PHOØNG GD ÑT NINH PHÖÔÙC * Một số giải pháp giúp học sinh có hứng thú học tốt môn Tâp làm văn lớp 4* PHÒNG GD ĐT NINH PHƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TIỂU HỌC TỪ TÂM 1 Độc Lập – Tự Do[.]
Trang 1PHÒNG GD-ĐT NINH PHƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- o O o - - o O o
-MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH CÓ HỨNG THÚ HỌC TỐT
để trình bày vấn đề được đặt ra theo tình cảm ,tư tưởng cách nhìn, cách nghĩ củachính mình Do đó, qua bài Tập làm văn, ta có thể thấy được tình cảm và thái độcủa học sinh đối với các sự vật và hiện tượng Đồng thời, ta cũng thấy được nănglực vận dụng ngôn ngữ của các em qua cách dùng từ, đặt câu Chính vì vậy màhiệu quả của các phân môn (Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập đọc) đềuthể hiện đầy đủ và rõ ràng qua phân môn Tập làm văn Để việc học tốt tiết Tậplàm văn và đem lại kết quả cao, người giáo viên cần phải có cách tổ chức tiết học
để tạo cho học sinh sự thoải mái, niềm hứng thú thái độ tự giác tham gia vàohoạt động cùng bạn bè một cách tích cực
Trang 2Mục tiêu giáo dục hiện nay là phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạocủa học sinh Lứa tuổi của các em còn đang thích chơi hơn thích học Bởi vậy,muốn đạt được kết quả tốt trong việc dạy học môn Tập làm văn đòi hỏi ngườigiáo viên phải luôn tìm tòi, nghiên cứu để đưa ra phương pháp dạy học phù hợpcho mỗi bài học, đặc biệt là gây cho các em hứng thú học tập Học tốt phân mônnày, học sinh sẽ có cơ sở tiếp thu và diễn đạt các môn học khác trong chươngtrình, các em sẽ có suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng và khoa học, có khảnăng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, cảm thụ được cái hay,cái đẹp của cuộc sống và tiếng mẹ đẻ, bồi dưỡng năng khiếu thẩm mỹ cho các
em và giúp các em phát triển năng lực trí tuệ, rèn luyện các thao tác tư duy Tưduy có phát triển thì ngôn ngữ mới phát triển Và ngược lại, ngôn ngữ càng pháttriển thì càng tạo cho tư duy phát triển nhanh hơn Do vậy ngôn ngữ càng hoànhảo, càng giúp cho việc diễn đạt tư tưởng tình cảm thêm chính xác, giúp khảnăng nhận xét thêm sâu sắc, có khả năng trình bày được rõ ràng, chính xácnhững ý nghĩa và tình cảm của mình Nhưng làm thế nào để đạt được kết quảtrên khi học sinh chưa say mê, yêu thích môn học này, bởi nó là môn học đòi hỏi
sự sáng tạo của học sinh, nên các em cần phải được hướng dẫn thực hành thường
xuyên
3/ Cơ sở thực tiễn:
(Hình ảnh Trường TH Từ Tâm 1)
Trang 3Từ khi được chuyển về trường Tiểu học Từ Tâm 1 công tác đến nay, tôiluôn được phân công phụ trách lớp 4 Qua tìm hiểu và theo dõi kết quả khảo sátcác năm cho thấy tỉ lệ học sinh yếu môn Tập làm văn còn nhiều với các nguyênnhân sau:
- Học sinh trường tiểu học Từ Tâm 1 đa phần là con gia đình nghèo,vì nơiđây quanh năm lũ lụt và hạn hán nên đời sống hết sức khó khăn Cha mẹ lo làm
ăn kiếm sống nên ít quan tâm đến việc học của con em,chỉ khoáng trắng chotrường ,hơn nữa trình độ các em chỉ có hạn
- Trong giờ học các em ít chú ý nghe giảng bài
- Các em chưa thích học, vì môn Tập làm văn đòi hỏi sự sáng tạo, sử dụngvốn từ ngữ phong phú mà vốn từ của các em thì hạn chế nên việc trình bày bàiviết, sự diễn đạt của các em gặp nhiều khó khăn, lúng túng
- Các em chưa chuẩn bị bài học ở nhà hợp lí
- Giáo viên chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học và tổ chức nội dunghoạt động học tập gây hứng thú
