Nguyễn Bá Huyên: ng-ời xã Cổ chẩm, năm 24 tuổi đậu đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Mậu thìn, làm quan đến chức Tham chính.. Đồng Hãng: Ng-ời xã Triều D-ơng, anh ruột Đồng Đắc, ô
Trang 1Chí linh phong vật chí
Ng-òi dịch: Nguyễn Huy Đại
Nguyễn Thanh Giản
Chế bản theo bản đánh máy năm 1976 của Th- viện Khoa học tổng hợp tỉnh Hải H-ng
Hải d-ơng 11/1998
Trang 2Sự tích tiên hiền hai huyện Chí Linh và Thanh Lâm
Năm Bính Tý, tức năm Bảo đại thứ 11, tháng 3 nhuận, gia đình họ
Đào Ngọc xã An lặc, phụng sao lục sự tích tiên hiền huyện Chí linh nh- sau:
Nguyên tr-ớc, phủ Nam sách kiêm lý hai huyện Chí linh và Thanh lâm Đến năm Đồng khánh thứ 2 mới chia làm hai huyện Lại đến năm Thành Thái thứ 1, huyện lỵ Chí linh mới rời đến đồn Quy sơn, xã Lạc sơn
Kẻ hậu học, nhân lúc hứng có vịnh bài thơ nh- sau:
Phong cảnh Chí linh lắm cảnh thay!
Muốn theo nối gót chửa vần xoay, Chiếu lều nợ trả đành chờ hội,
Biển rộng biết bao đàn cá nhấn
Trời cao còn vạn giống chim bay
Của kho vô ận khi nào hết
Bảng lục quán chỉ các vị tiên hiền huyện Chí linh
Xã Long động: 1 trạng nguyên, 2 tiến sĩ Xã Sác khê: 1 trạng nguyên, 1 tiến sĩ Xã Phụ vệ: 6 tiến sĩ
Xã An ninh: 5 tiến sĩ Xã Linh giang: 2 tiến sĩ Xã Đáp khê: 2 tiến sĩ Xã Mật sơn: 1 tiến sĩ
(1) (2) Những chữ đặt trong dấu " " của (1) và (2) trong nguyên bản không có vì giấy nát Chúng tôi tạm
Trang 3Xã Chí linh: 2 tiến sĩ Xã Mộ xá: 5 tiến sĩ Xã Cổ châu: 1 tiến sĩ Xã Mặc động: 2 tiến sĩ Xã Lạc sơn: 3 thám hoa và tiến sĩ Xã Kiệt đặc: 6 tiến sĩ
Xã Tứ linh: 1 tiến sĩ Xã Triều d-ơng: 6 tiến sĩ Xã Hà liễu: 1 tiến sĩ Xã Đột lĩnh: 2 tiến sĩ Xã Trực trì: 3 tiến sĩ Xã Phao sơn: 1 tiến sĩ Xã Ngô đồng: 1 tiến sĩ (1)
Chí linh bát cổ Nhà cổ Trạng nguyên
ở xã Ninh khê Nguyên tr-ớc là Văn từ huyện Chí linh, nay ở địa phận xã Tống xá
Trang 4ở núi Huyền đinh (nay là núi Trì ng-), xã Kiệt đặc
Sự nghiệp các bậc tiên hiền huyện Chí linh Triều Lý:
Năm Quảng Hựu thứ 2 (Nhân tôn đặt ra khoa thi tiến sĩ, khoa thi này bắt đầu từ đấy)
Mạc Hiển Tích : ng-ời xã Long động, đậu đầu tiến sĩ thi văn học khoa
Bính dần, sau sung Hàn lâm viện, làm quan đến chức Th-ợng th-
Năm Quảng hựu thứ 5:
Mạc Kiến Quan: ng-ời xã Long động, em Mạc Hiển Tích, đậu tiến sĩ
cập đệ khoa Kỷ tỵ, làm quan đến chức Th-ợng th-
Triều Trần
Năm H-ng long, thứ 12 (Đời Anh tôn)
Mạc Đĩnh Chi: Ng-ời xã Long động, cháu 4 đời Mạc Hiển Tích và tổ 7
đời Mạc Đăng Dung, đỗ đầu đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (tức Trạng nguyên), làm quan đến chức nhập nội đại hành khiển, thái bảo tự bộc sạ, th-ợng th- môn hạ, kiêm trung th- Trị quân dân trọng sự Phụng mệnh sang sứ Trung quốc, đ-ợc phonglàm trạng nguyên hai n-ớc
Năm Quang thái thứ 6 (Đời Thuận tôn)
Đồng thức: ng-ời xã Phụ vệ, đậu Thái học sinh khoa quý dậu, làm
quan đến chức Trung thừa giám sát ngự sử Đ-ợc nhà vua đổi họ làm họ
Trang 5Nguỵ, vì tính c-ơng trực, giống nh- Nguỵ Tr-ng (Trung quốc) Sau lại làm quan với nhà Hồ, hay nói trung trực
Triều Lê:
Năm Quang thuận thứ 4 (Đời Thánh tông Thuần hoàng đế)
Nguyễn Ký: Ng-ời xã Linh giang, cháu bốn đời Nguyễn Nghiễm, năm
30 tuổi đậu tiến sĩ xuất thân, khoá Quý mùi, làm quan đến chức lại bộ th-ợng th-
Năm Quang thuận thứ 7
Đỗ Nhuận: Ng-ời xã Mật sơn, đậu tiến sĩ xuất thân khoa Bính tuất, làm
quan đến chức th-ợng th-, đông các đại học sĩ, phó nguyên suý Tao đàn
Năm Quang thuận thứ 10
Lê sĩ Dũng: ng-ời xã Phụ vệ, đậu đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân, khoa
Kỷ sửu, sau cải sang võ chức làm quan đến chức Tổng kiêm sự
Năm Hồng Đức thứ 6
Nguyễn T- Phụ: Ng-ời xã Sác khê, đậu đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân,
làm quan đến chức Giám sát ngự sử
Năm Hồng Đức thứ 12
Nguyễn Tử Loa: ng-ời xã Hộ xá, đậu tiến sĩ xuất thân, khoa Tân sửu,
làm quan đến chức An bang kinh l-ợc sứ
D-ơng Nghĩa Ph-ơng: Ng-ời xã An Đinh, nguyên quán xã Cẩm ch-ơng huyện Đông ngạn, thuộc dòng D-ơng Đại Đạt, đậu tiến sĩ xuất thân, khoa Tân sửu, làm quan đến chức Lễ bộ tả thị lang
Nguyễn Đức Huấn: ng-ời xã An đinh, nguyên quán xã Cổ chảm, năm
35 tuổi đậu thứ hai đệ nhất gáip tiến sĩ cập đệ khao Đinh mùi, phụng sứ, làm quan đến chức th-ợng th-, hội viên hội Tao đàn
Trang 6Nguyễn Đạt Đạo: Ng-ời xã Hộ xã, cháu Nguyễn Tử Loa, năm 39 tuổi
đậu đệ tam gíap tiến sĩ khoa Đinh mùi, sau cải sang võ chức, làm quan đến chức Tổng binh
Năm Hồng Đức thứ 24
Lại T- Phụ: Ng-ời xã Đáp khê, đậu đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, khoa
quý sửu, làm quan đến chức Đề hình giám sát ngự sử
Năm Đoan Khánh thứ 4
Lê Vĩnh Tuy: ng-ời xã An đinh, năm 31 tuổi, đậu đệ nhị giáp tiến sĩ
xuất thân, khoa Mậu thìn, làm quan đến chức Tham chính
Nguyễn Bá Huyên: ng-ời xã Cổ chẩm, năm 24 tuổi đậu đệ tam giáp
đồng tiến sĩ xuất thân khoa Mậu thìn, làm quan đến chức Tham chính
Phan Tập: ng-ời xã Chí linh, đậu tiến sĩ xuất thân khoa Mậu thìn, làm
quan đến Hộ bộ rồi về h-u Ông là thân phụ của Phan Khải, nhà ở xã Triều D-ơng có dự m-u lập họ Mạc lên làm vua
