BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Đề bài Phân tích và lấy ví dụ minh hoạ các trường hợp không công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài[.]
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN:
PHÁP LUẬT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
Đề bài Phân tích và lấy ví dụ minh hoạ các trường hợp không công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
HỌ TÊN : LÊ NHƯ THỦY
Trang 21 Nội dung vụ việc
Công ty Coral PTE LTD (Công ty C), Địa chỉ: S Street # 04-305 N B Center, S
050336, Singapore và Công ty TNHH Sản xuất và Kinh doanh P, Địa chỉ: khu vực
Th B, phường P, quận O, thành phố Cần Thơ (Công ty P) ký hợp đồng số CE-PTT/190914 ngày 19/9/2014, theo đó Công ty P đã đồng ý mua một số mặt hàng dầu nhớt của Công ty C Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty C đã giao hàng nhưng Công ty P từ chối nhận một phần đáng kể đơn hàng, từ đó hai bên phát sinh tranh chấp Theo thỏa thuận hợp đồng, Công ty C đã đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bởi Hội đồng trọng tài một thành viên tại Phòng Thương mại và công nghiệp
G, Thụy Sĩ Ngày 08/12/2016, trọng tài D A Kuitkowski đã ra phán quyết buộc Công ty P phải trả cho Công ty C các khoản tiền bồi thường thiệt hại, tiền phạt vi phạm hợp đồng, thù lao luật sư, án phí với tổng số tiền 203.133,80 USD và 30.199,65 CHF Công ty C đề nghị Tòa án Nhân dân thành phố Cần Thơ xem xét
và ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết trọng tài của
tổ chức trọng tài Thụy Sĩ vụ việc số 300367-2016 ngày 08/12/2016
Tòa án Nhân dân thành phố Cần Thơ đã thụ lý giải quyết Tòa án Nhân dân thành phố Cần Thơ tuyên án: Không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết trọng tài số 300367-2016 ngày 08/12/2016 của Tổ chức Trọng tài Thụy Sĩ Sau đó, công ty C kháng cáo Tòa án Nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm Tòa án Nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh dựa
vào các căn cứ điểm a, c, d Khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015: Quyết định giữ nguyên Quyết định sơ thẩm, không công nhận
Trang 3và cho thi hành phán quyết của Tổ chức trọng tài Thụy Sĩ dựa trên những nhận định sau đây:
Bà Trương Hồng Thanh Ph không phải là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH P, mà người đại diện là bà Nguyễn Thị Th Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần thứ 28 ngày 12/7/2014 thì bà Ph không phải là giám đốc Công ty TNHH P Do đó, bà Ph ký thỏa thuận trọng tài là không đúng
Công ty TNHH P không nhận được thông báo về việc chỉ định trọng tài viên và thủ tục giải quyết tranh chấp trọng tài nước ngoài
Về nơi giải quyết tranh chấp, theo hợp đồng thương mại ngày 19/9/2014 thì nếu
có tranh chấp thì vụ việc được giải quyết tại Phòng thương 5 mại công nghiệp và dịch vụ G nhưng Công ty C lại khởi kiện tại Tổ chức trọng tài Thụy Sĩ giải quyết là không phù hợp với thỏa thuận trọng tài
Vấn đề hiệu lực của phán quyết trọng tài số 300367-2016 ngày 8/12/2016 của tổ chức trọng tài Thụy Sĩ, theo Luật sư bảo vệ cho Công ty P trình bày là không có tài liệu nào xác định tính hiệu lực của phán quyết trọng tài nước ngoài này, cũng không có xác nhận nào của các cơ quan có thẩm quyền của Thụy Sĩ xác nhận phán quyết này Trình bày này của Luật sư là có cơ sở chấp nhận
Vấn đề người đại diện của Công ty C nêu rằng, thỏa thuận trọng tài tại hợp đồng thương mại ký ngày 19/9/2014 về thực hiện hợp đồng phía Công ty C đã giao hàng lần thứ hai nên phía phải thi hành biết mà không phản đối nên phải công nhận thỏa thuận trọng tài như trọng tài nước ngoài đã phán quyết Hội đồng xét đơn thấy rằng: Tại Điều 19 Luật trọng tài thương mại năm 2010 có nêu “Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng
vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài”, do đó thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng thương mại ngày 19/9/2014 và người ký thỏa thuận trọng tài là không đủ thẩm quyền như đã nêu trên
