1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TMQT

8 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 22,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết vấn đề này em xin chọn đề bài số 05 làm bài tập học kỳ: “ Phân tích các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước Viên

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

và cũng là một nguyên tắc luật định Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện một cách suôn sẻ hoặc hoàn hảo Vẫn có những biến cố xẩy ra làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng của các bên Trong đó có những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán và kiểm soát của các bên, và xẩy ra không phải do lỗi của các bên Khi những sự cố này làm cho một bên không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ của mình thì vấn đề trách nhiệm sẽ ra sao? Hợp đồng có nên tiếp tục được thực hiện hay không? Trách nhiệm của các bên ra sao? Để giải quyết vấn

đề này em xin chọn đề bài số 05 làm bài tập học kỳ: “ Phân tích các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)”.

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC

TẾ VÀ VẤN ĐỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức

pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng là sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa

Trong công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như các văn bản pháp lý khác không có quy phạm nào giải thích cụ thế khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 2

là 1 dạng của hợp đồng mua bán hàng hóa, do đó có thể định nghĩa “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính quốc tế” Hợp

đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán

Tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định không giống nhau theo pháp luật của các nước cũng như các điều ước quốc tế Điều 1

công ước Viên quy định:

“ Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ

sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.

a Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,

b Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này”.

Theo tinh thần của công ước này thì hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai

chủ thể có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với điều kiện là các quốc gia này phải là thành viên của công ước hoặc luật áp dụng cho hợp đồng là luật của quốc gia thành viên

2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng là cá nhân, pháp nhân (Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ này) có quốc tịch, nơi cư trú hoặc có trụ sở tại các nước khác nhau

Thứ hai, bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí của các bên

Thứ ba, đối tượng của hợp đồng là hàng hoá di chuyển qua biên giới hải quan của một nước

Trang 3

Thứ tư, Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng do các bên thỏa thuận, đó có thể là luật quốc gia ,điều ước quốc tế hoặc tập quán thương mại quốc tế

Thứ năm, CISG không yêu cầu bắt buộc về hình thức đối với hợp đồng Hợp đồng có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau như: văn bản, fax, thư tín điện tử,

3 Các trường hợp miễn trác nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Khoản 1,2 Điều 79 công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa

quốc tế quy định:” một bên không chịu trách nhiệm về… được áp dụng cho họ” Như vậy, bên vi phạm được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau:

-Trường hợp sự kiện bất khả kháng: thiệt hại xảy ra do những trở ngại ngoài khả năng kiểm soát của bên vi phạm; bên vi phạm đã không thể lường trước được trở ngại này khi kí hợp đồng; những trở ngại này không thể tránh được và không thể khắc phục được hậu quả khi nó xảy ra

-Trường hợp do lỗi của bên thứ ba: thiệt hại xảy ra là do bên thứ ba không hoàn thành nghĩa vụ của mình

II BÌNH LUẬN VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM TRONG

HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1 Miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng

Hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới và các văn bản pháp lí quốc tế đều thừa nhận bất khả kháng là một trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm hợp đồng Mặc dù nội hàm của khái niệm bất khả kháng ở các hệ thống pháp luật

có sự khác nhau nhất định Theo quy định tại khoản 1 điều 79 Công ước Viên 1980

Trang 4

thì: “một bên không chịu trách nhiệm về sự kiện không thực hiện bất kì nghĩa vụ nào của mình nếu họ chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lí rằng họ phải tính đến trở ngại đó vào lúc kí kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục được hậu quả của nó”.

CISG quy định chặt chẽ các tiêu chí để một trường hợp bất khả kháng được công nhận miễn trách Theo đó chỉ những trở ngại nào thực sự đến mức khiến cho việc thực hiện các nghĩa vụ là không thể mới được xem xét, còn những trường hợp tuy có gây hoặc đe doạ gây khó khăn trở ngại đến việc thực hiện nghĩa vụ hoặc chỉ dừng ở mức không khả thi thường có thể sẽ không được xem xét Và quan trọng là một bên không được viện dẫn việc không thực hiện nghĩa vụ của bên kia trong chừng mực mà việc không thực hiện nghĩa vụ đó là do những hành vi hay sơ suất của chính họ (Điều 80) CISG quy định miễn trách cho cả người bán và người mua,

đề cập đến tất cả các trường hợp bất khả kháng có thể xảy ra trong việc thực hiện bất cứ nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng

Về hậu quả pháp lí, theo CISG bên vi phạm chỉ được miễn trách nhiệm phải thực hiện các biện pháp đền bù thiệt hại gây ra bởi sự kiện bất khả kháng, bên

bị vi phạm có quyền tiến hành tất cả các biện pháp bảo hộ pháp lí hay chế tài còn lại theo quy định của Công ước bao gồm quyền được yêu cầu giảm giá hàng hoá (Điều 50), buộc thực hiện hợp đồng (Điều 46, Điều 62), tuyên bố huỷ hợp đồng (Điều 49, Điều 64), và thanh toán tiền lãi trên các khoản thanh toán chậm (Điều 78)

Về thời hạn, CISG quy định sự miễn trách chỉ có hiệu lực trong thời kì tồn tại sự kiện khó khăn, trở ngại (Điều 79 3) Về nghĩa vụ thông báo, theo CISG bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải thông báo cho bên kia biết về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ Nếu thông báo