Nguyễn L-ơng Ký: Ng-ời xã Hộ xá (nay là Tống xá), cháu 4 đời
Nguyễn Loa, đậu đồng tiến sĩ xuất thân khoa Mậu thìn, làm quan đến chức Thừa chánh sứ ty T-ớc Sùng nguyên bá
Năm Đại chính thứ 18
Đỗ Trác Dị : Ng-ời xã Phụ vệ, thân phụ của Đỗ Hồng và ông 4 đời của
Đỗ Thạnh, nguyên quán xã Đ-ờng hào, đậu tiến sĩ xuất thân khoa Đinh sửu, làm quan đến chức Hữu thị lang
Năm Đại chính thứ 21
Trang 7Đỗ Hồng: ng-ời xã Phụ vệ, con trai Đỗ Trác Dị, ông nội Đỗ Thạnh,
năm 26 tuổi, đậu thứ hai đệ nhất giáp cập đệ khoa Canh thìn, làm quan đến chức Đông Các
Năm Quang Bảo thứ 2
Phan Khải: Ng-ời xã Chí linh, con trai Phan Tập, đậu đệ nhị giáp tiến
sĩ, xuất thân khoa Bính thìn, làm quan đến chức Hiến sát ngự sử
Nguyễn Bính Gi: Ng-ời xã Đáp khê, đậu đệ tam giáp tiến sĩ, hội nguyên
khoa Bính thìn, làm quan đến chức Đô đài ngự sử, t-ớc Đông khê hầu
Nguyễn Uyên Trạch: Ng-ời xã Mạc động, nguyên quán xã Nham lang,
huyện Ngự thiên, năm 30 tuổi đậu tiến sĩ xuất thân, khoa Bính thìn, phụng
sứ, làm quan đến chức Th-ợng th-, đi sứ Trung quốc
Năm Quang Bảo thứ 5:
Tr-ơng Hữu Bùi: ng-ời xã Phao sơn, đậu đồng tiến sĩ, xuất thân khoa
Kỷ mùi, làm quan đến Hiến sát sứ
Nguyễn Doãn Khâm: ng-ời xã Kiệt đặc, đậu đệ nhị giáp tiến sĩ xuất
thân, khoa Kỷ mùi, làm quan đến chức Th-ợng th-, kiêm đô đài ngự sử, t-ớc Nghiêm sơn hầu
Đồng Hãng: Ng-ời xã Triều D-ơng, anh ruột Đồng Đắc, ông nội Đồng
Tồn Trạch, đậu đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ mùi, làm quan đến chức Hữu Thị lang thừa chánh sứ
Nguyễn Xuân Quang: ng-ời xã Đột lĩnh, đâu đồng tiến sĩ xuất thân,
khoa Kỷ mùi, làm quan đến chức Tham chính Đại học sĩ
Năm Thuần Phúc thứ 1
Phạm Duy - ởng: ng-ời xã Sác khê, đậu đầu đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ
khoa Nhâm tuất, làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ, Tả thị lang, t-ớc Sác khê hầu
Trang 8Nguyễn Minh Bích: ng-ời xã An Đinh nguyên quán xã Nhân lý, năm 43
tuổi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm tuất, làm quan đến chức Th-ợng th-, t-ớc Lâm xuyên tử
Năm Thuần Phúc thứ 7
Nguyễn Nghiễm: ng-ời xã Linh giang, cháu 4 đời Nguyễn Ký Năm 39 tuổi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu thìn, làm quan đến chức Hiến sát ngự sử, th-ợng th-
Nguyễn Phong: ng-ời xã Kiệt đặc, năm 26 tuổi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ
xuất thân khoa mậu thìn, làm quan đến chức Th-ợng th-, Tuyên quận công
Đồng Đắc: ng-ời xã Triều D-ơng, em ruột Đồng Hãng, đậu đệ tam
giáp tiến sĩ xuất thân khoa Mậu thìn, làm quan đến chức Hộ bộ đô cấp sự trung
Năm Sùng Khang thứ 7
Lê Lý Thái: Ng-ời xã Hộ xá, anh họ Lê Diên Khánh, năm 37 tuổi đậu
tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp tuất, làm quan đến chức Đề hình giám sát ngự
sử
Năm Sùng Khang thứ 10
Nguyễn Minh Thiện: ng-ời xã Lạc sơn, đậu đệ tam giáp đồng tiến sĩ
xuất thân, ứng chế hợp cách, khoa Đinh sửu, làm quan đến Hiến sát ngự sử
Đồng Văn Giáo: ng-ời xã Triều d-ơng, ông nội Đồng Tồn Trạch, năm
50 tuổi, đậu đồng tiến sĩ xuất thân khoa Đinh sửu, làm quan đến chức Thừa chánh sứ
Đỗ Thạnh: Ng-ời xã Phụ vệ, cháu Đỗ Hồng, cháu 4 đời Đỗ Dị, nguyên
quán xã Đỗ xá, huyện Đ-ờng Hào, đậu đồng tiến sĩ xuất thân khoa Đinh sửu, làm quan đến chức tham chính
Năm Diên Khánh thứ 6
Trang 9Lê Diên Khánh: ng-ời xã Hộ xá, đậu đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Quý
sửu, làm quan đến chức Hiến sát sứ
Năm Đoan Thái thứ 2
Đồng H-ng Tạo: ng-ời xã T- linh, năm 41 tuổi, đậu đệ tam giáp đồng
tiến sĩ xuất thân khoa Bính tuất làm quan đến chức Giám sát ngự sử
Năm Quang H-ng thứ 12
Đoàn Khắc Thiện: ng-ời xã Phụ vệ, năm 60 tuổi, đậu đệ tam giáp tiến sĩ
xuất thân khoa ất sửu, làm quan đến chức Hiến sát sứ
Triều Lê Trung h-ng
Năm Hoàng định thứ 3 (Đời Kính tông Huệ hoàng đế)
Nguyễn Hồng: ng-ời xã Hà Liễu, năm 50 tuổi, đậu đệ tam giáp tiến sĩ
xuất thân khoa Nhâm dần, làm quan đến chức Thừa chánh sứ, phong t-ớc tử, sau khi về h-u trí, đ-ợc tặng chức Công bộ Tả thị lang, phong t-ớc bá, thọ 82 tuổi
Năm Hoàng Định thứ 5
Nguyễn Thế Tiêu: ng-ời xã Mặc động, năm 46 tuổi, đậu đệ nhị giáp tiến
sĩ xuất thân khoa Giáp thìn, làm quan đến chức Phụng sứ tự khanh, phong t-ớc tử
Năm Đức Long thứ 3 (đời Thần tông, Uyên Hoàng đế)
Nguyễn Minh Triết: ng-ời xã Lạc sơn, cháu Nguyễn Minh Thiện, năm
54 tuổi, đậu thứ 3 đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, cả thi hội thi đình đều đỗ đầu, làm quan đến chức Công bộ th-ợng th- Thăng Thiếu bảo, khởi phục Cẩm quận công, khi về h-u đ-ợc gia tăng Hộ bộ th-ợng th- và tên hèm là Văn
Đẩu, thọ 95 tuổi
Năm Phúc Thái thứ 4 (Đời Chân tông Thuận Hoàng đế)
Đồng Tồn Trạch: ng-ời xã Triều d-ơng, cháu Đồng Văn Giáo, năm 30
tuổi, đậu đệ tam giáp xuất thân, ứng chế đệ nhất khoa Bính tuất, làm quan
Trang 10đến chức Tham tụng Hộ bộ th-ợng th-, phong t-ớc hầu, thăng chức Thiếu bảo; khi về h-u trí, gia tặng Lại bộ th-ợng th-, phong t-ớc quận công
Năm Cảnh Trị thứ 5
Nguyễn Quang Trạch: ng-ời xã Kiệt Đặc, đậu đệ tam giáp tiến sĩ, xuất
