1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng Luật ngân hàng

171 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới Thiệu Khái Quát Học Phần Luật Ngân Hàng
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Ngân Hàng
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Luật ngân hàng được thực hiện nhằm giúp các em sinh viên hiểu và nắm được một số khái niệm cơ bản trong lĩnh vực pháp luật ngân hàng; các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong khoa học luật ngân hàng; Nhận diện được bản chất, đặc thù của các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng; Nắm được nội dung cơ bản của các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh trong lĩnh vực ngân hàng; Có được những kiến thức cơ bản về thực tiễn hoạt động ngân hàng. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT HỌC PHẦN LUẬT NGÂN HÀNG1

Luật Ngân hàng là môn khoa học pháp lí chuyên ngành, cung cấp những kiến thức

cơ bản về địa vị pháp lí của các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh ngân hàng, nội dung pháp lí chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng và quản lí nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng

- Thành thạo một số kĩ năng tìm kiếm và sử dụng các quy định của pháp luật ngân

hàng để giải quyết những tình huống cơ bản, điển hình trong lĩnh vực ngân hàng;

- Phát triển kĩ năng lập luận, góp ý xây dựng pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng;

- Giúp cho người học có khả năng tư vấn pháp luật cho các chủ thể kinh doanh ngân hàng và các đối tượng khác để bảo vệ tốt quyền lợi của mình khi tham gia vào quan hệ dịch vụ ngân hàng

Trang 2

Mục tiêu khác

- Phát triển kĩ năng cộng tác, làm việc nhóm;

- Phát triển kĩ năng tư duy sáng tạo, độc lập nghiên cứu;

- Trau dồi, phát triển năng lực đánh giá và tự đánh giá;

- Rèn kĩ năng lập kế hoạch, tổ chức, quản lí, điều khiển, theo dõi kiểm tra hoạt động, làm việc nhóm, lập mục tiêu, phân tích chương trình

ĐỐI TƢỢNG GIẢNG DẠY

Hệ đào tạo: Cử nhân Luật và Cử nhân Luật Kinh tế

Tên học phần: Luật Ngân hàng

Trang 3

- Làm rõ những đặc trưng của hoạt động ngân hàng để phân biệt hoạt động kinh doanh ngân hàng với các hoạt động kinh doanh khác nhằm lý giải vì sao hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro

- Làm rõ đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Luật Ngân hàng để phân biệt nói với đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính, Luật Dân sự

- Cung cấp cho sinh viên hệ thống nguồn luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng và lý giải vì sao nguồn của pháp luật ngân hàng mang tính chuyên ngành và tính quốc tế hóa cao hơn so với lĩnh vực kinh doanh khác

Yêu cầu

- Sinh viên đọc trước tài liệu đã được giáo viên cung cấp;

- Nghiên cứu và trả lời những câu hỏi liên quan đến nội dung bài học;

- Nghe giảng và trả lời câu hỏi của giảng viên

Phương pháp: thuyết trình kết hợp với nêu vấn đề, hỏi, đáp…

Phương tiện và đồ dùng học tập: giáo án, bài giảng điện tử, máy Projector, phấn,

Trang 4

2 Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh, Tạp chí công nghệ ngân hàng,

Hoàn thiện Luật ngân hàng - những đòi hỏi từ hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lao động

xã hội, Hà Nội, 2007

3 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1996), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Quá

trình hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

4 TS Lê Vinh Danh, Tiền và hoạt động Ngân hàng, Nxb Giao thông Vận tải năm

2009

5 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 112/2006/QĐ-TTG ngày 24/5/2006 về việc phê duyệt đề án phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

Anh (chị) có mua mảnh đất này với giá 50 lượng vàng hoặc 50.000 USD không?

Nếu anh chị hiện đang có 500 triệu đồng nhàn rỗi anh chị sẽ làm gì với số tiền này?

Lịch sử phát triển của ngân hàng, hoạt động ngân hàng được thể hiện ở chính bản chất của hoạt động ngân hàng Có thể tóm tắt quá trình phát triển của ngân hàng, hoạt động ngân hàng qua những điểm chính yếu sau đây:

- Nhu cầu tìm kiếm nơi cất trữ tiền tệ an toàn;

3 Tham khảo thêm, TS Lê Vinh Danh, Chương 4 Lịch sử hình thành hoạt động ngân

hàng trong Tiền và hoạt động Ngân hàng, Nxb Giao thông Vận tải năm 2009, trang 39

đến trang 49

Trang 5

- Nhu cầu vay vốn của những người thiếu vốn trong xã hội, trong khi tổ chức cất trữ tiền tệ lại giữ tiền cho người thừa tiền trong một khoảng thời gian nhất định Ban đầu những người giữ tiền chỉ cho vay để tìm thêm mối lợi cho mình Sau này trở thành hoạt động kinh doanh;

- Nhu cầu sử dụng tiền – vật ngang giá chung để thực hiện các giao dịch kinh doanh nên các ngân hàng đều phát hành tiền và có kí hiệu riêng của ngân hàng minh Điều này dẫn đến hệ quả là trên cùng một thị trường tồn tại nhiều loại tiền khác nhau dẫn đến những rủi ro cho người sử dụng các phương tiện thanh toán này Nhu cầu hình thành một

cơ quan quản lý các tổ chức phát hành tiền Ban đầu thuộc sở hữu tư nhân sau đó, Nhà nước dần giữ chức năng là tổ chức độc quyền phát hành tiền trong phạm vi cả nước

- Hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng mang tính chuyên nghiệp, có ý nghĩa

to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hôi, song, đó lại là hoạt động mang tính rủi ro rất lớn Để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, bảo đảm luồng lưu chuyển vốn không bị gián đoạn và bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, hoạt động ngân hàng ngày càng được kiểm soát chặt chẽ bởi ngân hàng trung ương thông qua hệ thống pháp luật và các công cụ nằm trong tay ngân hàng trung ương

1.1.2.1 Khái niệm hoạt động ngân hàng

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật NHNN hoặc Khoản 12 Điều 4 Luật các TCTD thì “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:

+ Nhận tiền gửi;

+ Cấp tín dụng;

+ Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”

Như vậy, khái niệm hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật ngân hàng Việt Nam gồm 2 nội dung chính là:

Hoạt động kinh doanh tiền tệ: đây hoạt động chính, thương xuyên và chủ yếu, là

hoạt động ngân hàng bắt buộc phải có ở tất cả các ngân hàng Việt Nam và trên thế giới, gồm các hoạt động sau:

- Nhận tiền gửi: huy động tiền gửi nhàn rỗi từ các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình

Trang 6

- Cấp tín dụng: là hoạt động ngân hàng sử dụng số tiền có được từ huy động vốn để cho vay lại đối với các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình cần vốn để sản xuất, kinh doanh

Cung ứng dịch vụ thanh toán: với hoạt động chính là cung ứng dịch vụ thanh toán

còn gọi là trung gian thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác Với vai trò là tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ ghi nợ và ghi có để xác nhận nghĩa vụ thanh toán giữa các chủ thể của nền kinh tế có mở tài khoản tại ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán

1.1.2.2 Đặc điểm của hoạt động ngân hàng

Thứ nhất, Hoạt động ngân hàng là hoạt động có đối tượng kinh doanh là tiền tệ và

cung ứng dịch vụ thanh toán

Tiền tệ: Tiền tệ là phương tiện thanh toán, bao gồm tiền giấy, tiền kim loại

Hoạt động kinh doanh tiền tệ: là hoạt động huy động tiền gửi và cấp tín dụng cho

nền kinh tế theo nguyên lý cơ bản là đưa tiền tệ từ nơi “thừa” đến nơi “thiếu” để đồng tiền có thể đi vào quá trình sản xuất, kinh doanh tạo ra giá trị cho nền kinh tế

Bất kỳ nền kinh tế nào cũng vậy, do có sự “lệch pha” trong việc thực hiện các mục tiêu đầu tư (về thời gian cần vốn) nên sẽ dẫn đến tình trạng “thừa” và “thiếu” vốn trong nền kinh tế Nhà nước không thể sử dụng mệnh lệnh hành chính để điều tiết vốn mà phải thông qua hoạt động ngân hàng Chủ thể có vốn tạm thời nhàn rỗi sẽ mang tiền đến gửi tại các tổ chức tín dụng và hưởng lãi suất huy động vốn Chủ thể cần vốn để kinh doanh đến tại các tổ chức tín dụng để vay vốn và phải trả lại suất cho vay – là một phần lợi nhuận có được trên cơ sở vốn vay

Cung ứng dịch vụ thanh toán: là hoạt động trung gian thanh toán giữa các chủ thể

trong nền kinh tế

Thứ hai, Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện, được tiến hành

bởi các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thứ ba, Hoạt động ngân hàng là hoạt động quan trọng, chi phối, ảnh hưởng các lĩnh

vực kinh tế-xã hội khác

Thứ tư, Hoạt động ngân hàng mang tính rủi ro cao

Thứ năm, Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính “nhạy cảm” với các biến

động của kinh tế- chính trị- xã hội

Trang 7

Thứ sáu, Hoạt động ngân hàng mang tính liên kết thành hệ thống, giữa các chủ thể

hoạt động ngân hàng phải có sự hợp tác song hành với cạnh tranh

Anh (chị) hãy làm rõ sự khác biệt giữa hoạt động ngân hàng với những hoạt động kinh doanh khác?

Nhận xét của anh (chị) về khái niệm hoạt động ngân hàng theo pháp luật Việt Nam hiện hành theo các gợi ý:

- Những điểm tương đồng trong cách tiếp cận khái niệm hoạt động ngân hàng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam và pháp luật ngân hàng một số nước trên thế giới

- Phạm vi hoạt động ngân hàng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam và cam kết về dịch vụ ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO

Hiện nay còn nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm Luật Ngân hàng4, song có thể đưa ra định nghĩa khái quát về Luật Ngân hàng như sau: Luật ngân hàng là một bộ

phận cấu thành hệ thống pháp luật quốc gia, bao gồm tổng hợp các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước tổ chức, quản lý hệ thống ngân hàng và các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động ngân hàng

Dù còn nhiều quan niệm khác nhau về Luật Ngân hàng, song các quan điểm đều thống nhất nội dung của pháp luật ngân hàng bao gồm:

- Hoạt động quản lý, tổ chức hệ thống ngân hàng của NHNN (Ngân hàng trung ương);

- Hoạt động kinh doanh ngân hàng của các TCTD

1.2.2.1 Đối tượng điều chỉnh của Luật Ngân hàng

4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, 2010, tr.21 – tr.24

5 Xem thêm, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng, Nxb Công an

nhân dân, Hà Nội, 2010, tr.25 – tr.26

Trang 8

Căn cứ vào tính chất của quan hệ xã hội do Luật ngân hàng điều chỉnh và phương thức tác động của pháp luật, đối tượng điều chỉnh của Luật ngân hàng gồm hai nhóm

chính:

Nhóm 1: Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về tiền tệ,

hoạt động ngân hàng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo an toàn cho hoạt

động ngân hàng

Nhóm 2: Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản trị, điều

hành của Ngân hàng nhà nước Việt Nam; thủ tục, trình tự thành lập, hoạt động, giải thể,

cơ cấu tổ chức, điều hành, quản trị của các tổ chức tín dụng, các chi nhánh, văn phòng đại

diện của tổ chức tín dụng

Nhóm 3: Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động ngân

hàng Đây là nhóm quan hệ chủ yếu và quan trọng nhất của pháp luật ngân hàng, giữ vai trò trung tâm của tất cả các quan hệ pháp luật ngân hàng còn lại

1.2.2.2 Phương pháp điều chỉnh của Luật Ngân hàng

Căn cứ vào các quan hệ pháp luật ngân hàng đã được trình bày ở mục 2.3 nói trên,

để đạt được mục đích trong mỗi nhóm quan hệ, Luật ngân hàng có 2 phương pháp điều chỉnh chủ yếu:

Phương pháp mệnh lệnh – quyền uy: dùng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh

giữa một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền với một bên là các chủ thể còn lại cùng tham gia vào hoạt động ngân hàng

Phương pháp bình đẳng, thỏa thuận: là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sư –

kinh tế - thương mại làm cơ sở để các chủ thể đạt được lợi ích của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật Theo đó, các chủ thể được quyền bình đẳng với nhau (về tư cách pháp lý, về quyền và nghĩa vụ…) trong việc đưa ra các thỏa thuận nhằm tìm kiếm giải pháp dung hòa lợi ích cho các bên

1.2 3.1 Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

6 TS Ngô Hoàng Oanh, Nguồn pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng trong hội nhập

(http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/03/08/4696/)

Trang 9

- Hiến pháp Việt Nam 2013;

- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010;

- Luật các tổ chức tín dụng 2010;

- Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức

và hoạt động của ngân hàng thương mại;

- Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật phá sản đối với các tổ chức tín dụng;

- Thông tư số 08/2010/TT-NHNN ngày 23 tháng 03 năm 2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng;

- Thông tư số 09/2010/TT-NHNN ngày 26 tháng 03 năm 2010 quy định về việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần…

1.2 3.2 Các tập quán và thông lệ quốc tế

Nguồn luật quan trọng thứ hai sau luật quốc gia điều chỉnh hoạt động của Ngân hàng của các nước trên thế giới là các tập quán và thông lệ quốc tế Đó là các chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng được thừa nhận bởi Thông lệ quốc tế và Công ước Liên hợp quốc Một thực tế rõ ràng là tập quán thương mại quốc tế áp dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế (ví dụ trong hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nước) và đi theo nó là các quan hệ thanh toán xuất nhập khẩu với các nước là các hoạt động hoàn toàn mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn và được thế giới chấp nhận sử dụng trong quan hệ thương mại và thanh toán quốc tế Đó là:

- Các quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ của ICC- UCP 600;

- Quy tắc thống nhất nhờ thu, bản sửa đổi 1995, số 522 của ICC (Uniform Rules for Collection of Payment , 522, 1995,ICC-URC522,ICC;

- Qui tắc bảo lãnh hợp đồng URCG, có hiệu lực năm 1978, số xuất bản 325;

- Bản qui tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu URDG, có hiệu lực từ 4/1992, số xuất bản 458 của ICC;

- Bản qui tắc thông nhất về bảo chứng URCB được thông qua 23/4/1993 và có hiệu lực từ 1/1/1994, số xuất bản 524 của ICC;

Trang 10

- Công ước UCILTRAN về bảo lãnh độc lập và tín dụng thư dự phòng của Liên hợp quốc;

