1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hải Dương phong vật chí ppt

86 871 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hải Dương phong vật chí
Tác giả Trần Huy Phác
Trường học Trường Đại học Tổng hợp Hải Dương
Chuyên ngành Lịch sử địa phương
Thể loại Sách nghiên cứu
Năm xuất bản 1973
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 409,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu  Trần Công Hiến, khâm sai ch-ởng cơ, trấn thủ Hải D-ơng d-ới thời Gia Long, giao cho một viên học quan trong hạt là Trần Huy Phác, hiệu Đạm Trai, tập hợp các bản l-ợc thuật

Trang 1

(Hiệu Đạm trai)

Hải D-ơng phong vật chí

Nguyễn Mạnh Duân dịch

Chế bản theo bản đánh máy của

Ty văn hoá Hải H-ng- Th- viện khoa học tổng hợp năm 1973

Th- viện tỉnh Hải D-ơng

8/1998

Trang 2

Giới thiệu



Trần Công Hiến, khâm sai ch-ởng cơ, trấn thủ Hải D-ơng d-ới thời Gia Long, giao cho một viên học quan trong hạt là Trần Huy Phác, hiệu Đạm Trai, tập hợp các bản l-ợc thuật về mọi mặt: núi sông, phủ huyện, nhân vật, phong tục, thổ nghi, sản vật, kỹ thuật của các địa ph-ơng trong tỉnh Hải D-ơng, biên tập thành sách

Ph-ơng pháp biên chép của "Hải D-ơng phong vật chí" tuy có giản -ớc, nh-ng đọc qua sách này, ta cũng có thể hình dung khái quát về lịch sử phát triển và những nét cơ bản của tỉnh

Hải D-ơng còn là một nơi phát tích, là nơi mai danh ẩn tích của nhiều nhân vật trứ danh trong các giai đoạn phát triển lịch sử Việt nam, đại biểu lỗi lạc của các giới nho học, văn học, quân sự, kinh tế, y học nh- Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thuyên, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Tuệ Tĩnh, Hải Th-ợng Lãn Ông và nhiều ng-ời khác

Ta đã yêu quý đất n-ớc Việt Nam anh hùng của chúng ta, "Hải

nhiều hơn, với niềm tin t-ởng vững chắc rằng đất n-ớc Hải D-ơng với điều kiện thiên nhiên thuận lợi cộng với sức lao động cần cù và sáng tạo của nhân dân, sẽ đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế quốc dân

Thu Đông 1972

Ng-ời dịch

Trang 3

Lời bạt



Đất Việt-th-ờng(1) x-a không có liệt truyện Xét sách cũ: các triều ch-a thâu tóm đ-ợc việc hay, ch-a hội tập đ-ợc nguồn gốc Dằng dặc mấy nghìn năm, sĩ phu Nam Việt -a đọc Bắc sử mà cho là cao th-ợng Đến nh-

cỏ thi(2) sinh sản, châu huyện thay đổi tên, cả đến phong thổ, vật loại khác, thì đều bỏ thiếu, không hề giảng giải Không phải là ng-ời hiền thời tr-ớc học ch-a uyên thâm, cũng chỉ vì trong n-ớc không có dã sử ghi những tuyện thực vậy

May có vị trấn thần miền Đông(3), bụng dạ bậc công hầu, tài ví nghìn dặm tr-ờng thành, và Thi, Th- thánh hiền thì suốt đời -a thích Khi rỗi việc công, phân phó cho quan châu, huyện sở tại ghi thuật mọi việc nh- phong vật, sự tích

Trần Đạm Trai(4), trợ giáo trong hạt tập hợp mọi bản của các huyện, phân loại biên chép thành Hải D-ơng phong vật chí Chí này ghi rõ văn thần võ t-ớng, rực rỡ nh- mặt trời, ngôi sao; bậc mẹ giỏi, thầy chùa hay, đếm

đ-ợc bàn tay mấy ngón Cả đến phong tục tốt xấu, dân tục dở hay, không việc gì không phân tích ngọn ngành Độc giả không những biết đ-ợc học vấn của Đạm Trai có nguồn gốc sâu xa, mà càng thấy quan trấn có công với nho giáo cũng to lắm vậy

Nếu các quan trấn hết thảy đều nh- quan trấn miền Đông(5) thì thên hạ

sẽ không có sách gì là không đọc và các th- trai đều nh- Đạm Trai cả thì

thiên hạ không có việc gì không ghi Dĩ nhiên, làm thế là một cách "Báo chết

(1) Việt th-ờng: N-ớc Việt cổ ta x-a gọi là Việt th-ờng Đại nam quốc sử diễn ca, ghi Việt th-ờng là đất Quảng trị, Quảng Bình ngày nay

(2) Cỏ thi: Thứ cỏe dungf làm thẻ bói ngày tr-ớc

(3) Quan đầu trấn Hải d-ơng

(4) Trần Đạm Trai tức Trần Huy Phác(1754-1834) hiệu Đạm Trai, t-ớc bá Phác Ngọc

(5) ) Miền Đông: Tên chỉ Hải D-ơng Cận đại có câu: Đông cổ am(Hải d-ơng), Nam Hành thiện(Nam định cũ), nơi có nhiều ng-ời học giỏi và thi đỗ cao làm quan

Trang 4

thì giữ lại da" đó Nay nhân dân thịnh trị, đất n-ớc thống nhất Miền nam

sông có bốn dinh m-ời một trấn, miền bắc sông có một phủ m-ời ba trấn, một giải đất đai rộng lớn nh- ngày nay, tr-ớc kia ch-a bao giờ có

Vả chăng đạo ch-a sa xuống đất, trời ch-a để mất t- văn(1) Cho nên trên có vua hiếu trị , d-ới có tể t-ớng giữ trị, làm cả việc s-u tầm rộng rãi, châm ch-ớc cổ kim Nh- thế thì đầu mối có ghi, sự nghiệp nhà vua có đồ bản, là -ớc vọng sâu sắc cho ngày nay vậy

Năm Gia Long thứ 17 (1818) là năm nhâm thân, tháng quí hạ (tháng 6) th-ợng tuần

Ô Phong ( ), Đ-ờng (Đ-ờng Hào, Th-ợng (Th-ợng Hồng), Hải (Hải D-ơng), Bùi Dã Sĩ ( sĩ phu đồng quê họ Bùi) viết lời bạt(2)

Chính thống hậu đồn ở trung quân, kiêm lý việc tham quân năm đồn, khâm sai ch-ởng cơ đi trấn thủ Hải D-ơng, t-ớc hầu An Quang, là Trần công Hiến(3)

(1) Trong Luận ngữ thiên, Khổng tử nói: Thiện chi vị táng t- văn.(Giời ch-a để mất văn hiến).Chú: Đạo chi hiến giả vị chi văn, cái lễ nhạc chế độ chi vị Lễ, nhạc, chế, độ đ-ợc hiển hiện gọi là văn Về sau ng-ời ta gọi ng-ời theo nho giáo là t- văn

(2) Ng-ời viét lời bạt là Bùi Dã Sĩ (Dã sĩ là hiệu)

(3) Trần Công Hiến là trấn thủ Hải D-ơng, uỷ cho Trần Huy Phác tập hợp các bản l-ợc thuật về mọi mặt núi sông nhân vật, phong tục qua các phủ huyện biên chép thành Hải D-ơng phong vật chí

Trang 5

Trấn Hải D-ơng, phía Đông tới Yên Quảng, phía Tây tiếp với Thuận

An Sông dài bao quanh phía Nam, các núi đứng chầu ở mặt Bắc Khí thiêng, vật đẹp của giời đất tụ lại, nơi đây từ x-a đã nổi tiếng với các trấn khác

Vị tôn hầu đ-ờng quan trấn này, từ khi vâng mệnh vua, giữ sứ tiết(3), lấy kinh sử làm rìu búa cai trị muôn dặm phiên trấn, mọi việc cũ trong hạt

đều có l-u tâm

Mùa hạ Mậu Thìn (Gia Long thứ 7: 1808) vâng chiếu vua ban khen: rất đ-ợc lòng dân, khuyên ở lại giữ yên trấn này Đọc đi đọc lại chiếu vua, càng thấy khích lệ Nên hiệp lực cùng các khổn thần ngày đêm giữ trị, trên thì báo ơn tri ngộ sâu sắc của nhà vua, d-ới thì yên ủi lòng mong muốn an ninh của bốn cõi Một mặt trấn giữ, đến nay đ-ợc m-ời năm

Mùa xuân Tân Mùi, nhân lúc rỗi việc công, t- hỏi các viên thú, tề(4)(4-4), và sai thuật rõ mọi mặt núi, sông, nhân vật, phong tục, thổ nghi, bách công, kỹ nghệ, có hứng bút sẽ đặt thành vần, làm thành thơ ca; và nói mọi việc cổ kim rực rỡ đáng làm g-ơng Bởi thế, chỉ nhởn nhơ mũ áo nơi gác tía,

mà phong c-ơng m-ời tám huyện, nh- chính thân mình đã đi khắp vậy

Bao lâu nghe ngóng thăm dò, vâng lệnh trên uỷ cho biên tập, từ chối không đ-ợc Cho nên quên mình tài thô học thiển, l-ợc thuật các việc, phụ