thân, ứng chế hợp cách, khoá Đinh mùi, làm quan đến chức Hình khoa đô cấp sự trung, sau về h-u, thọ 77 tuổi
Năm Cảnh trị thứ 8
Trần Đào: ng-ời xã Trực chì, thân phụ của Trần Cảnh, tổ phụ của Trần
Tiến, đậu đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh tuất, làm quan đến chức Quang tiến, Thận lộc đại phu, quang lộc tự khanh, gia tăng đặc tiến kim
tử, Vinh lộc đại phu, Hộ bộ tả thị lang ph-ơng chì hầu Đ-ợc ban tên hèm là Trung Cẩn
Năm Chính Hoà thứ 4
Trần tiến Gián: ng-ời xã Triều d-ơng, năm 27 tuổi, đậu đệ tam giáp
đồng tiến sĩ xuất thân, phụng sứ, khoa Quý hợi, làm quan đến Lễ bộ th-ợng th- tả thị lang, phong t-ớc tử, tặng Hộ bộ th-ợng th-, phong t-ớc hầu
Năm Chính Hoà thứ 9
Nguyễn Đình Tuấn: ng-ời xã Kiệt đặc, cháu Nguyễn Khâm, đậu tam
giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Mậu thìn, làm quan đến chức Thừa chỉ, phong t-ớc bá
Năm Chính Hoà thứ 12
Nguyễn Mại : ng-ời xã Ninh xá (nay là Ngô đông), năm 27 tuổi đậu đệ
nhị giáp tiến sĩ xuất thân, ứng chế hợp cách, khóa Tân mùi, làm quan đến chức Tham tụng lễ bộ tả thị lang, t-ớc Đông lĩnh bá, phụng sai trấn thủ Sơn tây, gia tăng Hộ bộ th-ợng th-, t-ớc Đông quận công
Trang 11Đồng Bỉnh Do: ng-ời xã Triều d-ơng, con Đồng Tồn Trạch, cháu 4 đời
Đồng Hãng, đậu đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân mùi, làm quan đến chức tham chính
Mai Thuỵ: ng-ời xã Lạc sơn, năm 24 tuổi, đậu đồng tiến sĩ xuất thân
khoa Tân mùi, làm quan đến chức Tham chính
Năm Vĩnh Thịnh thứ 6
Nguyễn Tứ: Ng-ời xã Kiệt đặc, năm 27 tuổi đậu đệ tam giáp, đồng tiến
sĩ xuất thân khoa Canh thìn, làm quan đến chức Đông các đại học sĩ
Năm Vĩnh Thịnh thứ 14
Trần Cảnh: ng-ời xã Trực chì, con Trần Đào, thân phụ Trần Tiến, đậu
đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Mậu tuất làm quan đến chức Đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu, Tham tụng lễ bộ th-ợng th-, nhập thị kinh diên Khi về h-u khởi phục Huy quận công, tặng phong thiếu bảo, đ-ợc ban tên hèm là Trung Nhã
Năm Cảnh H-ng thứ 9
Trần Tiến: ng-ời xã Trực trì, con của Trần Cảnh đậu đệ tam giáp đồng
tiến sĩ xuất thân ứng chế hợp cách khoa Mậu thìn, làm quan đến chức phong
ấm Triều liệt đại phu, Hàn lâm viện thị độc, Thanh hoa tham chính sứ, ngự
sử, gia tăng đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu, Công bộ tả thị lang, t-ớc sách huân bá Đ-ợc ban tên hèm là Trung L-ợng
Năm Cảnh H-ng thứ 40
Trần Huy Liễm: ng-ời xã Đột lĩnh, nguyên quán xã Phú thị huyện Gia
lâm, đậu đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa kỷ hợi, làm quan đến chức
Đặc tiến kim tử, Vinh lộc đại phu, tán trị thừa chánh sứ các xứ Hải d-ơng- Sơn tây
Trang 12đỡ hậu học, để rộng mở đạo thánh hiền
Vậy kính mời các vị tiền bối cao khoa đạt hoạn, các vị học rộng tài cao, cùng lại chứng giám
Phong cảnh nhân vật huyện Chí lnh Phong cảnh trong huyện ca
Dịch âm:
Chí linh bách lý phân c-ơng giới, Địa chí tòng tiền minh ký tái, Đông lên Hiệp sơn thuỷ trung l-u, Tây tiếp Thanh lâm giao dã ngoại, Nam tức Thanh hà dữ Thanh lâm Bắc liên Lạng giang đồ cụ tại
Thất tổng phân c- giám đại xuyên,
Hà nam, Hà bắc cổ danh truyền, Thôn xã số cai lục thập ngũ Bán c- sơn dã bán hình điền
Dịch nghĩa:
Trang 13Huyện chí linh trăm dặm đấy chia bờ cõi, Sách địa chí từ x-a đã ghi chép rõ ràng
Phía đông liền huyện Hiệp sơn giữa có dòng sông Phía tây giáp huyện Thanh lâm ngoài cánh đồng rộng rãi
Phía nam tức là huyện Thanh hà với huyện Thanh lâm
Phía bắc t-ói Phủ Lạng giang bản đồ còn đó
Bẩy tông chia ra ở hai bên sông lớn,
Hà nam, Hà bắc tên gọi x-a còn truyền lại
Gồm có sáu m-ơi lăm thôn xã, Nửa ở miền rừng núi, nửa ở miền đồng bằng
Lạng giang phía bắc nhìn quan bản đồ
Giữa bẩy tổng có sông to,
Hà nam, Hà bắc lời x-a còn truyền Sáu lăm (65) thôn xã cách liền Nửa miền đồng ruộng, nửa miền n-ớc non
Giữa huyện có con sông lớn chảy qua, con sông này do sông sáu đầu phân chi ra, chảy xuống đến đò Vụn, chảy theo h-ớng đông, đối ngạn với huyện Hiệp sơn, một chi chảy thẳng xuống sông Bạch đằng; một chi nữa chảy theo h-ớng đông qua huyện Thanh hà, đến huyện Tiên minh (nay là Tiên lãng) rồi đổ ra bể Huyện ta nguyên có 7 tổng: Chi ngại, Kiệt đặc, Cổ
Trang 14châu, Đông đôi là 4 tổng ở phía bắc sông lớn, còn lại Cao đôi, An hộ, An
điền là 3 tổng ở phía nam sông lớn, vì thế có tên gọi là Hà nam, Hà bắc Bốn tổng ở khu Hà bắc đều ở về khu đồi núi, ba tổng thuộc Hà nam đều ở về
đồng bằng Trong sách địa ph-ơng chí do quan Phó đô ngự sử Trần Tiến ng-ời xã Trực trì biên soạn đã ghi chép rõ ràng
Dịch âm:
Bích thuỷ thanh sơn chung tú khí, Phân minh thắng địa tr-ng kiềm ký
Cổ kim ngoạn th-ởng tẫn liêu nhân(1)
Địa thiết thiên bài nhiêu thắng trí
Dịch nghĩa:
N-ớc biếc non xanh chung đúc khí tốt, Thắng cảnh đã ghi trong sách rõ ràng, X-a nay làng thơ nhiều ng-ời ngắm th-ởng
Tạo hoá sắp bày nhiều cảnh trí đẹp
Tạm dịch là:
Khí tốt non sông sẵn đúc nên,
Rõ ràng cảnh đẹp sách ghi truyền Lòng thơ ngâm th-ởng nay nh- tr-ớc, Tạo hoá sắp bày cảnh tự nhiên
Núi Côn sơn
Tiên tòng Chi Ngại thuyết Côn sơn,
