiệp hữu hiệu của công tác xã hội, đồng thời kiến nghị chính quyền địa phương, những ngành có liên quan đề xuất chính sách thiết thực hỗ trợ có hiệu quả cho LĐNC người Khmer

5.3 Cách ử lý số liệu

Cách xử lý số liệu là việc thống kê, khai thác có hiệu quả các số liệu; từ đó rút ra được những nhận xét, kết luận khoa học có tính khách quan đối với vấn đề nghiên cứu Học viên xử lý thông tin theo chương trình phần mềm của SPSS để phân tích thực trạng LĐNC người Khmer trên địa bàn xã Phước Hòa; phát hiện,

đề xuất, thiết kế và tổ chức thực hiện mô hình CTXH cá can thiệp, hỗ trợ hiệu quả cho LĐNC Khmer

Trang 19

7

5.4 Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính là phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm của nhóm đối tượng từ quan điểm của nhà nghiên cứu Dữ liệu trong nghiên cứu định tính thường phổ biến hơn dưới dạng chữ (mô tả tính chất, đặc điểm) hơn là dạng số (mô tả các giá trị đo lường hoặc thứ nguyên) Nghiên cứu định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh hoạt và có tính biện chứng Phương pháp này cho phép phát hiện những chủ đề quan trọng mà các nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát được trước đó Trong nghiên cứu định tính, một số câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin được chuẩn bị trước, nhưng chúng có thể được điều chỉnh cho phù hợp khi những thông tin mới xuất hiện trong quá trình thu thập Tác giả sử dụng các phương pháp của nghiên cứu định tính như phương pháp quan sát và phương pháp phỏng vấn sâu

5.4.1 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra độ tin cậy của các thông tin qua việc quan sát đặc điểm, tâm sinh lý, thể trạng, sức khỏe, thể chất, trình độ học vấn, hoàn cảnh sống, thái độ của LĐNC người Khmer, cụ thể:

Quan sát về môi trường, không gian sống và điều kiện làm việc, môi trường làm việc, sinh hoạt hàng ngày của họ; quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của LĐNC người Khmer; quan sát thực trạng đời sống kinh tế-văn hóa-xã hội của địa phương, thái độ hành vi của người dân, gia đình, của chính quyền đối với các vấn đề liên quan đến chính sách đối với LĐNC người Khmer những quan sát này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng và định tính đã thu thập được

5.4.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Thuật ngữ phỏng vấn (Interview) đã được sử dụng khá rộng rãi cả trong cuộc sống và trong nghiên cứu khoa học Theo cách hiểu thông thường, phỏng

Trang 20

8

vấn là sự tiếp xúc trao đổi giữa chủ thể (người phỏng vấn) và khách thể (người được phỏng vấn, người trả lời) Nội dung phỏng vấn cần phải được chuẩn bị trước, phải tuân thủ theo mục tiêu nghiên cứu, theo đối tượng đã được ghi nhận trong chương trình nghiên cứu Nhà nghiên cứu cần phải được chuẩn bị ở mức độ

kỹ lưỡng về kỹ năng và chuyên môn, việc ghi chép cũng cần thực hiện có hệ thống theo chương trình được chuẩn bị từ trước để tạo điều kiện tốt nhất cho xử

lý thông tin sau này Nguồn thông tin trong phỏng vấn sâu không chỉ đơn thuần

là những câu trả lời phản ánh ý thức, quan điểm của khách thể, mà còn bao gồm

cả các yếu tố khác như hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ thân thể của người trả lời mà người phỏng vấn quan sát được trong suốt quá trình tiếp xúc Phương pháp phỏng vấn sâu không những giúp nhà nghiên cứu thâm nhập được vào cộng đồng khách thể nghiên cứu, hiểu biết và phản ảnh được bản chất vấn đề, mà còn thực

sự là những nghiên cứu từ bên trong (cách nhìn của người trong cuộc)

Trên cơ sở điều tra thông qua các bảng khảo sát, học viên tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu để phát hiện và phân tích sâu hơn các thông tin có liên quan đến nhu cầu, mong muốn của thân chủ, những khó khăn mà họ đang gặp phải Học viên kết hợp phương pháp phỏng vấn tiểu sử để hiểu được bản chất của vấn đề Từ đó, có cơ sở để thiết lập mô hình can thiệp, hỗ trợ phù hợp với điều kiện, nhu cầu và nguyện vọng của đối tượng nghiên cứu Để đảm bảo tính khách quan và chính xác, luận văn đã sử dụng tư liệu phỏng vấn sâu từ 14 người, đối tượng là LĐNC người Khmer làm tại các công ty, các cơ sở trên địa bàn, ở các độ tuổi, giới tính khác nhau, cơ cấu gia đình khác nhau và đa nghề như lao động làm ở khâu đốt lò, khâu sếp gòn, khâu sếp gạch thành phẩm trong các công ty sản xuất gạch, ở khu lò chén, lao động phơi ván lạng, tẩm hóa chất lên ván ở cơ sở ván lạng, thợ hồ làm việc tự do Bên cạnh đó, còn phỏng vấn sâu đại diện chính quyền địa phương, cán bộ phụ trách lao động việc làm, đại diện doanh nghiệp, đại diện công đoàn Qua phỏng vấn sâu đã tạo mối tương quan tốt giữa người nghiên cứu và thân chủ, đồng thời tìm hiểu được những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của LĐNC người Khmer

Trang 21

9

6 Ý nghĩa hoa học và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Đối với LĐNC người Khmer: Giúp hệ thống hóa được các chính sách hỗ

trợ việc làm dành cho lao động nói chung và LĐNC người Khmer nói riêng tạo

cơ hội cho họ nâng cao năng lực, giá trị của bản thân, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ tay nghề, các kỹ năng mềm và xóa mù chữ, tìm kiếm được một việc làm