- Ngoài ra còn phải kể đến các thông lệ và chuẩn mực quốc tế trong kế toán, kiểm toán, quy chế quan hệ bắt buộc giữa các Ngân hàng trung gian với Ngân hàng trung ương

về tái cấp vốn, thị trường mở, thanh toán quốc gia và các chuẩn mực về thanh tra – giám sát Ngân hàng

1.2.3.3 Các Hiệp ước và hiệp định quốc tế song phương và đa phương trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng

Việt Nam tham gia nhiều hiệp định hợp tác song phương về lĩnh vực ngân hàng đã được ký kết thành công với Chính phủ, NHTƯ, các tổ chức song phương trong khu vực Đông á – Thái Bình Dương, Đông Âu, Bắc Mỹ như Hiệp định khung về kết nối kinh tế Việt Nam – Singapore trong lĩnh vực ngân hàng, tham gia xây dựng chiến lược đối tác kinh tế chung Việt Nam – Thái Lan, Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế Asean Singapore, ngày 28 tháng 01 năm 1992, ký các thỏa thuận hợp tác trao đổi thông tin trong lĩnh vực thanh tra ngân hàng với các cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng của Australia, Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Hoa Kỳ Đặc biệt là Hiệp định thương mại Việt Mỹ và các cam kết của Việt nam khi gia nhập WTO trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Nội dung của các hiệp định này chủ yếu là các thỏa thuận hợp tác của các nước trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các cam kết về việc hoàn thiện môi trường pháp luật

về ngân hàng và lộ trình hiện diện thương mại và đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính ngân hàng

Bên cạnh đó là các hiệp ước quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các hiệp ước này ràng buộc các nước thành viên phải đáp ứng các chuẩn mực nhất định trong lĩnh vực tài chính ngân hàng trong hội nhập kinh tế quốc tế, đó là:

- Hiệp ước tín dụng Quốc tế Basel I năm 1988: Hiệp ước Basel I mang tính chất thỏa thuận quốc tế và các tiêu chuẩn về vốn đã trở thành chuẩn mực quốc tế về vốn tự có

Nó quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và quản lý rủi ro tín dụng đối với ngân hàng, là một trong những căn cứ, tiêu chuẩn để các ngân hàng của các quốc gia trên thế giới áp dụng quản lý, bảo đảm an toàn trong hoạt động Thực hiện thỏa ước an toàn vốn tối thiểu của Basel I đã và đang là một trong những mục tiêu quản lý rủi ro đối với các tổ chức tín dụng ở các nước đang phát triển như Việt Nam Tuy nhiên, Basel I mới chỉ đề cập đến

Trang 11

những rủi ro về tín dụng chứ chưa đề cập đến những rủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi

ro thị trường, rủi ro lãi suất

- Hiệp ước tín dụng Quốc tế Basel II năm 2004: Là hiệp ước quốc tế về tiêu chuẩn

an toàn vốn, tăng cường quản trị toàn cầu hóa tài chính cũng như việc khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận và hạn chế rủi ro Basel II quy định tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu gắn chặt chẽ với mức độ rủi ro của tài sản ngân hàng, mức độ rủi ro của tài sản có tính đến nhiều yếu tố như độ tín nhiệm của khách hàng, thời hạn khoản vay, độ tập trung của các khoản vay vào một nhóm khách hàng nhất định, quá trình xem xét giám sát của cơ quan quản lý và cuối cùng là các quy tắc thị trường

- Hiệp ước tín dụng Quốc tế Basel III năm 2010 bổ sung nhiều quy định về bảo đảm

an toàn trong hoạt động của các NHTM trong điều kiện mới

- Hiệp định Giơ ne vơ về Séc và Hối phiếu năm 1930-1931

1.2.4 Quan hệ pháp luật ngân hàng: Sinh viên tự nghiên cứu

Trang 12

Yêu cầu

- Sinh viên đọc trước tài liệu đã được giáo viên cung cấp;

- Nghiên cứu và trả lời những câu hỏi liên quan đến nội dung bài học;

- Nghe giảng và trả lời câu hỏi của giảng viên

Phương pháp: thuyết trình kết hợp với nêu vấn đề, hỏi, đáp…

Phương tiện và đồ dùng học tập: giáo án, bài giảng điện tử, máy Projector, phấn,

2 Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh, Tạp chí công nghệ ngân hàng,

Hoàn thiện Luật ngân hàng - những đòi hỏi từ hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lao động

xã hội, Hà Nội, 2007

3 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1996), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Quá

trình hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 13

4 TS Lê Vinh Danh, Tiền và hoạt động Ngân hàng, Nxb Giao thông Vận tải năm

2009

5 Viên Thế Giang (2011), Giám sát ngân hàng theo quy định của Luật Ngân hàng

Nhà nước năm 2010, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 3 năm 2011

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

- Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 112/2006/QĐ-TTG ngày 24/5/2006 về việc phê duyệt đề án phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

- Nghị định 96/2008/NĐ-CP (26/8/2008) của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

2.1 SƠ LƢỢC VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

2.1.1.1 Cấu trúc hệ thống ngân hàng

Về cơ bản, hệ thống ngân hàng được tổ chức thành 2 cấp:

Ngân hàng trung ƣơng (ngân hàng cấp 1): Ngân hàng trung ƣơng (có khi gọi là

ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ

đổ vỡ Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chính phủ.7 Vai trò, vị trí, chức năng của Ngân hàng trung ương được thể hiện khác nhau ở các quốc gia nhưng về cơ bản có một số dấu hiệu sau:

- Là ngân hàng của các ngân hàng: cung cấp các dịch vụ tài chính, ngân hàng cho các ngân hàng thương mại (ngân hàng cấp 2) và điều hòa lợi ích, quản lý hoạt động của các ngân hàng thương mại và các tổ chức hoạt động ngân hàng khác

7

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_trung_%C6%B0%C6%A1ng

Trang 14

- Ngân hàng cung cấp các dịch vụ tiền tệ, tài chính cho Chính phủ: Chính phủ là một chủ thể đại diện cho nhà nước tiến hành tiêu dùng (chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi sự nghiệp…) Vì thế, ngân hàng trung ương có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính tiền tệ cho Chính phủ Tuy nhiên, việc cung ứng các dịch

vụ này phải được thực hiện trên cơ sở của quan hệ tín dụng ngân hàng chứ không phải quan hệ mệnh lệnh – phục tùng (quan hệ hành chính) trong tổ chức, quản lý nhà nước

- Là cơ quan duy nhất thay mặt nhà nước phát hành tiền và cung ứng tiền vào lưu thông, thay mặt nhà nước thực hiện chức năng quả lý tiền tệ và không được thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ; nhiệm vụ của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị đồng tiền và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng

- Một số quốc gia, ngân hàng trung ương đảm nhận chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động tài chính tiền tệ

Các ngân hàng trung gian (còn gọi là các định chế tài chính trung gian – Ngân

hàng cấp 2) có một số dấu hiệu pháp lý sau:

- Tồn tại dưới các hình thức doanh nghiệp là các TCTD thuộc sở hữu nhà nước hay

sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hỗn hợp

- Các ngân hàng này thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, làm trung gian thanh toán và kinh doanh ngoại hối nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận

- Các ngân hàng này không được thực hiện chức năng phát hành tiền

2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam 8

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng được thiết lập và bảo hộ bởi thực dân Pháp thông qua Ngân hàng Đông Dương- vừa đóng vai trò là Ngân hàng Trung ương trên toàn cõi Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia), vừa là ngân hàng thương mại Ngân hàng này là công cụ phục vụ đắc lực chính sách thuộc địa của Chính phủ Pháp và làm giàu cho tư bản Pháp

Sau Cách mạng tháng 8/1945, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng Việt Nam là phải từng bước xây dựng nền tiền tệ và hệ thống ngân hàng độc lập, tự chủ

8Xem thêm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1996), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam –

Quá trình hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 15

Nhiệm vụ này đã trở thành hiện thực khi bước sang năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam ngày một tiến triển mạnh mẽ với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường và vùng giải phóng không ngừng được mở rộng Sự chuyển biến của cục diện cách mạng đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố

và phát triển theo yêu cầu mới Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính- kinh

tế mà Đại hội Đảng lần thứ II (tháng 2/ 1951) đã đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ chủ yếu như: Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lý Kho bạc Nhà nước, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch

Sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là một bước phát triển trong lịch sử tiền tệ, tín dụng của Việt Nam Lần đầu tiên nước ta có được một ngân hàng độc lập, tự chủ của nhân dân Gắn liền với sự phát triển của từng thời kỳ cách mạng, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (từ tháng 1/1960 đổi tên là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) đã từng bước trưởng thành lớn mạnh Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước đã góp phần quan trọng xây dựng, củng cố, hoàn thiện thể chế tiền tệ, tín dụng và hệ thống ngân hàng Việt Nam, phục vụ tốt sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể được chia làm 4 thời

kỳ như sau:

Nam của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập và hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên: Phát hành giấy bạc ngân hàng, thu hồi giấy bạc Tài chính; Thực hiện quản lý kho bạc Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách; Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch

xã hội chuyển hướng theo yêu cầu mới Trong đó, Ngân hàng Quốc gia thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:

Trang 16

- Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế trong chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở Miền Bắc

- Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực, đẩy mạnh khôi phục và phát triển nông, công, thương nghiệp, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam

c Thời kỳ 1975-1985: Là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải

phóng và thống nhất nước nhà Nhiệm vụ cụ thể của ngành ngân hàng là tiến hành thiết lập hệ thống ngân hàng thống nhất trong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế

độ cũ ở miền Nam Theo đó, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (ở miền Nam) đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiền mới của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thu hồi các loại tiền cũ ở

cả hai miền Nam- Bắc vào năm 1978 Đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng- chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80 và kéo dài cho tới ngày nay

d Thời kỳ 1986 đến nay: Là giai đoạn diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, đánh dấu

sự chuyển biến căn bản của hệ thống ngân hàng Việt Nam:

- Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi

chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa Tháng 5/1990, hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp, trong đó: Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; Thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương; Cấp ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các định chế tài chính ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện

Trang 17

- Năm 1993, bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế (Quỹ Tiền tệ quốc tế- IMF, Ngân hàng Thế giới- WB, Ngân hàng Phát triển châu Á- ADB)

- Ngày 2/12/1997 Quốc hội khóa X chính thức thông qua Luật NHNN Việt Nam và Luật các TCTD và có hiệu lực thi hành từ 1/10/1998

- Hiện nay, chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước thực hiện theo Nghị định số 96/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và

hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội

Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng và cụ thể hóa các cam kết quốc tế về

mở cửa dịch vụ ngân hàng, Luật NHNN và Luật các TCTD đã được sửa đổi, bổ sung thay thế Luật NHN và Luật các TCTD năm 1997 và các Luật sửa đổi, bổ sung các đạo luật này, trong đó có nhiều quy định mới đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay

2.1.1.3 Cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam

Trải qua nhiều lần thay đổi và từng bước hoàn thiện mô hình hệ thống ngân hàng, theo quy định của pháp luật ngân hàng hiện hành thì mô hình hệ thống ngân hàng Việt Nam được thiết kế làm hai cấp như sau:

NHNN Việt Nam và các chi nhánh, là cơ quan nhà nước; là ngân hàng độc quyền

phát hành tiền; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm ổn định giá trị đồng tiền và đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng Ngân hàng nhà nước không tham gia vào quá trình kinh doanh tiền tệ với các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế mà chỉ tham gia vào hoạt động cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại Về vai trò, vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể ở chương 2

Trang 18

Hệ thống TCTD (còn gọi là các ngân hàng trung gian, ngân hàng cấp 2): là các

doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy dộng vốn, cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình trong nền kinh tế; cung ứng dịch vụ thanh toán; hoạt động ngoại hối và một số hoạt động ngân hàng khác theo quy định của pháp luật về ngân hàng Hệ thống ngân hàng thương mại tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ, gắn

bó, vừa cạnh tranh vừa hợp tác bình đẳng với nhau Về vai trò, vị trí, chức năng, cơ cấu

tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể ở Chương 3

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm cơ bản về NHNNVN như sau:

N gân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ, có tư cách pháp nhân, có trụ

sở chính, có vốn pháp định thuộc quyền sở hữu nhà nước, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; có chức năng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ

Mặc dù cũng là một ngân hàng nhưng NHNNVN khác so với các ngân hàng thương mại Điều đó được thể hiện qua vai trò, vị trí và chức năng của nó trong hệ thống ngân hàng

9 Đây là điểm khác biệt giữa NHNN và các Bộ, cơ quan ngang bộ khác

Trang 19

2.2 1.2 Đặc điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thứ nhất, NHNNVN là cơ quan của Chính phủ (còn gọi là cơ quan ngang Bộ), nói khác đi, về bản chất, NHNNVN là một cơ quan hành chính nhà nước

Đây là đặc điểm cơ bản của mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ Tại Điều 2 Luật NHNNVN quy định “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang

bộ của Chính phủ” – là một cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ ngân hàng cao nhất của nước CH XHCN Việt Nam Vị trí của NHNNVN trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước chứ không chỉ đơn thuần là một ngân hàng Cần lưu ý một số nội dung sau đây:

- Cơ cấu tổ chức của NHNNVN không như một ngân hàng thương mại mà được tổ chức theo mô hình một Bộ của Chính phủ (Chương II Luật NHNNVN Điều 1 NĐ 96/2008/NĐ-CP)

- Mục tiêu hoạt động của NHNNVN không hướng đến mục tiêu lợi nhuận mà thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước hướng đến lợi ích chung, lợi ích nhà nước

- Bên cạnh tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách là chủ thể thường thì NHNNVN còn tham gia vào quan hệ pháp luật ngân hàng với tư cách là chủ thể có quyền lực

Mặc dù là một cơ quan của Chính phủ nhưng NHNNVN vẫn phải chịu sự giám sát

và chịu trách nhiệm trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội với tư cách độc lập

Thứ hai, NHNNVN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Khi đề cập đến đặc điểm này cũng cần phân biệt chức năng của NHNNVN với chức năng của Bộ Tài chính, tránh tình trạng nhầm lẫn, phân bổ chồng chéo về chức năng Theo quy định tại điều 1 Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01/7/2003 thì “Bộ Tài chính

là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách nhà nước, thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước, đầu tư tài chính, tài chính doanh nghiệp và hoạt động dịch vụ tài chính (gọi chung là lĩnh vực tài chính - ngân sách), hải quan, kế toán, kiểm toán độc lập

và giá cả trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực tài chính - ngân sách, hải quan, kế toán, kiểm toán độc lập và giá cả”