Trang 15Ph-ợng nhỡn tiền bi thạch bất san Thạch bích liên không vân mạc mạc Thanh tuyền phún ngọc thuý sàn sàn
Tinh khai kim tr-ởng lâm huyền vũ, Thiên thực kỳ lân tủng thế gian
Ngọc Kiều Thạnh động yêu minh nguyệt Tăng viện thiền am hám bích than
Cảnh vật bất phàm du chí cổ Yên hà môi kỷ đạt nhân nhàn
Dịch nghĩa:
Bắt đầu tổng Chi Ngại nói về núi Côn sơn Tr-ớc thuộc huyện Ph-ợng nhỡn bia đá vẫn còn Vách đá ngất trời tầng mây bay lơ lửng
Suối trong phun ngọc, dòng n-ớc chảy rì rầm
Về ph-ơng bắc có núi Kim tinh(1) bày rộng ra Trên núi hình nh- con kỳ lân đứng sừng sững
Núi có cầu Thấu ngọc động Thanh h- ánh trăng soi tỏ Lại có am viên của các thày tu nhòm xuống suối n-ớc biếc Cảnh vật quý báu trong sách x-a đã có chép,
Thú yên hà đã làm cho biết bao khách nhàn ngắm th-ởng
Tạm dịch là:
Chi Ngại đầu tiên kể núi Côn Bia x-a Ph-ợng nhỡn đá ch-a mòn, Chọc trời vách đá từng mây lửng,
(1) Kim tinh: Theo nhà địa lý cổ thì những núi hau đống hình tròn thì gọi là Kim tinh
Trang 16Phun ngọc suối thanh mạch n-ớc ròn Huyền vũ mạch về sao rải rác,
Kỳ lân đứng sững núi chon von, Ngọc kiều, Thanh động trăng trong rọi, Tăng viện, Thiền am thác biếc nhòm
Cảnh đẹp còn ghi trong địa chí, Khách nhàn vui thú n-ớc cùng non
Núi Côn sơn ở địa phận tổng Chi Ngại, tr-ớc thuộc về huyện Ph-ợng nhỡn xứ Kinh bắc, có bia đá ghi chép hãy còn Mạch núi này từ ph-ơng Bắc dẫn lại có núi hình Kim tinh mở rộng, núi này hình nh- con Kỳ lân đứng sững Núi có động cổ, trong động rộng lớn, gọi là động Thanh h-, d-ới có suối đá, n-ớc th-ờng chảy rì rầm không cạn, gọi là cầu Thấu ngọc Sách(1) nói sách An nam chí đều chép là: "Trên núi Côn sơn có động Thanh h-, cầu Thấu ngọc là cảnh tuyệt đẹp ở nhân gian" tức là nơi này D-ới chân núi rộng rãi, phẳng lạt nh- chiếu trải, các núi bên phải, bên trái, lớp lớp bao quanh Núi Yên phụ cách xa hơn trăm dặm, sừng sững đối lập nh- ở tr-ớc mặt Trên d-ới có ao sắc n-ớc trong suốt, có suối ở hai bên chảy qua phía tr-ớc, dòng n-ớc quanh co, cách núi độ và chục dặm, chảy vào sông lớn Lên núi ngắm trông rất là s-ớng mắt, thật là cái thú lâm tuyền của một vùng Pháp loa là vị Thánh tổ thứ hai của Tám lâm thiền s- đời Trần lập am ở đó
Đến đời vua Minh tông, có Trạng nguyên Lý Đạo Thành tự là Th-ợng Huệ, tên hiệu là Huyền Quang, quê ở xã Vạn Ty, huyện Gia lâm, từ chức về tu ở trên núi Yên tử, thuộc huyện Đông Triều, d-ợc 3 năm, có chiếu chỉ triệu về kinh đô làm đàn chay 7 ngày 7 đêm Khi xong việc, ng-ời lại về chùa ở núi Côn sơn Vì cảm hứng ông có viết bài thơ bằng thể thơ 5 chữ nh- sau:
Vũ quá thiên sơn tĩnh Phong lai nhất mộng l-ơng
Trang 17Cập quan trần thế giới Khai nhỡn tứ mang mang
Dịch nghĩa:
M-a xong ngàn núi tĩnh mịch Gió lại giấc mộng thanh sáng Tỉnh ra ngắm xem cõi trần tục, Trong tâm hồn cảm thấy nhẹ bâng khuâng Tạm dịch là:
M-a xong ngày núi sạch thay Gió đâu đ-a lạ tỉnh ngay giấc nồng Cõi trần ngoảnh lại mà trông
Buông xa tầm mắt trong lòng bâng khuâng
Đến ngày 22 tháng giêng(âm lịch) thì ng-ời vào chốn Nát bàn, tức là cõi Phật, th-ờng có hiển ứng, nên các triều đại đã chỉ chuẩn ban sắc cho xã
sở tại phụng thờ, dần thành một chốn danh lam
Đến cuối đời Trần, quan Đại t- đồ Trần Nguyên Đán, biệt hiệu là Băng Hồ công cũng từ quan về ở nơi này
Đến đầu triều Lê, quan Chi thừa quan phục hầu Nguyễn Trãi biệt hiệu
là ức Trai tiên sinh cũng tới làm nhà tại đây, các thơ ca đề vịnh của ông th-ờng th-ờng thấy ở các tập sách Nam Việt quân thần
Vua Lê Thánh tông qua chơi núi Côn sơn có ngự chế bài thơ nh- sau:
Tĩnh thổ lâu dài cảnh trí kỳ
Cố nhân trần tích dĩ y hy Nhất thiên thảo mộc cũng ngu th-ởng, Bất tận giang sơn nhập chỉ huy
Đại hữu phế h-ng kim thị tích;
(1) Chú thích của trang tr-ớc: Chỗ này rách mất 3 chữ, đợi kê cứu sau
Trang 18Dự vô ký tái thị đa phi Hành trung thặng hữu nhàn t- lạc, Phân phó tăng đồng ý tự tri
Dịch nghĩa:
Lâu đài trên khoảng đất im lặng cảnh đẹp lạ Dấu cũ ng-ời x-a, vẫn còn phảng phất Cây cỏ một vùng giúp cho ta ngâm hứng, Non n-ớc bao la cũng trong mắt ngắm trông
Đời có thịnh suy đem nay coi sới tr-ớc, Việc không ghi chép, biết chăng đúng hay sai?
Trong cuộc du hành đ-ợc nhàn là vui thích, Dặn dò chú tiểu sẽ tự hiểu ý đó của ta Tạm dịch là:
Khoảng vắng lâu đài cảnh đẹp thay, Ng-ời x-a dấu cũ vẫn còn đây
Bao la cảnh đẹp non cùng n-ớc Lai láng tình thơ cỏ lẫn cây Đời có thịnh suy nay rứa trwóc Việc không ghi chép đúng hay sai?
Cuộc đời cảm thấy nhàn là thú Sớm hỏi tăng đồng ý có hay
Xem thơ trên của Lê Thánh tông có ngụ ý cảm khái
Hiện nay kê cứu dấu thơ của hai ông(1) thì không còn nữa, chỉ còn thấy ngôi chùa và am cổ mà thôi Tr-ớc đây mỗi năm đến mùa xuân, trai
Trang 19thanh gái tú ở địa ph-ơng này đến xem hội, đ-ờng đi nh- mắc cửi, thực là ngày hội vui của một vùng này
Trang 20Thu thập lại trong một bầu trời muôn vẻ thanh nhã
Tiều ẩn(1) và Bạch vân(2) đi về th-ờng ngâm vịnh Thấy bia đá nhân hỏi đến di tích
Cảnh núi tên ng-ời song song còn mãi
Miết trì, Lệ tự, giếng son lấp Huyền động, Hàn than mộ cổ xây Tiều ẩn, Bạch vân nhiều cảm hứng, Một vùng thắng cảnh đẹp xinh thay!