ổn định, Nâng cao chất lượng cuộc sống cho LĐNC người Khmer

Đối với các cơ quan quản lý: Đề tài góp phần mang lại góc nhìn về thực

trạng đời sống của LĐNC người Khmer Giúp các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương trong việc hỗ trợ hoạch định, xây dựng, thực hiện và điều chỉnh chính sách về việc làm, về dân tộc Khmer một cách hiệu quả và khả thi, phù hợp với thực tiễn nhằm pháp huy được thế mạnh của địa phương góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn

Đối với ã hội: Việc giải quyết tốt vấn đề cho lao động nói chung và

LĐNC người Khmer nói riêng sẽ góp phần giải quyết các vấn đề chung của xã hội, tạo cơ hội cho họ được độc lập về kinh tế và phát triển các mối quan hệ xã hội, mỗi LĐNC người Khmer đều chủ động được cuộc sống của mình, làm tăng tính bình đẳng giữa dân tộc Khmer với các dân tộc khác trong xã hội Đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế xã hội và thúc đẩy sự tiến bộ của các dân tộc ở nước ta hiện nay Từ ý luận về chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer và thực tiễn việc thực hiện chính sách đối với LĐNC người Khmer tại xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình dương Qua đó, bổ sung và làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá về chính sách đối với LĐNC người Khmer ở xã phước Hòa nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung

Kết quả nghiên cứu của đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết

về chính sách xã hội, lý thuyết về công tác xã hội nói chung và công tác xã hội đối với LĐNC người Khmer nói riêng là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn Từ đó, góp phần hoàn thành chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer ở tỉnh Bình Dương Là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người có quan tâm đến lĩnh vực chính sách xã hội và chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer

Trang 22

10

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu tiến hành đánh giá các hoạt động thực hiện chính sách tạo dựng việc làm, phản ánh thực trạng, đánh giá nhu cầu, mong muốn của đối tượng LĐNC người Khmer và những thuận lợi, khó khăn trong công tác thực hiện các chính sách tạo dựng việc làm đối với LĐNC người Khmer trên địa bàn nghiên

Từ đó, đưa ra khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực hiện các hoạt động tạo dựng việc làm đối với LĐNC người Khmer tại địa bàn nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu góp phần giúp chính quyền địa phương, cán bộ phụ trách mảng chính sách lao động-việc làm, bảo trợ xã hội và các nhà chuyên môn xây dựng, hoàn thiện các chương trình, hoạt động, chính sách thiết thực nhất với nhóm LĐNC người Khmer có việc làm và ổn định kinh tế, gạt bỏ được mặc cảm bản thân, tự tin vươn lên trong cuộc sống

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh sách phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài;

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer tại ã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương;

Chương 3: Công tác xã hội cá nhân trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ

việc làm đối với LĐNC người Khmer và đề xuất các giải pháp

Trang 23

11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tình hình nghiên c u

Trong những năm gần đây ở Việt Nam, nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề

hỗ trợ việc làm, hỗ trợ sinh kế cho các nhóm đối tượng yếu thế, dưới nhiều góc nhìn khác nhau như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình di cư, vấn

đề thích nghi và trải nghiệm hội nhập xã hội Các vấn đề về việc làm cho lao động nhập cư nói chung và LĐNC người Khmer nói riêng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nước Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, học viên lựa chọn và phân tích các đề tài nghiên cứu có liên quan phân chia theo hai chủ đề chính đó là những nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ đối với đời sống của người Khmer, chủ đề thứ hai là thực trạng đời sống của LĐNC người Khmer

1.1.1 Nghiên cứu các chính sách hỗ trợ đối với đời sống của người Khmer

Ở nhóm chủ đề thứ nhất, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thịnh (2015):

“Hiệu quả chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc Khmer vùng tây nam bộ của Đảng và Nhà nước ta” nghiên cứu đánh giá vài nét về chủ trương chính sách của

Đảng, nhà nước đối với đồng bào dân tộc Khmer và những khó khăn, thách thức đối với họ, Đồng thời, đưa ra những khuyến nghị nhằm phát huy những hiệu quả các chính sách của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc Khmer Tác giả đã đề cập đến những khó khăn mà người Khmer thường gặp trong việc tiếp cận chính sách của nhà nước như xuất phát điểm thấp, thường sinh sống ở vùng sâu, vùng xa cư trú thành những cụm dân cư như phum, sóc biệt lập với cộng đồng, không biết tiếng phổ thông nên khả năng hòa nhập cộng đồng còn hạn chế, phát triển kinh tế còn nhiều khó khăn Bên cạnh đó, thiếu vốn sản xuất, quy mô canh tác nhỏ, trình

độ sản xuất lạc hậu, chủ yếu tự cung tự cấp dẫn đến thu nhập và đời sống khó khăn Chất lượng nguồn nhân lực thấp chưa đáp ứng yêu cầu của kinh tế hàng hóa, công tác đào tạo và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc mặc dù có quan tâm như hiệu quả chưa cao Kết cấu hạ tầng còn nhiều khó khăn yếu kém, thu nhập và mức sống còn nhiều khó khăn nên tích lũy đầu tư thấp

Trang 24

Do trình độ học vấn thấp, chưa thành thạo tiếng Việt từ đó khó tiếp thu khoa học

kỹ thuật trong các chương trình dự án xóa đói giảm nghèo, ít tiếp cận với chính sách đào tạo nghề khó tìm được công việc ổn định Chưa thích ứng với cơ chế thị trường, chưa thích nghi với quy luật cạnh tranh, sản xuất hàng hóa Mất cân đối trong thu chi dẫn đến thực trạng ăn trước trả sau, vay nặng lãi, bán nông sản non, Kết cấu hạ tầng thấp, nhà ở tạm bợ chi phí đi lại sửa chữa nhà ở khá tốn kém Thường xuyên chịu thiên tai, thất mùa, Tác giả cũng đánh giá một số bất cập trong công tác đào tạo nghề đó là các cơ sở dạy nghề phân bổ không đồng đều chủ yếu ở thành thị, trang thiết bị phục vụ học tập còn thiếu thốn lạc hậu, chương trình đào tạo không đảm bảo mặt bằng kiến thức theo chuẩn mực chung, quy trình đào tạo phương pháp giảng dạy còn thiên về lý thuyết Đội ngũ giáo viên dạy nghề vừa thiếu về số lượng vừa yếu về trình độ học vấn, tay nghề, kém hiểu biết về công nghệ mới