Trang 20

Như vậy, có sự tách bạch rõ giữa chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ với chức năng quản lý nhà nước về ngân sách và loại trừ quan điểm coi NHNNVN là “máy in tiền” của Chính phủ Trong trường hợp ngân sách nhà nước thâm hụt thì Chính phủ hay

Bộ tài chính cũng chỉ là một “khách hàng” của NHNNVN trong hoạt động cấp tín dụng Theo đó, NHNN tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Khoản tạm ứng này phải được hoàn trả trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định10

Thứ ba, NHNNVN là ngân hàng trung ương

Là trung tâm của toàn bộ hệ thống ngân hàng, NHNNVN là ngân hàng trung ương giữ vai trò điều tiết, chi phối hệ thống ngân hàng thông qua các nghiệp vụ ngân hàng trung ương: nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở, nghiệp vụ ngoại hối, nghiệp vụ thanh toán qua hệ thống ngân hàng… Với tư cách là ngân hàng trung ương, NHNNVN thực hiện một số hoạt động sau đây:

- NHNNVN là ngân hàng độc quyền phát hành tiền

- Cấp tín dụng thông qua hình thức tái cấp vốn cho các TCTD thông qua hình thức tái cấp vốn, cho vay trong tình trạng khẩn cấp

Thứ tư, NHNNVN là một tổ chức có tư cách pháp nhân, có vốn pháp định

- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

Về vốn pháp định của NHNNVN: Nguồn vốn này do nhà nước trích từ ngân sách

nhà nước và chuyển giao quyền sử dụng cho NHNNVN Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 07/2006/NĐ-CP ngày 10/1/2006 của Chính phủ về chế độ tài chính đối với

10 Điều 26 Luật NHNN 2010

Trang 21

NHNNVN thì “Mức vốn pháp định của Ngân hàng Nhà nước là 5.000 (năm ngàn) tỷ đồng Việc thay đổi mức vốn pháp định này do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ

sở đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Bộ trưởng Bộ Tài chính”

Chế độ tài chính của NHNNVN mang tính độc lập: được quy định cụ thể tại

Nghị định số 07/2006/NĐ-CP ngày 10/1/2006 của Chính phủ về chế độ tài chính đối với NHNNVN

Thứ năm, mục tiêu hoạt động của NHNNVN là nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo

đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa11

Việc quy định vị trí pháp lý “hai trong một” theo pháp luật ngân hàng Việt Nam hiện hành có ảnh hưởng như thế nào đối với việc thực hiện hai chức năng này? So sánh

nó với Cục Dự trữ liên bang Mỹ FED, Ngân hàng trung ương Châu Âu và ngân hàng trung ương một số nước trên thế giới, từ đó rút ra những ưu điểm và nhược điểm của việc quy định này

2.2.2 1 Thực hiện chức năng ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương liên quan đến ba chức năng cơ bản, đó là phát hành tiền tệ, ngân hàng của các tổ chức tín dụng, và ngân hàng của Chính phủ Tuy nhiên, không phải

ngân hàng trung ương nào cũng mang đầy đủ ba chức năng này13

Ở phần lớn các nước, ngân hàng trung ương là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền tệ Ở một số nước khác, ngân hàng trung ương là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy, còn tiền kim loại với tư cách là tiền bổ trợ thì do Chính phủ phát hành Cục Dự trữ Liên bang- ngân hàng trung ương của Mỹ- không có chức năng phát hành tiền, thay vào đó là Bộ Tài chính đảm nhiệm chức năng này Cũng có thông tin cho rằng Chính phủ

Mỹ không có quyền phát hành đồng đô-la, mà là do Cục dự trữ Liên Bang

Trang 22

Ngân hàng trung ương thực hiện công việc tái chiết khấu các hối phiếu đối với các

tổ chức tín dụng, cấp vốn thông qua cho vay đối với các tổ chức này (đồng thời qua đây kiểm soát lãi suất) Ngân hàng trung ương còn mua và bán các giấy tờ có giá, qua đó điều tiết lượng vốn trên thị trường Ngân hàng trung ương có quyền yêu cầu các ngân hàng thương mại mở tài khoản tại chỗ mình và các ngân hàng phải gửi vào tài khoản của họ một lượng tiền nhất định Thông thường lượng tiền này được quy định tương đương với một tỷ lệ nào đó tiền gửi vào ngân hàng thương mại, gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc Trong trường hợp có tổ chức tín dụng gặp nguy cơ đổ vỡ làm ảnh hưởng đến cả hệ thống tài chính của quốc gia, ngân hàng trung ương sẽ tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng đó để cứu

nó Vì thế, ngân hàng trung ương được gọi là người cho vay cuối cùng (hay người cho vay cứu cánh)

Ở nhiều nước, ngân hàng trung ương là người quản lý tiền nong cho Chính phủ Chính phủ sẽ mở tài khoản giao dịch không lãi suất tại ngân hàng trung ương Tuy nhiên,

ở một số nước, chẳng hạn như ở Việt Nam, chức năng này do kho bạc đảm nhiệm Ngân hàng trung ương còn làm đại diện cho Chính phủ khi can thiệp vào thị trường ngoại hối Nội dung chức năng ngân hàng trung ương của NHNN Việt Nam:

- Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền giấy, tiền kim loại; thực hiện nghiệp

vụ phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu huỷ tiền giấy, tiền kim loại

- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với tổ chức tín dụng vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng, gồm mua cổ phần của tổ chức tín dụng; đình chỉ, tạm đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ người quản lý, người điều hành của tổ chức tín dụng; quyết định sáp nhập, hợp nhất, giải thể tổ chức tín dụng; đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với tổ chức tín dụng

- Làm đại lý và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước

- Tạm ứng cho NSNN theo quy định tại Điều 28 Luật NHNN 2010…

2.2 2.2 Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Trang 23

Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều

có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy14

Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa

nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định15

Quản lý nhà nước là tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại Tất

cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước Bằng pháp luật, Nhà nước

có thể trao quyền cho các tổ chức xã hội hoặc các cá nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước16

Quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng là tác động của NHNN tới các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ nhằm mục đích ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Chủ thể quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng: NHNN và các chi nhánh (thực hiện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được Thống đốc quy định)

- Đối tượng quản lý là các TCTD và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng

- Công cụ quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân là hệ thống pháp luật ngân hàng (xem cụ thể trên phần nguồn của pháp luật ngân hàng)

- Phương pháp quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng hành chính, giáo dục, thuyết phục, mệnh lệnh

- Nội dung quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng bao gồm:

15 Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam,

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 105 – 109

16Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: Luật hành

chính, Luật tố tụng hành chính, Luật quốc tế NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 95 – 96

Trang 24

+ Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

+ Xây dựng chiến lược phát triển ngành ngân hàng trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện

+ Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; tuyên truyền, phổ biến và kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng

+ Xây dựng chỉ tiêu lạm phát hằng năm để Chính phủ trình Quốc hội quyết định và

tổ chức thực hiện

+ Tổ chức, điều hành và phát triển thị trường tiền tệ

+ Tổ chức hệ thống thống kê, dự báo về tiền tệ và ngân hàng; công khai thông tin về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật

+ Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giấy phép thành lập văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cho các tổ chức không phải là ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng cho các tổ chức; chấp thuận việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và giải thể tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật

+ Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; được sử dụng vốn pháp định để góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