Dấu x-a muốn hỏi xem bia đá
Cảnh núi tên ng-ời thọ mãi đây
Núi Ph-ợng hoàng ở xã Kiệt đặc, nguyên tr-ớc thuộc về huyện Ph-ợng nhỡn Núi này nhiều ngọn chầu vào giống nh- sao rải rác, 2 cánh gi-ơng ra tựa nh- chim ph-ợng múa, thực là một cảnh đẹp, vì thế đặt là tên huyện là Ph-ợng nhỡn
Tục truyền núi này có cung Tử cực, điện L-u quang nên Băng Hồ công có câu thơ:
"L-u quang điện hạ tùng thiên thụ Tận thị kình thiên nhất thủ tài"
Trang 21
từ đó lạc mất chỗ giếng cũ Lã Đ-ờng công có thơ rằng:
"Tăng hộ th-ờng quan nhân uý hổ Thạch nham đà quật vị tầm châu"
ao Miết thuỷ Trong sách Thức âm phụ(1) có chép Miết thuỷ tri tức là ao này Tục ngữ gọi là "Đĩa son n-ớc móc" S-ờn núi có chùa gọi là Lệ Kỳ, ông Huyền Vân, tiến sĩ đời Trần ẩn c- luyện đan(2) ở đây Đời vua Dụ tông th-ờng vời vào Kinh hỏi phép luyện đan cho hiệu là Chùa động Huyền Vân
Mi động có chùa gọi là Hàn than, ở đó có mộ vị s- Vô Dĩ
(1) Thức âm phụ: 3 chữ này ch-a rõ
(2) Luyện đan: Luyện thuốc tiên
Trang 22Đời Trần có quan T- nghiệp tr-ờng Quốc tử giám, ng-ời xã Quang liệt, huyện Thanh trì dâng tờ sớ thất trảm(1) rồi treo mũ về quê, yêu phong cảnh núi Chí linh đến ở đây gọi là Tiều ẩn tiên sinh, tức là núi này, trong tập thơ của Lã Đ-ờng công có câu:
"T-ơng phùng vị hữu h-u quan -ớc Linh Triệt hoàn -ng tiếu ngã phần"
Tạm dịch là:
Lúc găp, về h-u ch-a ngỏ ý Chắc thày Linh Triệt đã c-ời tôi
sau ông đ-ợc tặng là Văn Trinh công, đ-ợc phối tự ở Văn miếu, việc này sách quốc sử đã chép rõ Ng-ời sau có thơ vịnh là:
"Thất trảm ch-ơng thành viện quải quan Chí linh chung lão hữu d- nhàn"
Tạm dịch là:
"Thất trảm dâng rồi quyết bỏ quan Chí linh trọn đời đ-ợc thanh nhàn"
Huyện Thanh trì tôn thờ là bậc tiên hiền, đền ở làng Cung hoàng
huyện này, tức là nhà dậy học của ông khi tr-ớc Trong bia có câu:" Ngôn
yên bất tức ngộ, tức nhật quải thiên quan, vu cử Linh sơn hạ, thái nhiên tự thích nhàn"
Tạm dịch là: "Nói rồi mà không tỉnh, liền treo mũ về ngay Về núi Linh ẩn dật, tiêu dao trọn tháng ngày"
Đến cuối đời nhà Mạc có Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hiệu là Bạch vân tiên sinh, ng-ời huyện Vĩnh lại cũng đến ẩn c- ở nơi này Đời Tiền
Lê quan hành tu tham chính họ Bùi ng-ời xã Thịnh liệt huyện Thanh trì dựng lều ở mé núi Đến nay nhà s- trụ trì ở núi này th-ờng giỏi phù chú, ý chừng
Trang 23đ-ợc thần núi ngầm giúp Lại các nhà s- th-ờng trồng thông, tới nay rậm rạp, trông nh- đám mây đem lời cổ ngữ mà suy, há có phải là chỗ đất nên trồng thông hay sao?
Dịch nghĩa:
Rất đáng yêu là ngọn thứ nhất Phao sơn Nh- các vì sao về chầu, dẫn d-ơng long lại, Thành x-a trên núi, có dấu vết ng-ời anh hùng Chùa cổ đầu non, có vết chân ng-ời ẩn dật
Là nơi gió đón tiếng chuông Phả lại,
Là nơi lửa chài le lói d-ới ánh trăng trong Bên hữu, bãi Bạch nhạn là mộ tổ ng-ời Kim đôi
M-ời tám ng-ời anh hùng kế tiếp nhau h-ởng lộc Bên tả là kiểu đất Nam giản, có chùa Sùng nghiêm
Trang 24Quý khí của nó t-ơng đối với chi mạch Thăng long
Am nhà Trần, phủ nhà Lý, thay đổi có khác, Cây núi, n-ớc sông, tr-ớc sau vẫn nh- một
Tạm dịch thơ:
Đỉnh Phao sơn đẹp vô cùng
Thành x-a còn vết anh hào Chùa x-a còn dấu ng-ời vào ẩn c- Tiếng chuông Phả lại gió đ-a, Bình than nguyệt đãi, nhặt th-a lửa chài
Hữu trông Bạch nhạn Kim đôi, Anh hùng m-ời lẻ tám đời đỉnh chung Tả quay Nam giản chùa Sùng,
Khí thiêng với mạch Thăng long sánh bầy
Lý, Trần am phủ đổi thay, Rừng cây sông n-ớc ngày rầy nh- x-a
Di cảo của Cao Biền có câu:
Chí linh Cổ Phao Thuỷ thâm sơn cao Long sơn giáng khí
Hổ lực phao giao
Nghĩa là:
Chí linh Cổ Phao N-ớc thấm non cao Núi long giáng khí Sức hổ đổi trao
Trang 25
Đó chính là nói về đất ấy Trên núi có thành cổ vây quanh Sách sử ký gọi là Chí linh Cổ thành, tức là nơi ấy Ng-ời đời th-ờng kể lại rằng: thành này xây dựng về đời Vĩnh lạc triều Minh; đến năm Khang Hựu nhà Mạc đo
đạc lại và mở rộng ra Thời Tây sơn, cựu thần nhà Lê đã khởi quân ở đấy
Ng-ời ta còn cho đây là nơi danh lam cổ tích Cách núi về bờ bên kia,
có chùa Phả lại xứ Kinh Bắc, tiếng chuông vọng lại nghe rất gần Nhìn về phía tr-ớc có bãi Đại than sông Lục đầu, lửa chài, ánh trăng, rất là đẹp mắt
Cụ Lã Đ-ờng có vịnh thơ nh- sau:
Phiên âm:
Nhật tảo Bình than ng- dịch đoản Dạ hàn Phả lại hoả đăng cô, Bất tri kim cổ đăng lâm khách, Diệc hữu giang sơn fđiểu vọng vô?
Dịch nghĩa:
Buổi sớm, tiếng sáo dân chài Bình than ngắn, (gấp) Đêm lạnh, ngọn đèn chùa Phả lại lẻ loi
Chẳng haykhách du x-a nay đến đây
Có ngắm nhìn non n-ớc này hay không?
Tạm dịch thơ:
Sáo sớm Bình thanh chài gấp đọng, Đèn khuya Phả lại lẻ loi chong Chẳng hay du khách x-a nay tới N-ớc ấy non này có ngắm không
Lại có thơ rằng:
Phiên âm:
Vĩnh bạng dung âm lục tự đài
Trang 26Dã trình hành tận thiểu bồi hồi Thập nhơn khách nhỡn hồng vân quyện Phó dữ giang sơn nhất phóng khai
Phía đông nam dãy núi, một dải cát nổi lên nh- hình chim nhạn, sắc trắng nh- bạc, chiều dài chừng vài m-ơi tr-ợng, cao vài th-ớc, ng-ời ta gọi
là bãi Bạch nhạn (nhạn trắng) gần trông nh- bạc, xa trông nh- n-ớc Tục truyền ng-ời Tàu có câu: "Bạch nhạn sinh mao, sinh tận anh hào" nghĩa là:
"Nhạn trắng mọc lông ng-ời sinh ra hết thảy là anh hào" Ngôi mộ tổ họ Hoàng xã Kim đôi, huyện Võ Giàng, phủ Từ sơn, xứ Kinh Bắc, táng tại núi này, chính là đối diện với bãi cát ấy Tại đây kế tiếp sinh đ-ợc 18 vị tiến sĩ Gần đây cỏ xanh mọc lên, m-ời phần chỉ còn ba bốn Tiếp cận nơi này có chùa Sùng nghiêm dựng ở địa phận xã Nam giản Thày địa lý bảo đó là: "An nam quý cục" nghĩa là "Thế đất quý báu của đất An nam", lấy xã Cổ bi làm chi giữa, thành Thăng long làm chi hữu, xã Nam giản làm chi tả Sau chùa có một khu phủ lỵ cũ, dựng từ triều Lý đến triều Trần có tu sửa lại am chùa
Trang 27D-ợc sơn- Vạn kiếp
Thơ vịnh phiên âm:
D-ợc sơn Vạn kiếp l-ỡng tinh đảo, Bắc đẩu, Nam tào, song đối hạo, Thiên đức giang loan ắt tự triều, Nộn sơn trung trĩ long hình bão
Di nhàn tích thặng tụ hoa vi Phá tặc d- uy h-ơng hoả miếu Hoán tịch, trừ ma, sự hữu vô?