Trang 25

13

Cũng liên quan đến chính sách hỗ trợ đối với người Khmer, trong nghiên

cứu “Việc làm cho người Khmer, giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” của tác giả Nguyễn Hồng Hà (2017) đã tìm ra được các yếu tố

khác ngoài việc làm tác động đến mức sống của người Khmer như trình độ học vấn, tỷ lệ phụ thuộc, kinh nghiệm của chủ hộ, diện tích đất, tham gia lễ hội trong đó, nghề nghiệp, trình độ văn hóa và tỷ lệ phụ thuộc là những yếu tố có tác động nhiều nhất đến mức sống của đồng bào Khmer tại tỉnh Trà Vinh Qua đó, tác giả hàm ý chính sách đào tạo nghề và chính sách hỗ trợ đặc thù của nhà nước dành cho đối tượng này

Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thảo (2016) trong nghiên cứu “Chú trọng tính thiết thực trong nội dung dạy nghề cho phụ nữ Khmer vùng đồng bằng Sông Cửu Long theo hình thức giáo dục thường uyên” Ngoài đặc điểm về văn hóa

tin thần và ngôn ngữ thì Phụ nữ nói riêng và đồng bào dân tộc Khmer vùng đồng bằng Sông Cửu Long nói chung sống thiên về đời sống tinh thần hơn là vật chất, tin vào số phận, có phước mới được làm giàu nên thường quan tâm việc làm phước, tích đức hơn là việc học hỏi để nâng cao hiệu quả lao động sản xuất và tích cốp của cải làm giàu, đời sống còn nhiều khó khăn nên nhu cầu, động cơ học nghề của phụ nữ Khmer chưa cao Thiếu động cơ học tập là rào cản rất lớn của chính bản thân phụ nữ Khmer trong việc học nghề Qua đó tác giả đã đưa ra một

số biện pháp đảm bảo tính thiết thực của nội dung doanh nghiệp cho phụ nữ Khmer đồng bằng Sông Cửu Long phù hợp cho phụ nữ Khmer, dễ dàng cập nhật nội dung, cũng như đáp ứng nhu cầu của học viên, theo đó mô hình này sẽ tiếp cận theo năng lực thực hiện, dựa trên mô tả và phân tích công việc, chú trọng vào những gì mà người học có thể làm được tại nơi là việc từ đó hình thành nên những danh mục kỹ năng nghề cần thiết

Một nghiên cứu về tình trạng nghèo của người Khmer đồng bằng Sông Cửu Long của nhóm tác giả Diệp Thanh Tùng, Dương Thị Tuyết Anh, Lâm Thị

Mỹ Lan, Phạm Vũ Bằng (2017) về “Tình trạng nghèo của người Khmer ở vùng nông thôn đồng bằng Sông Cửu Long và các yếu tố tác động” bằng các phương

pháp phân tích và thu thập dữ liệu điều tra qua 480 hộ Khmer ở đồng bằng Sông Cửu Long cho thấy thu nhập bình quân của người Khmer thấp hơn nhiều, thậm

Trang 26

hộ trong điều kiện tiếp cận hạn chế về đất đai, biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng tiêu cực trong phạm vi toàn vùng

Nghiên cứu “vấn đề tiếp cận chính sách nhà nước của người Khmer tại huyện Trà Cứu của tỉnh Trà Vinh” của tác giả Ngô Thị Phương Lan (2017) cũng

đã đánh giá những tác động của chính sách trong việc nâng cao đời sống của người Khmer tại huyện Trà Cứu, tỉnh Trà Vinh Nghiên cứu cho thấy trong thời gian qua Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến đời sống của các dân tộc thiểu số trong đó có người Khmer, có nhiều chính sách được thực thi ở các vùng nông thôn, vùng có điều kiện khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và đã đạt được nhiều thành tựu nhất định Tuy nhiên, việc ít tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội, rào cảng ngôn ngữ tiếng Việt và rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là yếu tố đã hạn chế phần nào tính hiệu quả của việc thực thi các chính sách

Như vậy ở nhóm nghiên cứu thứ nhất, Đảng và nhà nước đã có những chính sách ưu đãi dành cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và người Khmer nói riêng nhằm phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống cho người Khmer,

cụ thể như chính sách hỗ trợ vốn sản xuất, chính sách giáo dục, đào tạo nghề, hỗ trợ đất ở, hỗ trợ đất sản xuất, cơ sở hạ tầng, nước sạch việc thực thi có hiệu quả các chính sách trên đã giúp cho người Khmer ổn định cuộc sống thoát nghèo bền vững Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra được một số khó khăn của người Khmer trong việc tiếp cận các chính sách đó là do xuất phát điểm của người

Trang 27

15

Khmer thấp, thiếu vốn và đất sản xuất, trình độ học vấn thấp khó tiếp thu được khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất, đặc điểm cư trú ở vùng sâu, vùng xa, theo quần thể phum, sóc điều kiện đi lại khó khăn và ít tham gia các đoàn thể chính trị xã hội Bên cạnh đó, rào cảng ngôn ngữ tiếng Việt, thiếu động cơ học tập và rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là yếu tố đã hạn chế phần nào tính hiệu quả của việc thực thi các chính sách Công tác đào tạo và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc mặc dù có quan tâm như hiệu quả chưa cao