+ Kiểm tra, thanh tra, giám sát ngân hàng; xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật17

17Xem thêm Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 24/10/2004 của Chính phủ về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng và Nghị định số

95/2011/NĐ-CP ngày 20/10/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số

202/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Trang 25

+ Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng chính sách, kế hoạch và tổ chức thực hiện phòng, chống rửa tiền

+ Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi

+ Chủ trì lập, theo dõi, dự báo và phân tích kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế

+ Tổ chức, quản lý, giám sát hệ thống thanh toán quốc gia, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các ngân hàng; tham gia tổ chức và giám sát sự vận hành của các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế

+ Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng

+ Quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước

+ Quản lý việc vay, trả nợ, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài theo quy định của pháp luật

+ Chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan chuẩn bị nội dung, tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế với tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế mà Ngân hàng Nhà nước là đại diện và là đại diện chính thức của người vay quy định tại điều ước quốc tế theo phân công, uỷ quyền của Chủ tịch nước hoặc Chính phủ

+ Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về tiền tệ và ngân hàng

+ Đại diện cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức tiền

Trang 26

2.3 CƠ CẤU TỔ CHỨC, LÃNH ĐẠO VÀ ĐIỀU HÀNH NGÂN HÀNG NHÀ

2.3.1 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng nhà nước Việt Nam

NHNN được tổ chức thành hệ thống tập trung, thống nhất, gồm bộ máy điều hành

và các đơn vị hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị trực thuộc khác Cơ cấu tổ chức của NHNN do Chính phủ quy định19

Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước do Thống đốc NHNN quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật NHNN Thống đốc NHNN quyết định thành lập, chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện, các ban, hội đồng tư vấn về các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm

vụ của NHNN ước; quyết định thành lập, chấm dứt hoạt động theo thẩm quyền các đơn

vị trực thuộc NHNN hoạt động trong các lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng, nghiên cứu, thông tin, lý luận khoa học ngân hàng, cung cấp dịch vụ liên quan đến hoạt động kho quỹ, dịch vụ công nghệ tin học ngân hàng và thanh toán, dịch vụ thông tin tín dụng

2.3.2 Lãnh đạo, điều hành Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Thống đốc NHNN là thành viên của Chính phủ, là người đứng đầu và lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng Thống đốc NHNN có các nhiệm

vụ, quyền hạn sau đây:

i) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia theo thẩm quyền;

ii) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Luật NHNN và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

iii) Đại diện pháp nhân của Ngân hàng Nhà nước

Theo quy định của Nghị định 96/2008/NĐ-CP, những cơ quan sau đây là tổ chức giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng Trung ương:

18Điều 7,8,9 Luật NHNN 2010 và Nghị định 96/2008/NĐ-CP (26/8/2008) của Chính phủ

về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn , cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

19 Xem Cụ thể tại Nghị định 96/2008/NĐ-CP (26/8/2008) của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn , cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trang 27

- Các chi nhánh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh

Và những tổ chức sự nghiệp thuộc Ngân hàng Nhà nước bao gồm:

- Viện Chiến lược ngân hàng

- Trung tâm Thông tin tín dụng

- Thời báo Ngân hàng

20 Xem Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27/5/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc NHNNVN Theo đó, Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng được tổ chức lại trên cơ sở Thanh tra ngân hàng

Trang 28

- Tạp chí Ngân hàng

- Trường Bồi dưỡng cán bộ ngân hàng

Trang 29

CHƯƠNG 3

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG

NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Mục đích

- Giúp sinh viên phân biệt được nội dung hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng và hoạt động ngân hàng trung ương của NHNN Việt Nam cũng như nội dung liên quan đến hai hoạt động/chức năng của NHNN Việt Nam

- Giúp sinh viên nhận diện được nội dung hoạt động của NHNN Việt Nam, phân biệt hoạt động của NHNN Việt Nam so với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và các NHTM khác

Yêu cầu

- Sinh viên đọc trước tài liệu đã được giáo viên cung cấp;

- Nghiên cứu và trả lời những câu hỏi liên quan đến nội dung bài học;

- Nghe giảng và trả lời câu hỏi của giảng viên

Phương pháp: thuyết trình kết hợp với nêu vấn đề, hỏi, đáp…

Phương tiện và đồ dùng học tập: giáo án, bài giảng điện tử, máy Projector, phấn,

2 Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh, Tạp chí công nghệ ngân hàng,

Hoàn thiện Luật ngân hàng - những đòi hỏi từ hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lao động

xã hội, Hà Nội, 2007

3 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1996), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Quá

trình hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

4 TS Lê Vinh Danh, Tiền và hoạt động Ngân hàng, Nxb Giao thông Vận tải năm

2009

Trang 30

5 Viên Thế Giang (2011), Giám sát ngân hàng theo quy định của Luật Ngân hàng

Nhà nước năm 2010, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 3 năm 2011

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

- Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 112/2006/QĐ-TTG ngày 24/5/2006 về việc phê duyệt đề án phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

- Nghị định 96/2008/NĐ-CP (26/8/2008) của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

3.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ quốc gia

Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra

3.1.2 Thẩm quyền quyết định và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

- Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

- Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định trong việc đàm phán, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng

- Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ

3.1.3 Các công cụ, biện pháp của NHNN Việt Nam

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ

Trang 31

3.1.3.1 Công cụ tái cấp vốn

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng Ngân hàng Nhà nước quy định

và thực hiện việc tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức sau đây:

i) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;

ii) Chiết khấu giấy tờ có giá;

iii) Các hình thức tái cấp vốn khác

3.1.3.2 Công cụ lãi suất

John Maynard Keynes lập luận rằng lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền Cung tiền được xác định một cách ngoại sinh, cầu tiền phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi lãi suất là một hiện tượng thực tế, được xác định bởi

áp lực của năng suất - cầu về vốn cho mục đích đầu tư - và tiết kiệm

Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của

quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu Lợi tức là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự vận động của tín dụng và do bản chất của tín dụng quyết định Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được ở người đi vay trả cho việc sử dụng tiền vay Thực chất, lãi suất được biểu hiện bằng quan

hệ tỷ lệ giữa lợi tức tín dụng và tổng số tiền vay trong một thời gian nhất định21 Lãi suất

có ý nghĩa quan trọng không chỉ ở tầm vĩ mô mà ở cả tầm vi mô

Ở góc độ vĩ mô, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu quả của Chính

phủ thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, làm ảnh

hưởng đến nền kinh tế của 1 quốc gia

Ở góc độ vi mô, lãi suất là cơ sở để cho cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra các

quyết định của mình như chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm, đầu tư, mua sắm trang thiết

bị phục vụ sản xuất kinh doanh hay cho vay hoặc gửi tiền vào ngân hàng

21

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3i_su%E1%BA%A5t

Trang 32

Theo quy định của Luật NHNN, NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản

và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác

Hộp 1.1 Tác động của việc tăng lãi suất huy động vốn bằng USD

Thông tư số 09/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng USD của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng Theo Thông tư mới, các ngân hàng phải ấn định lãi suất huy động tối đa bằng USD của tổ chức (trừ tổ chức tín dụng) là 1%/năm Đối với lãi suất huy động vốn tối đa bằng

USD của cá nhân là 3,0%/năm Thông tư này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 13/4