Danh t-ớng linh thần tràng bất lão
Dịch nghĩa:
Xã D-ợc sơn, xã Vạn kiếp có hai tinh đảo
Là Bắc đẩu, Nam tào hai ngọn đối nhau
Khúc sông Thiên đức chầu vào theo hình chữ ất, Ngọn giữa Nọn sơn nh- khúc rồng ôm lấy, Dấu vết d-ỡng nhàn, cây hoa vây quanh D- uy phá giặc có đền miếu h-ơng lửa, Đối chiếu trừ ma, việc có hay không?
T-ớng giỏi thần thiêng, tiếng truyền mãi mãi
Tạm dịch thơ:
D-ợc sơn, Vạn kiếp hai tinh đảo, Lấy tên Bắc đẩu với Nam tào Thiên đức quanh co dòng n-ớc ủ, Nộn sơn giữa đứng dáng rồng chầu
Nuôi nhàn cảnh cũ hoa vây bọc,
Trang 28Giết giặc oai x-a h-ơng ngạt ngào Đối chiếu trừ ma nào đã chắc Thần thiêng t-ớng giỏi tiếng ngàn sau
Xã D-ợc sơn tiếp giáp xã Vạn kiếp (nay là Vạn an), huyện Ph-ợng nhỡn, địa thế nh- rồng uốn khúc từ trên núi xuống, hình nh- tay ngai; hai bên nổi dậy hai ngọn núi Một ngọn ở xã D-ợc sơn Tục truyền trên núi có chùa Trong chùa có một cụ già, biết đoán may rủi, lời nói th-ờng hiệu nghiệm, ng-ời bốn ph-ơng lại hỏi rất đông Về sau không biết đi đâu, chỉ thấy trên vách có đề một câu: "Nam tào th-ợng linh tiêu" nghĩa là "Mây thiêng trên Nam tào" Vì thế ng-ời ta lập đền thờ tại đây, gọi là núi Nam tào Ngọn núi thứ hai ở xã Vạn kiếp Tục truyền có một ng-ời lái buôn, đêm đi d-ới núi, nghe có ng-ời bàn đi nói lại về việc thiện, ác, thọ, yêu của ng-ời
đời Lúc gà gáy, bỗng có cơn gió tây, mây bốn phía tụ lại, phảng phất nh- có tiếng ng-ời đi trong gió Ng-ời lái buôn nhìn lên núi, thấy một ng-ời cao lớn, mũ cao, áo thắt đai, ngồi xe mây lên trời Hôm sau ng-ời ấy đem chuyện
kể lại; dân địa ph-ơng bèn lập đền thờ, đặt tên núi là Bắc đẩu Núi này và núi Nam tào đứng đối nhau, giữa có núi Nộn sơn, tr-ớc mặt trông ra sông Thiên
đức; sông uốn khúc nh- hình chữ ất H-ng Đạo v-ơng Trần Quốc Tuấn, tôn thất nhà Trần, lấy đất này làm v-ờn hoa Vì Trần H-ng Đạo giết Phạm Nhan
và Ô- Mã- Nhi trên sông Bạch đằng nên ng-ời đời sau nhân đấy lập đền thờ, nay gọi là đền Kiếp Bạc Theo tục truyền, ng-ời phụ nữ nào mắc bệnh không sinh đẻ thì gọi là mắc bệnh Phạm Nhan, hễ đến đền cầu đảo, đem chiếu mới
đến đổi lấy chiếu cũ của thần vị đem về cho bệnh nhân nằm, thì bệnh sẽ khỏi Xa gần kéo đến lễ đền, đi lại tấp nập, năm này qua năm khác, đông nh- n-ớc chảy Đến nay tục ấy vẫn còn
Lạc Sơn
Trang 29Lạc sơn sơn t-ợng uyển Kim quy, Diệc thị giang sơn tú khả kỳ, Thụ sắc hoa viên tình nhật tiếu, Mục ca tiều x-ớng viễn phong suy Tiếu giang thu sắc ba trừng tế,
Cổ thị chiêu d-ơng khách hội thì
Chinh lữ viên thận thanh mộng giác
Cố sơn tân miếu cộng sinh huy
Núi x-a, miếu mới đều đều thêm vẻ huy hoàng
Tạm dịch thơ:
Lạc sơn dáng núi tựa rùa vàng, Đây cũng danh sơn cảnh khác th-ờng, Trời hẩng tô màu hoa cỏ thắm,
Gió xa đ-a giọng mục tiều vang
Sáng ra chợ cổ ng-ời nh- hội Thu tới sông con n-ớc lộn g-ơng
Chinh lữ t-ớng quân bừng tỉnh giấc Non x-a miếu mới rạng đôi đ-ờng
Trang 30Xã Lạc sơn có một ngọn núi gọi là Nguyệt sơn, đột khởi bên bờ sông, hình tựa con rùa, cây cỏ xanh t-ơi, kẻ chăn trâu ng-ời kiếm củi th-ờng th-ờng qua lại D-ới núi có một cái chợ cổ, tục gọi là chợ Thiên, mỗi tháng chín phiên Đó là một nơi đô hội của huyện Năm Mậu thìn (Tự đức thứ 21 -1867) một vị tôn thất làm quan đầu tỉnh, đem quân đi dánh giặc, đồn trú tại núi này Đêm nằm thấy thần báo mộng, bèn sai dựng đền thờ trên ngọn núi
Dịch nghĩa:
Cảnh đẹp Quy sơn chiếm một vùng xã Mặc động, Hiệp sơn đối ngọn chia nhau thế hiểm của trời
Am thuyền trên đỉnh núi cao thấp Giải sông uốn l-ng sóng nhấp nhô, Khe Lạc thiên ôm lấy ngôi nhà trấn cũ, Vạn doanh tục gọi nay vẫn đúng
Lên núi đứng nhìn tầm mắt rộng ra, Non n-ớc bảy quận trông thấy rõ hết
Trang 31Tạm dịch thơ:
Quy sơn Mặc động cảnh thanh nhã
Thiên hiểm cùng chia với Hiệp sơn Đỉnh núi am thần cây lố nhố Lòng sông dòng n-ớc sóng chờn vờn
Trấn cũ móng nền khe Lạc bọc Tên x-a dấu vết vạn danh còn Lên cao đứng ngắm xa tầm mắt Bảy quận thu vào của n-ớc non
Xã Mặc động có một trái núi, đột khởi ngọn chót vót, chiếm một khoảng đồng bằng Đối ngạn bên kia sông là ngọn Hiệp sơn, phủ Kinh môn,
có một bến đò gọi là Đò Vạn Đó là sông Thanh l-ơng Lại có một khe nhỏ giáp núi Ph-ợng hoàng xã Lạc đạo Tục truyền triều tr-ớc có đặt trấn ở đấy, cho nên ng-ời ta còn gọi là Doanh Vạn Trên núi có chùa cổ, lên đó đứng trông, non n-ớc bảy quận của huyện Kinh môn đều thu đ-ợc cả trong tầm con mắt
Sông Lục đầu
Tái cử danh xuyên tục thuyết t-ờng Nhạn loan cổ độ thị Triêu d-ơng Lục đầu th-ợng đoạn giang l-u hội, Trung hữu than châu tranh hội xứ, Uông uông vạn khoảnh đạt huyền d-ơng Truy tự nhàn t-ớng yên ba lộ
Mãi thán ng- thuyền yết cổ v-ơng Đảo ký nhung hầu s-u hạn lộ Nhất phàm phong lục áp Nguyên đ-ờng
Trang 32Tức kim phong cảnh tr-ờng nh- hử,
Tứ thủy phân minh giáp nhất ph-ơng
Dịch nghĩa:
Lại đem sông có danh tiếng tiếp tục nói rõ, Bến Nhạn loan thuở x-a tức bến đò Triều d-ơng ngày nay
ở trên là đoạn có sáu ngọn sông tụ lại,
ở giữa sông này có một bãi cát dài
Về phía đông bắc là kiểu đất ba con rồng tranh nhau hạt
ngọc
Muôn khoảnh mông mênh, chảy thông ra ngoài bể lớn, Nhớ lại đó là con đ-ờng thuỷ mông mênh của một viên nhàn
t-ớng (t-ớng già đã thôi vệc) Ông bán than vào yết kiến vua cũ Lại nhớ lại đó cũng là con đ-ờng thuỷ của các chiến binh của