1.1.2 Nghiên cứu về thực trạng đời sống lao động nhập cư người Khmer

Nhóm nghiên cứu thứ hai về thực trạng đời sống của LĐNC người Khmer,

Nghiên cứu “Bất ổn sinh kế và di cư lao động của người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long” của tác giả Ngô Phương Lan (2012), công trình nghiên cứu cho

chúng ta thấy được những sắc thái của quá trình di cư lao động của người Khmer, tập trung ở góc độ bất ổn sinh kế Phân tích những tác động của di cư lao động và những thách thức cho sự phát triển của cộng đồng người Khmer vùng nông thôn đồng bằng Sông Cửu Long Theo tác giả di cư lao động người Khmer hiện nay

có đặc điểm là những người không có đất hay những người có đất sản xuất nhưng gặp bất ổn trong sinh kế nông nghiệp, đặc điểm công việc mang tính chất tạm

thời, di cư chỉ là việc làm bất đắc dĩ làm ngày nào ăn ngày đó Một khía cạnh

khác được tác giả đề cập đó là, các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế, vay vốn

ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật… được thực hiện thông qua các tổ chức đoàn thể, người hưởng lợi là các hội viên Tuy nhiên, người Khmer ít quan tâm đến các hội đoàn thể do họ không thành thạo tiếng Việt và do đi làm ăn xa không gắn bó với các hoạt động của địa phương Đa số lao động Khmer là những đối tượng có trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, lực lượng này có xu hướng ngày càng trẻ hóa Việc di cư lao động đến nơi khác giải quyết công ăn việc làm và giúp cho họ có thể sinh tồn trong bối cảnh bất ổn về sinh kế Di cư lao động có vai trò tích cực trong việc tăng thu nhập cho hộ gia đình nhưng những tác động tiêu cực của quá trình này đặt ra những thách thức cho sự phát triển của vùng nông thôn Khmer, trong đó giáo dục và việc thực thi các chính sách phát triển nông nghiệp là những việc làm quan trọng

Trang 28

16

Một nghiên cứu về sinh kế của tác giả Hồ Kim Thi (2013) “Năng lực thích ứng sinh kế của phụ nữ Khmer trong quá trình đô thị hóa cùng ven tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ” cũng phân tích năng lực thích ứng sinh kế của phụ nữ

Khmer trong quá trình đô thị hóa ở vùng ven đô với cách tiếp cận sinh kế bền vững Từ cách nhìn đa chiều, đa cấp độ địa lý và từ tiếng nói của những tác nhân trong cuộc, nhằm cải thiện cách tiếp cận trong các chính sách để tương thích hơn với đặc điểm địa lý và đặc điểm dân tộc của người Khmer Trong bối cảnh hộ Khmer đang rơi vào tình trạng bị nghèo trở lại, nghèo kinh niên và nghèo mới cao hơn so với các cộng đồng khác Chỉ ra những khía cạnh dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả của chính sách hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ Khmer trong những năm qua Góp phần mở rộng cơ hội cho phụ nữ Khmer thoát nghèo và nâng cao vị thế của mình trong xã hội Đặc điểm đáng chú ý của nghiên cứu này trong vấn đề chuyển đổi sinh kế cho phụ nữ Khmer chính là chỉ ra việc làm của phụ nữ Khmer ở khu vực kinh tế chính quy rất hạn chế, đa số làm việc trong khu vực kinh tế phi chính quy mang tính chất bấp bênh và không có các chế độ bảo hiểm, an sinh xã hội Ngoài ra, theo tác giả thì Phụ nữ Khmer còn bị chi phối bởi

định kiến giới và khuôn khổ do người Khmer quy định, họ cho rằng việc hội họp bên ngoài là của nam giới, phụ nữ thì lo việc cơm nước Vì thế, rất ít phụ nữ

Khmer tham gia vào hội phụ nữ và các đoàn thể khác để được hưởng lợi từ các chương trình ưu đãi của Nhà nước

Cũng nghiên cứu về thích ứng sinh kế nhóm tác giả Ngô Thị Thu Trang,

Hồ Kim Thi, Châu Thị Thu Thủy, Ngô Hoàng Đại Long, (2016) “Thích ứng sinh

kế của người nhập cư Khmer tại quận ven đô: Điển cứu tại phường Bình Trị Đông B và phường An Lạc, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh” đề cập đến

một số chân dung của người nhập cư Khmer đang làm việc ở các ngành nghề khác nhau ở cả khía cạnh thuận lợi và khó khăn trong quá trình thích ứng với cuộc sống mới ở khu vực ven đô Nhóm tác giả đưa ra những nội dung chính về thích ứng sinh kế của dân nhập cư Khmer tại quận ven Bình Tân đó là sự thay đổi về cơ cấu việc làm; Sự thay đổi về thu nhập; Sự thay đổi đời sống tinh thần thể hiện qua mối gắn kết với ngôi chùa Bài viết cũng đề cập đến người Khmer nghèo có ít điều kiện tiếp xúc với chính quyền các cấp và ít cơ hội tham gia vào

Trang 29

17

các qui trình ra quyết định trong các chính sách có liên quan Họ có mối quan hệ cộng đồng trong thân tộc, phum sóc tương trợ giúp đỡ nhau trong việc sinh kế và vui chơi giải trí cùng nhau, ít tham gia vào các tổ chức mạng lưới chính thức Điều này giúp giải thích lý do vì sao số hộ dân Khmer thoát nghèo ít và biểu hiện của nghèo đa chiều rõ nét

Với lối phân tích theo cách tiếp cận tự sự cuộc đời, sử dụng phương pháp thông hiểu động cơ, ý kiến và hành động của cá nhân, các diễn ngôn của chính người công nhân thiểu số nhập cư với những thân phận, những câu chuyện cuộc