Bên cạnh đó, cũng có một số em học rất tốt môn Tập làm văn nhưng chưabiết cách sử dụng các từ ngữ như thế nào để làm cho bài văn thêm sinh động,giàu hình ảnh, giàu cảm súc, thể hiện tình cảm của mình một cách chính xác vìvốn từ ngữ của các em còn hạn chế Chính điều đó đã làm cho tôi cảm thấy bứcxúc, trăn trở, phải suy nghĩ làm thế nào để các em có hứng thú trong học tập,nhất là đối với môn Tập làm văn Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề
tài “Một số giải pháp giúp học sinh có hứng thú học tốt môn Tập làm văn
lớp 4” để áp dụng vào việc giảng dạy nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức
một cách tự giác và gây sự hứng thú cho các em trong giờ học môn Tập làm văn
II/ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP:
Đối với học sinh lớp 4, phân môn tập làm văn quả là khó khăn đối với các
em Bởi lẽ, đây là môn học đòi hỏi sự sáng tạo, cho nên người giáo viên cần phát
Trang 4đề, hướng dẫn tìm hiểu đề, hướng dẫn làm bài cho đến khâu chấm bài,trả bài Đểlàm được việc này, người giáo viên vô cùng khó khăn vì trong thực tế học sinhrất sợ học phân môn này Ở lớp 2, 3 những bài tập làm văn hầu hết đều đượcmang tính chất ôn tập về những bài văn đã học, và chủ yếu vẫn còn ở dạng bàitập đặt câu Đến cuối lớp 3, các em mới biết trả lời câu hỏi thành bài dựa vào nộidung bài tập đọc Nói chung chưa có những bài dạng sáng tạo Nhưng lên lớp 4,các em phải độc lập suy nghĩ, hoàn toàn sáng tạo nên các em không biết phải làm
gì, viết gì nếu không được hướng dẫn cặn kẽ, chu đáo dẫn đến các em sợ sệt ,chán nản, thiếu tự tin khi tham gia vào các họat động của tiết học Một số giáoviên còn vội trong việc truyền thụ kiến thức, xem nhẹ thực hành nên học sinhthiếu chủ động và nếu giáo viên chỉ thực hành bằng bài tập ở sách giáo khoa sẽgây cho học sinh sự nhàm chán, mệt mỏi dẫn đến các em không còn yêu thíchphân môn Tập làm văn này.Trong giờ học môn Tập làm văn, nếu một học sinhkhông say mê, không thích thú thì ta có khổ công luyện tập cũng không đạt đượckết quả Để giúp học sinh có được sự hứng thú trong các giờ học, tôi đã thực
hiện các giải pháp cụ thể như sau:
Giải pháp thứ nhất: Tích hợp các phân môn của môn Tiếng Việt trong dạy môn Tập làm văn :
Để học được phân môn Tập làm văn học sinh phải thu thập những kiến thức
từ các phân môn khác như Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu
Tập đọc lớp 4 có nhiều kiểu văn bản như: Nghệ thuật, báo chí, khoa học …điều này giúp cho học sinh hiểu biết nhiều thể loại văn bản Đặc biệt hàng loạtcác bài tập đọc là các bài văn mẫu để làm ngữ liệu cho từng thể loại văn đượcdạy trong chương tập làm văn lớp 4 Những bài tập đọc mang phong cách nghệ
thuật chiếm tỷ lệ cao trong chương trình Tập đọc 4 như : Chú Đất Nung, Cánh diều tuổi thơ (miêu tả đồ vật) ; Sầu riêng, Hoa học trò ( miêu tả cây cối ) ; Con
Sẻ, Con chuồn chuồn nớc, Con chim chiền chiện ( miêu tả con vật ) Qua những
bài Tập đọc này, giáo viên cần hướng dẫn để học sinh hiểu về cấu tạo của một
Trang 5bài văn miêu tả, cách quan sát các sự vật, cách dùng từ ngữ, câu và cách sử dụngnghệ thuật trong khi viết văn miêu tả
Ví dụ : Bài tập đọc : Con chuồn chuồn nước Khi dạy bài này giáo viên cần
giúp học sinh nhận thấy : Qua cách tả từ bao quát đến chi tiết ( Ôi chao ! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao ! Màu vàng trên lưng chú lấp lánh Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh.
Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu), cách sử dụng từ
láy, từ ngữ giàu hình ảnh, tác giả đã ca ngợi được vẻ đẹp sinh động của chúchuồn chuồn nước, cảnh đẹp của thiên nhiên, đất nước theo cánh bay của chúchuồn chuồn, qua đó bộc lộ tình cảm của tác giả đối với đất nước, quê hương
Mặt khác cũng qua bài dạy giáo viên cho học sinh thấy được khi miêu tả con vậtcác em cần tả xen kẽ cả tả cảnh và bộc lộ cảm xúc của mình đối với con vật màmình tả thì bài văn mới sinh động, hấp dẫn
Qua việc tìm hiểu bài tập đọc : Thư thăm bạn, giáo viên giúp học sinh thấy
rõ các phần của một bức thư, cách trình bày lá thư và dùng từ ngữ xưng hô thểhiện được quan hệ tình cảm của người viết với người nhận thư Đây là yếu tốquan trọng giúp các em học tốt thể loại văn viết thư
Các bài tập đọc : Thưa chuyện với mẹ, ở Vương quốc Tương Lai, Ông Trạng thả diều là tư liệu cần thiết cho việc dạy thể loại tập làm văn Trao đổi ý kiến với
người thân
Môn chính tả : Nội dung bài viết chính tả là các văn bản được chọn trongbài Tập đọc ( có thể là một đoạn văn hay một đoạn thơ ), những văn bản chọnngoài ( thường xoay quanh chủ đề bài học ) Phân môn Chính tả rèn cho học sinhcách nghe và viết đúng chính tả (Tiếng Việt nếu viết sai chính tả sẽ đẫn đến sainghĩa của câu) Qua việc viết chính tả học sinh học tập được cách sử dụng từngữ, cách sử dụng các dấu câu như thế nào để bài văn sinh động Ngoài ra khiviết chính tả học sinh còn học tập được cách trình bày bài văn một cách khoa học
Trang 6Phân môn kể chuyện:Học sinh được học kể lại câu chuyện vừa nghe thầy
cô kể trên lớp, kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc hay những câu chuyện đượcchứng kiến hoặc tham gia Phân môn Kể chuyện có tác dụng thực sự trong việcrèn kỹ năng nói cho học sinh Kỹ năng luyện nói của học sinh là một kỹ năng hếtsức quan trọng của phân môn Tập làm văn lớp 4, vì cả chương trình của phânmôn Tập làm văn chỉ có 5 bài viết hoàn chỉnh còn chủ yếu là nói và viết đoạn
Do đó khi dạy kể chuyện giáo viên cần phải tổ chức để cho tất cả học sinh đềuđược tham gia kể dưới mọi hình thức như cá nhân hoặc nhóm
Phân môn luyện từ và câu: Muốn làm được bài văn thì học sinh phải cóvốn từ, phải biết cách sử dụng từ và câu Nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Luyện
từ và câu là cung cấp vốn từ, cách sử dụng từ và câu trong Tiếng Việt Do đó cóthể nói phân môn Luyện từ và câu có tác dụng hỗ trợ rất đắc lực cho phân mônTập làm văn Để học sinh có vốn từ phong phú và sử dụng vốn từ có hiệu quả thìkhi dạy phân môn Luyện từ và câu, giáo viên phải biết cách tổ chức để học sinhtích cực tham gia vào việc tự tìm từ trong các tiết mở rộng vốn từ, cách xác địnhcác từ loại như : từ đơn, từ ghép, từ láy, danh từ, và thực hành đặt câu, cách sửdụng dấu câu,.v.v
Giải pháp thứ hai: Hướng dẫn học sinh quan sát và tìm ý cho bài văn miêu tả:
Học sinh thiếu vốn từ, vốn hiểu biết thì nói sẽ lúng túng không nên lời, viếtthì lủng củng không thành câu Do vậy, tôi thường hướng dẫn học sinh cáchquan sát và tìm ý cho bài làm văn của mình Đối với kiểu bài miêu tả, quan sát là