bậc danh t-ớng Đã thuận buồm xuôi gió đánh đổ đ-ợc quân Nguyên c-ờng
bạo
Phong cảnh ngày nay vẫn còn nh- tr-ớc
Con sông này rõ ràng là thắng cảnh nhất của một ph-ơng
Tạm dịch thơ:
Lại nói tiếp đến các sông cả (lớn) Bến Nhạn loan thuộc xã Triều d-ơng, Sáu đầu chầu lại mênh mang
Nổi lên cồn cát Đại than giữa dòng Đông bắc, kiểu "ba rồng tranh ngọc"
Trang 33N-ớc mông mênh chảy dốc ra khơi Sông đây nhờ tr-ớc có ng-ời
Bán than, sau lại đ-ợc vời chầu vua
Đ-ờng quân thuỷ thuở x-a xuôi ng-ợc, Thuận buồm ra diệt đ-ợc quân Nguyên
Đến nay thắng tích y nhiên Con sông lịch sử vang truyền ngàn thu
Bến đò xã Triều d-ơng (theo bản đồ cũ là xã Lý d-ơng), khi tr-ớc gọi
là Nhạn loan, nay gọi là đò Triều Con sông này rộng lớn, trên từ sông 6 đầu, tiếp giáp với huyện Yên dũng, Ph-ợng nhỡn, Quế d-ơng, Gia bình tỉnh Bắc ninh, một nhánh từ huyện Ph-ợng nhỡn chảy xuống (không có tên), một nhánh từ sông X-ơng giang chảy xuống gọi là Đức giang; một nhánh từ sông Nguyệt giang chảy xuống gọi là Thiên đức giang Các nhánh sông hội hợp lại, đến bến Nhạn loan lại chia làm 2 chi: một chi từ xã Lâu khê huyện Thanh lâm chảy xuống phía nam, đổ ra sông Hàn; một chi từ xã Ninh xá chảy ra phía đông, đó là sông Lục đầu, giữa có một bãi cát bồi, gọi là Đại than Nhà địa lý cho là kiểu đất "3 con rồng tranh nhau một hạt ngọc" Trần Khánh D- là quan Phiêu kỵ t-ớng quân đời nhà Trần, phạm lỗi bị cách chức,
về núi Chí linh làm nghề bán than để sinh sống Khi vua Anh Tông nhà Trần
đến chơi bến Nhạn Loan, trông thấy cho gọi lại, ông chèo chiếc thuyền câu, mặc áo tơi đội nón lá vào yết kiến vua Vua cho phục lại chức quan nh- cũ Trong khi Trần H-ng Đạo tiêu diệt Ô mã nhi, thuỷ quân cũng đi theo con sông này
Trang 34Nhân vật trong huyện
Hội Khán Sơn xuyên linh vật cụ Chí Linh sĩ hiệu danh hà phụ, Việt quan tự tích Lý Trần tiền, Lịch duyệt ch- khoa hiền triết cổ, Anh dục tú chung chính khí thu, Địa linh nhân kiệt t- văn thọ, Hùng văn đại bút xuất nhân gian, Giáp đệ khôi khoa đăng sĩ lộ, Cập đệ xuất thân tịnh tứ danh, Vinh h-ơng hoạ cẩm trùng liên bộ
Luỹ triều xa mã túc am trình, Nhất kính thảo hoa huy tự cố T-ớng ấn thân thao thế th-ợng hào, Nhung đàn quyền lĩnh văn trung vũ, H-ơng bi khoa lục vĩnh l-u ph-ơng
Huân nghiệp tính danh tràng bất hủ
Lục lục vũ thần bất khả ngôn, Bân bân t-ớng sĩ nan mai sổ Đan đề kỳ đại tựu trung xuân Trứ kiến tại nhân tràng ng-ỡng mộ
An tứ đại khoa ngũ thập d-, Thi ca sự tích t-ờng nh- hậu
Dịch nghĩa:
Hợp lại mà xem non sông ng-ời vật có đủ cả, Ng-ời sĩ tử ở "Chí Linh" thực không phụ hai chữ đó
Trang 35Hãy xem qua từ đời Lý đời Trần về tr-ớc, Biết bao nhiêu các đấng hiền triết thi đậu ở các khoa Khí thiêng sông núi chung đúc lại
Đất thiêng ng-ời giỏi đạo thánh dài lâu, Văn ch-ơng lỗi lạc hơn cả mọi ng-ời, Khoa bảng cao siêu trên đ-ờng sĩ hoạn, Bảng rồng xuất thân gồm có bốn ng-ời,
Aó gấm về làng cũng đều vinh dự
Mấy triều xe ngựa đ-ờng cũ đã quen, Một g-ơng cỏ hoa màu t-ơi nh- cũ
Mình đeo t-ớng ấn, thực ng-ời hào ở trên đời, Quyền lĩnh nhung đàn, thực quan võ trong làng văn, Bia ghi khoa giáp, vang tiếng dài lâu,
Công nghiệp họ tên, còn truyền mãi mãi
Các quan võ rất nhiều không thể nói hết, Các h-ơng cống cũng lắm không thể kể xiết, Chỉ xin l-ợc qua các bậc đại khoa,
Nói rõ để ng-ời sau biết mà kính mến
Các bậc đại khoa có hơn năm m-ơi ng-ời,
Sự tích và thơ ca trình bày ở d-ới đây
Dịch thơ:
Non n-ớc đẹp nhân tài cũng giỏi, Thực xứng thay tên gọi Chí Linh
Lý, Trần văn học thịnh hành Biết bao khoa giáp thanh danh vang lừng
Nhờ linh khí non sông đúc lại, Nên t- văn tồn tại dài lâu,
Trang 36Văn hay chữ tốt hiếm đâu Khôi khoa lừng lẫy công hầu vẻ vang
Đệ nhất giáp bảng vàng bốn vị Còn bao nhiêu tiến sĩ vinh quy Mấy triều quen lối ngựa xe Một g-ơng soi tỏ trăm huê t-ơi màu Đeo t-ớng ấn anh hào rạng rỡ, Lên nhung đàn t-ớng võ trong văn, Khoa danh thơm nức trăm phần Vinh thay tên họ công huân lâu dài
Các võ chức khó bài tính hết
Mà giám sinh không giám kể ra
Chỉ nêu các bậc đại khoa Để cho hậu thế biết mà kính tôn
Đại khoa năm chục có hơn Thơ ca sự tích vẫn còn nh- sau
Trong huyện có các bậc văn thần, từ đời Lý, đời Trần tới nay, thi đậu làm quan, mấy triều vinh hiển Đỗ Đại khoa có 55 ng-ời, còn các quan võ không thể kể hết, các giám sinh cũng không thể chép hết đ-ợc Nay hãy đơn
cử một số ng-ời có danh tiếng nhất mà ng-ời đời ai ai cũng th-ờng biết tiếng, t-ờng thuật ra sau đây bằng lời thơ ca hoặc bằng lời truyền, để l-u truyền về sau cho mọi ng-ời cũng biết
Long động Dịch âm:
Long động tam hiền Mạc Đĩnh Chi, Sơn tinh cấu khí tích truyền ghi
Đông A long bảng khôi nguyên chiếm,
Trang 37Bắc sứ hồng danh l-ỡng quốc tri
Hoàng Việt sử biên minh đỉnh tích,
Cổ trai v-ơng nghiệp tuấn phong di
Thiên vô quý ng-ỡng nhân vô tạc,
Ký hữu công d- vịnh hữu thi, Thần miến bất tuỳ th-ơng hải hiến Khoa đ-ờng ninh vi quất lâm đi, Niên d- ngũ bách nhân nh- kiến, Danh lai thiên thu dự vĩnh trì
Dịch nghĩa:
Ba bậc hiền triết ở làng Long Động, một là Mạc Đĩnh Chi, T-ơng truyền là thụ tinh khí của sơn tinh mà sinh ra
Truyện này ch-a chắc đã đúng
Khi thi khoa đời Trần, thì họ tên đứng đầu bảng, Khi sang sứ Trung Quốc thì tiếng tăm lừng hai n-ớc
Pho sử Hoàng Việt, ghi rõ sự tích, Nghiệp V-ơng Cổ trai, sớm gây mầm mống
