Microsoft Word SKKN 8121 1 ĐỀ TÀI MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 2 HỌC TỐT GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN THEO BỘ SÁCH CÁNH DIỀU A PHẦN MỞ ĐẦU 2 I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2 II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3 III ĐỐI TƯỢN[.]
Trang 11
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 2 HỌC TỐT GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN THEO BỘ SÁCH CÁNH DIỀU
III THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 5
1 Thực trạng về kỹ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 2 5
2 Kết quả của thực trạng ban đầu các năm 11
1 Họp phụ huynh - Thống nhất biện pháp giáo dục 12
4 Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập 20
Trang 22
A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Toán học là một lĩnh vực rất phong phú, đa dạng; vừa cụ thể và vừa trừu tượng; là một kho tàng tri thức vô tận Đặc biệt chương trình Toán tiểu học có vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kĩ năng nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh, góp phần rèn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đề; góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh Mặt khác, các kiến thức, kĩ năng môn Toán ở Tiểu học còn có nhiều ứng dụng trong đời sống thực tế Hiện nay trong các trường đã và đang vận dụng phương pháp dạy học đổi mới, đó là cách dạy hướng vào người học hay còn gọi là “Lấy học sinh làm trung tâm” Người thầy là người hướng dẫn chỉ đạo trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức của học sinh Với các môn học nói chung
và môn Toán nói riêng, để vận dụng tốt được cách dạy học mới này đòi hỏi người giáo viên phải tâm huyết với nghề, phải dày công nghiên cứu tìm ra giải pháp thích hợp với đối tượng mình dạy
Trong chương trình Toán ở tiểu học, giải toán có lời văn có vị trí rất quan trọng Các em được làm quen với toán có lời văn ngay từ lớp 1, đặc biệt ở lớp
2 yêu cầu các em viết lời giải cho phép tính Có thể nói, đây quả thực là một khó khăn đối với học sinh khi học giải toán có lời văn Đọc một đề toán đang còn là khó đối với các em vậy mà còn tiếp tục phải: Tìm hiểu đề toán, tóm tắt
đề, đặt câu lời giải, phép tính, đáp số Vì vậy, đây cũng là một vấn đề mà chúng tôi luôn luôn trao đổi, thảo luận trong những buổi sinh hoạt chuyên môn, tích lũy nghiệp vụ do nhà trường tổ chức Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, viết được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự nỗ lực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp
Qua kinh nghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi rút ra : “ Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 học tốt giải
Trang 33
toán có lời văn theo bộ sách Cánh Diều” để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh lớp
2 khi giải toán có lời văn
- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy dạng toán có lời văn cho học sinh lớp 2
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Học sinh lớp 2A năm học …… Học sinh lớp 2B năm học …… Học sinh lớp 2C năm học ……
- Các tổ chuyên môn
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp nghiên cứu về lý luận
- Phương pháp quan sát, thực nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu bằng điều tra, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
Trang 47
Số bánh xe có trong 5 xe là:
2 x 5 = 10 (xe) Đáp số: 10 (xe)
Nhiều giáo viên có thói quen không cho học sinh tìm hiểu kỹ đề nên thường
đi đến kết quả sai
Các bài toán giải bằng một phép tính nhân hoặc chia, chưa khái quát thành dạng cơ bản ở các tiết hình thành bảng nhân, các bài toán có lời văn thường không có hình vẽ cụ thể nên giáo viên khó hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề
b Thực trạng của lớp:
* Thuận lợi:
Do đặc điểm của học sinh đầu cấp nhanh nhớ nhưng chóng quên nên khi tập trung vào một dạng thì các em dễ khắc sâu và rèn được kỹ năng tính toán Các bài toán có lời văn ở lớp 2 thường thể hiện một cách tường minh, các tình huống trong đề gần gũi với học sinh Vì vậy với vốn ngôn ngữ còn ít của mình các em có thể đọc và hiểu đề một cách dễ dàng
Đặc biệt với phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm hiện nay giúp các em có điều kiện hoạt động và chủ động nắm kiến thức
Thời lượng dành cho luyện tập thực hành nhiều nên các em được tham gia giải quyết nhiều tình huống khác nhau và bộc lộ khả năng của mình
Các bài toán được trình bày với nhiều hình thức khác nhau, giúp các em hứng thú học tập phát huy được tính sáng tạo của mình
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nói trên học sinh vẫn gặp một số khó khăn khi học phần này
+ Về tìm hiểu đề:
Như chúng ta đã biết, muốn giải được bài toán được bài toán có lời văn học sinh phải đọc kỹ đề bài, hiểu được cách diễn đạt bằng lời văn của bài toán, song
do trình độ ngôn ngữ của các em còn kém, một số học sinh lúng túng khi tìm hiểu đề
Trang 58
Mặt khác nội dung các bài toán thường nêu lên một tình huống quen thuộc, gần gũi với học sinh Trong đó các dữ kiện thường là các đại lượng (danh số), khi tìm hiểu đề các em thường bị phân tán vào nội dung cụ thể của đại lượng hơn là các số cần thiết cho việc diễn tả điều kiện của các bài toán theo yêu cầu của đề
Ví dụ “ Lớp 2B trồng 12 khóm hoa, trong đó có 3 khóm đã nở hoa Hỏi còn bao nhiêu khóm chưa nở hoa?” (bài 4 trang 45 Sách Toán 2 Tập Một Cánh Diều)
Hoặc bài 5, trang 71 sách Toán 2 Tập Một Cánh Diều: “Một bến thuyền du lịch có 64 chiếc thuyền, trong đó có 39 chiếc thuyền đã rời bến Hỏi ở bến còn lại bao nhiêu chiếc thuyền?”
Đặc điểm tư duy lứa tuổi của các em là tư duy cụ thể nên tiếp xúc với các bài giải bằng một phép tính nhân hoặc chia thường gặp khó khăn trong suy
Trang 69
luận Bên cạnh một số khó khăn khi tìm hiểu đề, các em còn gặp một số khó khăn trong quá trình giải
Nắm vững nội dung nhất là các yếu tố cơ bản của bài toán là yêu cầu đầu tiên nhưng chưa đủ, nếu học sinh chưa có hứng thú và quyết tâm giải nó Để giải đúng bài toán còn đòi hỏi các em tìm ra phương pháp giải là một hoạt động
tư duy hết sức phức tạp, vừa đòi hỏi kinh nghiệm thực hành, sự linh hoạt sáng tạo Song ở lứa tuổi các em thường có sự nhầm lẫn yếu tố không thuộc bản chất Các em thường nhầm lẫn phương pháp giải giữa dạng này và dạng khác
Ví dụ: “Thảo cân nặng 29kg, Huy nặng hơn Thảo 3kg Hỏi Huy cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?” (bài 3 trang 77 sách Toán 2 Tập Một Cánh Diều)
Đây là bài toán về ít hơn một số đơn vị nhưng các em lại nhầm là bài toán tìm số trừ chưa biết nên có phép tính giải
Ngoài ra khi trình bày bài giải các em diễn đạt câu, lời văn thường không
rõ ràng hoặc mắc các lỗi ghi chữ viết tắt các đơn vị đo đại lượng
Ví dụ: bài 4c trang 91 sách Toán 2 tập hai Cánh Diều: “Mỗi xe đạp có 2 bánh xe Hỏi 6 xe đạp có bao nhiêu bánh xe?”
Học sinh viết câu lời giải “có số bánh xe là:”
* Đối với học sinh cá biệt:
Trang 710