đời thông qua nhật ký điền dã tác giả Lê Anh Vũ (2017) “Thích nghi với cuộc sống hiện tại và mong đợi tương lai của công nhân là người Khmer ở Bình Dương”, phân tích nhận thức của công nhân người Khmer về công việc và vị thế

của mình trong xã hội hiện nay, những chiến lược sống và những mong đợi của

họ về cuộc sống ở tương lai Sức khỏe của công nhân nhập cư cũng là vấn đề được tác giả Lê Anh Vũ nghiên cứu đánh giá, đa phần cách nhìn của công nhân nhập cư người Khmer như là những người chấp nhận đánh đổi sức khỏe để mưu

sinh, kiếm sống “bằng sức lao động” một trong những mong đợi gần gũi và thiết

thực nhất đối với họ là có sức khỏe để làm việc Định kiến của xã hội về họ như

là những người hiển nhiên phải làm những công việc nguy hiểm, độc hại; Là những người có văn hóa thấp và những nữ công nhân nhập cư người Khmer luôn mang những mặc cảm về vị thế của mình trong xã hội, chọn cho mình một tâm thế “dĩ hòa vi quý” Đó không phải sự tự ti về bản thân mà là một lựa chọn hợp

lý cho những người di dân trên bước đường mưu sinh nơi đất khách, Họ đều nhận thức được rằng, hiện tại họ đang đối diện với nhiều vất vả và khó khăn, nhưng phần đông là không bi quan mà tự kiến tạo cho mình những chiến lược sống phù hợp, hầu hết đều cho rằng, họ sẽ gắn bó với việc làm công nhân Họ chủ động chọn cho mình một cách sống nhường nhịn và “chịu thiệt” một chút trong quan hệ với đồng nghiệp và những người xung quanh

Kết quả nghiên cứu cho thấy họ chủ động thích nghi với cuộc sống hiện tại mặc dù chỉ xem công việc đang làm là tạm bợ và không gắn bó lâu dài Tuy nhiên, khi nghĩ về tương lai thì có sự mơ hồ và bất định do những khó khăn mà

họ phải đối diện trong cuộc sống thường ngày

Trang 30

về sinh kế ở quê nhà của họ, hầu như họ thiếu về tất cả như nguồn vốn, đất sản xuất,…Đặc biệt, việc thiếu nguồn vốn tự nhiên như đất đai ở các vùng quê mà nguồn kinh tế thu nhập chính của họ là nông nghiệp đúng là những trở ngại rất lớn đối với họ Việc rời quê kiếm sống là cách mà tất cả người Khmer nhập cư dùng để đối phó với tình cảnh hiện tại, có những hộ gia đình họ rời quê dường như đã gần 10 năm vẫn chưa dám quay về

Thực trạng về sinh kế của gia đình Khmer nhập cư trong nghiên cứu cho thấy việc tiếp cận với các chính sách phúc lợi là rất khó khăn Mặt khác, ngoài những sự hỗ của các tổ chức xã hội trên địa bàn, kết quả nghiên cứu còn cho thấy

sự thiếu vắng các chính sách đặc thù dành cho lao động là người Khmer nhập cư Đây là một thực trạng rất đáng cần quan tâm nghiên cứu làm rõ Vai trò quan trọng của mạng lưới thân tộc và đồng hương trong quá trình di cư của lao động là người Khmer Do đó, cần phải có những phương cách để thúc đẩy, liên kết các tổ chức, nhóm xã hội phi chính thức thành mạng lưới các tổ chức tương hỗ cho lao động là người Khmer thiểu số nhập cư

Công trình nghiên cứu về mức độ tiếp cận các chính sách của công nhân nhập cư tại tỉnh Bình Dương của Nguyễn Đức Lộc và Nguyễn Văn Hiệp (2015)

Phúc lợi xã hội hiện trạng và mức độ tiếp cận của công nhân nhập cư tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương Với lối tiếp cận liên ngành xã hội học, dân tộc học

và nhân học xã hội, bằng phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật khảo sát thu thập thông tin định lượng (bảng hỏi), thông tin định tính (thu thập dữ liệu thứ cấp và quan sát tham dự) Tác giả đã đi sâu tìm hiểu mức độ tiếp cận phúc lợi xã hội của công nhân tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp của 4 huyện, thị xã: Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát Qua đó, so sánh đối chiếu và khái quát bức tranh chung về hiện trạng, mức độ tiếp cận phúc lợi xã hội của công nhân tỉnh Bình Dương Theo tác giả công nhân ngày nay đa phần phải rời xa quê hương đến tập

Trang 31

ra một cách thường xuyên Người dân muốn hưởng dụng một số dịch vụ thì phải

bỏ tiền, thậm chí phải trả giá cao cho những dịch vụ tốt Xu hướng này đang khiến cho phúc lợi xã hội ngày càng khó tiếp cận đối với những người lao động

có thu nhập thấp

Mặc dù đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị hướng đến mục tiêu nâng cao mức sống và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân nói chung và công nhân nói riêng Nhưng đa phần công nhân đang sống trong cảnh thiếu thốn về các điều kiện vật chất và quan hệ xã hội Bởi đa phần công nhân suất thân từ nông thôn đến thành thị lao động kiếm sống, họ không có tay nghề chuyên môn mà chỉ làm những việc phổ thông và thường sống trong hoàn cảnh khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần Vốn xã hội (social capical) của họ rất nghèo và mạng lưới xã hội (social network) rất mỏng Bên cạnh đó, cuộc sống sẽ khó khăn hơn khi công nhân lập gia đình và sinh con vì phải gánh nặng thêm chi phí gia đình và con cái

Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng cuộc sống của công nhân tại các khu công nghiệp ở Bình Dương hiện nay khá thấp, có thể nói là không bảo đảm các điều kiện sống cơ bản Các doanh nghiệp vẫn giữ quan niệm xem công nhân giống như những bộ phận của một dây chuyền sản xuất công nghiệp Họ bắt công nhân tăng ca để kịp đơn hàng sản xuất mà không hề quan tâm đến cuộc sống của công nhân sau khi rời khỏi nhà xưởng Phần lớn công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đều có hoàn cảnh xuất thân từ nông thôn Họ mang theo những ký ức tốt đẹp về các mối quan hệ “tình làng, nghĩa xóm” tại

