Để Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật thì Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có hệ thống tổ chức bộ máy các c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu, ví dụ trình bày trong luận văn này là trung thực, bảo đảm tính khách quan, khoa học Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, tư liệu, trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc, xuất sứ rõ ràng./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Ngọc Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phòng Tư pháp 7
1.2 Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tư pháp 10
1.3 Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp 18
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp 20
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TẠI TỈNH NINH BÌNH 27
2.1 Tác động của điều kiện địa phương đến tổ chức và hoạt động của các phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình 27
2.2 Thực tiễn về tổ chức và hoạt động của các phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình 31
2.3 Đánh giá chung về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 49
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TẠI TỈNH NINH BÌNH 57
3.1 Nhu cầu cần đổi mới tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình 57
3.2 Những quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp 60
3.3 Giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp 63
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước ta từ
2015 - 2019 22Bảng 2.1 Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Ninh Bình 28Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015 -2019 29Bảng 2.3 Bảng thống kê số lượng công chức phòng Tư pháp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2015 -2019 35
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước đã đặt ra yêu cầu phải từng bước đổi mới hệ thống chính trị, tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong Hiến pháp đó là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trong hệ thống
bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các cơ quan hành chính Nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng trong việc quản lý hành chính Nhà nước Nhờ có hệ thống các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước này mà các hoạt động quản lý hành chính Nhà nước đang được thực hiện, diễn ra hàng giờ, hàng ngày trên toàn đất nước Việt Nam từ Trung ương đến các địa phương Cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương gồm: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ và các cơ quan ngang bộ; cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương gồm: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã Để Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật thì Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn nghiệp
vụ để tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý Nhà nước theo từng lĩnh vực trên địa bàn, trong đó có phòng Tư pháp giữ một vai trò hết sức quan trọng trong công tác tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý Nhà nước về hoạt động
tư pháp ở địa phương
Theo quy định của pháp luật, phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thành phố, thị xã (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý Nhà nước về hoạt động tư pháp ở địa phương, gồm: Xây dựng, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật; quản lý và đăng ký
hộ tịch; theo dõi tình hình thi hành pháp luật; quản lý hoạt động thi hành pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính; hòa giải ở cơ sở; chứng thực; bồi thường Nhà nước; trợ giúp pháp lý và các hoạt động khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện cùng cấp giao và theo quy định của pháp luật
Trang 7Trong những năm qua, để đáp ứng yên cầu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh Ninh Bình nói riêng và của cả nước nói chung, công cuộc cải cách
tư pháp, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã từng bước được quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền về củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và hoạt động để đáp ứng kịp thời yêu cầu chức năng, nhiệm vụ của phòng Tư pháp qua đó góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế -
xã hội phát triển, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước
và của nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục vụ tích vực công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện của địa phương tỉnh Ninh Bình nói riêng và của
cả nước nói chung
Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp còn bộc lộ những hạn chế, bất cập như: Phòng Tư pháp được giao thực hiện nhiều nhiệm vụ, công việc, nhưng số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy Phòng Tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, tổ chức bộ máy phòng Tư pháp huyện chưa phát huy hết khả năng của cán bộ, công chức làm công tác tư pháp, kết quả thực hiện một số hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của phòng Tư pháp chưa cao, chưa hiệu quả
Trong khi đó trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhu cầu của tổ chức, cá nhân về hoạt động tư pháp trong tình hình hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng đã đặt ra yêu cầu đối với các cơ quan nhà nước nói chung và cả hệ thống ngành Tư pháp nói riêng trong đó có phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân huyện phải thường xuyên đổi mới về tổ chức và hoạt động
Vì vậy, cần phải nghiên cứu một cách khoa học về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện về mặt lý luận và thực tiễn là hết sức cần thiết để đánh giá đầy đủ, đúng đắn những ưu điểm, những tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước
Chính vì vậy học viên đã lựa chọn Luận văn “Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thực tiễn về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện đã có một số đề tài, luận văn nghiên cứu nhưng ở phạm vi khác nhau như:
Trang 8Luận án tiễn sỹ: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của Trần Huy Liệu năm 2003 [20]
Đề tài cấp bộ: “Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp cấp huyện Thực trạng, giải pháp kiện toàn và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động” của bà Lê Thị Thu Ba, nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp năm 2015
Luận văn thạc sỹ: “Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ” của Đào Thị Hải Yến, năm 2018
Luận văn thạc sỹ: “Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” của thạc sỹ Lê Trọng Duẩn, năm 2015 [9]
Những luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, đề tài khoa học đã nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện nói chung cả về lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động Đây là những luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, đề tài khoa học có giá trị và ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn
Tuy nhiên, trong xu hướng đổi mới, hội nhập quốc tế, ứng dụng khoa học công nghệ số hóa cơ sở dữ liệu hộ tịch, cải cách thủ tục hành chính… diễn ra mạnh mẽ để giúp cho người dân thuận lợi trong các lĩnh vực liên quan đến đời sống, nhân thân như: Khai sinh, khai tử, kết hôn, cải chính hộ tịch do thời gian trước kia để lại còn nhiều sai sót, thiếu các dữ liệu… Trong khi đó về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp còn bộc lộ những hạn chế bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao, vì vậy cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp là hết sức cần thiết Học viên chưa thấy có công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình, cho thấy tỉnh Ninh Bình là địa phương giàu truyền thống lịch
sử và văn hiến, nơi gắn liền sự ra đời, hình thành và phát triển của Nhà nước phong kiến Đại Cồ Việt, Nhà nước độc lập có chủ quyền; là địa phương có bề dày lịch sử về đấu tranh chống ngoại xâm, có tiềm năng phát triển kinh tế theo cơ cấu công nghiệp, du lịch - dịch vụ, nông nghiệp Vì vậy, việc Học viên chọn nghiên cứu Luận văn: “Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động tư pháp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 9Trên cơ sở hệ thống hòa những vấn đề lý luận về cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, trong đó có phòng Tư pháp và phân tích về thực trạng tổ chức
và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình, luận văn đề xuất những giải pháp đổi mới về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của phòng Tư pháp trong thực hiện chức năng tham mưu, giúp cho
Ủy ban nhân dân cấp huyện cùng cấp quản lý nhà nước về lĩnh vực tư pháp trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện mục đích nghiên cứu của Luận văn như đã nêu ở trên, Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Phân tích làm rõ lý luận khoa học về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện;
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng, đầy đủ những ưu điểm, tồn tại, khó khăn, hạn chế, bất cập về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình và nghuyên nhân của những tồn tại, khó khăn, hạn chế, bất cập đó
- Đề xuất phương hướng, quan điểm và những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu những vấn đề chính về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nói chung và từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình nói riêng
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của phòng
Tư pháp từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình trong 05 năm gần nhất (từ 2015 -2019)