Trang 5

không tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa

vụ đã biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo

Khi nhận dạng tranh chấp về trường hợp bất khả kháng theo CISG, tranh luận của các bên thường xoay quanh các tiêu chí để công nhận một trường hợp là bất khả kháng Đơn cử như sự kiện trở ngại có phải là nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; thế nào là “nằm ngoài sự kiểm soát” của một bên; thế nào là “khắc phục được” hay “tránh được” sự kiện trở ngại; hay sự “không tiên liệu trước” về những sự kiện như vậy phải được hiểu như thế nào

Do đặc điểm phức tạp của hoạt động thương mại quốc tế như sự mở rộng về không gian, sự kéo dài về thời gian, sự khác nhau về địa lí, tập quán, quy định của mỗi quốc gia mà khả năng xảy ra những trường hợp bất khả kháng là rất lớn Bên cạnh đó, do hậu quả pháp lí là được miễn trách và trong nhiều trường hợp có thể thay đổi hoàn toàn vị thế của các bên nên không tránh được khả năng các bên tìm cách lợi dụng trường hợp bất khả kháng để cố gắng giải thoát trách nhiệm khi có những hoàn cảnh bất lợi xảy đến hoặc để trục lợi khi giá cả thị trường thay đổi theo hướng có lợi cho bên mình Một số hợp đồng được soạn thảo với điều khoản bất khả kháng rất cụ thể chi tiết có thể hạn chế được tranh chấp xảy ra nhưng có rất nhiều hợp đồng thiếu vắng điều khoản quan trọng này

2 Miễn trách nhiệm do lỗi của bên thứ ba

Trường hợp miễn trách nhiệm do lỗi bên thứ ba tham gia thực hiện một phần hay toàn bộ hợp đồng lần đầu tiên được ghi nhận trong CISG Điều 79.2

CISG quy định: “Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do người thứ ba

mà họ nhờ thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện điều

đó thì bên ấy chỉ được miễn trách nhiệm trong trường hợp:

- Được miễn trách nhiệm chiếu theo quy định của khoản trên, và.

Trang 6

- Nếu người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu quy định của khoản trên được áp dụng cho họ.”

CISG không đưa ra khái niệm cũng không liệt kê bất cứ sự kiện nào được xem là trường hợp miễn trách nhiệm do lỗi của bên thứ ba tham gia thực hiện một phần hay toàn bộ hợp đồng mà chỉ đưa ra các dấu hiệu để xác định Theo đó, có hai điều kiện bên vi phạm phải đồng thời đáp ứng đó là: (1) Bên vi phạm rơi vào trường hợp miễn trách chiếu theo Điều 79.1; (2) Bên thứ ba cũng được miễn trách khi áp dụng các điều kiện tại Điều 79.1 cho bên đó Nói cách khác việc bên thứ ba

vi phạm hợp đồng phải đồng thời cấu thành một trường hợp miễn trách đối với bên

vi phạm theo quy định tại Điều 79.1 và bản thân bên đó cũng gặp trường hợp được miễn trách chiếu theo điều trên

Như vậy, miễn trách nhiệm do lỗi của bên thứ ba tham gia thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng theo CISG là trường hợp bên vi phạm hợp đồng

không trực tiếp gặp trở ngại, song vẫn có quyền yêu cầu được miễn trách nhiệm vì bên thứ ba có quan hệ với bên vi phạm gặp trở ngại khách quan Bản chất của trường hợp này chính là miễn trách nhiệm do gặp bất khả kháng Trong thực tế Điều 79.2 được áp dụng một cách hạn chế và thận trọng, đặc biệt là khi bên vi phạm viện dẫn bên thứ ba là nhà cung cấp của bên đó Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, ghi nhận nhiều trường hợp viện dẫn Điều 79.2 nhưng không được chấp nhận

Theo đó, hành vi vi phạm của bên thứ ba trong các vụ tranh chấp trên phải cấu thành một bất khả kháng Điều này đồng nghĩa với việc bên vi phạm không thể biết trước, không thể lường trước và yêu cầu phải có ý thức khắc phục hậu quả của bên thứ ba trong khả năng của mình Trên thực tiễn hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, việc bên bị vi phạm viện dẫn trường hợp bên thứ ba cấu thành một bất khả kháng là khá phổ biến nhưng các phán quyết của tòa thường không chấp nhận vì

Trang 7

cho rằng bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm vì đã chọn nhà cung cấp tồi Mặt khác, thực tế trong mọi trường hợp, bên vi phạm hoàn toàn có thể tìm kiếm một bên thứ ba khác để thay thế phần nghĩa vụ hợp đồng vi phạm Trường hợp ngoại lệ chỉ xảy ra khi nhà cung cấp là độc quyền, hoặc là nhà cung cấp duy nhất Lúc này việc tìm kiếm nhà cung cấp thay thế là bất khả thi và được xem như là một sự kiện bất khả kháng đối với bên vi phạm

KẾT BÀI

Trên thực tế có rất nhiều sự cố nằm ngoài khả năng kiểm soát của các bên trong hợp đồng dẫn đến một hoặc cả hai bên trong Hợp đồng không thể thực hiện được hợp đồng Pháp luật quốc tế có quy định các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để dự liệu các trường hợp trên Và việc quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp và cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb

CAND – 2016;

2 Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG);

3 Giáo trình luật thương mại quốc tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân, Nxb

khoa học và kĩ thuật – 1999;

4 Giáo trình luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, ThS.Nông

Quốc Bình, Nxb CAND – 2003;

5 Các trang web:

https://123doc.org/document/1096445-mien-trach-nhiem-trong-vi- pham-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-theo-qui-dinh-cua-cisg-va-phap-luat-viet-nam.htm

http://dangkydoanhnghiep.org.vn/cac-truong-hop-mien-trach-nhiem-trong-hop-dong.html

Ngày đăng: 07/05/2018, 13:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w