2 Một số phân tích.
Trang 4Không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết trọng tài nước ngoài là một thủ tục tố tụng đặc biệt do Tòa án xem xét tuyên không công nhận giá trị hiệu lực của phán quyết trọng tài nước ngoài và không thực hiện các biện pháp cưỡng chế cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trên lãnh thổ của Việt Nam Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây gọi tắt là BLTTDS) đã quy định rất cụ thể về chế định công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài từ nguyên tắc áp dụng, thủ tục công nhận và cho thi hành, những trường hợp không công nhận và cho thi hành Những nội dung này là việc nội luật hóa quy định Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài (sau đây gọi là Công ước New York )
BLTTDS đã liệt kê các trường hợp không công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Điều 459 BLTTDS và được chia ra làm 02 nhóm căn cứ: (nhóm 01 –Khoản 1) Các căn cứ từ chối công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài theo yêu cầu của bên phải thi hành chứng minh và (nhóm 02 – Khoản 2) Các căn cứ từ chối công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài do tòa án xem xét Quy định này sẽ được thể hiện ở các nhận định sau đây:
Về nhận định đầu tiên của Tòa: Chủ thể ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận Điểm a Khoản 1 Điều 459 Bộ luật Tố tụng Dân sự
năm 2015 quy định căn cứ vào pháp luật của mỗi bên để xem xét tiêu chí người có
thẩm quyền có năng lực ký kết Ở trong Quyết định của Tòa, Tòa cho rằng: “Bà
Trương Hồng Thanh Ph không phải là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH P, mà người đại diện là bà Nguyễn Thị Th Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần thứ 28 ngày 12/7/2014 thì bà Ph không phải là giám đốc Công ty TNHH P Do đó, bà Ph ký thỏa thuận trọng tài là không đúng” Mặt khác, tòa cho rằng: “Vấn đề người đại diện, Công ty C nêu rằng, thỏa thuận trọng tài tại hợp đồng thương mại ký ngày 19/9/2014 về thực hiện hợp đồng phía Công ty C đã giao hàng lần thứ hai nên phía phải thi hành biết mà không phản đối nên phải công nhận thỏa thuận trọng tài như trọng tài nước ngoài đã phán quyết
Trang 5Hội đồng xét đơn thấy rằng: Tại Điều 19 Luật trọng tài thương mại năm 2010 có nêu “Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài”, do đó thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng thương mại ngày 19/9/2014 và người ký thỏa thuận trọng tài là không đủ thẩm quyền như đã nêu trên”
Về nhận định của tòa khi xem xét: Bên phải thi hành không nhận được thông báo về việc chỉ định trọng tài viên và thủ tục giải quyết tranh chấp trọng tài nước ngoài Trong Quyết định của mình, tòa án lập luận rằng, “lý do hồ sơ vụ kiện
cũng như tại phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm không thể hiện Công ty TNHH P nhận được thông báo, triệu tập, tống đạt các giấy tờ liên quan đến việc giải quyết của trọng tài nước ngoài” “Trường hợp thông báo qua fax, điện báo… nếu bên phải thi hành không thừa nhận đã được thông báo, thì Hội đồng xét đơn yêu cầu bên phải thi hành cung cấp tài liệu chứng cứ về việc không nhận được thông báo và Hội đồng xét đơn yêu cầu bên phải thi hành cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ Tuy nhiên không có bằng chứng nào xác định Công ty TNHH P được thông báo hợp lệ
về việc trên”
Về nhận định: Phán quyết trọng tài về vụ việc không được các bên thỏa thuận yêu cầu giải quyết. Trọng tài giải quyết tranh chấp không phải là trọng tài được
các bên thống nhất trong thỏa thuận trọng tài thì cũng rơi vào tiêu chí không thể xem xét công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài Cụ thể, trong Quyết định không công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, tòa lập luận
rằng, Theo hợp đồng thương mại ngày 19/9/2014 thì nếu có tranh chấp thì vụ việc
được giải quyết tại Phòng thương mại công nghiệp và dịch vụ G nhưng Công ty Coral lại khởi kiện tại Viện trọng tài Thụy Sỹ giải quyết là không phù hợp với thỏa thuận trọng tài theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 459 của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015.
Trang 6Cơ sở pháp lý cho nhận định này của Tòa phải là điểm d khoản 1 Điều 459
“Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết ” Còn điểm đ mà tòa căn cứ quy định rằng:
“Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó” Ở đây, Tòa đã có sự nhầm lẫn về cơ sở pháp lý vì cơ
sở pháp lý ở điểm đ không phù hợp với nội dung nhận định của tòa
Về nhận định: Hiệu lực của phán quyết trọng tài nước ngoài Trong lập luận
của tòa, tòa xét rằng, “Vấn đề hiệu lực của phán quyết trọng tài số 300367-2016 ngày 8/12/2016 của tổ chức trọng tài Thụy Sĩ, theo Luật sư bảo vệ cho Công ty P trình bày là không có tài liệu nào xác định tính hiệu lực của phán quyết trọng tài nước ngoài này, cũng không có xác nhận nào của các cơ quan có thẩm quyền của Thụy Sĩ xác nhận phán quyết này
Trong bối cảnh này, đôi khi tòa án sẽ dựa trên thỏa thuận của các bên (Hội đồng trọng tài thương mại quốc tế 2011) Nếu các bên đã lựa chọn thực hiện trọng tài theo quy tắc của Phòng Thương mại Quốc tế, Quy tắc tố tụng trọng tài của Tòa trọng tài ICC nói rằng phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực thi hành ngay khi được các trọng tài viên ký tên vào phán quyết Ở Việt Nam, Điều 61 Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định: Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành
Về việc áp dụng căn cứ tại điểm b Khoản 2 Điều 459 BLTTDS: Tòa đã áp dụng
căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 459 BLTTDS để giải quyết “Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Tuy nhiên, trong các nhận định của Tòa án đưa ra đều không có luận điểm nào diễn giải trực tiếp về căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 459 BLTTDS
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71 Quyết định số 25/2018/QĐKDTM-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.
Hồ Chí Minh ngày 28 tháng 6 năm 2018
2 Hội đồng trọng tài quốc tế (2011), Hướng dẫn của ICCA về diễn giải Công
ước New York 1958: Sổ tay hướng dẫn cho thẩm phán, truy cập ngày
2.10.2021, từ https://www.arbitration-icca.org