1. Trang chủ
  2. » Tất cả

VHVH TMQT K4CĐCT VB1CT4043

3 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 23,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI KIỂM TRA MÔN Luật Thương mại Quốc tế Họ và tên Lê Như Thủy MSSV VB1CT4043 LỚP K4VB1 CĐCT Đề bài Trình bày và phân tích địa vị pháp lý của chủ thể quốc gia trong Luật Thương mại Quốc tế BÀI LÀM Địa[.]

Trang 1

BÀI KIỂM TRA MÔN: Luật Thương mại Quốc tế

Họ và tên : Lê Như Thủy - MSSV : VB1CT4043 - LỚP: K4VB1 CĐCT

Đề bài: Trình bày và phân tích địa vị pháp lý của chủ thể quốc gia trong Luật Thương mại Quốc tế.

BÀI LÀM

Địa vị pháp lí của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa

vụ pháp lí của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình

Trong thương mại quốc tế, quốc gia tham gia với tư cách chủ thể trong hai trường

hợp. Một là, kí kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế về thương mại; hai là, tham gia

giao dịch thương mại với các chủ thể khác như cá nhân và pháp nhân

Các quốc gia tham gia vào thương mại quốc tế với tư cách là chủ thể đặc biệt nhằm đạt mục địch khai thác tối đa lợi ích của thương mại quốc tế cho phát triển kinh tế quốc gia, vừa tham gia vào khai thác thương mại quốc tế vừa tham gia điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế học xuất nhập khẩu ở đâu

Trong trường hợp thứ nhất, với tư cách chủ thể trong quan hệ quốc tế, quốc gia kí kết hoặc gia nhập các điểu ước quốc tế Trong đó, quốc gia thỏa thuận với các quốc gia khác vể quyền và nghĩa vụ của mình trong thương mại quốc tế. 

Ví dụ: khi kí kết Hiệp định chung thuế quan và thương mại (GATT) các nước thành viên

đã cam kết thực hiện những điều đã thoả thuận; hoặc khi tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO) các nước thành viên phải tuân thủ quy chế và các quy định được ghi nhận trong các hiệp định cùa tổ chức này

Trong trường hợp thứ hai quốc gia tham gia quan hệ thương mại quốc tế với các chủ thể khác như cá nhân và pháp nhân Khi tham gia quan hệ này, quốc gia luôn là chủ thể đặc biệt và được hưởng quy chế đặc biệt Theo đó một số nguyên tắc trong giao dịch hợp đồng sẽ bị hạn chế áp dụng nếu các quốc gia tham gia với tư cách chủ thể không tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ cùa mình, cụ thể là:

Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng Về mặt lí luận, khi tham gia kí kết hợp đổng dân

sự nói chung và hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng, các bên chủ thể của quan hệ hợp đổng luôn bình đẳng với nhau Tuy nhiên, trong quan hệ hợp đồng mà một bên chủ thể là nhà nước thì nguyên tắc bình đẳng hầu như không được đặt ra Nói cách khác, khi hợp đồng kinh doanh được kí kết giữa quốc gia và thương nhân (thể nhân hoặc pháp nhân) thì nguyên tắc bình đẳng giữa các bên chủ thể không được áp dụng Bởi vì, khác với các loại chủ thể khác như thể nhân và pháp nhân, quốc gia là loại chủ thể có chủ quyền Quốc gia

Trang 2

có quyền lực cao trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại, về mặt thực tế, quốc gia có

đầy đủ điều kiện để thực hiện quyển lực cao dó. Vi dụ: quốc gia có pháp luật, nắm cư sở

kinh tế, hệ thống ngân hàng, tiền tệ, lực lượng lao động, nguồn tài nguyên thiên nhiên

để thực hiện quyền tố của mình Vì các điều kiện trên mà khi tham gia quan hệ dân sự nói chung và quan hệ kinh doanh quốc tế nói riêng, quốc gia được hưởng quyền miễn trừ về chủ quyền (sovereign immunity)