cơ sở để tìm ý Muốn vậy, người giáo viên phải nghiên cứu trước chương trình
để có kế hoạch hướng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối tượng cần miêu tả, việcquan sát cũng có khi tiến hành trên lớp, cũng có khi tiến hành ngoài lớp ( trướckhi đến lớp ) Để quan sát có chất lượng giáo viên cần hướng dẫn các em quansát theo trình tự nhất định (từ chung tới riêng, từ trong ra ngoài, từ xa tới gần hay
Trang 7ngược lại ) và quan sát bằng nhiều giác quan rồi ghi chép lại những chi tiết đặcsắc theo phần gợi ý của sách giáo khoa, nhờ đó mà bài văn của các em trở nên sinh động, mới mẻ hơn
Ví dụ 1: Tuần 15 ( Tiết 30 ): Quan sát đồ vật
Giáo viên có thể cho học sinh quan sát ở nhà và ghi chép lại hoặc có thể dặnhọc sinh, mỗi em mang một thứ đồ chơi em thích nhất đến lớp
Giáo viên hình thành khái niệm bài học cho học sinh bằng cách:
Cho học sinh đọc gợi ý ở phần nhận xét 1 ( sách giáo khoa trang 153, 154 )
Học sinh vừa quan sát vừa ghi chép lại ý quan sát được, sau đó sắp xếp các ý đểtạo thành một dàn ý tả đồ chơi mà em đã chọn Ví dụ về 1 dàn ý:
1 Mở bài: - Giới thiệu đồ chơi mà em thích nhất là gấu bông
2 Thân bài: - Hình dáng bên ngoài: gấu bông không to, gấu đang ngồi,
dáng tròn
- Bộ lông màu trắng mịn như bông
- Hai mắt: đen láy, rất thông minh
- Mũi: nhỏ, màu đỏ mới ngộ nghĩnh
- Trên cổ: thắt 1 cái nơ màu đỏ chói
- Tay, chân: đang để về phía trước như tập thể dục
3 Kết luận: Em rất yêu gấu bông, ôm gấu bông em rất thích.
Từ dàn ý vừa lập được, học sinh phát triển mỗi ý thành đoạn văn có lồngcảm xúc của mình
Ví dụ 2 : Tuần 22 : Luyện tập quan sát cây cối.
Bài tập 2: Quan sát một cây mà em thích trong khu vực trường em ( hoặc
nơi em ở) và ghi lại những gì em quan sát được Chú ý kiểm tra xem:
a) Trình tự quan sát của em có hợp lý không?
b) Em đã quan sát bằng những giác quan nào ? c) Cái cây em quan sát có gì khác với những cây khác cùng loài?
Trang 8Dạy bài này, giáo viên phải định hướng cho học sinh quan sát trước một cây mà
em thích (cây bóng mát, cây ăn quả cây hoa, cây cảnh, ) và ghi chép ý quansát được vào nháp Đến lớp, giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào yêu cầu bàitập, sắp xếp các chi tiết đã quan sát được thành một dàn ý chi tiết Ví dụ về mộtdàn ý tả cây bóng mát
1 Mở bài: - Giới thiệu cây muốn tả : Cây phượng ở giữa sân trường.
2 Thân bài: - Tả bao quát : Cây đứng sừng sững như một chiếc ô khổng lồ.
- Tả từng bộ phận : + Gốc : to, rễ trồi lên mặt đất
+ Thân: ôm kín vòng tay, màu nâu, hơi sù xì, có nhiều chỗ trai cục
+ Tán lá : xoè rộng, che rợp góc sân Lá nhỏ, xếp đều nhau
+ Hoa : đỏ rực, cánh hoa như cánh bướm
3 Kết bài : Cảm nhận của em về cây phượng : Mỗi khi hè đến, em lại thấy xao
xuyến, bâng khuâng
Như vậy : Quan sát, tìm ý, xây dựng đoạn là việc làm hết sức cần thiết cho
việc dạy thể loại văn miêu tả Đồng thời nó cũng giúp học sinh có sự chuẩn bị trước cho bài văn của mình, làm cho các em cảm thấy tự tin hơn trong giờ học
và cảm thấy hứng thú hơn khi bài làm của mình được hoàn thiện hơn khi được giáo viên hướng dẫn thông qua bước lập dàn ý của mình.