(1) Thánh thiên tử: Bậc thánh con giời, tức chỉ vua

(2) Thừa tuyên: tỉnh gọi là thừa tuyên, theo cách xếp đặt của nhà Minh

(3) Kiến tiết: giữ sứ tiết, lĩnh sứ mệnh đi trấn an địa ph-ơng

(4) Thú- Thái thú, Tế= ấp tế: quan huyện, quan châu

Trang 6

thêm điều nghe thấy, phân loại viết thành sách, nhan đề là Hải D-ơng phong vật Há có phải rằng chỉ nói suông về núi non chót vót, sông ngòi quanh co, hoặc là đồ vật đẹp quí, miệng l-ỡi h-ởng vị ngon mà là vinh dự cho một trận đâu Chính là muốn để cho ng-ời đọc sách này biết khuyến khích mình bằng điều lành, răn mình bằng điều ác; biết hâm mộ chốn văn thân, võ tr-ớng Để tắm đức sửa mình, nghĩ sao đẹp ngang nh- đời tr-ớc,

đ-ợc cảm mộ chốn làng nhân xóm nghĩa, thời việc đổi thói bạc răn thói gian,

rủ rê nhau về với chính đạo Làm cho n-ớc nhà có một đạo đức, cùng chung phong tục có bổ ích cho phong hoá đ-ợc một phần vạn nào mà thôi vậy Còn nh- tài học bao quát rộng rãi đành chờ bậc quân tử khác

(Tác giả viết tựa)(1)

(1) Tác giả là Trần Huy Phác(1754-1834 hiệu Đạm trai, t-ớc bá Phác ngọc

Trang 7

Hải D-ơng phong vật chí



Núi sông.- Dinh trấn Hải D-ơng tr-ớc kia ở bến sông Vân Dậu thuộc Mao Điền, Cẩm Giàng (tục gọi là dinh Dậu, nay l-u làm phủ) Năm Giáp Tí về Hàm Giang, đ-ờng đi vừa phải, ba mặt có sông bao Phía Bắc thông với sông Lục

Đầu, phía Đông suốt đến các cửa bể, chuyển vận thông suốt Trong hạt có bốn phủ, m-ời tám huyện, sông ngòi ngang dọc nh- mắc cửi, phần nhiều có n-ớc triều lên xuống ở Chí Linh, Giáp Sơn, Đông Triều, Thuỷ Đ-ờng, An Lão, Nghi D-ơng có nhiều núi nổi tiếng

Phủ Th-ợng Hồng:

(Thời cổ gọi là Hồng Châu, sau mới chia ra Th-ợng, Hạ)

Phía Tây tiếp cảnh với Văn Giang, sông ngòi quanh co, giằng dịt Một dòng chảy ngang suốt phía Tây Bắc, thông đến Cẩm Giàng Một dòng chảy

về Nam đến Đông An, Thiên Thi suốt phía Tây đến Đ-ờng An

Huyện Đ-ờng An:

Bốn mặt đều sông ngòi, tây tiếp với Đ-ờng Hào, bắc giáp Cẩm Giàng, nam thông với Thanh Miện, đông suốt đến thành trấn(1) (1-6)

Trang 8

Phủ hạ Hồng

đổi làm Gia Phúc, cận đại đổi làm Gia Lộc Nay vẫn gọi thế)

N-ớc sông do phía Tây tiếp với Đ-ờng An chảy tới, đến ngã ba Kênh Tre, dòng sông chảy về bắc giáp với Cẩm Giàng; một dòng chảy về nam giáp Thanh Miện, về đông suốt đến Tứ Kỳ

Huyện Thanh Miện

Bốn mặt trông ra sông cái, phía Tây Nam đối ngạn với Thiên Thi, Phù

Cừ, phía đông thông với Vĩnh Lại

Huyện Tứ Kỳ:

Bốn bề có bến sông làm c-ơng giới Bắc giáp Thanh Hà, nam giáp Vĩnh Lại, đông suốt đến Tiên Minh, chỗ thì hai cạnh, chỗ thì ba bên cùng với huyện bên nh- thấy nhau

Huyện Chí Linh:

Trang 9

Bắc giáp Ph-ợng Nhãn, núi cao chót vót Tây tiếp Thanh Lâm một giải sông Cái đến Vạn Giang chảy về đông, đối ngạn với Giáp Sơn Một phía chảy thẳng đến Đông Triều, một phía chảy về nam thẳng với Thanh Hà

Trong huyện, bốn tổng ở bờ Bắc sông, ba tổng ở bờ Nam sông Vì thế còn gọi là Hà Nam (phía nam sông), Hà Bắc (phía bắc sông)

tr-ớc thuộc Ph-ợng Nhãn Kinh Bắc, còn có bia đá.)

Hình nh- con kỳ lân Trên núi có động Thanh H-, d-ới núi có cầu Thấu Ngọc (Quảng d- chí nói: Động Thanh H-, cầu Thấu Ngọc tuyệt đẹp trong nhân gian) Cảnh vật thanh u, cây cối sầm uất D-ới triều Trần có Trúc Lâm s- là Pháp Loa xây am ở đấy

Trạng nguyên Lý Đạo Tái ( tự Th-ợng Huệ, hiệu Huyền Quang, ng-ời Vạn T- Gia Định) từ chức về mộ đạo phật ở chùa Yên Tử Sau tu ở chùa núi ấy, có thơ cảm hứng nh- sau:

Vũ quá thiên sơn tịnh Phong lai nhất mộng l-ơng Tịch mịch trần thế giới Khai nhãn tứ mang mang

Dịch:

M-a qua nhìn núi sạch Gió thổi, mộng dịu dàng Tịch mịch cõi trần thế

Mở mắt, tứ mênh mang

Triều Trần có T- đồ Trần Nguyên Đán, là ng-ời từ tốn nho nhã, có phong thái quân tử và hiệu là Băng Hồ công, uống r-ợu ngâm thơ ở đấy, thản nhiên thích thú (Hồ Quí Ly chuyên quyền, ông là họ thân với vua, ra sức đấu tranh không đ-ợc, nên đến ở đấy) Ông có tập thơ l-u hành ở đời (Coi Nam Việt thi tập)

Trang 10

Xuân vũ thi (Thơ m-a xuân) Tiểu xuân sơn vũ tế phi vi Xuất tu vân thâm phiến phiến phi Ch-ớng nhật mông man hên tự hiểu Tuỳ phong tiêu sắt mệt hoàn hi Mai hàm ngọc lạp truyền thiên tín Trúc tống l-ơng trâm tiết đại cơ (ky) Thuỵ khởi h-ơng lô kỳ chú,

Thôn ông vị bả nhất ly qui

Tiết xuân, m-a núi nhỏ nhẹ, rơi bay lả tả

Từng đám mây dầy đậm bay từ đỉnh núi ra Mặt trời bị che, khuất lờ mờ nh- mới sáng dậy Gió thổi vi vút, lúc mau lúc th-a

Mai ngậm hoa trắng nh- hạt ngọc, phát tiết chất đất, Ngủ dậy, lò h-ơng mấy lần tàn rồi lại nhóm

Ông trong thôn đi cầy ch-a giắt trâu về

Thu nhật thi Lâm l-u xá bản phi quynh

Tiểu phố thu thâm hứng chuyển thanh

Mai tảo cúc ph-ơng hiền tử đệ, Tòng th-ơng trúc sấu lão công khanh

Thụ huyên phong nộ tâm nan động, Vân tận thiên cao nhãn tự minh, Tây vọng yên quang phi tích nhật Thuần l- t- viễn bất cầm tình

Trang 11

Thơ ngày thu

Nhà lá kề giòng suối, cửa ván cứ đóng hoài, Khoảnh v-ờn nhỏ, cảnh cuối thu gây cảm hứng mà thanh khiết

Có hoa mai sớm, có cúc thơm, với con em hiền hoà

Có tùng xanh, có trúc gầy với một công khanh đã già

Dù cây có reo, gió giận dữ, lòng này không chuyển Khi mây bay đi hết, giời lại cao, mắt này nhìn lại tỏ Trông về Tây, cảnh không còn, phong quang nh- tr-ớc,

Rau rút với cá ngon làm ta nghĩ đến quê xa, ngăn cấm sao đ-ợc tình cảm

ức Trai tiên sinh(1) (cháu ngoại Trần Nguyên Đán) cũng bói đất làm nhà ở núi ấy (Tiên sinh họ Nguyễn tên Trãi, ng-ời ở Nhị Khê, Th-ợng Phúc,

đỗ khoa canh thìn triều nhuận Hồ Khi họ Hồ mất, đến ẩn ở đấy Lê Thái Tổ khởi binh, ông tìm đến yết kiến, giúp m-u trí, kế hoạch, th- tín, hịch văn Là công thần mở n-ớc bậc nhất, làm quan đến th-ợng th- bộ lại) Có bài ca núi Côn Sơn nh- sau:

Côn Sơn hữu tuyền thanh lãnh lãnh nhiên, ngô

dĩ vi cầm huyền

Côn Sơn hữu thạch vũ tẩy đài phô bích ngô dĩ vị

điệm tịch Côn Sơn hữu tùng vạn thụ thuý cái trùng ngô - thị hồ yến tức kỳ trung

Lâm trung hữu trúc thiên mẫu ấn hàn lục ngô - thị hồ khiếu vịnh kỳ trắc

(1) ức trai tiên sinh tức là Nguyễn Trãi tiên sinh

Trang 12

Vấn quân Hồ bất qui khứ lai bán sinh trần thổ tr-ờng tu cốc

Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên , ẩm thuỷ phạn sơ phận tuỳ túc

Quan bất kiến: Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ,

Nguyên Tái hồ tiêu bát bách hộc, hựu bất kiến: Bá di, Thúc tề Thú d-ơng ngã tử bất thực túc Hiền ngu nhị giả l-ỡng bất mâu, diệc các tự cầu

kỳ sở đục

Nhân sinh bách niên nội tất đồng thảo mộc Bi hoan -u lạc diệt vãng lai nhất vinh nhất tạ hoàn t-ơng tục

Kh-u sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên, tử hậu thuỳ vinh cánh thuỳ nhục

Nhân gian nh-ợc hữu Sào, Do đồ, khuyến cừ thính ngã sơn trung khúc

(Coi Đại Việt Sử ký)