Trang 32

20

quê hương mình vào nơi làm việc Vì vậy, họ không chỉ cần một nơi để ở, mà còn cần không gian sống, nơi họ có thể giao tiếp, chia sẻ, nâng đỡ nhau những lúc khó khăn Chính vì vậy, khi quy hoạch nhà ở cho công nhân thì nhất thiết phải quan tâm đến yếu tố văn hóa cộng đồng của công nhân Nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị đối với các cơ quan chức năng đó là cần đề ra chính sách bảo hộ người công nhân về tiền lương, thời gian làm việc nhằm đảm bảo chất lượng đời sống tốt hơn cho công nhân Vì thu nhập hiện nay của họ quá thấp không đủ điều kiện tái sản xuất sức lao động cũng như để học tập, nâng cao tay nghề và trình độ

học vấn Xây dựng không gian sống cho công nhân theo mô hình làng công nhân hay khu phố công nhân với đầy đủ các thiết chế an sinh xã hội như: cơ sở y tế,

trung tâm học tập cộng đồng, điểm văn hóa – thông tin, nhà trẻ, trường học

Liên quan chính sách việc làm, luận văn thạc sĩ công tác xã hội Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng của tác giả Phan Thị Huyền (2017), nghiên cứu phân tích ba vấn đề

chính là những vấn đề lý luận về chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ; Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Qua đó, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thực trạng chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ để tham vấn và đóng góp ý kiến vào hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách; Đề suất những quan điểm mục tiêu và giải pháp hỗ trợ việc làm cho lao động nữ tại địa phương nhằm đảm bảo

sự bình đẳng trong tiếp cận và thực hiện quyền con người

Từ việc điểm qua một số nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ đối với người Khmer và thực trạng đời sống của LĐNC người Khmer cho thấy, đa phần người Khmer gặp những khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách của Nhà nước vì xuất phát điểm của họ thấp, thiếu vốn và đất sản xuất, trình độ học vấn thấp, không biết chữ, không thành thạo Tiếng việt, thiếu động cơ học tập, không tiếp thu được khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất, dễ gặp rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Di cư lao động có vai trò tích cực trong việc tăng thu nhập cho

hộ gia đình, bên cạnh đó đặt ra thách thức cho sự phát triển của vùng nông thôn

Trang 33

21

Khmer trong đó giáo dục và việc thực thi chính sách phát triển nông nghiệp là những việc làm quan trọng Do trình độ hoặc vấn còn hạn chế, không có tay nghề, nên đa phần LĐNC người Khmer làm việc ở khu vực kinh tế phi chính quy, họ chấp nhận đánh đổi sức khỏe để mưu sinh, luôn mang trong mình những mặc cảm và chọn cuộc sống nhường nhịn, chịu thiệt với một tương lai mù mịt

Thực trạng chất lượng cuộc sống của công nhân tại các khu công nghiệp ở Bình Dương nói chung và LĐNC người Khmer nói riêng hiện nay khá thấp, có thể nói là không bảo đảm các điều kiện sống cơ bản, Vốn xã hội (social capical) của họ rất nghèo và mạng lưới xã hội (social network) rất mỏng Việc tiếp cận chính sách phúc lợi xã hội của các gia đình khmer nhập cư là rất khó khăn Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào nước

ta từ động lực lao động giá rẻ, hệ thống phúc lợi xã hội dành cho người lao động mặc nhiên là trách nhiệm của nước sở tại Xu hướng “hàng hóa hóa” đang khiến cho phúc lợi xã hội ngày càng khó tiếp cận đối với những người lao động có thu nhập thấp Thiếu vắng các chính sách đặc thù dành cho lao động là người Khmer nhập cư, Cần đề ra chính sách bảo hộ người công nhân về tiền lương, thời gian làm việc nhằm đảm bảo chất lượng đời sống tốt hơn cho công nhân, có những chính sách giành riêng cho LĐNC và LĐNC người Khmer Vai trò quan trọng của mạng lưới thân tộc và đồng hương trong quá trình di cư của lao động là người Khmer Do đó, cần phải có những phương cách để thúc đẩy, liên kết các tổ chức, nhóm xã hội phi chính thức thành mạng lưới các tổ chức tương hỗ cho lao động là người Khmer nhập cư

Về phương pháp, các nghiên cứu Ngô Phương Lan (2012), Lê Anh Vũ (2017, 2018) sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với các kỹ thuật như: quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, lịch sử cuộc đời, Nghiên cứu Phạm Hoàng Minh (2016), Nguyễn Hồng Hà (2017), Nguyễn Hữu Thịnh (2015), nhóm nghiên cứu Diệp Thanh Tùng (2017), Hồ Kim Thi (2013), nhóm nghiên cứu Ngô Thị Phương Trang (2016), Phan Thị Huyền (2017) chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kế thừa tài liệu nghiên cứu và quan sát Bên cạnh đó, là phương pháp kết hợp giữa định tính và định lượng, tọa đàm như của Nguyễn Đức Lộc (2015), Nguyễn Thị Ngọc Thảo (2016) và Ngô Thị Phương Lan (2017)

Trang 34

22

thường kết hợp giữa định tính và định lượng Trong đề tài này, học viên kết hợp giữa nghiên cứu định lượng thu thập dữ liệu qua khảo sát, đồng thời sử dụng dữ liệu định tính, phỏng vấn sâu để làm rõ thêm vấn đề cần nghiên cứu

1.2 Lý thuyết áp dụng trong nghiên c u

1.1.3 Cách tiếp cận lý thuyết hệ thống

Các quan điểm hệ thống trong CTXH có nguồn gốc từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy, Bertalanffy là một nhà sinh học nổi tiếng, lý thuyết của ông là một lý thuyết sinh học cho rằng “Mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử, mà được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn” Lý thuyết này được