Giải pháp thứ ba: Hướng dẫn viết đoạn văn
- Đây là dạng bài nòng cốt trong môn tập làm văn Nó đòi hỏi ở người họcsinh vốn sống hàng ngày, vốn từ phong phú, đôi mắt quan sát tinh tường, óctưởng tượng sáng tạo nghệ thuật Bởi vậy, khi dạy dạng bài này giáo viên cầnnắm rõ tâm lý lứa tuổi học sinh Ở lứa tuổi này học sinh nhìn nhận sự vật thếnào? Tính tình của từng học sinh ra sao? Có em rất tỉ mỉ quan sát, có em rất hờihợt qua loa Nên phải nhấn mạnh khi em muốn tả bất cứ cái gì thì các em phảihiểu rõ về cái đó Em phải tìm hiểu thông tin về cái đó Có thể hỏi bạn bè, giađình, thầy cô hay quan sát thực tế qua môn Tự nhiên xã hội, qua đọc sách, đọc
Trang 9báo, …Để phát huy tính tích cực, gây hứng thú cho học sinh trong giờ học giáoviên cần phối hợp nhiều phương pháp và hình thức dạy sao cho bảo đảm với mụctiêu
- Để các em có thể làm được một bài văn tốt, các em phải có vốn từ ngữphong phú Mà vốn từ đó, có em tích lũy khá nhiều nhưng chưa biết vận dụng
Có em thì có rất ít hoặc chưa hề có Bởi vậy, giáo viên chính là người cungcấp.Mà cung cấp ở đâu? Tôi nghĩ trong các bài tập đọc có khá nhiều Mỗi chủ đềcủa môn Tiếng Việt thì môn tập đọc đều có những bài văn, bài thơ nói về chủ để
đó
- Trong các tiết dạy, giáo viên nên tập cho học sinh trả lời thành câu đủ ý vàchú ý đến những bài tập đọc có liên quan đến tiết tập làm văn Từ đó học sinh cóthể rút ra những câu văn hay, từ ngữ đẹp và ghi nhớ sau này vận dụng
Ví dụ : Qua bài Chú Đất Nung học sinh rút ra được đoạn văn tả về nàng
công chúa và chàng kị sĩ trong bài “Đó là một chàng kị sĩ rất bảnh, cưỡi ngựa
tía, dây cương vàng và một nàng công chúa mặt trắng, ngồi trong mái lầu son”
- Tạo cho các em thói quen làm văn phải có bố cục 3 phần : mở bài (giới thiệu),thân bài (nội dung), kết bài (tình cảm) và lập sơ đồ trước khi làm tập làm văn
Tôi xin gợi ý một cách lập sơ đồ tư duy thông qua một trò chơi “em và chú gà”
như sau :
Ví dụ : Khi tả một chú gà, giáo viên cho hai em lên sắm vai, một em là
“chú gà”, một em là “người tả” Cùng lúc đó, giáo viên cho học sinh vẽ sơ đồtrên vở nháp
“Người tả” sẽ nói một câu để giới thiệu chú gà “nhà em có nuôi một
chú gà”
Còn “chú gà” thì vừa nói vừa diễn tà : “tôi có bộ lông nhiều màu sắc.
Tôi có cái mào trên đầu Tôi gáy rất to …”
Trang 10 Người tả lúc này nói về tình cảm của mình đối với chú gà : “Em thường
rải thóc cho gà ăn …”
Hoặc có thể tinh giảm em “người tả” chỉ cần một em sắm vai “chú gà”
- Sau khi nghe tả và quan sát xong các em thành lập ra một sơ đồ tư duy như sau
- Từ đó các em đã nắm được đặc điểm của con vật cần tả mà phát triểnthành một đoạn văn Hoặc ta có thể cho em hình thành một đoạn văn qua tròchơi “tiếp sức”
- Từ sơ đồ tư duy đã thành lập ở trên, giáo viên yêu cầu học sinh tạo thànhcâu, cứ thế nối tiếp nhau thành lập thành đoạn văn Có thể câu văn lúc ấy cònlủng củng, chưa hay nhưng ta có thể sửa chữa
Ví dụ : Sau khi thành lập sơ đồ tư duy, có thể các em sẽ thành lập một
đoạn văn như sau : “Nhà em có nuôi một chú gà Nó có bộ lông màu đỏ tía.