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi tỉnh Ninh Bình
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 105.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp luật và tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương, cải cách hành chính nhà nước và tiếp thu những thành quả của các công trình khoa học về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện để khảng định việc nghiên cứu của luận văn là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nói chung và thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn có nhiều phương pháp nghiên cứu Tuy nhiên, học viên đã lựa chọn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp, thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh để nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình để làm cơ sở khoa học đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Tổ chức và hoạt động có hiệu quả của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, trong đó có phòng Tư pháp có vai trò hết sức quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính, hướng đến xây dựng chính quyền phục vụ của nhân dân, thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; thực hiện thành công cải cách hành chính Nhà nước, cải cách tư pháp, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và củng cố chính quyền địa phương, phát triển tỉnh Ninh Bình nói riêng Do đó, việc kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, đổi mới tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình là hết sức cần thiết
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cơ quan chính quyền và các cơ quan khác có liên quan trong việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong cả nước nói chung và trong phạm vi tỉnh Ninh Bình nói riêng trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của Luận văn
Trang 11Ngoài phần mở đầu, danh mục một số các bảng biểu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của Luận văn gồm có 03 chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
Chương 2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình
Chương 3 Quan điểm, giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phòng Tư pháp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của phòng Tư pháp
Cần phải phân biệt khái niệm “Phòng Tư pháp khác với khái niệm “Tư pháp” Nếu nói về khái niệm “Tư pháp” thì hiện nay đang được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau như: Theo nghĩa hẹp thì khái niệm “Tư pháp” là xét xử; còn theo nghĩa rộng thì khái niệm “Tư pháp” là sự công bằng, công lý và các thiết chế nhằm duy trì, bảo đảm
sự công bằng, bảo vệ nền công lý Ở nhiều nước trên thế giới thì “Tư pháp” là xét xử của cơ quan Tư pháp đó là cơ quan Tòa án, còn ở Việt Nam thì “Tư pháp” được hiểu là toàn bộ hoạt động bảo vệ pháp luật, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án là trung tâm
và các hoạt động hỗ trợ Tư pháp như: Luật sư, Công chứng, trợ giúp pháp lý, giám định Tư pháp Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Đảng và nhà nước ta
đã xác định hệ thống các cơ quan Tư pháp ở nước ta bao gồm toàn bộ các cơ quan tham gia vào hoạt động mang tính tư pháp là: Tòa án nhân dân các cấp là cơ quan thực hiện quyền lực Tư pháp; các cơ quan thực hiện quyền công tố (Viện kiểm soát nhân dân các cấp, cơ quan thi hành án, cơ quan điều tra các cấp); các cơ quan thực hiện hoạt động hỗ trợ Tư pháp và quản lý nhà nước về hoạt động hỗ trợ Tư pháp
Trong tổ chức bộ máy của Nhà nước ta hiện nay đã hình thành một hệ thống các
cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có tính chất tư pháp từ Trung ương đến địa phương để giúp cơ quan hành pháp quản lý hành chính nhà nước
về bổ trợ tư pháp và quản lý nhà nước về hoạt động Tư pháp, gồm: Bộ Tư pháp tham mưu giúp Chính phủ quản lý nhà nước về hoạt động hành chính Tư pháp trong phạm vi
cả nước; Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về hoạt động hành chính Tư pháp ở địa phương; phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tham mưu giúp ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về hoạt động Tư pháp ở địa phương; Công chức Tư pháp- Hộ tịch tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về hoạt động Tư pháp ở địa phương Tuy nhiên, về tính chất thì những cơ quan hành chính nhà nước không có chức năng, nhiệm vụ thực hiện quyền Tư pháp như Tòa án nhân dân các cấp Tuy nhiên, về
Trang 13tình chất thì đây là những cơ quan hành chính nhà nước không có chức năng thực hiện quyền tư pháp như Tòa án nhân dân các cấp.
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 thì chính quyền địa phương ở cấp tỉnh và cấp huyện được thành lập các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; các cơ quan chuyên môn này là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên Theo đó, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về hành chính tư pháp ở địa phương
Theo Thông tư Liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nộ vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định:
- Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; nuôi con nuôi;
hộ tịch; chứng thực; bồi thường Nhà nước; trợ giúp pháp lý; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật
- Phòng Tư pháp chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở
Tư pháp
Như vậy, có thể hiểu phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện cùng cấp thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực hành chính tư pháp và chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện; đồng thời chịu
Trang 14sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan nhà nước cấp trên, mà trực tiếp là Sở Tư pháp về chuyên môn nghiệp vụ
1.1.2 Vị trí, vai trò của phòng Tư pháp
Hiến pháp năm 2013 quy định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân,
do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện Nghị quyết của Hôi đồng nhân dân Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao
Theo hiến pháp năm 2013 và luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 thì chính quyền địa phương ở cấp huyện có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện Để Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ chấp hành của Hội đồng nhân dân cấp huyện cùng các và thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thì ủy ban nhân dân cấp huyện phải có cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc cho
Ủy ban nhân dân cấp huyện Theo Điều 9 Luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 quy định cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên Cơ quan chuyên môn thuộc
ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cùng cấp đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của
cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên
Như vậy, trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức ở cấp huyện, thì phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp huyện trong lĩnh vực hành chính tư pháp ở địa phương; đồng thời phòng Tư pháp chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn
Trang 15nghiệp của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp trên trực tiếp theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều (Song trùng trực thuộc)
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức bộ máy Ủy ban nhân dân cấp huyện
Do đó, phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện với vị trí là cơ quan chuyên môn thuộc lĩnh vực hành chính Tư pháp, hoạt động của Phòng Tư pháp mang tính chất tham mưu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về hoạt động tư pháp ở địa phương Cụ thể là tham mưu, giúp việc, tư vấn cho Ủy ban nhân dân cấp huyện về dự thảo các quyết định, các chương trình hoặc biện pháp quản
lý Nhà nước; tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng và triển khai tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, hàng năm trên các lĩnh vực quản lý, hoặc giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý một số hoạt động đến với
tổ chức, cá nhân trong phạm vi thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, thực hiện những nhiệm vụ khi Ủy ban nhân dân cấp huyện giao, ủy quyền, cũng như thực hiện hoạt động kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương
Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì phòng Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện trong lĩnh vực hành chính tư pháp, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ
sở, nuôi con nuôi, hộ tịch, chứng thực, bồi thường Nhà nước, quản lý hoạt động thì hành pháp luật về xử lý hi vọng hành chính và các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
1.2 Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tư pháp
HUYÖN ñY
C¸C Tæ CHøC CHÝNH TRÞ - X· HéI
PHÒNG CHUYÊN MÔN
Trang 16Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một cơ quan, của một số tổ chức được pháp luật quy định sẽ là cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học để xây dựng, kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan, tổ chức đó cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức đó được giao đảm nhiệm Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của phòng Tư pháp được thể hiện về mặt pháp lý dưới dạng các quyền và nghĩa vụ
Phòng Tư pháp là cơ quan triển khai những chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về hoạt động tư pháp từ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đến xã, phường, thị trấn Chức năng của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện quy định tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, cụ thể là: Phòng Tư pháp tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; trợ giúp pháp lý; nuôi con nuôi; hộ tịch; chứng thực; quản lý hoạt động thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [7]
Theo quy định của Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, kể từ ngày 25/9/2017 hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính được chuyển giao
từ Sở Tư pháp sang văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Vì vậy, ở cấp huyện theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thì hoạt động kiểm soát thủ tịch hành chính đã được
Ủy ban nhân dân cấp huyện chuyển giao từ phòng Tư pháp sang Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện
Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng
Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã khẳng định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế, phương thức hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc củng cố và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, khắc phục được những tồn tại, hạn chế, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của phòng Tư pháp, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn
Trang 17xã hội, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và của ngành tư pháp
Trong Luận văn này, Học viên tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá những nhiệm vụ chủ yếu sau: Xây dựng, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, quản lý và đăng ký hộ tịch; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý hoạt động thi hành pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính; phổ biến giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, cụ thể:
1.2.1 Về hoạt động xây dựng, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1.1.Về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Phòng Tư pháp phối hợp với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng các quyết định là văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân cấp huyện được phân cấp ban hành theo quy định của pháp luật do các cơ quan chuyên môn khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được giao chủ trì xây dựng; thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp huyện; góp
ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện và
Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của nhân dân tham gia đóng góp vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của cơ quan Nhà nước cấp trên theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp huyện
và hướng dẫn của Sở Tư pháp
Xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, lấy ý kiến tham gia đóng góp vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hết sức quan trọng, nếu làm tốt ở tất cả các giai đoạn này sẽ bảo đảm cho văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có chất lượng, hiệu quả, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý, yêu cầu thực tế Trong tất cả các giai đoạn của xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đều có sự tham gia của cơ quan tư pháp, trong đó có sự tham gia của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
1.2.1.2 Về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp Hiến, hợp pháp, tính thống nhất
và phù hợp với thực tiễn của văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành để nhằm phát hiện, đình chỉ việc thi hành, hoặc bãi bỏ một phần hoặc bãi bỏ toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật, không còn phù hợp Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được
Trang 18thực hiện bởi các cơ quan, người có thẩm quyền trong nội bộ hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước để xem xét tính hợp Hiến, hợp pháp, tính thống nhất của những văn bản
Cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật gồm: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện Đối tượng của hoạt động kiểm tra văn bản là văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân các cấp và
Ủy ban nhân dân các cấp Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó tự kiểm tra và được thực hiện do cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thực hiện kiểm tra
Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng đó là: Bảo đảm cho văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phù hợp với Hiến,
pháp, văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước cấp trên, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tránh chồng chéo, mâu thuẫn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật, đưa pháp luật đi vào cuộc sống được thuận lợi, qua đó góp phần bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích phù hợp pháp của nhà nước, của tổ chức, của cá nhân
Theo quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22/6/2015: Phòng Tư pháp giúp Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện cùng cấp tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành; thực hiện kiểm tra theo thẩm quyền đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hồi đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành; trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật theo quy định pháp luật; hướng dẫn Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành
1.2.2 Về hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch
Đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện nhằm mục đích bảo vệ quyền con người, các quyền, nghĩa vụ của công dân và quản lý dân cư trên địa bàn tại địa phương một cách khoa học, phục vụ việc xây dựng, hoạt định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước
Trang 19Hiện nay, các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới thực hiện việc quản lý và đăng ký hết sức chặt chẽ đối với những sự kiện hộ tịch của con người từ lúc sinh ra cho đến khi chết như: Khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn… Ở Việt Nam ta công tác quản lý và đăng ký hộ tịch ngày càng chặt chẽ hơn, hiện nay đã có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực hộ tịch, có một hệ thống tổ chức thực hiện công tác quản lý và đăng ký hộ tịch từ Trung ương đến cơ sở để tham mưu cho cơ quan nhà nước về công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
về hộ tịch; hướng dẫn và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch; chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ về hộ tịch, ban hành, quản lý, hướng dẫn việc sử dụng các loại biểu mẫu, sổ sách hộ tịch; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân hiểu để chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về hộ tịch; thực hiện việc đăng ký hộ tịch; giải quyết khiếu nại, tố cáo, khó khăn, vướng mắc về công tác hộ tịch và thực tiễn hợp tác quốc tế về công tác hộ tịch
Theo quy định của pháp luật, phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
có nhiệm vụ: Chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác quản lý và đăng ký hộ tịch trên địa bàn; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và đăng ký hộ tịch cho Công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã; giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật; đề nghị Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái với quy định của pháp luật (trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật); quản lý, cập nhật, khai thác cơ sở
dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định, quản lý, sử dụng
sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch; hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật
1.2.3 Về theo dõi thi hành pháp luật và quản lý hoạt động thi hành pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính
1.2.3.1.Về theo dõi thi hành pháp luật
Theo dõi tình hình thi hành pháp luật là việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật, kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên cơ sở xem xét, đánh giá các nội dung: Tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn
và quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp
Trang 20trên, tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật, tình hình tuân thủ pháp luật
Phòng Tư pháp thực hiện nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật được quy định tại Khoản 6 Điều 5 Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, cụ thể: Xây dựng và trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành
và tổ chức thực hiện kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện hoạt động theo dõi thi hành pháp luật tại địa phương; tổng hợp, đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật; theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực tư pháp thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện [5]
1.2.3.2 Về quản lý hoạt động thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012 và Nghị định
số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện báo cáo hoạt động thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của địa phương; đồng thời Ủy ban nhân dân cấp huyện trong quá trình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nếu phát hiện các quy định về xử lý vi phạm hành chính không khả thi, chồng chéo, không phù hợp thì kiến nghị đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
Thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, phòng Tư pháp là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý, báo cáo tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cụ thể: phòng Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo hoạt động thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương; đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, xử lý các quy định về xử lý, xử phạt về xử lý vi phạm hành chính không có tính khả thi, chồng chéo, không phù hợp với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên,
Trang 21không phù hợp với thực tiễn; hướng dẫn nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính; thực hiện thống kê về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của địa phương
1.2.4 Về phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải cơ sở
Phổ biến, giáo dục pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao trí thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiệm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng Hiểu theo nghĩa rộng là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật, đó là xây dựng chương trình,
kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật; triển khai chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp phổ biến giáo dục pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật
Phổ biến giáo dục pháp luật luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống, là một bộ phận không thể tách rời với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Trong việc thực hiện pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật là giai đoạn đầu tiên, là công cụ
để đưa pháp luật đến gần hơn với nhân dân, nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của mọi công dân Do đó để bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật, năm 2012 Quốc hội đã ban hành luật phổ biến giáo dục pháp luật và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 128/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật phổ biến giáo dục pháp luật
Hòa giải ở cơ sở là một hoạt động quan trong nhằm mục đích giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân, phục vụ việc phòng ngừa và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, góp phần xây dựng thôn, xóm, khu phố đoàn kết, yên vui, gia đình hạnh phúc Với
ý nghĩa tốt đẹp và vai trò quan trọng của hoạt động hòa giải ở cơ sở trong đời sống xã hội, Nhà nước ta đã xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở như: Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giả ở cơ sở ngày 25/12/1998; Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giả ở cơ sở; Chỉ thị số 03/CT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về tăng cường công tác hòa giải ở cơ sở; Luật Hòa giải ở cơ sở ngày 20/6/2013; Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014
Trang 22của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở; Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở
Những hòa giải viên ở cơ sở là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân, có hiểu biết pháp luật
Hoạt động hòa giải ở cơ sở được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng gia đình hạnh phúc, khu dân cư đoàn kết, yên vui, ngăn ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật, giảm bớt khiếu kiện, giảm tải cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết những mâu thuẫn, những tranh chấp, những hành vi vi phạm pháp luật; góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của nhân dân
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP- BNV ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ Trưởng Bộ Nội vụ thì phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ phổ biến giáo dục pháp luật và hòa giải
ở cơ sở gồm: Xây dựng trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện sau khi chương trình, kế hoạch được ban hành; theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra công tác phổ biến giáo dục pháp luật tại địa phương, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc tổ chức ngày pháp luật nước Cộng hòa xà hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn; thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Hồi đồng phổ biến, giáo dục pháp luật cấp huyện; xây dựng, quản lý đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật theo quy định của pháp luật; hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật ở cấp
xã và ở các cơ quan, đơn vị khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật; tổ chức triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở
1.2.5 Thực hiện những nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật
Hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nói riêng trong đó có phòng Tư pháp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được tổ chức để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định,
Trang 23trong đó có trách nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật đối với ngành, lĩnh vực của các cơ quan quản lý
Theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì phòng Tư pháp có nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện những nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật [7]
Những nhiệm vụ, quyền hạn mới của phòng Tư pháp được quy định tại Thông
tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 so với Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009, gồm: Xây dựng xã, phường, thị trấn tiếp cận pháp luật; quản lý Nhà nước về bồi thường Nhà nước
Hay tại Điều 99 Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012 quy định trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng Tại Điều 101 Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012 quy định: Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012 quy định: Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22/6/2015 quy định rõ hơn nhiệm vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, phòng
Tư pháp được bổ sung nhiệm vụ mới là: Thẩm định dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện; thẩm đỉnh dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện; phát biểu ý kiến về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định
1.3 Tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp
1.3.1 Cơ cấu tổ chức của phòng Tư pháp
Trang 24Đối với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nói chung
và phòng Tư pháp nói riêng không có cơ cấu bên trong, nó là cơ quan được tổ chức theo mô hình chế độ thủ trưởng, cơ quan thẩm quyền riêng, nên về tổ chức của phòng
Tư pháp gồm có: Trưởng phòng, phó trưởng phòng và các công chức khác, trong đó Trưởng phòng Tư pháp chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp huyện và trước pháp luật về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng Tư pháp được giao; toàn bộ hoạt động của phòng Tư pháp và công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trên địa bàn; phó trưởng phòng tư pháp giúp Trưởng phòng tư pháp phụ trách, theo dõi một số hoạt động của phòng Tư pháp và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng Tư pháp, trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công; việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyên, khen thưởng, kỷ luật hoặc miễn nhiệm hoặc cho từ chức, thực hiện chế độ, chính sách đối với Trưởng phòng Tư pháp và Phó trưởng phòng Tư pháp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định theo quy định của pháp luật
Về việc bố trí cán bộ Công chức của phòng Tư pháp phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng Tư pháp được giao; vào vị trí việc làm, chức danh, tiêu chuẩn cơ cấu ngạch Công chức theo quy định của Pháp luật để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao biên chế cho phòng Tư pháp
1.3.2 Hoạt động của phòng Tư pháp
Hoạt động của phòng Tư pháp do người đứng đầu của Phòng Tư pháp chỉ đạo, điều hành, quyết định, tức Phòng Tư pháp hoạt động theo chế độ thủ trưởng Trên cơ
sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng Tư pháp được xác định, Trưởng phòng
Tư pháp chỉ đạo, điều hành hoạt động của phòng Tư pháp, giao nhiệm vụ phân công công việc cụ thể cho từng Công chức thực hiện Như vậy hoạt động của phòng Tư pháp khác với hoạt động của Ủy ban nhân dân và khác với hoạt động của Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể lãnh đạo kết hợp với trách nhiệm của Chủ tịch ủy ban nhân dân, còn Hội đồng nhân dân hoạt động theo chế độ Hội đồng
Hoạt động của phòng Tư pháp theo nội dung, có thể chia thành các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng Tư pháp đó là: Xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; quản lý và đăng ký hộ tịch; theo dõi thi hành pháp luật và quản lý hoạt động thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; phổ biến
Trang 25giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở và thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật
Hoạt động của phòng Tư pháp cũng khác với hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước mang tính chất chuyên ngành là Bộ, cơ quan ngành bộ Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng “Tham mưu
và giúp việc” cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về lĩnh vực tư pháp ở địa phương và chịu sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp của ủy ban nhân dân cấp huyện, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nên hoạt động của phòng Tư pháp không chỉ mang tính chất hành chính - Tư pháp mà hoạt động của phòng Tư pháp còn mang tính chất xã hội Vì thế việc triển khai thực hiện hoạt động của phòng Tư pháp phải biết đề cao vai trò của các tổ chức đoàn thể, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân ở một
số nhiệm vụ của phòng Tư pháp như: Phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách…
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp
1.4.1 Vị trí, vai trò của phòng Tư pháp
Đảng và nhà nước ta luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của Tư pháp, cụ thể ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Tư pháp là một trong các Bộ được thành lập để quản lý nhà nước
về lĩnh vực Tư pháp Vị trí, vai trò của Tư pháp được Chủ tịch Hồ Chi Minh đánh giá rất cao, cụ thể trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1948 của Chủ tịch Hồ Chi Minh có đoạn viết ”…Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền cho nên càng phải đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan khác để tránh những mối xích mích với nhau, nó có thể vì lợi ích nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho
cả Tư pháp và hành chính…” Hoặc khi Chủ tịch Hồ Chi Minh tham dự Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950 đã có bài phát biểu chỉ đạo “…Pháp luật của ta hiện nay bảo
vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động… Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động… phải cố gắng làm cho pháp luật dân chủ ngày nhiều hơn, tốt hơn…” Đặc biệt trong Hiến pháp năm
2013 đã khảng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”
Như vậy, Đảng và nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chi Minh đã khảng định pháp luật là công cụ, phương tiện quan trọng để nhà nước quản lý và điều hành mọi mặt của
Trang 26đời sống xã hội, vì thế yêu cầu song song cùng với hoàn thiện hệ thống pháp luật thì chúng ta phải xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước để bảo đảm cho
bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả, trong đó phải xác định rõ được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan trong hệ thống tổ chức bộ máy của nhà nước để tránh chồng chéo, bảo đảm tính khoa học và phù hợp với thực tiễn đặt ra Sự khảng định của Đảng, nhà nước và Chủ tịch Hồ Chi Minh cho thấy ngành tư pháp nói chung
và Sở Tư pháp, phòng Tư pháp trong ngành tư pháp nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng trong bảo đảm thực thi Hiến pháp và pháp luật, nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật, giữ vững an sinh xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay
Với vị trí là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, phòng Tư pháp được pháp luật quy định có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; nuôi con nuôi; hộ tịch; chứng thực; bồi thường nhà nước; trợ giúp pháp lý; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác Tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Những nhiệm vụ của phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện đang thực hiện đã góp phần bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được thực thi có hiệu quả, bảo đảm tính thượng tồn của pháp luật Do đó, vị trí vai trò của phòng Tư pháp là một trong nững yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp
1.4.2 Đội ngũ cán bộ, công chức
Nếu như Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, thì đội ngũ cán bộ, công chức hành chính là lực lượng quan trọng để vận hành cỗ máy hành chính Nhà nước, giúp bộ máy cơ quan hành chính nhà nước vận hành thông suốt từ Trung ương đến địa phương Trong nền hành chính của bất kỳ quốc gia nào thì cán bộ, công chức luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà nước ta hiện nay đòi hỏi phải xây dựng bộ máy cán bộ, công chức phải chuyên nghiệp, hiện đại, nhằm trở thành lực lượng lớn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 27Do mỗi cơ quan nhà nước khác nhau trong hệ thống tổ chức bộ máy của nhà nước được pháp luật quy định có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, do đó đội ngũ cán bộ Công chức trong mỗi cơ quan nhà nước có đặc trưng nghề nghiệp khác nhau nhưng cũng có điểm giống nhau trong hoạt động công vụ là phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, nên việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là yêu cầu thiết yếu, then chốt quyết định sự thành bại của cách mạng Chủ tịch Hồ Chi Minh rất coi trọng vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, người khảng định “Muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”, theo Chủ tịch Hồ Chi Minh
“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Cán bộ là người mang chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” Thực tế đã chứng minh cho thấy những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, của nhà nước đều do cán bộ, công chức nghiên cứu,
đề xuất và đều do cán bộ, công chức triển khai tổ chức hướng dẫn nhân dân thực hiện Như vậy, có thể khảng định cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là nhân tố quyết định thành hay bại của công việc xây dựng và phát triển đất nước trong từng thời kỳ
Trong những năm vừa qua, hoạt động cải cách hành chính luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo quyết liệt, coi đây là một trong những nội dung quan trọng trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trọng tâm của cải cách hành chính là: “Cải cách thể chế về xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, Công chức; cải cách chế độ tiền lương; cải cách dịch vụ hành chính công
Bảng 1.1 Biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính Nhà
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng chính phủ thành lập mà không
Các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc cơ quan của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
Các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài
Trang 28phải là đơn vị sự nghiệp công lập
(ĐVT: Người) (ĐVT: Người) (ĐVT: Người) (ĐVT: Người)
về phẩm chất, đạo đức, thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý trí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, tha hóa về lối sống, quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, hách dịch, cửa quyền, quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân
Trong bất kỳ gia đoạn nào của đất nước cũng luôn cần phải có một đội ngũ cán
bộ Công chức vừa có tài, vừa có đức, bởi như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Người
có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”
Đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng trong nền hành chính nhà nước, là những người thay mặt cho chính quyền để giải quyết những công việc của nhân dân Do đó, việc xây dựng, nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức đang là vấn đề có ý nghĩa sống còn không chỉ riêng của công cuộc cải cách hành chính mà cả sự nghiệp đổi mới, xây dựng bảo vệ đất nước Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ tổ quốc đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ, Công chức nhà nước có lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, có tinh thần trách nhiệm, đạo đức cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư
Trang 291.4.3 Vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu
“Người đứng đầu” là thuật ngữ dùng để chỉ thiết chế giữ vị trí cao nhất trong tổ chức, thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý tổ chức “Trách nhiệm” là những việc phải làm, được làm, nên làm với kết quả tốt, nếu kết quả không tốt sẽ phải gánh chịu phần hậu quả Trên cơ sở phân tích về thuật ngữ “Người đứng đầu”, “Trách nhiệm”, Học viên hiểu trách nhiệm của người đứng đầu là những việc mà người đứng đầu nên làm, phải làm, được làm với kết quả tốt, nếu làm với kết quả không tốt thì người đứng đầu
sẽ phải chịu trách nhiệm
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức là người lãnh đạo cao nhất trong cơ
quan, đơn vị, tổ chức đó; là người chịu trách nhiệm pháp lý về toàn bộ kết quả hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn
vị, tổ chức được pháp luật quy định rất cụ thể Khi người đứng đầu cơ quan không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao thì sẽ bị xử
lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm
Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam bao gồm các chức danh sau đây: Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Giám đốc sở, Trưởng ban, Trưởng phòng…
Pháp luật về cán bộ, công chức nhà nước quy định rất cụ thể chế độ, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức trong điều hành quản lý hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức của nhà nước hoạt động
Thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng và Hiến pháp về xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa và một nền hành chính phục vụ thì vấn đề trách nhiệm của cơ quan nhà nước và những người làm việc trong các cơ quan nhà nước phải được chú trọng xây dựng, kiện toàn củng cố Khi vai trò, trách nhiệm của cơ quan nhà nước
mà trước hết là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước được phát huy tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước
Theo Điều 5, Điều 6 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, trong đó có phòng Tư pháp
Do đó, đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện là trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và Trưởng các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp
Trang 30huyện Vì vậy cần phải quy định cụ thể, rõ ràng vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đây là yếu tố cơ bản quyết định tính hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan; đồng thời phải khắc phục được sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước hiện nay để làm cơ sở pháp lý cho người đứng đầu cơ quan thực hiện trách nhiệm được giao.
1.4.4 Nhu cầu của xã hội về hoạt động tư pháp
Trước nhu cầu của sự phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng cao thì nhu cầu
vè hoạt động Tư pháp hành chính ngày càng nhiều và rất cần thiết để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước như: Hoạt động công chứng, chứng thực, khai sinh, khai tử, kết hôn, chứng nhận các quyền về tài sản…Tuy nhiên trong những hoạt động này vẫn còn tồn tại chưa khắc phục được như: Tình trạng nhũng nhiễu, gây khó khăn, giải quyết không đúng hạn Tình trạng tiêu cực trong công chứng, chứng thực vẫn còn tồn tại như công chứng, chứng thực không đúng trình tự, thủ tục; công chức, chứng thực, trái pháp luật, do đó đã có một số cán bộ công chứng, chứng thực bị xử lý theo quy định của pháp luật
Để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong xã hội và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật phát sinh trong các lĩnh vực nêu trên, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực, hộ tịch, hôn nhân và gia đình… thống nhất các trình tự, thủ tục để tổ chức,
cá nhân nắm rõ và thực hiện theo luật định; đồng thời tăng cường công tác quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; có biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát
để ngăn chặn xử lý kịp thời những hành vi vi phạm
Thực trạng cho thấy trong đời sống hàng ngày luôn tồn tại nhiều mâu thuẫn cần phải giải quyết do đó cần phải có sự hỗ trợ của pháp lý từ nhà nước để giải quyết, trong đó phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, triển khai những quy định của pháp luật đến nhân dân để nhân dân hiểu biết và thực hiện đúng pháp luật qua đó sẽ góp phần giải quyết kịp thời những tranh chấp, mâu thuẫn trong nhân dân
Do đó, phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được tổ chức bảo đảm tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về hoạt động hành chính tư pháp, trợ giúp pháp lý, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở nhằm
Trang 31đưa pháp luật đi vào cuộc sống, góp phần ổn định an ninh trật tự, thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển
1.4.5 Cải cách hành chính nhà nước
Trước yêu cầu phát triển của kinh tế- Xã hội và hội nhập quốc tế đòi hỏi nền hành chính nhà nước ta phải cải cách cho phù hợp và phải được cải cách một cách tổng thể, trước mắt tập trung cải cách ngay một số yêu tố đang bất cập
Cải cách hành chính là những nỗ lực có chủ định nhằm tạo nên những thay đổi
cơ bản bên trong hệ thống hành chính nhà nước thông qua các cuộc cải cách hoặc thay đổi các phương thức để cải tiến ít nhất một trong những yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước Nội dung chủ yếu của cải cách hành chính là cải cách về tổ chức bộ máy, nhân sự, quy trình và công vụ cũng như các biện pháp thích ứng của hành chính công nhằm tạo ra các cơ quan hành chính hiệu quả, thể chế hóa các thẩm quyền hành chính một cách rõ ràng, đơn giản hóa hành chính và gần dân Do đó, cải cách hành chính nhà nước là góp phần tạo nên những thay đổi trong các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhằm làm cho các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn
Nhận thức được tầm quan trọng của việc cải cách nền hành chính nhà nước, do
đó công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước ở Việt Nam đã được thực hiện từ những năm 1986 đến nay và đã góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền đó là:
Về thể chế hành chính đã sửa đổi Hiến pháp, ban hành các luật mới và các văn bản dưới luật về tổ chức bộ máy nhà nước; sửa đổi, bổ sung luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức; ban hành các Nghị định để quy định cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức… điều quan trọng là: Các văn bản về luật
tổ chức bộ máy nhà nước đã quy định khá cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, từng bước thể hiện sự phân cấp trong quản lý giữa Trung ương và địa phương; các văn bản quy phạm pháp luật về công vụ; cán bộ, công chức, viên chức đã quy định khá cụ thể các quyền, nghĩa vụ của các bộ, công chức, viên chức và bước đầu
đã đi theo hướng chuyên biệt hóa các đối tượng những người phục vụ trong cơ quan, tổ chức nhà nước
Về bộ máy hành chính đã giảm dần các đầu mối quản lý, số lượng các cơ quan quản lý nhà nước đã giảm xuống đáng kể, thủ tục hành chính được cải cách theo hướng một cửa và một cửa liên thông; đã cắt, giảm, rút gọn được nhiều thủ tục hành chính so
Trang 32với trước kia, đồng thời tiếp tục xem xét để cắt giảm, rút gọn bớt các thủ tục hành chính còn đang rườm rà, phức tạp, chồng chéo Mẫu hóa được cơ bản các loại giấy tờ hành chính và thực hiện công khai các thủ tục hành chính Chính việc cải cách thủ tục hành chính này đã góp phần hạn chế sự sách nhiễm, phiền hà, tham nhũng của các công chức hành chính trong khi giải quyết các công việc của tổ chức, công dân
Do bộ máy hành chính nhà nước ta được tổ chức theo ngành chức năng kết hợp với quản lý theo địa phương nên trong giai đoạn cải cách hành chính nhà nước, bộ máy hành chính Nhà nước ở địa phương trong đó có tổ chức phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã và đang được tiếp tục củng cố, kiện toàn theo hướng tinh giảm
về số lượng, với cơ cấu tổ chức bộ máy gọn nhẹ, khoa học
Từ những kết quả đạt được của cải cách hành chính trong những năm qua cho thấy, cần phải sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, cải cách Tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu nhữngvấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của phòng
Tư pháp và những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện giúp cho chúng ta nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn
về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện để làm
cơ sở pháp lý đưa ra những quan điểm, giả pháp củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước
Chương2 THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
TẠI TỈNH NINH BÌNH
2.1 Tác động của điều kiện địa phương đến tổ chức và hoạt động của các phòng
Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư
Trang 33Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam của Đồng bằng sông Hồng, cách Thủ đô
Hà Nội hơn 90km về phía Nam, diện tích đất tự nhiên gần 1.391 km2, nằm trên tuyến giao thông huyết mạch Bắc - Nam Với lợi thế gần Thủ đô Hà Nội và vùng trung tâm kinh tế phía Bắc, Ninh Bình có vị trí địa lý và giao thông tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam; phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Nam Định, phía Nam giáp biển Đông; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Tây và Tây bắc giáp tỉnh Hòa Bình
Tỉnh Ninh Bình hiện nay có dân số 926.995 người, gồm 07 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 97% dân số, còn lại là dân tộc Mường, Tày, Nùng, Thái, Hơ mông, LaHa; mật độ dân số 694 người / Km2 (theo niêm gián thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2018) Tỉnh Ninh Bình có 08 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Thành phố Ninh Bình (là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Ninh Bình); thành phố Tam Điệp; huyện Nho Quan; huyện Gia Viễn; huyện Hoa Lư; huyện Yên Khánh; huyện Yên Mô; huyện Kim Sơn; với 145 xã, phường, thị trấn
Bảng 2.1 Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Ninh Bình
Các huyện, thành phố Tổng số Số đơn vị hành chính cấp xã
Xã Phường Thị trấn Huyện Nho Quan 27 26 01
Huyện Gia Viễn 21 20 01
Huyện Hoa Lư 11 10 01
Huyện Yên Khánh 19 18 01
Huyện Yên Mô 17 16 01
Huyện Kim Sơn 27 25 02
Thành phố Ninh Bình 14 03 11
Thành phố Tam Điệp 09 03 06
Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình
2.1.2 Các điều kiện kinh tế, văn hóa, giáo dục
Trong những năm qua, kinh tế của tỉnh Ninh Bình luôn có sự tăng trưởng khá so với khu vực Năm 2018, Ninh Bình là đơn vị hành chính cấp tỉnh xếp thứ 39/63 tỉnh, thành phố về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 16/63 tỉnh, thành phố về tốc độ tăng trưởng GRDP so với các tỉnh, thành phố trong cả nước; GRDP đạt 47.205 tỷ đồng (tương ứng với 2.050,2 tỷ USD); GRDP bình quân đầu người đạt 48,5 triệu đồng (tương ứng 2.106 USD); tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 9,26% Cơ cấu kinh tế trong GRDP năm 2017: Công nghiệp - xây dựng chiếm 43,30%; Nông lâm - Ngư nghiệp chiếm 13,65%; dịch vụ chiếm 43,05%
Trang 34Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015 -2019
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015 - 2019 tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của tỉnh đó là: Giảm tỷ trọng trong khu vực Nông nghiệp, lâm nghiệp và Thủy sản; tăng tỷ trọng trong khu vực công nghiệp, xây dưng và dịch vụ Năm 2015, Ninh Bình là địa phương đứng thứ 6 ở Việt Nam, chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Quảng Ninh, Đồng Nai về số doanh nghiệp tư nhân lớn trong tốp 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam, với 11 doanh nghiệp là: Công ty Cổ phần ô tô Huyndai Thành Công; Tập đoàn The Vassai; Công ty Cổ phần xi măng Hướng Dương; Doanh nghiệp tư nhân xây dựng Xuân Trường; Công ty TNHH đầu tư xây dựng và phát triển Xuân Thành; Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Ninh Bình; Doanh nghiệp tư nhân Nam Phương; Công ty TNHH Hoàng Hà; Tập đoàn Thai group; Tập đoàn Công nghiệp Quang Trung; Công ty
Cổ phần tập đoàn đầu tư xây dựng Cường Thịnh Thi Toàn tỉnh Ninh Bình hiện có 7 khu công nghiệp và 22 cụm công nghiệp để thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nói chung và trên địa bàn mỗi huyện, thành phố cần phải có môi trường đầu tư thuận lợi, đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong đăng ký kinh doanh, đầu tư, các chính sách phát triển kinh tế của tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, do đó đòi hỏi hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở mỗi huyện, thành phố thuộc tỉnh Ninh Bình phải được thực hiện bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tính hợp Hiến, hợp pháp và có tính khả thi; đơn giản hóa hoặc bãi bỏ những thủ tục hành chính phức tạp, gây cản trở cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này thì phòng Tư pháp thuộc Ủy ban
Trang 35nhân dân cấp huyện phải có sự phối hợp chặt chẽ với các phòng chuyên môn nghiệp vụ cùng cấp trong công tác tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện triển khai chỉ đạo
tổ chức thực hiện có hiệu quả những quy định của pháp luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn
Thực hiện Nghị quyết đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra phương hướng, mục tiêu chủ yêu là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả quản lý, quản trị, điều hành của chính quyền các cấp; tăng cường đoàn kết xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh tổng hợp của nhân dân; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, coi trọng chất lượng tăng trưởng kinh tế (GRDP), phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân chung của khu vực Đồng bằng sông Hồng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch Đẩy mạnh công nghiệp hóa Nông nghiệp, nông thôn; nâng cao giá trị sản xuất trên 1ha canh tác, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới; chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái Phát triển văn hóa - xã hội toàn diện; thực hiện tốt và đồng bộ các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường quốc phòng địa phương Phấn đấu đưa Ninh Bình phát triển nhanh, bền vững Do đó tại thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp và các huyện có khu công nghiệp, cụm công nghiệp thì việc thực hiện những quy định của pháp luật liên quan đến đầu tư, hay việc đăng ký hộ khẩu ngày càng tăng, những việc hộ tịch như: Đăng ký khai sinh, đăng
ký kết hôn, điều chỉnh hộ tịch, chứng thực văn bản, hợp đồng giao dịch, phổ biến giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở… đặt ra yêu cầu đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh Ninh Bình phải tăng cường thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động hành chính tư pháp; đối với thủ tục hành chính phát sinh tại địa bàn cơ sở và phòng Tư pháp
là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện những việc này
Ngoài ra phòng Tư pháp còn là cơ quan chuyên môn giúp ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng dẫn thi hành pháp luật, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho các tuyên truyền viên để đưa pháp luật đi vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân
Trang 36Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tập trung nhiều cơ sở đào tạo như: 02 Trường đại học, 05 Trường cao đẳng, 08 Trường trung cấp nghề, 08 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 145 Trường mầm non (chưa tính trường mầm non tư thục), 146 Trường tiểu học, 145 Trường trung học cơ sở, 21 Trường trung học phổ thông… đã thu hút hàng nghìn học sinh, sinh viên và chưa kể đến các Trường đại học, các Trung tâm đào tạo khác cũng đã mở các mã ngành đào tạo đại học chuyên ngành, đào tạo trình độ cao học cũng đã thu hút được khá đông các học viên tham gia học tập, nghiên cứu Do đó, hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật cho các đối tượng học sinh, học viên, sinh viên, đặc biệt là học sinh ở các bậc học phổ thông phải luôn được chú trọng nhằm tăng cường và trang bị kiến thức pháp luật cho học sinh về an toàn giao thông, về tệ nạn xã hội, về ý thức chấp hành pháp luật, do dó phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã tham mưu và phối hợp với phòng Giáo dục và đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong tổ chức các loại hình hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật cho học sinh của các cấp học trên địa bàn, góp phần tích cực, có hiệu quả vào việc hình thành phát triển nhân cách của học sinh, góp phần hạn chế và ngăn chặn tình trạng tai nạn giao thông, các vụ việc vi phạm pháp luật đáng tiếc xảy ra, đặc biệt là đối với thanh niên, thiếu niên đang ở lứa tuổi trưởng thành, có sự giao thoa về tâm lý
Về phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, giáo dục và giải quyết những vấn đề
xã hội trong những năm qua có nhiều chuyển biến tích cực Hoạt động xóa đói giảm nghèo tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng; tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, mỗi năm giảm từ 1,5% ÷ 2,0% (theo chuẩn đa chiều); tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt gần 80%, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện Có được kết quả này là do có
sự phối hợp chặt chẽ giữa phòng Tư pháp với các phòng chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình, với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thực hiện có hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, truyền thông nâng cao nhận thức trong giảm nghèo, phát huy năng lực đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở trong việc khuyến khích động viên người nghèo nỗ lực vươn lên
để thoát nghèo, nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, doanh nghiệp và toàn xã hội để thoát nghèo bền vững
2.2 Thực tiễn về tổ chức và hoạt động của các phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình
2.2.1 Quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của phòng Tư pháp
Trang 37Kể từ khi Bộ Tư pháp được thành lập lại năm 1981 thì hệ thống ngành tư pháp được hình thành, Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phòng Tư pháp thuộc
Ủy ban nhân dân cấp huyện được thành lập cùng với Ban tư pháp xã, phường, thị trấn
đã tạo thành một hệ thống tổ chức chặt chẽ của ngành tư pháp từ Trung ương đến địa phương, cơ sở
Ngày 04/6/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ tư pháp Để thi hành Nghị Định
số 38/CP ngày 04/6/1993 của Chính phủ, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp, Trưởng ban tổ chức Chính phủ đã ban hành Thông tư liên tịch số 12/TTLB ngày 27/7/1993 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức cơ quan Tư pháp địa phương Từ năm 2009 đến năm 2014, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được thực hiện theo quy định của Thông tư liên tịch
số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội
vụ
Từ năm 2014 đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ, trong đó bổ sung thêm các nhiệm vụ mới cho phòng Tư pháp và nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định về tổ chức các
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 thì cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương; đồng thời còn phải thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan Nhà nước cấp trên
2.2.2 Thực tiễn tổ chức của phòng Tư pháp
2.2.2.1 Tổ chức bộ máy phòng Tư pháp
Theo quy định của pháp luật thì phòng tư pháp là cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về hoạt động tư pháp ở địa phương và có nhiệm vụ tham mưa, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện về: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; nuôi con
Trang 38nuôi; hộ tịch; chứng thực; bồi thường Nhà nước; trợ giúp pháp lý; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật Đồng thời, phòng Tư pháp còn được Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cùng cấp giao thực hiện một số nhiệm vụ khác và còn phải thực hiện những nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật với tần suất ngày càng cao
Công chức của phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được bố trí theo loại đơn vị hành chính và theo nguyên tắc: Đơn vị hành chính lớn hơn thì được phân bổ biên chế nhiều hơn để đảm bảo thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao Nhưng thực tế việc bố trí biên chế tại các địa phương chưa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, ví dụ: Đối với cấp huyện, trong tổng
08 đơn vị hành chính cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình, có 01 đô thị loại 2 (thành phố Ninh Bình), 01 đô thị loại 3 (thành phố Tam Điệp), 06 huyện loại 2 (Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn) nhưng biên chế công chức của các phòng Tư pháp được bố trí không theo tiêu chí đơn vị hành chính lớn hơn thì được bố trí biên chế nhiều hơn, như phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Ninh Bình là đô thị loại 2 nhưng biên chế công chức luôn ít hơn phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Tam Điệp là đô thị loại 3 (phụ lục Bảng 05 tại phần phụ lục)
2.2.2.2 Đội ngũ công chức phòng Tư pháp
Đội ngũ công chức của các phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có chức trách thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cùng cấp giao cho phòng Tư pháp
- Về số lượng: Tổng số công chức trong biên chế của 08 phòng Tư pháp thuộc
Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tại thời điểm 31/10/2019 là 21 người, bình quân 2,5 công chức/ 01 phòng Tư pháp, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý
là 13 người chiếm trên 50% tổng biên chế công chức của các phòng Tư pháp Trong khi đó theo quy định của pháp luật, biên chế công chức của các phòng Tư pháp được bảo đảm tối thiểu 04 công chức Tuy nhiên, hiện nay biên chế của toàn bộ các phòng
Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình chỉ được phân
bổ giao chỉ tiêu biên chế thực tế từ 02 ÷ 03 biên chế / 01 phòng Tư pháp là nhiều nhất,
cụ thể: Phòng tư pháp huyện Nho Quan có 03 người, phòng Tư pháp huyện Gia Viễn
Trang 39có 03 người, phòng Tư pháp huyện Hoa Lư có 02 người, phòng Tư pháp thành phố Ninh Bình có 02 người, phòng Tư pháp thành phố Tam Điệp có 03 người, phòng Tư pháp huyện Yên Khánh có 03 người, phòng Tư pháp huyện Yên Mô có 02 người, phòng Tư pháp huyện Kim Sơn có 03 người [41]
- Về chất lượng cán bộ, công chức của 08 phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Thạc sỹ 01 người, chiếm 4,76%; Đại học 19 người, chiếm 90,48%; Cao đẳng 01 người, chiếm 4,76%; chuyên ngành Luật 13 người, chiếm 61,90%; chuyên ngành khác 08, người chiếm 38,09% [41]
+ Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp lý luận chính trị 05 người, chiếm 23,81%; Trung cấp lý luận chính trị 06 người, chiếm 28,57%; Sơ cấp lý luận chính trị 10 người, chiếm 47,62% [41]
+ Trình độ theo ngạch, bậc công chức: Chuyên viên 20 người 95,23%; cán sự 01 người, chiếm 4,76%; có 20 chuyên viên và 01 cán sự đã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý Nhà nước theo quy định; cán bộ lãnh đạo Trưởng phòng, Phó trưởng phòng 13 người, chiếm 61,90%
+ Trình độ tin học và ngoại ngữ: Chứng chỉ tin học 21 người, chiếm 100%; chứng chỉ ngoại ngữ Tiếng Anh A, B, C 21 người, chiếm 100%
- Về đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
Số cán bộ, công chức được Sở Tư pháp chủ trì tổ chức hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp hoặc phối hợp với các cơ quan khác để đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp
vụ trong 05 năm qua (từ 2015 - 2019) là: 365 lượt người (năm 2015 là 65 lượt người; năm 2016 là 73 lượt người; năm 2017 là 81 lượt người; năm 2018 là 67 lượt người; năm 2019 là 79 lượt người) Ngoài ra hàng năm để triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới của pháp luật liên quan đến hoạt động của ngành tư pháp, phòng Tư pháp các huyện đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức hội nghị tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức phòng Tư pháp, công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có liên quan đến hoạt động tư pháp ở địa phương để thống nhất việc triển khai và tổ chức thực hiện cho đúng các quy định của pháp luật, như: Tập huấn về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; đăng ký và quản lý hộ tịch;
xử lý vi phạm hành chính; hòa giải ở cơ sở; trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối
Trang 40tượng chính sách; thực thi Bộ luật Dân sự, Tố tụng dân sự; Bộ luật Hình sự, tố tụng hình sự…
- Về vị trí việc làm
Trước năm 2014, phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có 20 nhiệm
vụ theo quy định của Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Từ năm 2014 đến nay, theo quy định của Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Nội vụ thì phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được bổ sung thêm 06 nhiệm vụ mới Đồng thời theo quy định của pháp luật
và theo yêu cầu quản lý thì phòng Tư pháp được pháp luật chuyên ngành khác, được
Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao thực hiện nhiều nhiệm vụ, công việc khác Tuy nhiên, biên chế của các phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tại tỉnh Ninh Bình không được bổ sung thêm cho tương xứng với nhiệm vụ được giao
Bảng 2.3 Bảng thống kê số lượng công chức phòng Tư pháp
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2015 -2019
3,6 Công chức
3,6 Công chức
3,1 Công chức
2,6 Công chức
Nguồn: Báo cáo tổng kết tư pháp từ 2015 – 2019, của ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình
Tổng biên chế của các phòng Tư pháp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tại thời điểm năm 2019 so với năm 2015 giảm 10 người, năm 2016 và năm 2017 giảm 02 người, năm 2018 giảm 04 người, trong khi đó nhiệm vụ của phòng Tư pháp và khối lượng công việc thuộc lĩnh vực Tư pháp ngày càng gia tăng Đơn cử như trong quản lý đăng
ký hộ tịch, do sự gia tăng về quy mô dân số, tỷ lệ đăng ký khai sinh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình năm 2015 là 8.970 trường hợp, đăng ký khai sinh lại là 2.364 trường hợp, khai tử là 3.250 trường hợp, đăng ký kết hơn 3.700 cặp vợ chồng, nhận con nuôi là 06 trường hợp; nhưng đến năm 2019 đăng ký khai sinh trên địa bàn tỉnh là 13.851 trường