áp dụng đối với các hệ thống xã hội cũng như những hệ thống sinh học

Người có công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn CTXH phải

kể đến công lao của Pincus và Minahan cùng các đồng sự khác, tiếp đến là Germain và Giterman Những nhà khoa học trên đã góp phần phát triển và hoàn thiện thuyết hệ thống trong thực hành CTXH trên toàn thế giới Lý thuyết này dựa trên giải thuyết rằng, mỗi cá nhân đều trực thuộc vào môi trường và hoàn cảnh sống Cả cá nhân và môi trường được coi là một sự thống nhất mà trong đó các yếu tố liên hệ và trực thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ Trong mỗi môi trường sinh thái, các hệ thống hoạt động vừa có tính chất riêng biệt, vừa phức tạp, vừa có sự trao đổi liên kết lẫn nhau Để hiểu biết về một yếu tố nào đó trong môi trường, cần phải nghiên cứu để hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh nó Vì vậy, trong CTXH “bất cứ một việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều có liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó” Thêm nữa các hệ thống mở thường đều là “hệ thống mở”, nghĩa là nó có linh hoạt với hệ thống khác Trong lý thuyết này, tất cả vấn đề của con người phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không chỉ nhìn nhận và tác động một cách đơn lẻ Vì thế trong các hoạt động CTXH, vấn đề

là cần được nhìn nhận thay đổi trên nhiều phương diện và nhiều mức độ khác nhau, trên lĩnh vực cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội và thế giới

Trang 35

23

Lý thuyết sinh thái là tập hợp con của lý thuyết hệ thống đã có nhiều đóng góp cho ngành CTXH Một trong những đóng góp quan trọng đó là định nghĩa 03 cấp độ hệ thống như sau:

Cấp vi mô: hệ thống này đề cập đến một cá nhân và kết hợp các hệ thống tâm lý, sinh học và xã hội tác động lên cá nhân ấy

Cấp trung mô: hệ thống này đề cập đến các nhóm nhỏ ảnh hưởng đến các

cá nhân như: gia đình, nhóm làm việc và những nhóm xã hội khác

Cấp vĩ mô: hệ thống này đề cập đến các nhóm và những hệ thống lớn hơn gia đình

Các cấp độ này có sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau, cùng nằm trong hệ thống môi trường tự nhiên và xã hội

Quan điểm sinh thái nhìn nhận hành vi và sự phát triển của mỗi cá nhân, trong bối cảnh của một chuỗi hệ thống các mối quan hệ tạo nên môi trường sinh thái của con người ấy Quan điểm này nhấn mạnh hành vi và sự phát triển của con người là hệ quả của mỗi chuỗi các tương tác giữa các lớp cắt của môi trường

Vì thế để tìm hiểu hành vi và sự phát triển của một cá nhân, không thể chỉ đỗ lỗi cho bản thân cá nhân đó mà còn cần xem xét sự tác động từ phía môi trường vi

mô, trung mô và vĩ mô Hệ thống sinh thái với mỗi cá nhân là không cố định, nó luôn biến đổi Vì vậy, khi NVXH tiếp cận với thân chủ cần đặt thân chủ trong hệ thống - sinh thái, từ đó xem hệ thống nào tác động tới cá nhân, hệ thống nào cần phục hồi, cần thiết lập lại, [16]

Trong việc tìm hiểu các vấn đề của LĐNC người Khmer lý thuyết này được ứng dụng vào việc rà soát, đánh giá lại việc thực hiện các chính sách hỗ trợ việc làm đối vơi LĐNC người Khmer, các nguồn lực hỗ trợ bên trong và bên ngoài cho thân chủ nhằm lý giải và đánh giá đúng mức độ việc tiếp cận và tác động chính sách đến LĐNC người Khmer để tìm ra nguyên nhân, giải quyết vấn

đề bằng cách kết nối với các nguồn lực để giúp quá trình can thiệp được hiệu quả Lý thuyết này là căn cứ, là cơ sở xem xét toàn diện đối với LĐNC người Khmer, đồng thời chỉ ra những giải pháp phù hợp với từng đối tượng cụ thể

Trang 36

24

1.1.4 Cách tiếp cận lý Thuyết nhu cầu của A,Maslow

Abraham Maslow Harold (1908–1970), một nhà tâm lý học người

Mỹ, phát triển một lý thuyết về nhân cách đã ảnh hưởng đến một số lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả giáo dục Sự ảnh hưởng rộng rãi một phần là do lý thuyết của Maslow có tính thực tiễn cao, Lý thuyết này mô tả chính xác thực tế nhiều kinh nghiệm cá nhân Nhiều người thấy họ có thể hiểu những gì Maslow nói Họ

có thể nhận ra một số đặc điểm của kinh nghiệm hoặc hành vi của họ là đúng sự thật nhưng họ chưa bao giờ diễn tả được bằng từ ngữ

Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu

tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được nghỉ ngơi Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được

nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày Các nhu

cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui

vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân Các nhu cầu cơ bản

thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này, Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu

về vẻ đẹp, sự tôn trọng Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn Ví dụ như: người ta có thể hạn chế ăn,

uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp cao cả hơn

Chi tiết nội dung của tháp nhu cầu: Cấu trúc của tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình kim

tử tháp Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn, Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ

Trang 37

25

H nh 1.1 Tháp nhu cầu của A.Maslow

(nguồn: Mạng lưới nhân viên công tác xã hội, 2018)

- Nhu cầu cơ bản: Bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn,

uống, ngủ, không khí để thở, tình dục,…Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người, Trong hình kim tử tháp chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất, Maslow cho rằng những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được Nhu cầu cơ bản này phù hợp với quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng: Con người trước hết phải được đáp ứng các nhu cầu ăn, mặc, ở,…

- Nhu cầu về an toàn, an ninh: Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện

trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như: chiến tranh, thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn,…

- Nhu cầu về xã hội: nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn

thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nếu nhu cầu này không được thỏa mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tâm lý

- Nhu cầu được quý trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng

vì nó thể hiện 02 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân

Trang 38

26

- Nhu cầu được thể hiện mình: Khi nghe về nhu cầu này chúng ta khoan

vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất Nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả, cống hiến cho cộng đồng xã hội [57]

Thông qua lý thuyết về thang nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm lý học A,Maslow, NVCTXH sẽ tìm hiểu và chỉ ra hệ thống những nhu cầu của thân chủ Phù hợp với nhu cầu của đối tượng là yêu cầu tiên quyết, không thể thiếu quyết định hiệu quả của các hoạt động trợ giúp; việc tìm hiểu nhu cầu của nhóm thân chủ là khâu không thể thiếu trong việc thực hành CTXH