Nó gáy rất to Em rất yêu nó” Giáo viên có thể khuyến khích học sinh là “em
làm đúng nhưng chưa hay Từ những ý tưởng ban đầu của em, chúng ta sẽ hình
thành một đoạn văn hay hơn nhé : “Chú gà trống nhà em trông mới oai vệ làm
sao ! Toàn thân nó phủ một lớp lông vũ màu đỏ tía Sáng sáng, trống tía nhảy tót lên ụ rơm đầu hè mà rướn cổ gáy vang ò ó o Mỗi khi đi học về, em thường rải cho nó một ít thóc và vuốt ve cái đuôi dài, cong cong của nó” Khi
Trang 11đó, học sinh sẽ thấy được vẫn là ý tưởng cũ nhưng đoạn văn đã được biến đổi,thêm thắt những từ ngữ trau chuốt hơn làm cho đoạn văn đẹp hơn, nghệ thuậthơn
- Giáo viên có thể sưu tầm những bài văn hay, đoạn văn hay và đọc cho họcsinh nghe để học sinh học hỏi Trưng bày những bài văn hay của các bạn tronglớp để các em noi gương Tập ghi chép những từ hay, ý đẹp khi bắt gặp ở đâu đóvào một quyển từ điển riêng của mình Từ đó, vốn từ của các em sẽ ngày càngnhiều, càng phong phú
Giải pháp thứ tư: Hướng dẫn học sinh viết thành bài văn hoàn chỉnh
Đây là khâu quan trọng nhất và cũng là khâu khó nhất Trên cơ sở dàn bài
đã có, các em viết thành câu, đoạn và thành bài hoàn chỉnh Lời văn phải gọngàng, ý tứ phải rõ ràng, rành mạch trong sáng Lại phải cố diễn đạt cho có hìnhảnh linh hoạt, sinh động và gợi cảm nữa Phải kết hợp giữa sắp xếp ý và sử dụng
từ, câu cho lời văn hàm súc và hấp dẫn
Muốn đạt được như thế, các em phải trên cơ sở quan sát tỉ mỉ, chính xác vàsuy nghĩ, chọn lựa chi tiết cách diễn đạt tốt nhất
Ví dụ : Khi tả về chiếc bút máy, mỗi em tả một khác
Học sinh A: Em có chiếc bút máy màu xanh rất đẹp Nó là phần thưởng emđược tặng trong cuộc thi vở sạch chữ đẹp Thân bút tròn, xinh Ngòi bút rất trơn
Nhưng điều kiện để viết một bài văn hay còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.
- Về cách dùng từ : Phải dùng cho đúng, cho sát và chọn lựa từ ngữ nào
hay nhất để làm cho câu văn có hồn
Trang 12Ví dụ : Tả một cành mai vàng ngày tết, nhiều em đã chọn lựa cách diễn
đạt rất hay
- Cánh mai vàng "rung rinh" trước gió
- Những "hạt nắng" "đan" vào cánh hoa "lung linh".
- Màu vàng của hoa làm cho nắng cũng thêm "sóng sánh", "loang loáng"
ánh vàng
Muốn dùng từ được hay, các em, phải luôn luôn có sự liên tưởng sự vậtvới nhau, so sánh hiện tượng này với hiện tượng khác, sự vật này với sự vật khác
để chọn lựa được từ ngữ có hình ảnh gợi cảm Đặc biệt các em nên mở rộng vốn
từ đã học sử dụng nhiều từ láy và từ ghép nữa để diễn tả
Ví dụ : Xanh ( xanh ngắt , xanh xanh)
Dịu ( dịu mắt, dìu dịu) Hót ( hót như khiếu, hót líu lo)
Về viết câu : cần linh hoạt đừng viết theo kiểu công thức đơn điệu khi viết
nên thay đổi chủ thể của câu
Ví dụ : Gà mẹ xoè cánh, che chở đàn con
Có thể đổi lại : Đàn gà con vội vàng rúc vào đôi cánh xoè ra che chở của gà mẹ
Muốn viết được câu hay, lại còn phải sử dụng cách so sánh nhân hoá nữa
Ví dụ về nhân hoá: - Lá trong vườn vẫy chào người bạn nhỏ
- Cây rung rinh trước gió, ngả nghiêng , hớn hở
Ví dụ về so sánh : - Những giọt sương đọng lại ở cánh hoa long lanh nhưnhững hạt ngọc
* Tóm lại : Để viết bài văn hoàn chỉnh, một bài văn hay cần phải có cách
sắp xếp chặt chẽ: Mở bài, thân bài, kết bài
Phần mở bài như một lời thân ái mời chào của chúng ta đối với người khách
đến thăm " vườn văn " của mình Lời mời chào ấy phải hấp dẫn gợi mở, gây
cảm xúc ban đầu nhẹ nhàng nêu được ý muốn diễn đạt ở toàn bài Phần kết bàicũng thế, nó khép lại trước mắt người đọc những cảm xúc tràn trề những hình