Thứ hai, nguyên tắc chọn luật: về mặt lí luân, hợp đồng là sự thoà thuận của các

bên chủ thể, do đó các bên có quyền thoả thuận tất cả những vấn đề mà pháp luật không cấm Trên cơ sở của lý luận này, trong hợp đồng thương mại quốc tế, các bên có quyền thoả thuận tất cả nhũng vấn đề mà pháp luật nơi kí kết hợp đồng không cấm, trong đó có

cả việc chọn luật áp dụng cho hợp đồng Các bên có thể chọn luật do các bên mang quốc tịch, luật nơi kí kết hợp đồng, luật nơi thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, trong trường hợp hợp đồng mà một bên chủ thể là quốc gia thì vấn đề chọn luật áp dụng cho hợp đồng đó không được đặt ra vì pháp luật áp dụng cho hợp đồng sẽ là pháp luật của quốc gia với tư cách chủ thể cùa quan hệ hợp đồng dó

Như vậy, về mặt thực tế cũng như vé mặt pháp lí, tất cả các quốc gia, không kể diên tích lớn hay nhỏ dân cư nhiều hay ít, tiềm lực kinh tế mạnh hay yếu khi tham gia

kí kết các hợp đổng với thương nhân đều được hường quyền ưu đãi đặc biệt Theo đó, quốc gia có quyên đương nhiên áp dụng luật của nước mình vào hợp đồng và nếu có tranh chấp xảy ra thì dược hưởng quyền miễn trừ tư pháp Nội dung cùa quyền miễn trừ tư pháp cùa quốc gia là: Không cơ quan xét xử nào có quyền xét xử quốc gia; tài sản của quốc gia không bị sai áp để bảo đàm sơ bộ cho một vụ kiện và quốc gia sỗ không bị ràng buộc bởi các phán quyết của toà án nước ngoài chống lại quyền lợi cùa mình

Sự ưu đãi đặc biệt cùa quốc gia trong quan hệ dân sự nói chung và trong kinh doanh quốc tế nói riêng, như đã trình bày trên đây, đã làm hạn chế rất nhiều các giao dịch kinh doanh giữa quốc gia với thương nhân Tuy nhiên, trong khoảng hơn hai mươi năm trở lại đây, học thuyết về quyền miễn trừ quốc gia có giới hạn (The doctrine of restricted state immunity) đã và đang ngày càng được áp dụng một cách phổ biến trong quan hệ thương mại quóc tế Theo học thuyết này thì quốc gia có thể tự hạn chế quyền miển trừ của mình Trong trường hợp này, quốc gia sẽ chịu trách nhiêm pháp lí trong quan hệ hợp đồng giống như các chủ thể khác

Việc quốc gia tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ của mình có ý nghĩa rất quan trọng về

lý luận cũng như thực tiễn đối với việc thúc đẩy các giao dịch thương mại quốc tế Nó tạo

ra môi trường pháp lí bình đẳng giữa các bôn tham gia quan hộ pháp luật dân sự, đặc biệt

là quan hệ hợp đồng, nhằm thu hút sự tham gia cùa các thể nhân và pháp nhân nước

Trang 3

ngoài Đế thực hiện quyển này của mình, quốc gia quy định trong luật pháp nước mình những trường hợp từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia. 

Ví dụ: Luật VC miễn trừ chủ quyền nước ngoài của Hoa Kỳ năm 1976 (Foreign Sovereign Immunities Act 1976)

Trong đó quy định ràng một quốc gia nước ngoài sẽ không được hưởng quyền miền trừ xét xử trước toà án của Hoa Kỳ nếu quốc gia nước ngoài đó đã tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia (Điều 1605) Ngoài việc quy định trong luật pháp nước mình về các trường hợp từ bỏ quyền miền trừ quốc gia, trong quan hệ quốc tế, các quốc gia tham gia kí kết các điều ước quốc tế trong đó tự nguyện : từ bỏ quyền miền trừ quốc gia trong một số trường hợp nhất định. 

Vi dụ: để giải quyết những tranh chấp giữa quốc gia với công dân mang quốc tịch nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư quốc tế, một số nước đã kí kết và tham gia Công ước Washington (1965) vé giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư giũa các quốc gia

và các công dân nước khác

Theo đó, việc giải quyết tranh chấp giữa các bên được hành trước tổ chức trọng tài thiết chế và dưới sự giám sát của Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp đắu tư (International Centre for the Settlement of Investment Disputes - ICSID)

Ngày đăng: 09/11/2022, 14:15

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w