Thuyết nhu cầu của Maslow là căn cứ cho việc nhận định những nhu cầu của con người nói chung Tuy nhiên, đối với mỗi đối tượng cụ thể và nhất là đối với từng cá nhân cụ thể lại có những nhu cầu khác nhau, vì họ là những cá thể độc lập với những đặc điểm riêng, nằm trong những bối cảnh không giống nhau

Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer:

Chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nhằm đáp ứng tối thiểu những nhu cầu cơ bản của người lao động, giúp can thiệp, điều phối thị trường lao động, điều phối mối quan hệ bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động, tạo môi trường an toàn cho người lao động được phát huy năng lực và khả năng của bản thân, tự khẳng định mình trong làm việc Qua khảo sát cho thấy hầu hết LĐNC người Khmer khó có thể tiếp cận được với các chính sách hỗ trợ việc làm

do trình độ học vấn thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, nên thiếu các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và gia đình trong quá trình di cư Trong đó có những người đặc biệt khó khăn không có khả năng tự đảm bảo cho cuộc sống của

cá nhân như việc tìm kiếm nhà ở, lo ăn uống, học hành của con cái, chi phí sinh hoạt trong gia đình, chăm sóc sức khỏe…Thậm chí có nguy cơ bị đe dọa đến sự

an toàn của cuộc sống Những đối tượng này rất cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước, xã hội và đặc biệt là nhân viên CTXH

Trang 39

27

Việc đáp ứng các nhu cầu của LĐNC người Khmer chính là động cơ thúc đẩy họ tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội Nếu không đáp ứng các nhu cầu của con người thì họ cũng mất dần động cơ đóng góp cho xã hội

Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, nhà tham vấn đã hiểu được con người

có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Ai cũng cần được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã,…

Sử dụng thuyết nhu cầu để hiểu và giúp đỡ thân chủ thỏa mãn các nhu cầu của họ ở các cấp bậc khác nhau Điều này có nghĩa là nhà tham vấn làm việc với thân chủ để giúp họ xác định các hành động có thể thực hiện được để thay đổi tình huống và tập trung vào các vấn đề tình cảm có thể đang cản trở thân chủ trong việc thỏa mãn nhu cầu của chính họ

Trong một số trường hợp, thân chủ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, NVCTXH tham vấn tăng cường năng lực cho thân chủ bằng cách lắng nghe thân chủ, chú ý đến các nhu cầu tinh thần của thân chủ và giúp thân chủ hiểu được các tiềm năng của mình, sử dụng các tiềm năng đó để vượt lên nấc thang nhu cầu cao hơn Đồng thời, kết nối họ với các nguồn lực hỗ trợ giúp thân chủ thỏa mãn nhu cầu của mình

1.3 Một số khái niệm có liên quan

1.3.1 Lao động

Theo quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin thì: Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục

vụ nhu cầu con người Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế

Lao động có ý thức và có mục đích, theo K.Marx, là cơ sở thực tiễn tạo

ra mọi vấn đề và phương hướng giải quyết những vấn đề Với hình thức lao động đó, con người chẳng những chiếm hữu tự nhiên mà còn qua đó “làm thay đổi bản tính của con người”, nghĩa là “phát triển những tiềm lực đang ngái ngủ

Trang 40

đó cho xã hội: giá trị sử dụng của sản phẩm ấy, theo sự trình bày của K.Marx, không phải chỉ là kết quả của thời gian cụ thể mà người sản xuất đã bỏ ra mà còn

là kết quả tổng hợp của cả một trình độ về sức sản xuất nào đó: sức sản xuất càng cao, trình độ tổ chức sản xuất càng khoa học, hợp lý thì thời gian lao động tất yếu càng giảm, người sản xuất càng có nhiều thì giờ rỗi rảnh để phát triển toàn diện cuộc sống của mình đồng thời với những kết quả của sự phát triển do sức sản xuất ấy tạo ra Nhưng theo K.Marx nếu mục đích sản xuất chỉ dừng lại ở phạm vi hạn hẹp ấy thì xã hội cũng không thể nào phát triển được, vì thế giả định về một nền sản xuất chỉ đủ phục vụ cho sự tiêu dùng của những người sản xuất là hoàn toàn không thích hợp với những xã hội phát triển, không thể tạo ra được một sức sản xuất cao để xã hội ấy phát triển Muốn phát triển, ngoài việc cần phải có một

số thời gian lao động tạo ra tiêu dùng (phục hồi sức lao động đã tiêu hao), người

ta còn phải tiến hành hình thức lao động gọi là dôi ra (lao động thặng dư) tạo thêm của cải, hoặc là để dành đối phó với những bất trắc có thể gặp phải, nuôi nấng những nguời già cả, thất nghiệp, chưa có việc làm, góp phần vào công ích

xã hội, và quan trọng nhất là tích luỹ tạo vốn để mở rộng sản xuất v,v…Đối với những xã hội muốn phát triển nhanh thì sự tích luỹ lao động thặng dư ấy càng phải được tiến hành trên phạm vi rộng lớn, khắp xã hội, đi song song với việc cải tiến không ngừng sức sản xuất và trình độ hợp lý hoá sản xuất, miễn là những hình thức tích luỹ ấy được thực hiện theo chiều hướng phù hợp với bản chất của con người: con người với tư cách là xã hội loài người thống trị được những sản phẩm do mình làm ra, không bị những sản phẩm ấy chi phối Thứ lao động thặng

dư mang tính xã hội để phục vụ cho nhu cầu tái sản xuất đó chính là “quỹ tái sản xuất” bắt buộc phải là sở hữu của một cộng đồng mà Mác gọi là “liên minh những người tự do” Theo K.Marx, chỉ có trong quá trình cải biến không ngừng

Ngày đăng: 19/11/2022, 21:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w