Trong ngày 13/4, các ngân hàng thương mại (NHTM) đồng loạt điều chỉnh biểu lãi suất huy động USD mới Trong đó, lãi suất huy động USD đối với các cá nhân đa số được để ở mức trần đối với tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở lên, kỳ hạn qua đêm và kỳ hạn tính theo tuần lãi suất dao động từ 0,5%/năm đến 1,5%/năm

Tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB), ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeaBank)… cùng áp dụng lãi suất USD ở mức 3%/năm cho tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở lên Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) áp dụng lãi suất huy động tiết kiệm thông thường 2,95%/năm cho các kỳ hạn dưới 1 năm, kỳ hạn 13 tháng, 24 tháng và 36 tháng lĩnh lãi cuối kỳ áp dụng mức 3%/năm; đối với tiết kiệm lãi suất thả nổi USD kỳ hạn 36 tháng; mức 3%/năm được áp dụng cho mọi trường hợp với kỳ lĩnh lãi từ 1 – 12 tháng

Trong khi đó, tại VietABank, lãi suất huy động USD không kỳ hạn là 1%/năm, các

kỳ hạn từ 1 tháng – 12 tháng là 3%/năm, 15 tháng -36 tháng là 2,5%/năm Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), lãi suất huy động USD kỳ hạn từ 1 tháng trở lên dao động trong khoảng từ 2,7%/năm đến 2,9%/năm Riêng sản phẩm “Tiết kiệm chọn kỳ lãnh lãi” - kỳ hạn 36 tháng áp dụng mức lãi suất 3,0%/năm Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) cũng điều chỉnh mức lãi suất huy động USD, trong đó, lãi suất huy động tối đa 3%/năm được áp dụng đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến 5 tháng Các kỳ hạn từ 1 tuần tới 3 tuần được hưởng mức lãi suất 1,5%/năm đến 2,5%/năm, hình thức lĩnh lãi cuối kỳ

Trang 33

Nhiều khách hàng cá nhân đã chọn cách gửi VND thay vì USD như trước do thấy lợi nhuận hơn hẳn Chị Lan Hương, ở Hàng Bạc, Hà Nội tính: “Với mức lãi như hiện nay, gửi 100 triệu đồng với kỳ hạn 3 tháng, cuối kỳ người gửi có gần 3,6 triệu đồng tiền lãi Nếu gửi 5.000 USD (tương đương 100 triệu đồng) thì sau 3 tháng chỉ được 37,5 USD (khoảng hơn 750.000 đồng) Nếu cộng thêm yếu tố tỷ giá được điều chỉnh thì rõ ràng thời điểm này, và kể cả trong ngắn hạn gửi tiết kiệm bằng VND sẽ có lợi hơn”

Chị Hương cũng tiết lộ, bên cạnh việc chuyển số ngoại tệ sang VND gửi tiết kiệm, chị cũng giữ lại một khoản ngoại tệ nhất định để dự phòng cho những kế hoạch khác Chị nói: “Hiện tại, về ngắn hạn thì lãi suất USD đang thấp, gửi VND có lợi hơn, nhưng về trung hạn, độ an toàn của USD vẫn cao do lạm phát trong nước ít ảnh hưởng đến USD” http://dantri.com.vn/c76/s76-472781/gui-tiet-kiem-usd-dang-giam-suc-hap-dan.htm

3.1.3.3 T ỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác22

Hộp 1.2 Bất cập của chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối

TS Võ Trí Thành – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, chính sách điều hành tỷ giá của NHNN từ xưa đến nay hơi bảo thủ Điều này có lợi cho đầu những năm 2000 vì mình neo vào đồng USD, mà USD mất giá nên tốt cho thị trường không gây lạm phát, ổn định cho xuất khẩu Nhưng bảo thủ ấy làm cho điều hành hơi cứng nhắc, đáng lẽ năm nay điều chỉnh tỷ giá mạnh mẽ hơn, tốt hơn là vào tháng 3, còn bây giờ thì hơi muộn TS Võ Trí Thành thẳng thắn khẳng định: “Chế độ tỷ giá của

Trang 34

Việt Nam có vấn đề và thị trường Việt Nam đầu cơ quá phân khúc” (tiền của dân gửi mà không thể trực tiếp cho vay hay bán được,…)”

Theo lý giải của ông Thành, nguyên nhân đầu tiên khiến việc điều hành tỷ giá “méo mó” như thời gian qua là do sự cam kết của NHNN Ngân hàng càng cam kết thì thị trường càng không tin, đầu tiên là hệ thống NHTM “Cái dở là cam kết nhưng lại thiếu minh bạch thông tin (dự trữ, cán cân thanh toán quốc tế… người dân, doanh nghiệp cần những thông tin này nhưng mỗi ông nói một câu, ông thì đưa ra thông tin lượng kiều hối giảm, ông thì đưa ra FDI giảm… mà không có thông tin tổng thể) Sau một lần duy nhất NHNN công bố thông tin dự trữ ngoại tệ thì nay không thấy công bố nữa” – ông Thành nói

Ông Lê Xuân Nghĩa – Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn tiền tệ quốc gia, cho rằng, dù

có những ý kiến khác nhau nhưng có thể nói, điều hành tỷ giá trong 10 tháng qua của NHNN rất thành công, đảm bảo sự ổn định thị trường ngoại hối Tuy nhiên, vẫn có một

số thời điểm chúng ta gặp áp lực, cung cầu ngoại tệ gặp khó khăn Vì cán cân thanh toán

10 tháng qua và của cả năm 2009 có chiều hướng xấu đi, luồng vốn vào có sự sụt giảm so với năm 2008, đặc biệt là FDI và xuất khẩu có sự sụt giảm khoảng 10%, khiến nguồn cung ngoại tệ giảm

Mặt khác, theo ông Nghĩa, căng thẳng trên thị trường ngoại tệ một phần do tình trạng đầu cơ găm giữ ngoại tệ Người dân, DN có ngoại tệ chỉ nắm giữ, hoặc gửi NH nhưng không bán cho NH, nên NH thừa ngoại tệ để cho vay nhưng thiếu ngoại tệ để bán cho đối tượng có nhu cầu Bên cạnh đó, chúng ta thiếu công cụ phòng ngừa rủi ro dẫn đến quản lý thị trường ngoại hối cũng có những hạn chế nhất định trong việc chuyển đổi tiền tệ, kiểm soát chênh lệch kỳ hạn

Nguồn: hoi/200911/126635.vov

http://vovnews.vn/Home/Bat-cap-chinh-sach-ty-gia-va-quan-ly-ngoai-3 1.3.4 Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Ngân hàng Nhà nước quy định việc trả lãi đối với

Trang 35

tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của từng loại hình tổ chức tín dụng đối với từng loại tiền gửi

3.1.3.5 Nghiệp vụ thị trường mở

Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng Ngân hàng Nhà nước quy định loại giấy tờ có giá được phép giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở

3.2.1 Các hoạt động mang tính nghiệp vụ

3.2.1.1 Đơn vị tiền và chất liệu của đồng tiền

Đơn vị tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là "Đồng", ký hiệu quốc gia là "đ", ký hiệu quốc tế là "VND", một đồng bằng mười hào, một hào bằng mười xu Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy, tiền kim loại của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước bảo đảm cung ứng đủ số lượng và cơ cấu tiền giấy, tiền kim loại cho nền kinh tế Tiền giấy, tiền kim loại phát hành vào lưu thông là tài sản "Nợ" đối với nền kinh tế và được cân đối bằng tài sản "Có" của Ngân hàng Nhà nước