Côn Sơn có suối tiếng suối chảy lạnh lùng, ta cho là nh-

tiếng đàn

Côn Sơn có đá, m-a rửa sạch rêu, đá phô màn biếc, ta cho

là nh- giải chiếu dệt

Côn Sơn có tùng, hàng vạn cây xanh nh- lọng che điệp

trùng ta ở đấy nghỉ ngơi ngay bên trong

Trong rừng có trúc hàng nghìn mẫu in màu lục, ta ở đấy

ngâm vịnh ngay ở bên

Hỏi ông sao không về đây mà lui tới, vì đã nửa đời cát bụi

giam hãm mãi

Trang 13

Đính chung đã nhiều, cần gì cứ phải mãi nh- thế Uống

n-ớc lã ăn cơm rau, tuỳ phận mình là đủ rồi

Nguyên Tái, hồ tiêu có hàng tám trăm hộc Lại không thấy

nh-ng không ăn thóc (nhà Chu)

Hai hạng hiền và ngu hai bên không sánh ngang nhau

đ-ợc, họ cầu theo dục vọng của mình

Ng-ời ta đã hết cuộc trăm năm thì cũng nh- cây cỏ Buồn

hay vui, lo hay mừng trở đi trở lại, cái vinh cái khổ kế tiếp nhau Cảnh gò núi hay cảnh nhà đẹp cũng chỉ là ngẫu nhiên Sau khi chết, có ai vinh có

ai nhục nữa

khuyên họ hãy nghe bài ca trong núi của ta vậy.



thuộc huyện Ph-ợng Nhãn)

Ngọn núi đứng chầu, hai ngàn mở rộng, nh- hình ph-ợng Triều Trần

có cung Tử Cực, điện L-u Quang

(1) Đổng Trác, nhân vật thời Tam quốc, c-ơpa ngôi nhà Hán

(2) Bá Di, Thúc Tề là hai con trai của Cổ Trúc Quân nhà Ân Khi bố sắp chết di chúc lập Thúc Tề Sau khi bố chét, Thúc Tề nh-ờng cho Bá Di Bá Di bảo không trái mệnh của bố, rồi trốn đi Thúc Tề cũng không nhận lập và trốn Đến khi Vũ V-ơng đánh Ân, cả Di Tề đều can không đ-ợc Không ăn thóc nhà Chu, vào núi Thú d-ơng hái lá ăn rồi chết đói

(3) Sào Phủ,Hứa Do là bậc cao sĩ đời Đ-ờng, Nghiêu, không -a danh lợi, vua truyền ngôi cho không nhận

Trang 14

Miết thuỷ tuyền minh tác vũ thanh

Nguy đắng kinh niên th-ơng tiền hợp, Tân kiều đới lộ hắc chi sinh

Tung phong nhật noãn huyên không h-ớng, T-ơng tự lai nghi tấu cửu thành (1)

Hai con ph-ợng hồn nhiên nhìn về nơi mênh mông xa xôi; Núi Ph-ợng Hoàng, từ đời x-a, ng-ời ta thích gọi tên hay

ấy

Tháp núi con lân in lộn xuống n-ớc nh- bóng con rồng có sừng

Suối n-ớc có ba ban chảy róc rách nh- tiếng m-a

Chềnh đá vững, lâu năm sắc xanh t-ơi hợp lại

Cầu mới có s-ơng phủ, đã sinh nấm cỏ chi sắc đen

Gió cây từng ngày nắng ấm reo tiếng trong không,

Lại bài thơ nữa:

Cảnh cảnh tam hoa(2) sổ nhận khai, Kiển lâm uất tú tuyệt phân ai

Ngọc hoàng(3) hiệu lục hồng vân kháo, Kim mẫu(4) triều chân thuý báo hồi;

Xuân tảo nhật di hoa ảnh động, Thu phong vãn tống hạc thanh lai

L-u quang điện hạ tòng thiên thụ, Tận thị kình thiên nhất thủ tài

Trang 15

Trông cảnh rực rỡ hoa nở Kiễng chân rón đến nơi tốt đẹp không có bụi đục Ngọc hoàng ban cho sắc có mây hồng mang đến, Kim mẫu đi chầu về, có cây cỏ màu biếc đ-a về

Buổi sớm mùa xuân mặt trời di động bóng hoa

Gió thu buổi chiều về, đem theo cả tiếng hạc kêu

Phía d-ới điện L-u Quang có hàng nghìn cây tùng Đều là cột chống giời do một tay ai trồng

Cạnh núi có hồ con ba ba l-ơng núi có chùa Lệ Kỳ

Chu An treo mũ từ quan, đến ẩn ở đây Có thơ sau:

Vạn diệp h-ơng sơn thốc hoạ bình

Tà d-ơng đảo quái bán khê minh

Lục la kính lý vô nhân đáo, Sơn hạc đề yên chí nhất thanh

M-ời khoảnh núi biếc trông nh- bức hoạ Mặt trời chiều, cảnh núi in bóng đảo ng-ợc xuống nửa suối Lối đi tắt xanh um nh- lụa, không có ai đến,

chỉ nghe một tiếng kêu của con hạc núi

Lại có bài thơ cảm hứng:

Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn Bích mê vân sắc thiên nh- tuý, Hồng thấp hoa sao lộ vi càn, Thân dữ cô vân tr-ờng luyến tụ, Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan

Bách huân bán lãnh trà yên yết,

Kê điều nhất thanh xuân mộng tàn

Trang 16

Tịch mịch ngôi nhà núi, ngày ngày nhàn rỗi Cánh cửa trúc hé nghiêng chắn cái rét nhẹ nhàng

Màu trời biếc lẩn sắc mây, nh- trời mê say

Hoa màu hồng ẩm -ớt vì s-ơng giọt ch-a khô

Thân mình cùng đám mây trơ trọi vẫn l-u luyến cảnh núi Lòng mình phẳng lặng nh- chiếc giếng cổ không gợn sóng N-ớc lá bách đã lạnh, hơi trà đã hết

Tiếng gà tiếng chim làm tan giác mộng xuân

Th-ợng th- bộ lại triều Lê, Đặng Minh Khiêm (hiệu là Thoát Hiên, ng-ời ở xã thuộc huyện Thiên Lộc, đỗ tiến sĩ thời Hồng Đức) có thơ vịnh nh- sau:

Thất trảm ch-ơng thành tiện quải quan, Chí Linh chung lão hữu d- nhàn

Thanh tu khổ tiết cao thiên cổ,

Sĩ vọng nham nham ng-ỡng Thái Sơn

Làm xong tờ sớ xin chém bay nịnh thần, rồi xin treo mũ từ quan

ở Chí Linh cho đến trọn đời, rất nhàn rỗi

Tu luyện giữ khổ tiết trong sạch, cao th-ợng hơn nghìn

x-a

Danh vọng của sĩ phu cao chót vót nh- núi Thái

Cuối đời họ Mạc, trạng nguyên Trình Quốc Công hiệu là Bạch Vân tiên sinh cũng đến ở ẩn núi này

Hành tham tụng triều Lê là Bùi Công (ng-ời xã Thịnh Liệt) lập bia về Văn Trinh Công ngay bên cạnh núi

Ng-ời xã Kiệt Đặc, đêm đi săn ở s-ờn núi, trông thấy vết tròn và đỏ, nên rất kinh sợ Ng-ời ấy d-ơng cung bắn rồi nằm rạp xuống đất mà nghe Chỉ thấy khí đỏ ngang ngang dọc dọc, một đám cây bị đánh phá tan hoang

Trang 17

Vụt chốc không thấy nữa Ngày hôm sau ra coi thấy cây rừng gẫy ngổn

ngang Nay ng-ời thổ cũng vẫn thấy nh- thế (phụ theo ký dị)

Biền địa cảo có nói là Cổ Phao ở Chí Linh n-ớc sâu mà núi cao Thế núi Rồng xuống, giòng sông Hổ giao Gối tả trông hữu, đời sinh anh hào)

Trên có thành cổ (theo sử ký là thành Chí Linh) đắp thời Vĩnh Lạc nhà Minh, học Mạc đắp rộng thêm cho to ra, nền cũ vẫn còn Khi quân Tây sơn nổi dậy, trung thần triều Lê x-ớng nghĩa, từng đã đóng quân ở đấy Bên cạnh có cảnh chùa nổi tiếng, cách sông bờ bên kia là chùa Phổ Lại, thuộc Kinh Bắc, nghe rõ tiếng chuông tiếng trống mặt n-ớc là bãi ghềnh sông Lục

Đầu, lửa thuyền chài trông cũng rõ, cảnh trí rất đáng -a thích

Đêm lạnh lẽo, trên chùa Phổ Lại ánh đèn cô quạnh

Không hiểu rằng x-a nay những khách lên thăm cảnh Cũng có ng-ời lo tr-ớc thiên hạ và h-ởng lạc sau thiên hạ

(1) Sách Mạnh tử: Mạnh tử có nói: Tiên thiên nợ chi -u, hậu thiên hạ chi lạc chỉ lạc: Lo tr-ớc thiên hạ, vui sau thiên hạ Đó là quan điểm vì dân của Mạnh tử

Trang 18

Kim dữ giang sơn nhất phóng khai

Ngày gần n-ớc, cây xi âm u xanh nh- rêu phủ, Đ-ờng sơn đã đi hết, khá là bâng khuâng!

Suốt m-ời năm, mắt nhìn cảnh xa lạ đã mỏi vì đám mây đỏ Đến nay mới cùng non sông mở mang tầm con mắt

D-ới chân núi phía Đông Nam một giải cát mênh mông, nh- hình con nhạn, dài mấy chục tr-ợng, cao mấy chục tr-ợng, gọi là bãi Bạch Nhạn (nhạn trắng) Gần trông nh- bạc, xa sinh mao, sản tận anh hào (Bãi Bạch Nhạn mọc

cỏ lên thì sẽ hắt ánh hào) Mộ tổ họ Nguyễn (huyện Võ Giàng xứ Kinh Bắc) táng ở rừng ấy, lấy núi ấy làm án, kế tiếp ra đời có m-ời ba tiến sĩ (Ng-ời đỗ

đại khoa, có ng-ời m-ời tám tuổi, có ng-ời m-ời chín tuổi, có ng-ời m-ời bảy tuổi) Nay bãi Bạch Nhạn có cỏ mọc, nên chỉ còn ba bốn (Hình con nhạn gần chùa Sùng Nghiêm), thuộc xã Nam Ngạn, theo địa lý là cục đất quý của trời Nam, lấy Cổ Bi làm trung chi, Thăng Long làm hữu chi, Nam Giản (Chí Linh) làm tả chi)

Xã D-ợc Sơn tiếp giới với Ph-ợng Nhãn Vạn Kiếp Đất ấy hành long(1) đi từ đầu núi mà xuống, mở ra nh- bình phong hai bên nổi dậy hai ngọn núi D-ợc Sơn có núi Nam Tào (truyền rằng trên núi có ng-ời già hay nói về chuyện hoạ phúc, sau không biết đi đâu, trên vách có đề câu: Nam Tào th-ợng vân ủng (nghĩa: Sao Nam tào lên mây đi) Ng-ời thổ đặt đền thờ ngay chỗ ấy, gọi là Nam Tào); có núi Bắc Đẩu (truyền rằng có ng-ời Khách (tức ng-ời Tàu) buôn, đêm đến đậu thuyền phía d-ới núi, nghe có tiếng ng-ời nói về việc thiện, ác, thọ, yếu chốn nhân gian Đến gà gáy sáng ra đi, bỗng gió bấc thổi, mây lành nổi dậy bốn bên, văng vẳng có tiếng ngọc va nhau Thấy trên núi một ng-ời to lớn, đội mũ có sao, mặc áo đỏ, ngồi xe mây vút lên trên không Hôm sau bảo ng-ời thổ lập đền thờ) Hai trái núi đối

(1) Hành long: một thuật ngữ trong khoa phong thuỷ nêu một khái niệm về nơi phát nguyên và thế chảy của sônbg ngòi, do đấy nhà phong thuỷ định cực của đất tốt, xấu

Trang 19

nhau cao chót vót Phái tr-ớc là vũng sông Thiên Đức chầu về, nh- hình chữ

ất ( )

Xã D-ợc Sơn có núi Nguyệt sơn giống hệt nh- hình con rùa Năm Mậu Thìn, quan chánh đ-ờng trấn này đề binh đánh giặc, đặt đồn ở núi ấy

Đêm có thần báo mộng, nhân thế sai dựng đền thờ trên đỉnh núi

Xã Động Mặc, ở đồng bằng có một núi nổi dậy, ng-ợc xuôi có bến đò gọi là đò Vạn, tức là bến sông Thanh L-ơng Cách sông đối ngạn là núi Giáp Sơn Triều đại tr-ớc lập dinh trấn ở đấy (ch-a rõ đời nào?) Nay còn gọi là dinh Vạn Đỉnh núi có chùa cổ, lên đấy nhìn một l-ợt thấy non sông bảu huyện thuộc Kinh Môn đều ở trong tầm mắt cả

Tiều ẩn tiên sinh có thơ:

Sơn yêu nhất mạt tịch d-ơng hoành L-ỡng l-ỡng ng- chu ngạn bạn hành

Độc lập Thanh l-ơng giang th-ợng vọng

Hàn phong báp báp nộn triều sinh

S-ờn núi một vệt nắng chiếu tà vắt ngang

Hai ba chiếc thuyền chài lẫn lẫn bên bờ chân núi

Một mình đứng trên sông Thanh L-ơng nhìn xem

Gió lạnh hun hút, n-ớc triều non bắt đầu lên

X-a gọi là Vũng Nhạn (Nhạn Loan) Sông này vừa rộng vừa to, trên

từ sông Lục Đầu giáp giới các huyện Ph-ơng Nhãn, Quế D-ơng, Yên Dũng, Gia Định thuộc Kinh Bắc (một phaí từ sông Ph-ợng Nhãn đổ xuôi, không tên, một phái từ X-ơng Giang đổ xuống gọi là sông Nhật Đức; một phái từ Nguyệt Giang và xuôi gọi là sông Nguyệt Đức; một phái từ Đại Than về xuôi gọi là sông Thiên Đức Các sông gặp nhau và khỏi đò Vũng Nhạn chia thành

(1) Trong bản gốc để trống - Dùng cho mọi chỗ khác trong bản dịch này- nếu để trống ( )nh- ở trang này

Trang 20

ngã ba sông : một ngả từ Lâu Khê Thanh Lâm về nam suốt đến Hàm Giang, một ngả từ Tuần Xá Chí Linh về đông Đó là sông Lục Đầu) Giữa có một giải bãi cát gọi là bãi Đại Than Nhà phong thuỷ cho đấy là thế đất "Lục long tranh châu" (sáu con rồng tranh nhau ngọc châu)

Huyện Thanh Hà:

Bốn mặt sông cái, sông nhỏ giao nhau nh- nhện chăng l-ới, từ tây suốt sang phía đông thành trấn (thông với Tiên Minh)

Huyện Tiên Minh (tr-ớc cùng Thanh hà là một, gọi là Bình Hà Thời

Lê chia làm hai gọi là Thanh hà và Tân Minh)

Đầu huyện khởi từ Chấm Khê, đuổi tiếp úc-hải (bể úc), giữa là xã Lũ

Đăng ( có ngạn ngôn rằng: đầu mè đuôi úc, giữa Khúc Đăng) Nam tiếp giáp với Vĩnh Lai, Bắc tiếp giáp với Yên Lão, đối ngạn của đầm Lôi Tấn

Trong huyện có m-ời hai tổng, các sông ngòi chảy dồn vào đầu n-ớc

có cống chảy tuỳ mùa mở hay đóng, rất tiện cho nghề nông Xã Hoa Lai tr-ớc kia đê gần bờ sông Năm Canh Thìn đắp đê mới khác, từ đấy dân mới ở yên

Phủ Kinh Môn:

Sông ngòi ở phía tây tiếp giáp Chí Linh, đến Võ Xá thành Ngã Ba ( gọi

là ngã ba Mây) Một giòng chảy về Bắc dọc theo Đông Triều; một dòng chảy

về Nam quanh Kim Thành về đông chảy vào Thuỷ D-ơng, hợp với sông Bạch Đằng

Một núi tròn xoay, hai ngọn cao ngất, là núi tổ của các núi trong huyện Núi giữa có cột chống giời Trên núi có hai hồ, hồ ngoài n-ớc đục, hồ giữa n-ớc trong

Núi Kính Chủ:

Trang 21

Một tên nữa là núi Quán châu (chuỗi hạt châu) Núi còn có hang sâu trông lên thấy giời là động D-ơng nham Hữu nạp ngôn triều Trần là Phạm S- Mạnh (ng-ời xã ấy? tuyển binh năm lộ) lên núi có thơ đề (coi Toàn việt thi lục)

Hành dịch đăng gia sơn, Kiểu thủ vạn lý thiên

Đồ bằng Nam Minh(1) ngoại Tân nhật Đông Nhạc(2) tiền

Yên phụ sơn nhất ác T-ợng đầu nhận cứu thiên Tàn tàng tứ tiêu vân, Hội phòng Yên Kỳ tiên, Đào đào Bạch Đằng đào

Đi chiến dịch, lên thăm núi nhà Ngẩng đầu nhìn trời xa muôn dặm

Thấy chim bằng bay ngoài bể Nam

(1) Nam minh: bể Nam

(2) Đông nhạc: núi thuộc Ngũ nhạc, m-ợn cảnh trí núi non

(3) Chiến thuyền của Ngô quyền đánh quân xâm l-ợc Nam hán

(4) Trùng h-ng: niên hiệu của Trần Nhân tông

(5) Ngao cực: Theo sử ký bổ sung Tam hoàng kỷ: họ Cung công đánh nhau với Chúc Dong không đ-ợc, tức giận lấy đầu húc núi Chu Sơn, núi lở, cột chống trời gãy, đất khuyết Nữ Oa phải luyện đá ngũ sắc vá trời,

và chặt chân con ngao để chống bốn cõi Đây chỉ quân Nguyên xâm l-ợc làm nghiêng trời lệch đất, vua Trùng h-ng chống giặc cứu vãn non sông đất n-ớc

Trang 22

Lúc buổi sáng mặt trời mọc tr-ớc núi Đông Nhạc

Ta đã giữ đ-ợc núi Yên Phụ

Núi T-ợng Đầu cao chín nghìn tầm

Từng tầng mây trên nền trời biếc

Đến thăm hỏi vị tiên ở Yên Kỳ

Trông thấy sóng sông bạch Đằng nổi dậy mênh mông: T-ởng t-ợng nh- thấy chiến thuyền của Ngô V-ơng Quyền

Còn nhớ lại vua Trùng H-ng ngày x-a:

Khôn khéo đã chuyển đ-ợc thế càn khôn

hàng nghìn chiến thuyền ở bờ bể Kim Muôn vàn cờ bay ở cửa bể Giáp Hải Tài giở bàn tay đã chân vững đ-ợc cột chân con ngao Đã giốc n-ớc sông rửa sạch mùi tanh hôi (chỉ quân Nguyên)

Trang 23

Giữa bể vuông, trái núi tròn cao nhọn mọc từ nhân gian lên

Nh- toà nhà cao toà phủ lớn chốn kinh đô, nổi trên mặt n-ớc

Vũ trụ là cánh kỳ quan, khi mặt trời mọc từ D-ơng Cốc lên

Vẫn thấy v-ợng khí của non sông từ thuở chiến thắng Bạch

Đằng

Cho ta một nửa trái núi xanh t-ơi kia có đ-ợc không?

Huyện Đông Triều:

Bắc tiếp Lục Ngạn, Ph-ợng Nhãn có núi non trùng điệp chót vót, phía Tây tiếp sông chí Linh chảy về Nam, chạy dọc Thuỷ Đ-ờng, để vào sông Bạch Đằng, núi sông xen nhau; về phía Đông thông với Quảng Yên, theo ng-ợc dòng sông mà lên sẽ suốt đến thành trấn Đó là đ-ờng giao thông cốt yếu miền bể Thuyền bè đi lại nhiều nhất ở Bí Giang, Lâm Xá, Trạo Hà, Yên Lâm, bén chợ buôn bán, là nơi tụ hội ng-ời và của

Phạm s- Mạnh có thơ về động Nhậm (Nhậm Nham)

Quải thiên thú sắc ngọc phù dung, Thắng cảnh thiên niên tải quận hùng

Trúc ảnh hoa âm thanh ch-ớng tự, Thần ngoan quỉ khắc Bạch Vân cung Bắc hồi Vạn đức bài s-ơng kích Nam ấp Xuân giang cũng ngọc hồng

Nhật mộ tr-ợng lê cao vọng xứ Sơn xuyên tú khí mãn hung trung

(1) Cát tiên: Tên là Cát Huyền, thời Tam quốc, ng-ời Đông Ngô, tự là Hiếu tiên, theo Tả từ đ-ợc quyển"Cửu

đan dịch tiên kinh" học phép thành tiên, gọi là Cát tiên ông

Trang 24

Nh- hoà phù dung đẹp treo trên trời sắc xanh biếc, Đây là thắng cảnh, nghìn năm vẫn là quận hùng tráng miền bể

Bóng trúc bụi hoa che cảnh chuà xanh um Nét đẽo khắc thần kỳ ở cung Bạch Vân

Quay về Bắc là Vạn đức nh- giàn kiếm kích bày trong s-ơng,

Phía Nam có Xuân Giang ấp lại, sóng n-ớc nh- ngọc đỏ Chiều chiều chống gậy gỗ tê lên chỗ cao nhìn xem:

Thấy cảnh non sông đẹp đẽ mà phấn khởi trong lòng

Đứng trên bờ sông Bờ sông bên kia, nhiều núi la liệt nh- hình voi ngựa vây (Nhà phong thuỷ trong lời kiềm ký (lời yểm trừ) có câu "quí vi công hầu" (đất quí, làm đến công hầu) Giữa dòng sông có khối đá nh- hình con mèo cúi nhìn xuống bến sông (gọi là Kênh Mèo) từ đấy nhìn đến núi Ng-u Ngọc (trâu nằm) -ớc độ nửa dặm Đấy là chu Động (gọi là hang Son) xã Chí Linh

Có chín m-ơi chín đỉnh, tục truyền là chín m-ơi chín ph-ợng hoàng,

từ bãi sông qua đây, rồi lại tiếp tục v-ợt bể mà đi (còn ngờ: Ph-ợng rồi lại ph-ợng nữa, sao nhiều ph-ợng nh- vậy) Nhân thế gọi là núi Ph-ợng Hoàng Cửa động đối diện với núi Yên tử

Mẫu, là địa khu thứ t- của Giao Châu)

Trần Huyền Quang thi đỗ, từ quan vào núi ở, trụ trì ở chùa Hoa yên

Có thơ tự thuật:

Am đạt thanh vân hán, Môn khai vân th-ợng tẳng,

Trang 25

Dĩ cam Long Động nhật Sảo xích Hồ Khê băng;

Bão chuyết vô d- sách, Chi suy hữu sấu đằng

Nhàn lâm đa túc điểu:

Quá bán bạn nhàn tăng

Am ở suốt trên mây xanh, Cửa mở trên tầng mây, Mặt trời ở Long Động đã cao bằng con sào, Bằng Giá ở Hồ Khê giày hàng th-ớc

Vụng về không có kế sách gì, Chân suy nh-ợc đã có gậy song gầy

Rừng tĩnh mịch có nhiều chim ngủ đêm;

Quá nửa là bạn của nhà s-

Mới đầu, Nhân Tôn sai cung nữ nói thác là đến học đạo để thử lòng Bấy giờ có nàng cung tần thứ ba xin đi, dùng nhiều ph-ơng thử chí, đại l-ợc s- không hề động tâm ( Theo truyện Huyền-Quang)

Khi Nhân Tôn đã nh-ờng ngôi và xuất gia, th-ờng đi khắp các lộ, trừ

bỏ dâm từ (đền thờ dâm thần), cấm tuyệt pháp đ-ợc (dùng vị thuốc làm phép), vì thích núi ấy ngọn cao chót vót, nên cùng bảy tám ng-ời hầu lên ngọn núi Câu Xuân, dựng am Tứ Tiêu để ở Dựng chùa Long Động ngay bên núi, và th-ờng qua lại chùa Sùng Nghiêm để thuyết pháp Đến chùa ( )(1)

đất Cổ châu, có bài kệ rằng:

Thế số nhất tức mặc Thời tình l-ỡng hải ngân

Ma quan hồn quản thâm Phật quốc bất thăng xuân

Trang 26

Số ở đời một khi yên nghỉ Tình đời là bạc bể

Kiếp quan ma rất bó buộc Còn n-ớc Phật là mua xuân khôn xiết kể

Khi trở về Ngoạ Vân, triệu Bảo Xát đến Bảo Xát đến Doanh truyền thấy hai con rồng vàng, lòng cho là quái dị Khi đến nơi, Nhân Tôn hồn nhiên nói rằng: Đấy là giờ của ta Nói song, nằm kiểu s- tử và hoá

Nói chung các nơi danh thắng ở rừng Vân Quỳnh đều có di t-ợng của Nhân Tôn (theo Quốc sử)

ức Trai tiên sinh có thơ đề:

Yên sơn sơn th-ợng tối cao phong, Tài ngũ canh sơ nhật dĩ hồng

Vũ trụ nhãn cùng th-ơng hải ngoại, Tiếu đàm nhân tại bích vân trung

ủng vân ngọc sáo xâm thiêm mẫu, Quải thạch chu l-u lạc bán không

Nhân miếu đ-ơng niên di t-ợng tại, Bạch hào quang lý để trùng đồng

Bên trên núi Yên tử, ở ngọn núi cao nhất, Mới đầu canh năm đã thấy mặt trời đỏ

Mắt nhìn vũ trụ tận cùng ngoài bể biếc, Tiếng ng-ời c-ời nói trong tầng mây xanh

Rừng dáo chọc mây um tùm hàng ngàn mẫu Những giải đỏ treo đá rơi vào l-ng chừng tầng không Miếu thờ Nhân Tôn đ-ơng thời vẫn còn t-ợng để lại, Trong ánh hào quang trắng xoá, còn thấy hai con ng-ơi của t-ợng

Trang 27

Núi Lộc Đầu (núi Đầu h-ơu) Tr-ớc thuộc xã Yên Sinh Trần Nhân Tông khi đi qua, dân ở đấy lấy

đầu h-ơu làm cơm dâng, nên Nhân Tông khen th-ởng cho tên Mỹ Cụ (cỗ ngon) th-ởng thêm cho núi ấy và đặt tên thế (Lộc Đầu)

ở Vĩnh Tuy, núi Đông Sơn có chùa Hàm Long, núi Đạm Thuỷ có chùa Linh Khánh, quán(đền ) Ngọc Thanh (An Nam chí có chép: Đạm Thuỷ sơn, Tử Nhan (động), Lạc Bí, Chí Linh có Lỗ sơn cũng có nhiều cảnh đẹp)

ức Trai tiên sinh có thơ để quán(1) Ngọc Thanh:

Tử, phủ(2) (2-23) lâu đài ý bích sầm, Thập niên kia hựu nhất đăng lâm

Tùng hoa lạc địa tiên trần tĩnh Khánh h-ớng xuyên vân đao viện thâm

Kim khuyết can qua nhân dĩ khứ, Hoàng l-ơng mộng giác sự nan tầm

Viên nâu hạc oán vô cùng ý, Hàn nhật tiêu tiêu trúc mãn lâm

Toà lâu đài của các bậc vua chúa dựa vào núi biếc cao Đã m-ời năm, nay lại lên thăm

Hoa tùng rụng mặt đất, cảnh trần trên tiên trong sạch, Tiếng khánh xuyên mây, canh dao viện trong rừng sâu

Tỉnh giấc mộng kê vàng, việc cũ khó tìm thấy nữa

Tiếng v-ợn sầu, tiếng hạc oán có ý vô cùng tận Mặt trời lạnh lẽo buồn bã chiếu cảnh trúc đầy rừng

(1) Quán: nơi tu luyện của đạo sĩ

(2) Tử, phủ:: tử vi, Thiên phủ hai chùm sao đế tinh có các sao nhỏ chầu về Đây chỉ vào vua, chúa (3) Cửa vàng: tức cửa của nhà vua do chữ Kim khuyết mà ra

Trang 28

Thơ đề chùa Đông Sơn

Quân thân nhất niệm cửa anh hoài, Giản quý lâm tàm túc nguyển quai

Tam thập niên du trần cảnh mộng!

Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi

Từ lâu vẫn có một lòng nghĩ đến vua và cha, Ngày hay suối và rừng thấy thẹn thùng về -ớc nguyện x-a hai trái

Cõi trần thế hơn ba m-ơi năm là giấc mộng, Mấy tiếng chim hót gọi tỉnh lại

Núi Yên Lãng

Có than mỏ Quan hiệp trấn khai mỏ thiếc đem đúc ở đây

Huyện Thuỷ Đ-ờng

Núi sông khá nhiều Phía Tây gốc vào Giác Sơn Phía Nam giáp Yên D-ơng, phía Đông có sông Bạch Đằng Đối ngạn với trấn Yên Khánh

Tr-ờng kênh có núi Hoàng Tôn (cháu vua Trần rất hiển linh) Mỹ Cụ

có núi Song Đồng, núi Kỷ Lại Trong động có đền thiêng, uy của thần đuổi hết hổ, cho nên nơi ấy không có nạn hổ bắt Thuỷ Đ-ờng có chùa Hàm Long

Sông Bạch Đằng H-ng Đạo V-ơng Trần Quốc Tuấn triều Trần phá tan quân Nguyên ở giữa sông

Tr-ớc đấy, H-ng Đạo V-ơng cho rằng đ-ờng bể An Bang là đ-ờng

mà quân Nguyên rút về tất phải qua, cho nên đã sai cắm cọc ở giữa sông, phủ

cỏ lên trên để đợi địch Đến khi Ô mã Nhi vì quân không có l-ơng tiếp, phải rút về H-ng Đạo nhân n-ớc triều lên ra khiêu chiến, giả là thua Khi n-ớc triều rút rất nhanh, thuyền giặc đều ghếch lên trên cọc đổ ụp Bọn Ô Mã Nhi,

Lệ Cơ đều bị bắt Lệ Cơ cho tống về n-ớc Duy Ô Mã Nhi chém giết quá nhiều, nên ng-ời trong n-ớc ta truyền nhau nói rằng:"Mày chạy lên giời, ta

đi lên giời, mày chui vào đất ta đi vào đất, mày trốn vào núi vào sông, ta tìm

Trang 29

vào núi vào sông" Triều đình ta giận hắn, lấy thuỷ thủ giỏi sung làm phụ thuyền, đêm đánh đắm thuyền cho chết đuối, để trăm họ bớt căm phẫn

ức Trai tiên sinh có thơ vịnh cửa bể Bạch Đằng:

Sóc Phong suy hải khí lăng lăng, Quải khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc, Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng

Quan hà bách nhị(1) do thiên thiết, Hào kiệt công danh thử địa tằng

Vãng s- hồi đầu thời đi kĩ Lâm l-u phủ kính tứ nan thăng

Gió Bắc thổi mặt bể khí thế bừng bừng

Kéo buồm lên gió reo qua sông Bạch Đằng

Núi núi nh- khúc cá kình cá ngạc bị chém đứt ra, Tầng tầng bờ bãi nh- dáo và kích bị gãy chìm

Thế hiểm non sông hai vạn r-ơng trăm vạn quân địch, do trời bày sẵn,

Đất này từng tạo nên công danh cho bậc hào kiệt

Việc đã qua nghĩ lại là việc thời ấy đã xong rồi, Đến dòng sông, soi g-ơng, tứ thơ khôn xiết sôi nổi

Huyện Kim Thành:

Sông ngòi vòng ôm nh- kiểu thành vàng(2) Nam giáp An Lão, hai bên tiếp với sông núi Giáp Sơn chảy xuôi Qua đến chỗ ngã ba (gọi ngã ba Cung) Hoàng Lâu, chia dòng qua Yên D-ơng về Đông đều thông ra cửa bể (một

Trang 30

gọi Cửa Rào, một gọi Cửa Cấm) Khi n-ớc triều lên, tổng Ngọ D-ơng và hai tổng Hà Nội, Nại Xuyên bị n-ớc mặn chảy vào ruộng, nông dân rất khổ

Năm Kỷ Tỵ, quan hiệp trấn đến tận nơi đắp chặn ngang lại gọi là cống Dê, nông dân đều đ-ợc lợi

Huyện Yên D-ơng

Dòng sông từ sông ngã ba Hoàng Lâu chảy xuôi, sông chảy về nam giáp Nghi D-ơng, sông chảy về Bắc giáp Thuỷ Đ-ờng, rồi về Đông đổ vào cửa bể Nam Triều

Huyện An Lão:

Sông ngòi tiếp với các trang của Kim Thành chảy về xuôi Một dòng sông nhỏ chảy qua giữa huyện, thế sông quanh co, gọi là chín bầu; hai bên: phía Bắc sông đối ngạn với Yên D-ơng, phía nam tiếp cảnh với Tiên Minh,

về đông thông suốt đến Nghi D-ơng

Trong hang có nhũ đá nhỏ giọt bốn mùa th-ờng trong Các núi Chung Sơn, Phan Sơn, Mã Yên Sơn, Nhất Sơn, Vọng Sơn, Đào Sơn, các mạch núi

Triều Lý có dựng tháp ở đỉnh núi, lâu năm yêu tinh quấy dân, dân dịa ph-ơng bị hại Đến nay triệt bỏ hai tháp, dân mới yên ổn Đất trấn cũ ở xã Mao Điền, là tr-ờng sở thi h-ơng các triều Nơi này rộng rãi quang đãng, có

gò cao, có giếng n-ớc trong Cận đại sáng lập văn miếu

Trang 31

Gia Long năm thứ sáu là năm Đinh Mão (1807) có dựng đền Khải thánh(1), khuê Văn Các, hai bên tả hữu hành lang có hai lầu Kinh Thanh, Ngọc Chấn đối nhau Chế tác rực rỡ mới mẻ

Nhân Vật

Đế V-ơng

Tổ tiên nhà Trần từ Mân, Chiết(2) đến, bói tìm nơi làm nhà ở xã An Sinh, Đông Triều, đời đời sống về nghề đánh cá Đến đời Trần Kinh mới di c- đến xã Tức Mặc (huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên Tr-ờng)(3) Đến đời thứ t- là Trần Cảnh do nhà Lý truyền ngôi đ-ợc n-ớc, tức là Trần Thái Tôn Lăng tẩm các vua nhà Trần đều ở An Sinh Nay vua ban sắc chỉ cho dân xã phục thờ nh- cũ (Xét bia "An Sinh thần đạo" nói tổ tiên nhà Trần là ng-ời An Sinh

Đông Triều)

Mẫu hậu

ỷ lan thảo phu nhân

Lúc hàn vi làm nghề trồng dâu nuôi tằm Có thầy t-ớng giỏi xem nói ngày sau sánh duyên với bậc chí tôn, làm mẫu nghi thiên hạ

Khi Lý Thánh Tôn đi chơi thăm, cầu tự ở khắp mọi tự quán, xe loan

đến đâu, trai gái kéo đến chiêm ng-ỡng đông Riêng có nàng vẫn hái dâu,

đứng dựa trong đám cỏ lan Vua trông thấy triệu vào, cho làm ỷ lan thảo phu nhân (phu nhân đứng tựa cỏ lan) Sau sinh ra hoàng tử Càn Đức tức là Nhân Tôn, th-ờng đ-ợc khen là thịnh chúa đời thái bình triều Lý

(1) Khải thánh: Đây chỉ đền thờ Thúc L-ơng Ngột và Nhan thị sinh Khổng tử

(2) Mân, Chiết: Mân là tên một chủng tộc Ngày nay còn gọi tỉnh Phúc Kiến là Mân Chiết tức là Chiết Giang, tên một tỉnh, vị trí ở l-u vực sông Chiết Giang ở Đông bộ nội địa Trung hoa

(3) Thiên tr-ờng tức Xuân Tr-ờng Nam định tr-ớc

Trang 32

Đến khi Nhân Tôn đ-ợc lập, tôn lên làm Linh Nhân hoàng thái hậu Thái hậu sùng đạo Thích ca dựng nhiều chùa tháp, phát của kho chuộc con gái nghèo (bị bán đi) gả cho ng-ời goá vợ

Có miếu thờ ở xã Cẩm Đới Cẩm Cầu, huyện Gia Lộc, gọi là cung Quỳnh Hoa Các triều có lệ quốc tế (Nhà n-ớc tế) khá gọi là hiển linh Nay khâm mệnh vua ban sắc chỉ, vẫn phụng thờ nh- cũ

Quốc mẫu:

Con gái họ Vũ ng-ời xã Mỹ Thự, huyện Đ-ờng An vào hầu V-ơng phủ (Hy Bào) sinh hai con giai kế tiếp lên ngôi V-ơng (Dụ tổ Thuận V-ơng, Nghị tổ An V-ơng)

Văn thần:

Đỗ Thế Bình (Đăng khoa lục ghi là Thế Diên) ng-ời ở Liêu Xuyên đỗ trạng nguyên(1) Triều Lý, là ng-ời khai thuỷ cho khoa danh Hải D-ơng Ng-ời sau nhân chỗ nhà ở cũ lập miếu thờ, đến nay h-ơng khói không dứt

Phạm Công Trứ, ng-ời Liêu Xuyên Tr-ớc bố vẫn theo nghiệp học

xử thế rất khiêm tốn, đối đãi với mọi ng-ời ôn hoà và khoan thứ (nhà có nuôi vịt bị chó hàng xóm cắn Ng-ời láng giềng tự đến xin đền Ông nói: giống vật cắn hại giống vật , chứ chẳng ai xui nó Sao lại đền? Nói rồi lại đem vịt cho láng giềng Qua đấy thấy đ-ợc lòng khoan thứ đối với ng-ời khác)

Một bữa ông này ở ngoài đồng, thấy một ng-ời đứng trên gò đất nói:

đây là đất quý Ông liền cúi lạy Ng-ời kia vạch đất bảo cho biết, xong rồi không biết đi đâu Sau rồi dời mộ tổ đến táng ở đấy

Công Trứ lớn lên nhà nghèo toan đi ph-ơng khác dạy học Nằm mộng

có thần báo rằng : ông đến muộn mới thành danh Nhân thế cảm nghĩ, tỉnh ngộ và cần cù đọc sách Mãi cuối triều Lê mới đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn, trải

(1) Trạng nguyên: đỗ đệ nhất giáp đệ nhất danh ở khoa thi đình; đệ nhất giáp, đệ nhị danh là bảng nhãn; đệ nhị giáp, đệ tam danh là thám hoa

Trang 33

chức thừa hiển Năm ất Dậu có công giữ yên trong cõi, đ-ợc thăng chức phó

đô, nhờ ơn vua ngày một trọng Vâng mệnh giữ việc Quốc tử giám, sửa sang

Từ vũ đẹp thêm Làm quan đến tham tụng th-ợng th- kiêm đông các đại học

sĩ, quốc lão, tham dự triều chính, tr-ớc Thái bảo với trí sĩ Đến khi đ-ợc khởi phục giữ việc sáu bộ Già chết, đ-ợc tặng là thái tể, giao việc thờ cúng cho dân bản quán Con là Công Ph-ơng đỗ đồng tiến sĩ(1) khoa Canh Dần triều Vĩnh Trị

Vua ban cho cờ lụa và câu đối

2 Th-ợng th- ấn ch-ởng lục, thuỳ thôn tấn hết, cửu miếu

đình an

Thiên hạ đạt tôn tam, vĩ tích gia ngôn, luỹ triều đẩu vọng

nghiệp vua đ-ợc yên

H-ởng cả ba điều: phúc, thọ, lộc trong thiên hạ, công lao

kỳ vĩ, các triều trọng vọng.)

Lê Hữu Kiều (ng-ời Liêu Xá) con giai Xuân An tiên sinh (tiên sinh đỗ Hoàng Giáp khoa Canh Tuất thời Cảnh Trị làm quan đến công hiến sứ) Lúc trẻ mồ côi bố, bảy tám tuổi học chút ít Anh cả Hữu Huy (đồng tiến sĩ chánh khoa khoa Canh Thìn) đem theo dạy Năm 18 tuổi anh thứ Hữu M-u đỗ giải

(1) Đồng tiến sĩ: là đỗ tiến sĩ

(2) Một đời vua t-ợng tr-ng bằng một cái đỉnh."Cửu miếu đỉnh an"- chín đời vua yên ổn

Trang 34

nguyên thi h-ơng Ng-ời anh thi hội lại đỗ (đồng tiến sĩ khoa Canh Thìn thời Vĩnh Thịnh), còn ông đỗ khoa Mậu Tuất, nổi tiếng trong ngoài (ngoài làm việc ở hiến, vào trong làm ở đài(1) kiêm sai tri phiên) Ba lần giữ chức phiên khổn (đốc trấn các xứ Cao Bằng, Thanh Hoá, Thái Nguyên) Đi sứ Yên Kinh

Đốc chiến khi tòng chinh, th-ờng lập nên công danh Làm quan đến tham tụng th-ợng th-, vào hầu giảng ở Kinh Diên (nơi giảng cho vua) Khi h-u trí

đ-ợc tặng là Thái Bảo quận công Cháu là Trọng Tín (con giai Hữu M-u), con là hữu Dong, kế nhau đỗ (Trộng Tín khoa Mậu Thìn thời Cảnh H-ng, Hữu Dong khoa Kỷ Mùi, đều đỗ đòng tiến sĩ)

Khi trí sĩ, vua ban cho cờ lụa và câu đối:

Sứ mạo phiên khôn cần thi nhật Quĩ tịch kinh vi lệ dực niên

(Lãnh sứ mệnh ở phiên khôn, ngày ngày siêng năng, Năm làm tể t-ớng thì gắng sức giúp nhà cua)

Tại triều tại quận văn kiêm vũ

Vu quốc vu gia hiếu tô trung

(Tài kiêm văn vũ khi ở triều, khi ở quận Đối với n-ớc đối với nhà có trung có hiếu)

Ôc -u quốc sủng cung tam mệnh(2) Thanh bạch gia phong tiến tứ tri(3)

(Dồi dào h-ởng ơn n-ớc nhà, vâng mệnh vua, nhận chức

vị Nếp nhà trong trắng đáng khen là liêm khiết trong sáng).

(1) Hiến: chức ở tỉnh, đài là tổ chức ở kinh, trong triều

(2) Tam mệnh: Sách Chu lễ-"Tam mệnh thụ vị vâng mệnh vua nhận chức vị

(3) Tứ tri: Hậu Hán v-ơng cất m-ời cân vàng vào bọc đem cho D-ơng Chấn và bảo rằng: "đêm tối không ai biết" Chấn nói: "Trời biết, thần biết, tôi biết, ông biết sao bảo không ai biết" Sau khi Chấn chết, ng-ời ta dựng miếu thờ Chấn và gọi là miếu Tử tri ý ở đây muốn nói là không có sự gì ám muội

Trang 35

Vũ Hữu (đây giở xuống là sự tích trong Công d- tiệp ký)

Vũ Cán Lê Nại Lê Cảnh Tuân Thiểu Đĩnh Thúc Hiển Lê Tỵ

Lê Quang Bí Vũ Công Đạo Vũ Duy Đoán Nguyễn Kim An Trần Vỹ

Nhữ Tiến Dụng, ng-ời ở Hoạch Trạch đỗ tiến sĩ khoa Giáp Thìn thời Cảnh Trị Tr-ớc đây ông tổ lúc hàn vi đi du học ở Tr-ờng An, qua ph-ờng

Đồng Xuân vào quán trà, tình cờ đ-ợc một túi đem về nhà trọ, mở ra coi thấy m-ời giật(1vàng Theo th- trát, thì có ng-ời giữ của cho nha môn lĩnh về để

đem tiến cống Liền mặc áo rồi lại đến nơi cũ, ngồi chờ hàng nửa giờ Một ng-ời đàn bà đến kêu khóc nói: chồng để mất của đã bị quan trên trói giữ

Ông gọi hỏi biết đ-ợc tình thực, đem vàng giả lại Ng-ời đàn bà khôn xiết cảm động, theo ông về nhà học

Sáng sớm hôm sau, cả chồng và vợ cùng đến tạ lễ, xin đem của nhà nộp thay bằng nửa số vàng đ-ợc trả lại Ông từ chối không lấy Ai nghe biết cũng khen Ng-ời giữ của đem việc đầu đuôi trình lên V-ơng phủ V-ơng phủ khen ngợi và th-ởng hậu, lại lấy vàng kho ban cho Ông cố từ chối không nhận Sau làm đến chức quan phủ huyện ở Bắc Hà Vì nhà nghèo phải bán ruộng Chủ mua ruộng hiềm là ruộng đã hẹp lại có mộ tổ, nên giả thêm tiền mua, bảo dời mộ đi nơi khác Vừa mới dời lên đất sao mộc(2), tự nhiên gò

đất sụt xuống, vì thế cứ đào và táng đấy nào ngờ đâu ở đấy là cục đất kết con mộc, nh- giời xui khiến vậy Các nhà phong thuỷ đều cho là điềm lành

(1) Giật: đơn vị tiền tệ đời x-a, bằng hai m-ơi lạng bây giờ

(2) Mộc: một trong ngũ hành- Kim, Mộc, Thổ, Thuỷ, Hoả Đất sao mộc là theo con mắt nhà phong thuỷ đất

ấy có hình con mộc Thuật phong thuỷ nhận định, thế đất là cục gì trong ngũ hành, rồi mới định ra táng chỗ nào đúng huyệth, đúng h-ớng và không sát

Trang 36

giời táng Đời đời có ng-ời đỗ cao Đ-ợc ngôi đất ấy, phải chăng là báo ơn giả vàng

Nhữ Tiến Hiền, con giai Tiến Dụng, đỗ tiến sĩ khoa Canh Thân triều Vĩnh Trị, phụng sứ, trải chức hình bộ th-ợng th- Có tài về chính sự, xử án công bằng, đ-ợc tin cậy

Thời ấy có vụ án còn ngờ Một cô gái đến nuôi chị gái bệnh nặng Hai nhà cách nhau khá xa, qua nhiều ngày, cô gái không về Chồng cô gái kiện, chồng chị gái bị bỏ ngục Nhiều lần quan khám xét, qua sáu bảy năm không quyết đoán ra sao

Ông (Nhữ Tiến Hiền) xét địa đồ: thấy có ngôi chùa ngoài đồng có cây

cối um tùm, ng-ời đàn bà ấy đi về vẫn phải đi qua nơi ấy Ông nghĩ riêng: tất

có thể tên s- c-ỡng gian, rồi sai kiệu mình đến chùa, nói là đến lễ phật Nhân tiện, ngủ đêm ở đấy

Sáng sớm hôm sau, cho đòi bọn s- đến, nói thác đêm nằm mộng và bảo bọn s- rằng: lũ ng-ời tu hành, vì cớ gì có oan hồn đến kêu? Phải thú tội ngay!

Tên s- bỗng nhiên sợ hãi mặt tái và nhận tội Rồi dẫn lại phía cây tháp, chỉ cho khai quật, quả nhiên có xác

Mọi vụ kiện tụng có ai oan uổng đều đ-ợc xét đoán ra lẽ phải trái Nên thời ấy ng-ời ta vẫn nói: " Văn ch-ơng Lê Anh Tuấn, chính sự Nhữ đình Hiền"(Anh tuấn ng-ời Thanh Mai, Tiên phong, tiến sĩ khoa Giáp Tuất triều Chính Hoà, làm quan tham tụng th-ợng th-, Thái phó quận công)

Nhữ Đình Tuấn, con trai Đình Hiền, em con chú của Trọng Thai (Trọng Thai bảng nhãn khoa Quý Sửu triều Long Đức) đỗ tiến sĩ đầu thi hội khoá Bính Thìn triều Vĩnh Hựu, đã làm chức nhập thị bồi tụng

Trang 37

Đến khi Minh v-ơng bình tây, ông cùng Cổn quận công giữ kinh, kiêm giữ phủ, đem quan quân ở lại chi ra bảo vệ Đ-ợc làm quan đến tham tụng th-ợng th- đổi bổ ngạch đỗ đặc cách cho làm quốc lão, trí sĩ Đ-ợc phục chức, ông cố từ chối Đ-ợc ngự ban cho một bài thơ quốc âm:

"Bấy lâu gang tấc chốn phong thần(1) Lục đã phen này đ-ợm thức xuân Hoa quốc mấy tài khoe vẻ gấm, Lập triều vinh nhắc đồng cân

Mái sâu x-ớng tỏ bề tri túc, Gánh nặng còn giành sức trí thân

Ưu ái niềm x-a nên nghĩ đấy Bên tai chi lắng tiếng thiều quân(2) "

Con giai là Công Điền nối nghiệp đỗ cao (Hoàng giáp khoa nhâm thìn thời Cảnh h-ng) làm quan đến Đốc thị

Phạm Tử H-. Ng-ời Nghĩa l- (nay đổi Nghĩa Phú) thuộc Cẩm giàng, ng-ời tuấn tú hào sảng Lúc trẻ hơi m-ợn văn từ kiêu với ng-ời ta Sau thờ D-ơng Trân làm thày, th-ờng đ-ợc răn về nết kiêu, tự mình khắc phục sâu sắc Sau khi D-ơng Trân chết, học trò về cả, duy có Tử H- làm nhà bên mộ

ở, ba năm mới về Tuổi quá bốn m-ơi đỗ Thái học sinh đệ tam giáp khoa Mậu Thìn triều Lý Trinh Khánh (Truyền kỳ lục dẫn: thiên tào) Cháu là Phạm Văn Tuấn, bảng nhãn khoa Canh Tuất, năm Thiên ứng triều Trần, làm quan đến chức hành khiển bình ch-ơng quân quốc, thái phó Trình quốc công, tặng t- đồ Chắt là Văn Hoán, tiến sĩ khoa Giáp Dần triều Long Khánh đời Trần

(1) Phong thần: nơi cung cấm nhà vua Đời Hán hay trồng cây phong ở trong cung

(2) Thiều quân: tên Khúc nhã thời vua Thuấn nhà Ngu, ca tụng cảnh thái bình

Trang 38

Nguyễn Văn Thông, ng-ời Ngọc Trực tiến sĩ khoa ất sửu triều

Đoan khánh Hoàng Minh Tá, ng-ời Hoàng xá, tiến sĩ khoa Giáp Tuất triều Hồng Thuận, đều có tiết nghĩa (Theo Đăng khoa lục, sự tích ch-a t-ờng)

Lại Kim Bảng, ng-ời Kim Quan (nay đổi Ngọc quan thuộc tỉnh Bắc ninh) tiến sĩ khoa Mậu dần triều Lê Quang Thiệu, đ-ợc bổ giám sát ngự sử Nguyễn Thái Bạt, ng-ời Bình lãng, hoàng giáp khoa Canh thìn, đ-ợc vào viện hàn lâm Khi nguỵ Mạc c-ớp n-ớc, Kim Bảng tự gieo mình xuống sông Tức mạc Thái Bạt có chứng thong manh, xin đ-ợc tới gần để th-a việc, nhân

đấy nhổ vào mặt Đăng Dung và chết vì nghĩa Thời Lê trung h-ng đ-ợc nêu khen là tiết nghĩa Các triều có sắc khen tặng, hai ngôi miếu lẫm liệt, ng-ời

đến xem có lòng kính mộ

Tr-ơng Hạnh, ng-ời Tr-ờng Tân (nay là Mạnh Tân thuộc Gia lộc), thời Trần thi Đình đỗ Thái học sinh đệ nhất giáp, là ng-ời đầu tiên đỗ đại khoa trong huyện

L-ơng Nh- Hộc, ng-ời Hồng lục, thám hoa khoa Nhâm thìn triều

Lê Thái Bảo (niên hiệu Thái Tân hai lần đi sứ xem đ-ợc ng-ời ph-ơng Bắc khắc in Khi đi sứ về, ông dạy ng-ời làm cách khắc bản in để in các bản kinh

sử, l-u hành ở đời Trong huyện có Liễu chàng cũng học đ-ợc nghề này Đến nay đ-ợc tờ làm tiên s-

Nguyễn Phục, Ng-ời Đoàn tòng (sau huý Trịnh v-ơng đổi làm Đoàn Lâm), Hoàng giáp khoa Quí dậu triều Thái hoà (niên hiệu Nhân tôn), làm

đến chức trong viện Hàn lâm, kiêm chức V-ơng phó

Khi Thánh tôn thân đi đánh Chiêm Thành, nhân giữ việc đôn đốc chuyển vận bị gió bão sai hạn, nh-ng xin giữ nghiêm phép quân (chịu tội),

Trang 39

sau đ-ợc phong làm phúc thần Con giai là Nguyễn Đạm, chánh tiến sĩ khoa Giáp tuất triều Hồng thuận (niên hiệu Thánh tôn)

Nguyễn T-ờng Phiếu, ng-ời Đỗ tòng, tiến sĩ khoa Bính thìn triều Hồng Đức làm đến chức thừa chánh sứ, tặng th-ợng th- Ông san tr-ớc (sửa lọc) Truyền kỳ mạn lục

Phạm Trấn, Đỗ Uông (việc chép ở Công d- tiệp ký)

Đào Công Chính, ng-ời Hội am, Vĩnh lại Lúc trẻ khôi ngô, nổi tiếng là thần đồng Năm m-ời ba tuổi thi h-ơng đỗ Khoa Tân mùi triều Lê Vĩnh Thọ, hai m-ơi ba tuổi đỗ tiến sĩ, thi đình đỗ Bảng nhãn, đi sứ ph-ơng Bắc Làm đến chức Lại bộ hữu thị lang (hữu thị lang bộ Lại), vào hầu giảng ở toà Kinh diên (nơi giảng cho vua nghe)

Nguyễn Bỉnh Khiêm (sự tích ở Công d- tiệp ký)

Vũ Khâm Thận (sau đổi là Khâm Lân), ng-ời Ngọc lặc thuộc Tứ kỳ,

đồng tiến sĩ khoa Đinh mùi triều Bảo thái Đi sứ Yên kinh, t-ớc quận công, tặng th-ợng th- Con là Cơ đỗ khoa quí mùi triều Cảnh H-ng, làm đến chức Hàn lâm hiệu lý, ra trấn thủ Lạng sơn

Bùi Bá Kỳ, ng-ời Phù nội, Thanh miện (coi Công d- tiệp ký) Thái học sinh triều Trần Khi ấy Quý Ly c-ớp ngôi nhà Trần Bá Kỳ v-ợt bể sang Minh xin giúp quân để diệt họ Hồ Về sau đ-ợc báo phong làm phúc thần

Tr-ơng Phụ Thuyết (sự tích coi Công d- tiệp ký)

Trang 40

Đặng Vô Cạnh, ng-ời Hoàng Thứ, đồng tiến sĩ khoa Bính thìn, thời Mạc, niên hiệu Quang Bảo, đi sứ làm đến chức th-ợng th- tham tụng, dự triều chính, Miện quận công Con trai là T- tề, đồng tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái, làm đến th-ợng th-, Thái bảo quận công (xét sách huyện chí cha con cùng ở triều đều có tiết nghĩa Theo Đăng khoa lục T- tề theo Lê, sau theo Mạc)

Trần Văn Tr-ớc, ng-ời Từ ô, con Trần Văn Hoán (Trần Văn Hoán tiến sĩ khoa Giáp thìn niên hiệu Bảo thái) hoàng giáp khoa Quí hợi niên hiệu Cảnh H-ng, cha con cùng ở triều Học vấn uyên bác cùng hiểu sâu về Dịch, làm đến Thiêm đô ngự sử, kiêm Quốc tử giám trực giảng Một thời, ng-ời

đến theo học rất đông Những ng-ời đỗ đại khoa, có nhiều làm đến quan to, nh- Bùi tụng Giang Sĩ Điển, bình ch-ởng Tr-ơng Đăng Quỹ, Hữu thị lang Ngô Duy Viên; dự vào hàng võ quan có hơn ba chục viên, còn ng-ời đỗ h-ơng tiến không biết bao nhiêu mà kể

Nguyễn Thuyên (theo Công d- tiệp ký) ng-ời Lại Hạ, Thanh lâm, thái học sinh triều Trần

Bấy giờ có cá ngạc (cá sấu) đến sông Lô Nhân Tôn sai ông làm bài văn ném xuống giữa sông, cá ngạc đi mất Cho việc ấy giống nh- Hàn Dũ, nhà vua cho họ là Hàn Ông lại có tài làm thơ quốc ngữ N-ớc ta dùng Quốc

âm, từ Thuyên tr-ớc Cho nên luật thơ quốc âm, gọi là Hàn luật, gốc là ở đấy

Trần Quốc Sơ (Đăng khoa lục làm ra Quốc Phao) ng-ời Uông hạ, thi Thái học sinh năm Bính thìn triều Trần Nguyên phong, sau đỗ Trạng nguyên kinh (bấy giờ chia ra tứ chính(1) làm Kinh, Thanh hoá, Nghệ an làm

(1) Tứ chính: chỉ bốn tỉnh lớn miền Kinh

Ngày đăng: 18/03/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w