Ngẩng không thẹn với trời, cúi không thẹn với ng-ời
Sách Công d- có chép và thoát hiện có thơ khen Miếu thờ không vì cuộc dâu bể mà biến đổi, Nhà học há vì chùa Quất lâm mà rời đi
Ng-ời hơn năm trăm năm t-ởng nh- đ-ợc gặp, Tiếng còn lại ngàn thu l-u truyền không mất
Tạm dịch thơ:
Làng Long Động có ba hiền sĩ, Mạc Đĩnh Chi bẩm khí Sơn tinh
Trang 38Bảng Trần trạng đã đề danh, Khi sang Bắc sứ lại giành trạng nguyên,
Sử Hoàng Việt một thiên còn chép, Đất Cổ Trai v-ơng nghiệp gân nền, Lòng khong thẹn với d-ới trên, Công d- sách chép Thoát hiên thơ đề Cuộc dâu bể miếu kia còn đó,
Chùa Quất Lâm tr-ờng cũ chẳng rời Nửa ngàn năm dẫu xa xôi,
Tiếng tăm còn mãi muôn đời chẳng phai
Ông họ Mạc, tên là Đĩnh Chi, tên hiệu là Tốn Hạnh, tên tự là Tiết phu, ng-ời làng Long Động, đậu đệ nhất giáp tiến sĩ khoa Giáp Thìn (đời Trần)
Xét: Bia An Lăng chép: Ông là ng-ời làng Đống Cao, huyện Bình Hà,
tức là làng Long Động hiện nay Chữ "Bình Hà" có chỗ cho là "Bằng Hà"
Lại xét: Trên bờ sông Nam Hà có một giải đất gọi là xã "Bàng Hà"
cũng th-ờng gọi là "Bình Hà" Hiện nay chùa làng Lê Xá cũng gọi là chùa
"Bàng", đò gọi là đò "Bình" Vì chữ "Bình" với chữ "Bàng" âm t-ơng tự nhau, hoặc có hai tên khác nhau thì ch-a kê cứu đ-ợc Thời tr-ớc Đống Cao
và Long Động là một xã, sau mới chia làm hai
Theo truyền thyết: Ông quê ở Long Động; còn Đống Cao (Cao Đôi)
là nơi ông dạy học Tiên tổ ông huý là Mạc Hiển Tích đậu Văn học sung đệ nhất danh sung Hàn lâm viện thủ tuyển khoa Bính Dần, niên hiệu Quảng Hựu thứ hai về đời Nhân Tông triều Lý Làm quan đến chức Th-ợng th- bộ lại ban cho Kim ngự tú đại (cá vàng túi tía) Hiện nay ông là đầu hàng các bậc tiên nho trong huyện, vì lúc ấy ch-a có chức tiến sĩ
Trang 39Em ông Mạc Hiển Tích là Mạc Kiến Quan cũng thi đậu Văn học tuyển khoa Kỷ tỵ niên hiệu Quảng Hựu thứ 5, sau làm đến chức Th-ợng th-
bộ Công (Sau mới xét thấy ông Mạc Đĩnh Chi là cháu 4 đời của cụ Mạc Hiển Tích và là cháu họ 4 đời của cụ Mạc Kiến Quan)
Lại xét: Trong sách Công d- tiệp ký có chép: Cha mẹ ông nhà nghèo,
làm nghề kiếm củi Trong làng có một cái đống to cây cối rậm rạp, ở đây th-ờng có giống khỉ Một hôm bà mẹ ông đi rừng kiếm củi, bị con khỉ già ra hiếp dâm, bà về nói với chồng, ông chồng lấy quần áo của vợ mặc vào và giả làm đàn bà, trong l-ng mang theo con dao, rồi đi đến chỗ vợ nói tr-ớc, con khỉ t-ởng đàn bà thật, lại ra định hiếp dâm, ông liền giết chết, rồi quẳng xác
ra mé đống Lần sau ông đi qua chỗ xác con khỉ tr-ớc thì đã thấy đất đùn lên thành một cái mộ; sau bà mẹ ông có thai, rồi sinh ra ông Ông hình thù bé nhỏ, mặt mũi xấu xí, trông giống nh- con khỉ, nên cho ông làm bẩm tinh của con khỉ (Sơn tinh) Ng-ời cha lấy làm lạ có dặn ng-ời nhà khi chết thì đem xác ông táng lên trên mộ con khỉ, ý giá ông ngầm hiểu cơ trời mới làm nh- vậy, hiện nay vẫn còn di tích
Ông t- chất minh mẫn, khác với ng-ời th-ờng Lúc ông còn bé thấy trong làng có một ng-ời bị rắn độc cắn chết, ông đã đùa đọc văn tế ứng khẩu rằng: "Tích xuân thanh vị thuỳ điểu ngữ Th-ơng phận bạc vị tử xà giảo" hai câu này đọc ra tiếng Nôm (Quốc ngữ) "Tiếc xuân xanh ch-a ai (1)(1-31), th-ơng phận bạc lại bị con rắn cắn" ấy ông có khí t-ợng hơn ng-ời đã thấy ngay từ thuở bé
Lúc ấy có con vua là Chiêu Quốc v-ơng ích tắc mở tr-ờng dạy học,
ông xin vào học tại tr-ờng đó Tuổi trẻ thông minh, ông thi đậu trạng nguyên khoa Giáp Thìn niên hiệu H-ng Long thứ 12, đời vua Anh Tông nhà Trần
(1) Điểu ngữ: nghĩa đen là chim nói, nh-ng theo nghĩa đen thì tối nghĩa, mà lạ nói đọc ra tiếng nôm thì có ý hơi tục
Trang 40Khi vào đình đối, Văn ông đ-ợc xếp hàng đầu Vì vua thấy ông hình thù xấu xí, không -ng cho đậu trạng nguyên, ông bèn làm bài phú "Ngọc tỉnh Liên" (Sen giống ngọc) để tự ví mình, có ý nói là sen trong giếng tuy hèn mà đáng quý Vua xem phú biết ý, lại cho đậu trạng nguyên Nh- vậy Trạng nguyên ở huyện ta ông là tr-ớc hết
Năm mậu thân niên hiệu H-ng Long thứ 16, ông phụng mạng sang sứ nhà Nguyên, khi đi đến cửa Nam Quan, vì gặp ngày m-a gió nên lỡ chậm bị cửa quan đóng chặt lại, ng-ời giữ cửa không cho ông đi, ông đã nói năng xin
mở cửa, họ nhất định không nghe, liền ra câu đối cho ông và nói là hễ đối
đ-ợc thì họ sẽ mở cửa Đối ra rằng:
" Đáo quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan"
Có nghĩa là đến cửa quan chậm, cửa quan đóng lại, xin quá khách qua
đi
Ông ứng khẩu đối rằng:
" Xuất đối dị, đối đối nam, thỉnh tiên sinh tiên đối"
Có nghĩa là ra câu đối dễ, đối câu đối khó, mời tiên sinh đối tr-ớc Ng-ời Tàu phục tài lanh lẹn liền mở cửa cho đi
Khi đến kinh đô ng-ời nhà Nguyên thấy ông nhỏ bé xấu xí, có ý coi th-ờng, cho ng-ời đào hầm ở d-ới đất và hồi trống ở đó, con ngựa của ông nghe thấy tiếng trống, sợ quá chồm lên, ông bị ngã ngựa, mọi ng-ời c-ời ồ lên, ông nói: "Hiện nay sấm động ở d-ới đất là không phải thời tiết, nên ta phục xuống để nghe đó thôi"
Một hôm, quan tể t-ớng mời ông vào t-ớng phủ cùng các tân khách ngồi chơi, lúc này vào khoảng tháng 5, tháng 6 (âm lịch) bức tr-ớng mỏng có thêu con chim sẻ vàng, đậu trên cành trúc, ông t-ởng lầm là chim sẻ thật, chạy lại bắt, ng-ời Tầu chê là quê mùa, c-ời ồ lên, ông liền xé tan bức tr-ớng
ra Mọi ng-ời đều lấy làm lạ hỏi, ông ứng khẩu đáp: " Tôi nghe ng-ời x-a có