3.2.1 2 Thiết kế, in, đúc, bảo quản, vận chuyển, phát hành tiền vào lưu thông, tiêu huỷ tiền

Ngân hàng Nhà nước thiết kế mệnh giá, kích thước, trọng lượng, hình vẽ, hoa văn

và các đặc điểm khác của tiền trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện việc in, đúc, bảo quản, vận chuyển, phát hành tiền vào lưu thông, tiêu huỷ tiền

3.2.1 3 Xử lý tiền rách nát, hư hỏng

Ngân hàng Nhà nước quy định tiêu chuẩn phân loại tiền rách nát, hư hỏng; đổi, thu hồi các loại tiền rách nát, hư hỏng do quá trình lưu thông; không đổi những đồng tiền rách nát, hư hỏng do hành vi huỷ hoại

3.2.1 4 Thu hồi, thay thế tiền

Trang 36

Ngân hàng Nhà nước thu hồi và rút khỏi lưu thông các loại tiền không còn thích hợp và phát hành các loại tiền khác thay thế Các loại tiền thu hồi được đổi lấy các loại tiền khác với giá trị tương đương trong thời hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định Sau thời hạn thu hồi, các loại tiền thuộc diện thu hồi không còn giá trị lưu hành

Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện việc thiết kế, in, đúc, bán ở trong nước và nước ngoài các loại tiền mẫu, tiền lưu niệm phục vụ cho mục đích sưu tập hoặc mục đích khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

3.2.1 5 Các hành vi bị cấm

- Làm tiền giả; vận chuyển, tàng trữ, lưu hành tiền giả

- Huỷ hoại đồng tiền trái pháp luật

- Từ chối nhận, lưu hành đồng tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông do Ngân hàng Nhà nước phát hành

- Các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật

3.2.2 Các nguyên tắc phát hành tiền: Theo quy định pháp luật hiện hành

3.2.3 Các kênh phát hành tiền: Nghiên cứu thêm

3.3.1 Hoạt động cho vay của NHNN

Ngân hàng Nhà nước cho tổ chức tín dụng vay ngắn hạn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 11 của Luật NHNN Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng trong các trường hợp sau đây:

i) Tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe doạ sự ổn định của

hệ thống các tổ chức tín dụng;

ii) Tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả do sự cố nghiêm trọng khác Ngân hàng Nhà nước không cho vay đối với cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 24 Luật NHNN

3.3.2 Hoạt động bảo lãnh

Trang 37

Ngân hàng Nhà nước không bảo lãnh cho tổ chức, cá nhân vay vốn, trừ trường hợp bảo lãnh cho tổ chức tín dụng vay vốn nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

3.3.3 Tạm ứng cho ngân sách nhà nước

Ngân hàng Nhà nước tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Khoản tạm ứng này phải được hoàn trả trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định

3.4.1 Hoạt động mở tài khoản, quản lý tài khoản và cung ứng các dịch vụ thanh toán

Ngân hàng Nhà nước được mở tài khoản và thực hiện giao dịch trên tài khoản ở ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ, ngân hàng quốc tế Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản và thực hiện giao dịch cho tổ chức tín dụng Kho bạc Nhà nước mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không có chi nhánh của Ngân hàng Nhà nước, việc thực hiện các giao dịch cho Kho bạc Nhà nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước tổ chức, quản lý, vận hành, giám sát hệ thống thanh toán quốc gia Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc quản lý các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế

Ngân hàng Nhà nước cung ứng dịch vụ ngân quỹ thông qua việc thu, chi tiền cho chủ tài khoản, vận chuyển, kiểm đếm, phân loại và xử lý tiền trong lưu thông

3.4.2 Quản lý nhà nước về ngoại hối và hoạt động ngoại hối

3.4.2 1 Khái niệm

Ngoại hối bao gồm:

i) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ);

ii) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;

Trang 38

iii) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công

ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;

iv) Vàng thuộc Dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người

cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;

v) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế

Hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong các

giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối

Dự trữ ngoại hối nhà nước là tài sản bằng ngoại hối được thể hiện trong Bảng cân

đối tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước

3.4.2 2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối

- Quản lý ngoại hối và sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật

- Tổ chức và phát triển thị trường ngoại tệ

- Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối cho tổ chức tín dụng, các tổ chức khác

có hoạt động ngoại hối

- Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định biện pháp hạn chế giao dịch ngoại hối để bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia

- Tổ chức, quản lý, tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

- Nhiệm vụ, quyền hạn khác về quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối theo quy định của pháp luật

3.4.2 3 Quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước

Dự trữ ngoại hối nhà nước bao gồm:

- Ngoại tệ tiền mặt, tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài;

Trang 39

- Chứng khoán, giấy tờ có giá khác bằng ngoại tệ do Chính phủ, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế phát hành;

- Quyền rút vốn đặc biệt, dự trữ tại Quỹ tiền tệ quốc tế;

- Vàng do Ngân hàng Nhà nước quản lý;

- Các loại ngoại hối khác của Nhà nước

- Ngân hàng Nhà nước quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước theo quy định của pháp luật về ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế và bảo toàn Dự trữ ngoại hối nhà nước Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sử dụng Dự trữ ngoại hối nhà nước cho nhu cầu đột xuất, cấp bách của Nhà nước; trường hợp sử dụng Dự trữ ngoại hối nhà nước dẫn đến thay đổi dự toán ngân sách thì thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước

Ngân hàng Nhà nước báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo định kỳ và đột xuất về quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước Bộ Tài chính kiểm tra việc quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước do Ngân hàng Nhà nước thực hiện theo quy định của Chính phủ

3.4.2 4 Hoạt động ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc mua, bán ngoại hối trên thị trường trong nước

vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia; mua, bán ngoại hối trên thị trường quốc tế và thực hiện giao dịch ngoại hối khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

Thủ tướng Chính phủ quy định mức ngoại tệ Bộ Tài chính được giữ lại từ nguồn thu ngân sách để chi các khoản chi ngoại tệ thường xuyên của ngân sách nhà nước Số ngoại

tệ còn lại Bộ Tài chính bán cho Dự trữ ngoại hối nhà nước tập trung tại Ngân hàng Nhà nước

3.4.3 Thanh tra, ki ểm soát, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và

ho ạt động ngân hàng24

3.4.3 1 Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng

24Xem thêm, Viên Thế Giang, Đổi mới hệ thống giám sát tài chính đáp ứng yêu cầu phát

triển thị trường tài chính Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Chính sách tài khóa,

chính sách tiền tệ và phát triển thị trường tài chính Việt Nam” do trường Đại học Kinh tế

- Luật Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 23 tháng 04 năm 2011

Trang 40

Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giám sát ngân hàng, phòng, chống rửa tiền

3.4.3.2 Mục đích thanh tra, giám sát ngân hàng

Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng

3.4.3.3 Nguyên tắc thanh tra, giám sát ngân hàng

- Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng

- Kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng

- Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc thanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động của tổ chức tín dụng

- Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về thanh tra, giám sát ngân hàng của Luật này với quy định của luật khác thì thực hiện theo quy định của Luật này

- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trình tự, thủ tục thanh tra, giám sát ngân hàng

3.4.3 4 Thanh tra ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước thanh tra các đối tượng sau đây:

- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng;

Ngày đăng: 14/11/2022, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN