Kính chào Giảng viên TS Phạm Thanh Thủy, Kính chào Giảng viên TS Phạm Thanh Thủy, Cảm ơn Giảng viên đã bỏ thời gian quí báu cuối tuần để trả lời cho phản hồi của nhóm 7 – Lớp KKTV1 Theo ý cá nhân, phầ[.]
Trang 1Cảm ơn Giảng viên đã bỏ thời gian quí báu cuối tuần để trả lời cho phản hồi của nhóm 7 – Lớp KKTV1
Theo ý cá nhân, phần trả lời của Giảng viên có nhiều cái chưa thỏa đáng, mở rộng sang vấn đề khác
Xin phép được tự giới thiệu tôi tên Tùng (sn 1980), có thâm niên 11 năm công tác tại ngân hàng
về lĩnh vực tín dụng, đặc biệt về tín dụng doanh nghiệp, hiện giữ vị trí Trưởng phòng Kiểm soát rủi
ro tín dụng tại ngân hàng ACB – đơn vị Sở Giao Dịch
Để tiện cho phần tranh luận, xin phép được trích từng phần trả lời của Giảng viên để phản hồi Trước hết Học viên Tùng đánh giá cao đề tài 4, và chọn làm đề tài này, vì đây là đề tài mở hơn 3
đề tài kia chỉ đơn thuần tính toán, căn cứ trên số liệu có sẵn và cho nhận xét cũng trên cái có sẵn, rồi so sánh với đáp án Chính vì vậy nhóm mới chọn đề tài 4 Tuy nhiên, cũng vì là đề tài mở nên nhóm cũng không kì vọng được điểm tối đa
1
“Yêu cầu của đề số 4: Tự cho số liệu của BCTC, phân tích các BCTC và đưa ra nhận xét.
Còn nội dung bạn liệt kê và bảo đấy là yêu cầu của đề bài thì không đúng Đấy chỉ là gợi ý để các bạn có thể làm bài tập! Tức là chỉ định hướng cho các bạn, không đồng nghĩa với việc các bạn chỉ làm những gì trong phần gợi ý liệt kê ra.”
Cái mà Học viên Tùng liệt kê ra trong phản hồi lần 1, chính là yêu cầu chung mà Giảng viên ghi tại mục A, B của Yêu cầu chung và Kết cấu bài tập Thiết nghĩ nếu bản thân Giảng viên không có sự mong muốn bài làm phải có một cái khung/ dàn ý tổng quát để làm theo, thì
Giảng viên đã không ghi như vậy Ngoài ra, không có chỗ nào trong phần yêu cầu ngay đầu mục
A, mục B Giảng viên ghi là đây chỉ là “gợi ý” còn các nhóm muốn làm gì thì làm
Dù đề mở đến đâu, thì cũng phải có dàn ý tổng quát để theo, có cái sườn để bám vào, làm mà
lan man, không có định hướng, không có khung sườn thì lấy gì biết ý Giảng viên để làm bài, làm sao đoán được barem điểm thế nào để thỏa mãn, chính vì vậy bài của nhóm 4 mới dám khẳng định đã bám sát được trên 80% của Yêu cầu chung và Kết cấu bài tập, chứ không dám nói là làm đúng ý Giảng viên trên 80% hay làm đúng đáp án 100%
Yêu cầu chung/ Kết cấu bài tập có 3 phần chính: Giả định về doanh nghiệp (tên, lĩnh vực sản
xuất kinh doanh, sản phẩm chính); Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh; Phân tích báo cáo tài chính Với 3 mục đó, bài của nhóm đã thõa mãn 2 mục đầu 100%, mục thứ 3 cũng đã phân tích được các chỉ số chính mà nhóm đánh giá là quan trọng đối với công ty này Vì thế riêng về việc thỏa mãn được hơn 2/3 yêu cầu khung của bài tập, nhóm cũng
không đáng bị 3 điểm
Với một bài làm thỏa mãn riêng về kết cấu và yêu cầu căn bản thì cũng cần đạt tối thiểu trung bình, còn điểm giỏi điểm xuất sắc là những phần vượt trên yêu cầu đưa ra của Giảng viên.
Theo lẽ thuờng, Giảng viên là người ra đề bài, đề tài, thì cũng phải là người bắt buộc đưa ra các yêu cầu một cách rõ ràng, có giới hạn mong muốn của bản thân Giảng viên và thể hiện rõ ràng bằng câu chữ trong đề bài; để các học viên có hướng mà làm theo; không thể để học viên phải tư hiểu ẩn ý yêu cầu của Giảng viên trong đề bài đưa ra, mò mẫm làm bài một cách vô định, làm đề
mở một cách vô tận
Trang 2“Các bạn giả định về doanh nghiệp: chỉ đưa mỗi thông tin liên quan đến Bảng CĐKT và Kết quả kinh doanh rút gọn, không hề có các thông tin khác Tuy nhiên, khi tiến hành phân tích, các bạn có đề cập tới Bảng
hàng tồn kho, khoản phải thu chi tiết tới từng công ty … Các số liệu này các bạn lấy ở đâu??? Do đó, với thông tin các bạn cung cấp, toàn bộ nội dung phân tích chi tiết liên quan đến HTK, công ty có thể nói là không có cơ sở.”
Thưa Giảng viên, đây là ý mới hoàn toàn không có trong phần nhận xét chấm bài trước đây
của Giảng viên Trước đây Giảng viên ghi rằng: “Việc phân tích chỉ dừng lại ở việc xác định tăng/giảm, chứ không phân tích nguyên nhân, cũng như ảnh hưởng của các biến động đó, chủ
yếu mang tính chất liệt kê” Học viên đã dẫn giải bằng chứng việc phân tích chỉ số trong bài làm của nhóm đều có nêu rõ nguyên nhân, phân tích chỉ số và nhận xét về chỉ số đó Bảng CĐKT và KQKD rút gọn vì đơn giản là các mục khác không có số nên nhóm ẩn đi Vì
nhóm đặt giả thuyết đây là công ty thương mại thuần túy, chỉ cần đặt các chỉ số trên là vừa đủ
Còn nếu so với mục C, phần gợi ý trong đề tài 4 thì những số thuộc bảng CĐKT, KQSXKD trong bài của nhóm cũng đã nhiều hơn các phần bắt buộc phải có được đánh dấu bằng
“chỉ tiêu A”, “chỉ tiêu B”.
Số liệu nhóm lấy từ đâu thì đã làm đúng theo yêu cầu là từ giả thuyết nhóm/ Học viên làm ra, giả định mà có theo yêu cầu bài, ở đây Giảng viên muốn nói lấy từ đâu?! Với kinh nghiệm hơn
11 năm trong ngành tín dụng, tín dụng doanh nghiệp Học viên có thể cùng nhóm đưa ra rất nhiều giả thiết cho các tình huống giả định, làm dày dặn thêm cho phần xác định nguyên
nhân và nhận xét của bài tập nhóm làm
Đã là giả thiết, giả định thì thì nhóm có quyền đặt theo ý của nhóm, miễn sao logic và gần gũi với chỉ số đang phân tích Học viên không thể hiểu vì sao Giảng viên phải để đến 3
dấu “?” ở đây về việc đặt các số liệu/ tình huống giả định của nhóm nhằm làm nhận xét, phân tích, diễn giải nguyên nhân chỉ số bớt khô khan Xin Giảng viên nói rõ hơn cho Học viên hiểu
Nếu không có giả định các nguyên nhân để gắn vào việc phân tích, nhận xét các chỉ số thì
lại vô hình chung bị đúng vào trường hợp mà Giảng viên nhận xét trong lời phê ban đầu “Việc phân tích chỉ dừng lại ở việc xác định tăng/giảm, chứ không phân tích nguyên nhân, cũng như
ảnh hưởng của các biến động đó, chủ yếu mang tính chất liệt kê”, mà điều này nhóm đã làm
tốt ngay từ đầu trong bài làm dù không có trong lưu ý/ gợi ý/ hướng dẫn/ yêu cầu trong đề
tài số 4
Làm ngắn gọn khi phân tích chỉ số thì sẽ rơi vào trường hợp không có nguyên nhân/ nhận xét; cố gắng làm đầy đủ thì lại được hỏi vì sao, từ đâu, và kết luận là không có cơ sở, phủ nhận kết quả làm việc Trong khi bài làm được xây dưng trên các tình huống giả định/ tư đưa ra số liệu và các nhận xét Vậy thật ra yêu cầu của Giảng viên là như thế nào?
Để làm cho phân tích tài sản, khả năng thanh toán thêm dày dặn,… thuyết phục từ 1 con số
trong Bảng CDKT, nhóm và Học viên đã triển khai một số chỉ số chính ra thành các mục nhỏ hơn, rồi lập luận theo các giả định tự đặt ra của mình sao cho logic.
Ở đây, Học viên Tùng thấy Giảng viên có sự mâu thuẫn tiếp tục trong cách đặt yêu cầu và kết
luận Ngoài ra, Học viên xin phép nhắc lại đây là bài làm yêu cầu Phân tích báo cáo tài chính của một công ty giả định, chứ không phải phân tích tình hình sản xuất kinh doanh, mà
Giảng viên yêu cầu cung cấp thông tin nhiều hơn, rộng hơn
Học viên xin hỏi ngược lại, nếu nhóm cung cấp phần giả định về sản xuất kinh doanh để bảo
vệ lập luận cho giả thuyết nhóm đã làm trong phần phân tích, Giảng viên lại tiếp tục yêu cầu
hỏi tại sao Học viên nghĩ ra được như vậy ư? Như thế thì biết đến bao giờ mới chấm dứt Ở
Trang 3cấu chung, nhưng câu thứ hai lại bắt lỗi những giả thiết của nhóm đưa ra là từ đâu, phủ định hết kết quả làm việc của nhóm
Một lần nữa xin phép được nhắc lại, đây là phân tích báo cáo tài chính của một công ty giả định, không có yêu cầu cung cấp thông tin và phân tích tình hình sản xuất kinh doanh Đề bài yêu cầu, định hướng là giả định, thì cũng không yêu cầu chứng minh giả định đó ở đâu ra, vì sao suy nghĩ như vậy
3
“Khi làm bài tập bất kỳ có tính toán, các bạn đều cần phải đưa các thức tính VD: đề bài yêu cầu tính NPV của dự án, các bạn cần phải thực hiện từng bước, tính toán để đưa ra kết quả, chứ không thể ghi mỗi đáp án Tuy nhiên, phần này không trừ nhiều điểm.”
Cái này, lại thêm một lần nữa Giảng viên bắt các học viên tự hiểu ẩn ý của mình Phần đề bài của
đề tài số 4, yêu cầu chung, định hướng, gợi ý hoàn toàn không có yêu cầu đưa ra lý giải cách tính
Để ra được số này thì nhóm phải cài công thức vào file excel để tính ra, liên kết với các sheet BCDKT và KQHDKD, chứ không hề cho số đại, số ma, file excel tính toán vẫn còn lưu (gởi kèm
file excel tài chính ở cuối bài phản hồi này làm bằng chứng)
Ngoài ra, Giảng viên ghi rằng phần tính các chỉ số tài chính không trừ nhiều điểm, vậy có nghĩa là phải có 1 barem điểm để bài được dưa vào đó chấm, đó cũng chính là cái khung, định hướng
mà Giảng viên đưa ra chứ nhóm đâu thể muốn làm gì thì làm, dễ bị lan man ngoài yêu cầu và kết cấu bài tập, như vậy lại có một sự mâu thuẫn nhẹ với câu đầu tiên về sự tự do “vô hạn” trong triển khai bài tập
4
“Về phần phân tích các chỉ số: các bạn mới chỉ phân tích sơ bộ về vòng quay và khả năng thanh toán Còn các chỉ số khác thì sao? Các bạn chỉ liệt kê kết quả mà không phân tích.
Cái quan trọng nhất của bài tập phân tích là phải chỉ ra được ý nghĩa của các con số, nguyên nhân, ảnh hưởng… đến tính hình tài chính của doanh nghiệp! Điều này các bạn chưa làm được một cách đầy đủ!”
Trong phần yêu cầu, định hướng, gợi ý mà Giảng viên đã ghi tại Bước 4, Mục B.III.1, như sau: Phân tích các báo cáo tài chính và rút ra kết luận theo các nội dung sau
- Tính cân đối tài chính
- Khả năng sinh lời
- Khả năng thanh toán
- Hiệu quả sử dụng tài sản
Bài làm của nhóm đã thỏa mãn đầy đủ việc phân tích các chỉ số chính liên quan đến 4 gạch đầu dòng trên (tài sản, nguồn vốn, khoản phải thu , và xin nhắc lại trong phần phân tích nhóm đã đưa
ra được nguyên nhân (giả định liên quan đến yếu tố đó), phân tích chiều ngang kết hợp chiều dọc, nhận xét sau khi phân tích (chứ không đơn thuần kết luận tăng giảm) Để rồi với giả định, xin nhắc lại là giả định, đưa ra để dùng phân tích, lí giải thì Giảng viên lại đưa thêm câu hỏi là “ở đâu ra???”
Trang 4“Tôi có thể xem xét lại bài của các bạn phần nội dung phân tích tổng quát BCTC nếu các bạn cung cấp thông tin các bạn dùng làm cơ sở để tính toán, phân tích! Còn đối với phần chỉ số tài chính: các bạn chưa phân tích hết các chỉ số nên phần này sẽ không chấm lại!”
Học viên rất cảm ơn thiện ý của Giảng viên, và rất muốn hợp tác về việc này để cải thiện điểm cho các bạn khác trong nhóm Xin phép được biết mail của Giảng viên để tiện gửi file Xin Giảng viên nói cho rõ hơn ý của mình, vì đây là phân tích báo cáo tài chính, nên nhóm đã
theo đúng Yêu cầu chung, Kết cấu bài tập đưa Bảng CDKT, KQHDKD vào bài làm, còn bây giờ Giảng viên muốn cung cấp thêm thông tin là thông tin nào của báo cáo tài chính, hay Giảng viên cần thêm giả định về tình hình sản xuất kinh doanh? Hay là ý nào khác? Để Học viên và nhóm biết
rõ để cung cấp thêm cho chính xác, thật đúng ý
Phần các chỉ số tài chính nhóm cung cấp thêm file excel có sheet tính toán đầy đủ các chỉ số (nhiều hơn mục C gợi ý của đề bài 8 chỉ số), liên kết tính toán với các sheet bảng CĐKT và KQSXKD Tuy không phân tích hết, vì nhóm đánh giá không cần thiết và thật ra cũng không có gì
để phân tích, lặp lại ý quá nhiều, không nêu được đặc trưng của tài chính công ty giả định; nhưng nhóm cũng đã phân tích đầy đủ các hệ số thanh toán, vòng quay hàng tồn kho, thời gian tồn kho bình quân, khả năng sinh lợi,… mong giáo viên chấm điểm theo thang điểm đầy đủ
6
“Đề tài số 4 là đề tài khó, đòi hỏi người học phải có những kiến thức tổng quát về tài chính doanh nghiệp, về kế toán để hiểu được ý nghĩa của thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính Khi các bạn đã lựa chọn đề tài này, các bạn bắt buộc phải đảm bảo được yêu cầu của 1 bài phân tích tài chính doanh nghiệp.
Đối với việc phân tích tài chính của doanh nghiệp cần phải có những nội dung sau:
Phần phân tích đối với cả bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả HĐKD:
(1) Phân tích ngang trên từng báo cáo tài chính để thấy rõ sự biến động về quy mô của từng chỉ tiêu, kể cả số tuyệt đối và số tương đối (2) So sánh dọc trên từng báo cáo tài chính (đặc biệt bảng cân đối kế toán) để thấy rõ sự biến động về cơ cấu của từng chỉ tiêu trên từng báo cáo tài chính (3) Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáo tài chính nhằm đánh giá sơ bộ về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
- So sánh chiều ngang, hay còn gọi là Phân tích xu hướng Đây là việc phân tích 1 chỉ tiêu tại nhiều thời điểm khác nhau để xem xét sự biến động của chỉ tiêu đó Ngoài ra còn phân tích giữa chỉ tiêu của DN với lại chỉ tiêu của ngành Xem xét chỉ tiêu đó tăng, giảm như thế nào, nguyên nhân, ảnh hưởng của biến động đó.
- Tỷ trọng của từng loại chi phí (VD: giá vốn hàng bán, CP bán hàng, CP quản lý DN, CP tài chính ) trong doanh thu (tức tỷ lệ %)
- Việc xem xét sự biến động là xem các chỉ số của kỳ báo cáo so với kỳ trước.
Đối với việc phân tích khái quát bảng cân đối kế toán:
- PT cơ cấu tài sản: PT biến động của tài sản, PT tính hợp lý của cơ cấu tài sản
- PT cơ cấu nguồn vốn: PT biến động của nguồn vốn, PT tính hợp lý của cơ cấu nguồn vốn
Trang 5Tính tỷ trọng của từng tài sản, nguồn vốn trên tổng TS: có nghĩa là xem từng loại tài sản, nguồn vốn chiếm bao nhiêu % trong tổng TS VD: TSCĐ chiếm tỷ trọng bao nhiêu % trong tổng TS của DN.
Sau khi tính toán ra cần đưa ra nhận xét nguyên nhân, ảnh hưởng của việc có các con số đã tính toán ra đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp.
VD: TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng TS Nếu như đó là doanh nghiệp sản xuất thì đây là điều hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp Điều này cho thấy DN đầu tư vào máy móc, dây chuyền sản xuất Việc tăng hoặc giảm của tỷ trọng TSCĐ cho thấy điều gì Nhưng nếu đó là doanh nghiệp dịch vụ thì đây là điều bất hợp lý
Khi thực hiện bài tập Phân tích TCDN, cần phân tích các chỉ số tài chính và giải quyết các câu hỏi:
1 Chỉ số này tăng hay giảm?
2 Sự biến động này tốt hơn hay xấu đi?
- So với kì trước
- So với đối thủ cạnh tranh trực tiếp
- So với mức trung bình ngành
- So với chỉ số kế hoạch
3 Nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra sự biến động này?
4 Các phương án có thể có để cải thiện chỉ số này?
5 Hành động này ảnh hưởng như thế nào tới các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính khác?
6 Phương án tối ưu trong bối cảnh các nguồn lực hiện tại?
Trong bài cần thể hiện rõ 3 nội dung phân tích: phân tích khái quá BCTC, phân tích các chỉ số tài chính và phân tích tổng hợp tình hình tài chính (phân tích Dupont).”
Đến đây chính Giảng viên cũng thừa nhận đây là một đề tài khó, cần rất nhiều kiến thức tổng hợp Học viên xin bổ sung thêm đây là một đề tài mở, hay hơn hẳn 3 đề tài trước, khó đạt điểm xuất sắc, tối đa Chính vì vậy, những nhóm chọn đề tài này làm cần được ghi nhận sự dũng
cảm, dám làm, dám tìm hiểu và công sức đầu tư nhiều hơn hẳn 3 đề tài kia
Cũng chính vì đây là đề tài khó, nên thiết nghĩ thang điểm chấm cho đề tài cũng cần rộng rãi hơn 3
đề tài còn lại Một bài mà nhóm đã thỏa mãn khá nhiều (trên 80%) theo từng yêu cầu và hướng dẫn trong Yêu cầu chung/ Kết cấu bài tập đưa ra Bài làm dài 7 trang, không hề sơ sài, không làm ẩu, không sai chính tả, bố cục và dàn trang bám sát theo yêu cầu của Giảng viên ghi trong file pdf hướng dẫn và yêu cầu làm bài tập nhóm/ đề tài số 4 lấy từ trang web của elearning.tvu Theo yêu cầu cơ bản Học viên đánh giá ít nhất cũng được điểm trung bình, dù là chấm khó nhất Vì vậy bài làm được chấm 3 điểm là quá nặng tay
“Đối với việc phân tích tài chính của doanh nghiệp cần phải có những nội dung sau… Trong bài cần thể hiện rõ 3 nội dung phân tích: phân tích khái quá BCTC, phân tích các chỉ số tài chính và
phân tích tổng hợp tình hình tài chính (phân tích Dupont)” Nếu là yếu tố cần, yếu tố đủ để bài
tập được điểm cao, tối đa, phù hợp với yêu cầu từ Giảng viên, thì sao lại không thể hiện những dòng yêu cầu này trong đề tài như là một yếu tố bắt buộc , mà lại để các học viên chọn đề tài
Trang 6này tự hiểu, mò mẫm trong ma trận ý tưởng và kết quả cần đạt được? Rồi khi chấm bài các học viên mới được biết thêm thông tin “cần có” này
Ngoài ra, đây là một bài tập nhóm, không phải đề tài khoa học, cũng không phải luận văn tốt
nghiệp hay đề tài cao học, nên những yêu cầu mà Giảng viên đưa ra thêm (không thấy trong phần Yêu cầu chung/ Kết cấu bài tập) theo ý kiến của Học viên là quá nhiều, một số chỗ vĩ mô, rất rộng không phù hợp với một bài tập nhóm Nếu đề tài số 4 nặng và quá khó như vậy, trong khi 3 đề tài còn lại đơn thuần là bài tập tính toán môn Tài chính doanh nghiệp trên số liệu/ câu hỏi có sẵn, kèm
một số nhận xét; như vậy có hợp lý hay không khi 4 đề tài được xếp chung với nhau? Có hợp lý
không cho việc khuyến khích sự sáng tạo và dám đương đầu với cái khó của các học viên
Với kinh nghiệm thực tế của bản thân, Học viên dám cam đoan hầu như rất ít, hiếm có công ty (dù
là công ty thực tế, chứ chưa nói đến công ty giả định) mà hội đủ hết các điều kiện như trong yêu cầu mà Giảng viên thể hiện trong phần phản hồi với Học viên về phần Phân tích tài chính doanh nghiệp: “so với đối thủ cạnh tranh trực tiếp, so với trung bình ngành, so với số kế hoạch, … phương án tối ưu trong bối cảnh nguồn lực hiện tại,…”
Đó phải là những công ty rất lớn về qui mô, có báo cáo được kiểm toán nước ngoài (KPMF,
PwC, ) thực hiện, có lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm dịch vụ dễ nhận biết/ phổ biến, có hệ thống tài chính minh bạch và đầy đủ, có hệ thống sản xuất/ phân phối rộng và khoa học… mới may ra có
thể tìm kiếm đủ thông tin để thỏa mãn nhưng yêu cầu mà Giảng viên dẫn chứng ra thêm này.
Mà nếu để đủ thông tin như vậy, đó không còn đơn thuần là một bài phân tích tình hình tài chính nữa, mà phải cần rất rất nhiều thông tin: từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, thông tin
ngành, thông tin đối thủ cạnh tranh, chính sách của Nhà nước, thị trường và xu hướng của thị trường, thông tin về vòng đời sản phẩm/ dịch vụ,…
Thưa Giảng viên, liệu một bài tập nhóm của môn mà có đầy đủ các yêu cầu như vậy trong chấm điểm có hợp lý hay không? Có công bằng cho những nhóm dám (hay dại dột) chọn đề tài khó
hay không?
Với kiến thức/ kinh nghiệm thực tế của bản thân Học viên, với khả năng có thể tiếp cận nhiều
nguồn thông tin ngành, thông tin về các công ty có trong thực tế, nếu những yêu cầu này được thể hiện ngay từ đầu trong đề tài số 4, thậm chí Học viên cũng phải suy nghĩ lại có nên chọn làm
đề tài này không, vì nó quá nặng, thông tin và yêu cầu quá nhiều; trong khi 3 đề tài kia lại đơn giản hơn rất nhiều Giả sử nếu có làm, bắt buộc sẽ phải sử dụng thông tin tổng hợp/ tham khảo
từ một số công ty/ khách hàng của ngân hàng có trong thực tế để làm cơ sở (đổi tên, dùng làm biến, thay đổi giá trị thực theo tỉ lệ %, gia giảm thông tin tùy trường hợp,…) cho lập luận/ dẫn chứng/ phân tích quá nhiều như yêu cầu thêm này thì liệu có được hỏi thông tin này “lấy ở đâu???” không; rồi phải gửi bằng chứng chứng minh, mà theo qui tắc thông tin ngân hàng là bảo mật, giả định đưa ra là công ty và số liệu không có thực
Bản thân Học viên cũng chấm, sửa không ít đề tài thực tập, nhưng cũng không bao giờ đặt câu
hỏi về những giả định mà sinh viên đưa ra là từ đâu, rồi kết luận là không có cơ sở để phủ nhận công sức của họ; mà Học viên xem các giả thiết và lập luận của sinh viên đưa ra có phù hợp, logic với nhau hay không, trình bày có chặt chẽ theo khung sườn yêu cầu chung không, sáng tạo hay không Vì tất cả chỉ là bài làm, không phải chuyên đề nghiên cứu khoa học thực tế, hay phân tích một dự án có thực
Thật sự qua trao đổi với Giảng viên, Học viên Tùng cảm thấy như phần đề tài đưa ra cho các
nhóm làm không phải do chính Giảng viên đưa lên web, mà do trợ lý, thư ký của Giảng viên thực hiện, hoặc phần chấm bài do trợ lý của Giảng viên thực hiện? Vì sao? Vì phần yêu cầu chung/ kết cấu bài tập và gợi ý bài làm khác quá xa với nhận xét và yêu cầu (đưa ra thêm) khi nhận xét và phản hồi
Bản thân chữ ký của Giảng viên cũng có nét đè hay scan lên từ một mẫu khác
Trang 7đúng với ý Giảng viên khi có nhóm nào chọn (dám hay dại dột) đề tài thú vị, quá khó này Vì phần nhận xét và yêu cầu đưa ra dẫn chứng thêm của Giảng viên quá nhiều, đa số không hề có trong
đề tài, mà toàn là những yêu cầu theo ý Giảng viên ghi là “cần có” (thiết yếu, phải có, căn bản)
Cảm ơn Giảng viên đã xem phản hồi
Trân trọng